Thông tin sách

Làm Thế Nào Để Nghiên Cứu Kinh Thánh

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: How to Study the Bible
ISBN: 0-7363-0407-X
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 1

Untitled Document

PHẦN MỘT

CHUẨN BỊ CON NGƯỜI

LỜI GIỚI THIỆU

Để nghiên cứu Kinh Thánh cách đúng đắn, một người phải đáp ứng hai điều kiện cơ bản. Điều kiện thứ nhất là người ấy phải đúng đắn; người ấy phải trải qua sự huấn luyện thích đáng. Điều kiện thứ hai là người ấy phải có những phương pháp đúng đắn. Trong vài thế kỷ vừa qua, đặc biệt là từ khi Cải Chánh giáo dấy lên, nhiều sách nghiên cứu Kinh Thánh đã xuất bản. Nhiều quyển trong số sách ấy rất tốt, nhưng hầu hết đều thiếu sót một điều là chỉ lưu ý đến phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh, chứ không lưu ý đúng mức đến người nghiên cứu Kinh Thánh. Những quyển sách ấy gây ấn tượng là bất cứ người nào áp dụng các phương pháp ấy đều sẽ có được kết quả mỹ mãn. Nhiều người đã thử những phương pháp ấy, nhưng không thấy ích lợi gì cho việc nghiên cứu của mình. Các tác giả viết sách nghiên cứu Kinh Thánh đều đã nghiên cứu Kinh Thánh cách hiệu quả, nhưng những người cố bắt chước họ bằng cách tiếp cận Kinh Thánh qua các phương pháp ấy không nhất thiết đạt được kết quả như vậy. Đó là vì những người bắt chước quên mất mình là ai. Nghiên cứu Kinh Thánh không những là vấn đề phương pháp mà còn là vấn đề con người. Một số người nghiên cứu Kinh Thánh có hiệu quả vì họ – chính con người họ – đã học được những bài học đúng đắn từ Đức Chúa Trời. Khi tìm ra những phương pháp đúng đắn để giúp mình nghiên cứu, họ gặt hái được kết quả phong phú. Thật sai lầm nếu chỉ truyền đạt những phương pháp mà không xét đến loại người mà chúng ta phải trở thành. Thậm chí khi một số người có những phương pháp đúng đắn, họ vẫn không bao giờ có thể nghiên cứu Kinh Thánh có hiệu quả vì họ sai trật trong chính con người của mình.

Đó là một điểm rất quan trọng. Nghiên cứu Kinh Thánh không chỉ là vấn đề phương pháp đúng đắn mà còn là vấn đề con người đúng đắn. Một người phải đúng đắn rồi mới có thể sử dụng phương pháp đúng đắn để nghiên cứu Kinh Thánh. Những phương pháp cũng quan trọng vì nếu không có phương pháp thì một người không thể nghiên cứu Kinh Thánh có hiệu quả. Nhưng người ấy cũng phải được điều chỉnh đúng đắn rồi mới có thể nghiên cứu Kinh Thánh có hiệu quả. Một số người có quan niệm sai lầm là rất ít người có thể nghiên cứu Kinh Thánh. Còn một số người khác thì có ý niệm sai trật là người nào cũng có thể nghiên cứu Kinh Thánh. Cả hai đều sai. Cho rằng rất ít người có thể nghiên cứu Kinh Thánh là sai, và cho rằng người nào cũng có thể nghiên cứu Kinh Thánh cũng sai. Chỉ có một loại người có thể nghiên cứu Kinh Thánh, và chúng ta phải trở nên loại người ấy rồi mới có thể nghiên cứu Kinh Thánh có hiệu quả. Chúng ta phải nhìn thấy rằng trước hết là con người rồi mới đến phương pháp. Nếu con người sai trật thì không mang lại lợi ích gì cho dầu người ấy có tất cả những phương pháp đúng đắn. Nếu con người đúng đắn thì những phương pháp mới có thể được áp dụng cách thích hợp. Một số người chú ý nhiều đến những phương pháp hay. Mặc dầu chúng ta cũng chú ý đúng mức đến phương pháp hay, nhưng đừng bao giờ đưa phương pháp lên ưu tiên hàng đầu. Không phải phương pháp đi trước mà là con người đi trước. Trước hết, con người của chúng ta phải đúng đắn, rồi mới có thể đề cập đến phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh tốt nhất.

Để đáp lại câu hỏi về cách nghiên cứu Kinh Thánh, chúng tôi đã chia nội dung thảo luận của mình thành hai phần. Phần thứ nhất liên quan đến việc chuẩn bị con người, và phần thứ hai là về những phương pháp nghiên cứu. Trước hết, chúng ta sẽ xem xét việc chuẩn bị con người.

CHƯƠNG MỘT

BA ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT

I. CẦN PHẢI THUỘC LINH

A. “Những Lời Ta Phán... Là Linh”

Trong Giăng 6:63 Chúa Jesus phán: “Những lời Ta phán cùng các ngươi đều là linh”. Lời Kinh Thánh không chỉ là văn tự mà còn là linh. Chúng ta cũng cần phải nhắc lại lời Chúa trong Giăng 4:24: “Đức Chúa Trời là Linh, và những ai thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong linh” (RcV). Ở đây, Chúa nêu lên một nguyên tắc căn bản: Đức Chúa Trời là Linh, và con người chỉ có thể chạm đến Ngài bằng linh của mình. Đức Chúa Trời là Linh, và chúng ta chỉ có thể thờ phượng Ngài bằng linh của mình; chúng ta không thể thờ phượng Ngài bằng bất cứ điều gì khác hơn là linh. Đức Chúa Trời là Linh, và chúng ta không thể thờ phượng Ngài bằng tâm trí, tình cảm hay ý chí của mình. Cô-lô-se 2:23 nói về “sự thờ phượng theo ý riêng”. Điều ấy có nghĩa là thờ phượng bằng ý chí. Làm như vậy thật sai trật vì Đức Chúa Trời là Linh, và vì Đức Chúa Trời là Linh nên những ai thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong linh. Giăng chương 6 nói rằng những lời của Chúa là linh. Nguyên tắc cơ bản cũng giống như vậy: Vì những lời của Chúa là linh, nên chúng ta phải đọc lời ấy trong linh. Nói cách khác, chúng ta chỉ có thể chạm đến những điều thuộc linh bằng chính linh mình.

Kinh Thánh không chỉ là một quyển sách bao gồm những từ ngữ và mẫu tự được in trên các trang sách. Chính bản chất của Kinh Thánh là linh. Do đó, người nào đọc quyển sách ấy cũng đều phải tiếp cận nó bằng linh của mình; Kinh Thánh phải được đọc bằng linh. Linh mà chúng tôi đang đề cập ở đây là chính linh của người được tái sinh. Chúng tôi gọi linh ấy là “linh được tái sinh”. Không phải người nào cũng có linh này. Vì vậy, không phải người nào cũng có thể đọc Kinh Thánh có hiệu quả. Chỉ những người có linh ấy mới có thể đọc Kinh Thánh có hiệu quả; những người không có linh ấy không thể đọc Kinh Thánh có hiệu quả. Cần có linh ấy để thờ phượng Đức Chúa Trời. Cũng cần có linh ấy để đọc Kinh Thánh có hiệu quả. Không có linh ấy, một người không thể biết Đức Chúa Trời. Không có linh ấy, người đó cũng không thể hiểu biết Kinh Thánh. Có lẽ chúng ta được sinh ra trong một gia đình Cơ Đốc. Trước khi được tái sinh, có lẽ chúng ta đã đọc Kinh Thánh rồi, nhưng chúng ta không hiểu được quyển sách ấy. Chúng ta hiểu lịch sử và những sự kiện được ghi chép trong Kinh Thánh, nhưng không hiểu chính Kinh Thánh. Điều này không đáng ngạc nhiên vì lời Đức Chúa Trời là linh. Nếu không sử dụng linh của mình thì chúng ta không thể đọc quyển sách ấy. Khi nào một người có thể bắt đầu hiểu Kinh Thánh? Vào ngày người ấy tiếp nhận Chúa, người ấy có thể bắt đầu hiểu Kinh Thánh. Từ ngày đó trở đi, Kinh Thánh trở nên một quyển sách mới mẻ đối với người ấy; người ấy sẽ bắt đầu hiểu và quí trọng Kinh Thánh. Mặc dầu có thể không hiểu được mọi sự trong Kinh Thánh, nhưng người ấy bắt đầu yêu mến quyển sách đó. Người ấy sẽ đọc Kinh Thánh hằng ngày và hằng năm. Nếu bỏ lỡ dịp đọc [Kinh Thánh], người ấy sẽ cảm thấy đói; người ấy sẽ cảm thấy một điều gì đó thiếu sót trong đời sống của mình. Khi đọc lời Đức Chúa Trời như vậy, người ấy sẽ bắt đầu hiểu lời Đức Chúa Trời. Người ấy có thể hiểu lời Đức Chúa Trời vì bây giờ người ấy đã được tái sinh. “Hễ chi sinh bởi Linh là linh” (Gi. 3:6). Chúng ta cần phải liên kết Giăng 4:24, 6:63 và 3:6 lại với nhau: “Đức Chúa Trời là Linh”, “Những lời Ta phán... là linh”, và “Hễ chi sinh bởi Linh là linh” (RcV). Những lời trong Kinh Thánh đều là linh. Sự sống mà một người nhận được lúc được tái sinh là linh, và một người cần có linh thì mới đọc được những lời của linh. Chỉ khi ấy Kinh Thánh mới chiếu sáng bên trong người đó, và chỉ khi ấy Kinh Thánh mới trở nên hữu dụng cho người đó.

Cho dầu một người có khôn ngoan và có trình độ văn hóa cao đến đâu đi nữa, nhưng hễ người ấy chưa được tái sinh thì Kinh Thánh vẫn là một bí ẩn đối với người ấy. Một người được tái sinh có thể không có học thức gì mấy, nhưng người ấy có đủ tư cách đọc Kinh Thánh hơn so với một giáo sư đại học chưa được tái sinh. Người trước có một linh được tái sinh, trong khi người sau không có linh giống như vậy. Không thể hiểu Kinh Thánh nhờ tài năng, sự tra xét và trí thông minh. Vì lời Đức Chúa Trời là linh nên chỉ người có linh được tái sinh mới có thể hiểu lời ấy. Cội rễ, tức chính bản chất, của Kinh Thánh là thuộc linh. Nếu không có linh được tái sinh thì một người không thể hiểu Kinh Thánh; đối với người ấy, Kinh Thánh sẽ là một quyển sách đóng kín.

Chúa Jesus nói trong Giăng 6:55: “Vì thịt Ta thật là đồ ăn, huyết Ta thật là đồ uống”. Những người Do Thái vô tín bàng hoàng trước lời ấy. Làm sao thịt Chúa là đồ ăn và huyết Ngài là đồ uống được? Tuy nhiên, mọi người được tái sinh đều biết rằng điều đó chỉ về Con Đức Chúa Trời. Người ấy cúi đầu xuống và thừa nhận: “Con nhận được sự sống của mình từ thịt và huyết của Ngài. Không có thịt Ngài thì hôm nay con đã không có sự sống. Không có huyết Ngài thì hôm nay con không thể sống. Ngài thực sự là đồ ăn của con”. Người với một linh được tái sinh sẽ không bất bình vì lời Chúa, nhưng trái lại, sẽ cảm tạ và ngợi khen Ngài.

Chúa nói: “Ấy là Linh ban cho sự sống; xác thịt không có ích chi; những lời Ta phán cùng các ngươi đều là linh và sự sống” (c. 63). Ở đây, chúng ta thấy hai lãnh vực. Một là lãnh vực của linh, và hai là lãnh vực của xác thịt. Trong lãnh vực của linh, mọi sự đều sống động và có ích lợi. Trong lãnh vực của xác thịt, mọi sự đều vô ích. Một người phải đọc Kinh Thánh bằng linh của mình và trong lãnh vực của linh. Cho dù có học thức, hợp lý và có tài phân tích thế nào đi nữa, một người không thể hiểu Kinh Thánh nếu người ấy không có linh được tái sinh.

Đức Chúa Trời là Linh. Ngày nay, chúng ta biết Đức Chúa Trời vì chúng ta có một linh. Khi một số người vô tín tranh luận với chúng ta, có thể chúng ta không sánh được với họ về khẩu tài hay sự khôn ngoan, và có lẽ chúng ta không có khả năng nói với họ về những sự dạy dỗ sâu nhiệm, nhưng chúng ta tin chắc rằng mình biết Đức Chúa Trời vì chúng ta đã được tái sinh. Chúng ta có một linh được tái sinh, và chúng ta có thể chạm đến Đức Chúa Trời bằng linh ấy. Chúng ta có thể trình bày giáo lý hay không thì không phải là vấn đề. Sự thật là chúng ta đã chạm đến Đức Chúa Trời. Những người vô tín muốn tìm hiểu về Đức Chúa Trời nhờ phân tích, tổng hợp và lý luận. Nhưng thậm chí sau khi đã phân tích, tổng hợp và lý luận dựa trên những nền tảng vững chắc, họ vẫn không tin Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời không bao giờ có thể được phân tích hay tổng hợp. Gióp nói: “Ông có thể tìm thấy những điều sâu nhiệm của Đức Chúa Trời sao?” (Gióp 11:7). Không ai có thể tìm được Đức Chúa Trời bằng cách tra xét. Chỉ có một cách tìm được Đức Chúa Trời là nhờ linh được tái sinh. Những người chạm đến Đức Chúa Trời bằng linh ấy sẽ biết Ngài ngay lập tức. Không có cách nào khác ngoại trừ cách ấy. Muốn nghiên cứu Kinh Thánh, một người phải có linh được tái sinh, cũng như một người phải có linh được tái sinh để chạm đến Đức Chúa Trời. Giả sử, người kia lắp đặt một cái đèn điện trong nhà mình. Người ấy muốn nối cái đèn ấy với nguồn điện, nhưng vật liệu duy nhất người ấy có là gỗ, tre nứa và vải mà không có sợi dây đồng nào cả. Tuy có điện năng tại nhà máy phát điện, nhưng điện năng ấy không thể làm cho bóng đèn chiếu sáng. Cho dù có bao nhiêu gỗ, tre nứa và vải đi nữa, người ấy vẫn không thể khai thác điện năng ấy. Một người khác có thể không có vải, tre nứa và gỗ, nhưng lại có một khúc dây [điện]. Với khúc dây ngắn ấy, anh có thể làm cho bóng đèn sáng lên vì sợi dây ấy dẫn điện. Tương tự như vậy, một người phải có linh được tái sinh rồi mới có thể chạm đến Đức Chúa Trời. Người ấy phải có một linh rồi mới có thể chạm đến lời Đức Chúa Trời.

Chỉ một phần ở bên trong toàn bản thể chúng ta mới có thể nghiên cứu Kinh Thánh – đó là linh được tái sinh của chúng ta. Nếu dùng bất cứ phần nào khác trong bản thể chúng ta để chạm đến Kinh Thánh thì chúng ta đang làm điều gì đó tách rời với Đức Chúa Trời, và hành động ấy sẽ không chạm được bất cứ điều gì liên quan đến Ngài. Đối với con người, Kinh Thánh có thể là vấn đề thuộc về xác thịt hoặc là vấn đề thuộc về linh. Nếu một người không có linh được tái sinh, và nếu tất cả những gì người ấy có là xác thịt và những điều thuộc về xác thịt, thì Kinh Thánh sẽ là vấn đề thuộc về xác thịt đối với người ấy. Nếu một người có linh được tái sinh, và linh ấy hoạt động bên trong mình, thì người ấy sẽ chạm đến linh khi người ấy chạm đến lời Đức Chúa Trời. Đó không phải là Kinh Thánh có thể trở nên một điều gì đó khác hơn là linh. Chính Kinh Thánh luôn luôn là linh. Chúa Jesus phán: “Ấy là thần linh làm cho sống động, xác thịt chẳng ích chi; những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống”. Những lời của Chúa là linh. Nhưng những lời ấy chỉ là linh đối với những tín đồ tin Ngài; đối với những người Do Thái vô tín thì những lời của Ngài được tiếp nhận như là điều thuộc về xác thịt. Cách nhiều người nghiên cứu Kinh Thánh thật kỳ quặc. Đó là vì họ thiếu linh. Một người không thể nghiên cứu lời Đức Chúa Trời theo tâm trí hay sự thông minh riêng của mình. Người đó phải có linh ấy rồi mới có thể nghiên cứu lời Đức Chúa Trời.

B. “Giải Nghĩa Các Điều Thuộc Linh Cho Những Người Thuộc Linh”

Có thể một số người hỏi: “Tôi đã được tái sinh, và có một linh được tái sinh. Nhưng tại sao tôi không thể nghiên cứu Kinh Thánh cách có hiệu quả? Tại sao Kinh Thánh là một quyển sách khép kín đối với tôi?” Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần phải lật đến một phân đoạn trong Kinh Thánh – 1 Cô-rin-tô chương 2. Trước hết, chúng ta hãy đọc từ câu 1 đến câu 4: “Anh em ơi, về phần tôi, khi tôi đến cùng anh em, chẳng dùng lời lẽ cao xa hay khôn ngoan tột vời mà rao truyền cho anh em lẽ mầu nhiệm của Đức Chúa Trời. Vì tôi đã quyết định rằng, ở giữa anh em tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Jesus Christ và Jesus Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá. Tôi ở giữa anh em bộ yếu đuối, sợ sệt và run rẩy lắm; lời tôi nói, đạo tôi giảng chẳng phải bằng lời khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng bằng sự chứng minh của Thánh Linh và quyền năng”. Chủ đề của chương này là Phao-lô rao giảng không phải bằng những lời thuyết phục của sự khôn ngoan. Xin cũng đọc từ câu 5 đến 7: “Hầu cho đức tin của anh em chẳng lập trên sự khôn ngoan của loài người, bèn là trên quyền năng của Đức Chúa Trời. Dầu vậy, ở giữa những kẻ trọn vẹn chúng tôi cũng giảng sự khôn ngoan, song chẳng phải sự khôn ngoan của đời nầy, cũng không phải của các bá chủ đời nầy... Nhưng chúng tôi giảng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, là lẽ mầu nhiệm vốn được giấu kín, mà từ trước các đời Đức Chúa Trời đã dự định cho sự vinh hiển chúng ta”. Xin cũng đọc các câu từ 9 đến 13: “Song như có chép rằng: ‘Điều mắt chưa thấy, tai chưa nghe, và lòng người chưa từng nghĩ đến, thì Đức Chúa Trời đã dự bị cho những kẻ thương yêu Ngài’. Nhưng Đức Chúa Trời đã nhờ Thánh Linh bày tỏ những sự đó cho chúng ta, vì Thánh Linh dò xét mọi sự, cả đến sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời nữa. Vì ngoài tâm linh ở trong người ta, thì ai trong vòng loài người biết được sự tình của người ta? Cũng một lẽ ấy, ngoài Thánh Linh của Đức Chúa Trời, thì chẳng một ai biết được sự tình của Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta đã nhận lãnh, chẳng phải là linh của thế gian, bèn là Linh từ Đức Chúa Trời đến, hầu cho chúng ta có thể biết được những sự Đức Chúa Trời ban nhưng không cho chúng ta. Chúng ta cũng giảng những sự ấy, chẳng phải bằng lời của sự khôn ngoan loài người dạy, bèn bằng lời của Thánh Linh dạy, lấy lời thuộc linh mà giải nghĩa sự thuộc linh”. Ở ngoài lề của bản Kinh Thánh American Standard, chúng ta tìm thấy cách dịch khác ở phần cuối của câu 13: “Giải nghĩa các điều thuộc linh cho những người thuộc linh”. Đó là cách dịch tốt hơn từ nguyên ngữ. Chủ đề của chương ba là những loại người khác nhau. Vì vậy, cuối chương hai không thể nói về những “điều”. Giải thích một chữ trong cùng một phân đoạn theo hai cách khác nhau là trái với luật giải nghĩa. Phao-lô nói rằng các điều thuộc linh chỉ có thể được truyền đạt cho những người thuộc linh. (Chữ giải nghĩa trong tiếng Hi Lạp có thể có nghĩa là nối kết với nhau, hòa lẫn với nhau hay phối hợp với nhau. Vì vậy, chữ ấy cũng có thể được dịch là “truyền đạt” – truyền đạt các điều thuộc linh cho những người thuộc linh”).

Đọc phân đoạn này, chúng ta nhận thấy mối liên hệ giữa linh và Kinh Thánh. Ở đây, Phao-lô nói về những lời được Linh mặc khải, dạy dỗ, và những lời thuộc sự khôn ngoan từ Linh, chứ không phải những lời thuộc sự khôn ngoan từ con người. Những lời thuộc sự khôn ngoan từ con người là gì? Những gì mắt thấy, tai nghe và xuất hiện trong lòng – đó là những lời của con người. Khải thị của Phao-lô đến từ đâu? Khải thị của ông phát xuất từ Thánh Linh vì chỉ Thánh Linh mới biết những điều của Đức Chúa Trời. Làm thế nào con người có thể có được khải thị như vậy từ Thánh Linh? Phao-lô nói với chúng ta rằng muốn nhận được điều đó thì cần phải có Linh của Đức Chúa Trời. Điều này giống như những gì chúng ta đã nhìn thấy trong phần trước từ Phúc-âm Giăng. Ở đây nói rằng không ai biết những điều của Đức Chúa Trời ngoại trừ Linh của Đức Chúa Trời. Vì vậy, phần tiếp theo nói là bất cứ người nào không có Linh của Đức Chúa Trời cũng không có những điều của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, Phao-lô tuyên bố rằng ông không bày tỏ những điều ấy theo lời nói cao xa hay những điều thuộc sự khôn ngoan, cũng không theo những lời được sự khôn ngoan thuộc con người chỉ dạy, nhưng theo những lời được Linh dạy dỗ, truyền đạt các điều thuộc linh cho những người thuộc linh.

Ở đây, Phao-lô nói rằng các điều thuộc linh chỉ có thể được truyền đạt cho những người thuộc linh. Không thể truyền đạt một số điều nào đó cho một số người nào đó nếu những điều ấy không tương hợp với họ. Câu 14 nói: “Vả, người thuộc huyết khí (RcV: người thuộc hồn) không nhận được những sự thuộc Linh của Đức Chúa Trời”. Không những người thuộc hồn không nhận được các điều thuộc linh, mà “sự ấy là ngu dại cho người”. Họ sẽ nghĩ các tín đồ là những người ngu dại. Một người thuộc hồn sẽ không biết, và “cũng chẳng có thể biết được, vì phải phán đoán (hoặc dịch: biện biệt) sự ấy cách thuộc linh”. Lời này chạm đến cao điểm của phân đoạn trên, và cũng cho chúng ta thấy rằng các điều thuộc linh chỉ có thể được biện biệt bởi những người thuộc linh. Một người thuộc hồn không thể biện biệt những điều ấy và không biết gì về chúng cả. Điều này không liên quan gì đến việc dành thời giờ hay không dành thời giờ để luyện tập cả. Cho dầu một người thuộc hồn dành trọn thời giờ của mình để biện biệt, người ấy vẫn không thể và sẽ không biết những điều ấy. Người ấy thiếu một quan năng thiết yếu. Cách mô tả có phần nào khoa học hơn về người thuộc hồn là người thuộc tâm lý, tức người ở dưới sự kiểm chế của tâm lý của mình. Nói về mặt thuộc linh thì đó là người chưa được tái sinh. Người thuộc hồn là một người thiên nhiên, một người chưa được tái sinh. Người ấy giống như A-đam, một hồn sống, là người không có Linh của Đức Chúa Trời ở trong mình và không thể biết các điều về Đức Chúa Trời.

Theo quy tắc, sau khi một người trở nên Cơ Đốc nhân, người ấy cần phải biết những điều về Linh. Nhưng tại sao quá nhiều anh chị em không biết những điều ấy? Lý do là tuy họ có một linh được tái sinh, nhưng không nhất thiết họ là những người thuộc linh. Điểm Phao-lô nhấn mạnh trong 1 Cô-rin-tô chương 2 và 3 không chỉ là linh mà là trở nên thuộc linh. Điểm Giăng nhấn mạnh là linh, nhưng điểm Phao-lô nhấn mạnh là tính thuộc linh. Một người không những phải có linh mà còn phải thuộc linh theo linh ấy. Một người phải có linh; không có linh, một người không thể làm gì cả. Nhưng chỉ có linh mà không sống dưới nguyên tắc của linh ấy, tức không sống trong linh ấy và bước đi theo linh ấy để làm một người thuộc linh, thì cũng vô ích.

Giả sử, anh em đưa một người bị mù bẩm sinh vào một khu vườn và cho người ấy biết là người ấy đang đứng trước một cây xoài. Anh em có thể mô tả cho người ấy về những trái xoài. Nhưng người ấy có hiểu anh em nói gì không? Cho dầu người ấy rất khôn ngoan, có óc phán đoán rất nhạy bén, và có đôi tai rất thính, nhưng người ấy vẫn không hiểu một cây xoài là như thế nào. Anh em có thể nói với người ấy về màu xanh, nhưng người ấy sẽ không hiểu màu xanh là màu gì. Thế giới âm thanh khác với thế giới hình ảnh, và thế giới hình ảnh khác với thế giới tư tưởng. Cũng vậy, một người phải vận dụng linh mình mới có thể nhận biết thế giới thuộc linh. Những người có mắt không nhất thiết có thể nhìn thấy; một người phải vận dụng chức năng của mắt trước khi có thể nhìn thấy. Một người mù không thể nhìn thấy cây xoài. Một người với cặp mắt tốt có thể nhìn thấy cây xoài khi người ấy mở mắt mình ra. Một người mù không thể nhìn thấy cây xoài bằng tai của mình. Nếu chỉ sử dụng đôi tai của mình thì một người bình thường cũng không thể nhìn thấy cây xoài. Vấn đề ngày nay là những người mù không có mắt để nhìn thấy cây xoài, trong khi những người có cặp mắt tốt lại cố nghe cây xoài bằng đôi tai của mình. Một người thuộc hồn không thể biết Đức Chúa Trời; không người nào có thể biết Ngài bằng cách xoay qua các quan năng thuộc hồn. Nhưng một người có linh chưa được tái sinh cũng không biết Đức Chúa Trời nếu người ấy chỉ sử dụng hồn của mình. Nói như vậy không có nghĩa là bất cứ ai có linh cũng có thể biết Đức Chúa Trời. Thậm chí sau khi Linh của Đức Chúa Trời đã vào trong một người, có thể người ấy vẫn không biết Đức Chúa Trời. Sự khôn ngoan và trí thông minh không giúp một người vô tín biết Đức Chúa Trời; và cũng không giúp một Cơ Đốc nhân biết Đức Chúa Trời. Kiến thức không giúp một người vô tín hiểu Kinh Thánh, và cũng không giúp một Cơ Đốc nhân hiểu Kinh Thánh. Cách để hiểu Kinh Thánh là nhờ linh. Đây không phải chỉ là vấn đề có linh, mà là vấn đề thuộc linh. Không người nào có thể nói rằng mình có linh nhưng không cần phải bước đi theo linh ấy mà thay vào đó có thể sống theo lối sống cũ của mình. Lối sống ấy không thể chấp nhận được khi một người không có linh tái sinh; bây giờ đã có linh tái sinh thì lối ấy cũng không thể chấp nhận được như vậy. Cách căn bản để hiểu Kinh Thánh là nhờ linh. Đó là lý do tại sao Phao-lô cho chúng ta thấy trong 1 Cô-rin-tô chương 2 rằng vấn đề không phải là có hay không có linh mà vấn đề là thuộc linh hay không thuộc linh. Các điều thuộc linh chỉ được biện biệt bởi những người thuộc linh.

1 Cô-rin-tô 3:1 chép: “Anh em ơi, về phần tôi, tôi chẳng có thể nói với anh em như với người thuộc linh, nhưng như với người thuộc xác thịt, như với con trẻ trong Christ vậy”. Tại đây có một từ ngữ khác: xác thịt. Tín đồ Cô-rin-tô là các con trẻ trong Đấng Christ; họ thật xác thịt. Đó là lý do tại sao câu hai chép: “Tôi từng cho anh em uống sữa, chớ chẳng cho đồ ăn cứng”. Chắc chắn là những người như vậy không hoàn toàn hiểu biết các điều thuộc linh. Họ chỉ có thể chạm đến những khải thị hiển nhiên nhất, chứ không thể chạm đến điều gì sâu xa hơn. Họ thật xác thịt, và vì vậy họ chỉ có thể uống sữa chứ không thể ăn thức ăn cứng. Sữa dành cho những người ở giai đoạn đầu trong cuộc sống. Điều ấy có nghĩa là những người đó chỉ có thể tiếp nhận những khải thị sơ đẳng nhất trong Đạo Đấng Christ. Mặt khác, thức ăn cứng dành cho người trưởng thành trong suốt cuộc đời của mình. Điều này chỉ về những khải thị sâu nhiệm và thâm thúy hơn. Một người không tiếp tục uống sữa mãi; người ấy chỉ phải uống sữa một thời gian ngắn trong cuộc đời của mình mà thôi. Tuy nhiên, có những người như các tín đồ Cô-rin-tô thì luôn luôn uống sữa. “Vì anh em không thể chịu nổi; đến bây giờ cũng chưa có thể được”.

1 Cô-rin-tô chương 2 và 3 cho chúng ta thấy ba loại người:

Thứ nhất là người thuộc hồn. Một người như vậy chỉ sở hữu các quan năng của hồn. Chúng ta có thể gọi người ấy là người thuộc tâm lý. Người thuộc hồn là một người chưa được tái sinh; người ấy không có một linh tái sinh và không có quan năng thích hợp để hiểu lời Đức Chúa Trời. Một người như vậy không thể hiểu Kinh Thánh.

Thứ hai là người xác thịt. Một người như vậy có sự sống và Linh của Đức Chúa Trời ở bên trong mình. Nhưng người ấy không bước đi theo linh ấy mà bước đi theo xác thịt. Người ấy có linh tái sinh, nhưng không sử dụng linh của mình hay đầu phục sự cai quản của linh mình. Người ấy có một linh, nhưng không ở dưới sự kiểm chế của linh hay không để linh chủ đạo mọi sự. Kinh Thánh gọi loại người ấy là xác thịt. Người ấy có sự hiểu biết rất giới hạn về Kinh Thánh. Người ấy chỉ có thể uống sữa chứ không thể ăn thức ăn cứng. Sữa là một điều gì đó trước hết được tiêu hóa bởi người mẹ. Sữa chỉ về những khải thị gián tiếp, tức những khải thị không trực tiếp đến với một người. Một người uống sữa không nhận được khải thị trực tiếp nào từ Đức Chúa Trời. Người ấy nhận được khải thị từ những người thuộc linh khác, là những người chuyển khải thị cho người ấy.

Thứ ba là người thuộc linh. Người ấy có Linh của Đức Chúa Trời. Người ấy hoạt động dưới quyền năng của Linh sống động và bước đi theo nguyên tắc của Linh. Lượng khải thị người ấy nhận được thật vô hạn. Lời Đức Chúa Trời nói rằng các điều thuộc linh chỉ có thể được những người thuộc linh phán đoán.

Để nghiên cứu Kinh Thánh, chúng ta phải ghi nhớ hai điều kiện cơ bản: Chúng ta phải thuộc linh và phải bước đi theo linh.

II. SỰ DÂNG MÌNH

A. Lòng Mở Ra

Kinh Thánh là lời Đức Chúa Trời, và đầy dẫy ánh sáng của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, ánh sáng ấy chỉ soi sáng những người mở ra cho Ngài. 2 Cô-rin-tô 3:18 nói: “Chúng ta thảy đều để mặt trần mà chiếu lại sự vinh quang của Chúa như một cái gương”. Điều kiện cơ bản để được vinh quang của Chúa soi sáng là để mặt trần mà ngắm nhìn Ngài. Nếu một người đến với Chúa mà mặt bị che phủ, thì vinh quang sẽ không soi sáng người ấy. Ánh sáng của Đức Chúa Trời chỉ soi sáng những người mở ra cho Ngài. Nếu không mở ra cho Đức Chúa Trời thì một người sẽ không nhận được ánh sáng của Đức Chúa Trời. Điều rắc rối với một số người là họ khép kín đối với Chúa. Linh, lòng, ý chí và tâm trí đều khép kín đối với Chúa. Hậu quả là ánh sáng của Kinh Thánh không đến với họ được. Mặc dầu mặt trời đầy dẫy ánh sáng và chiếu trên khắp thế giới, ánh sáng mặt trời không đến với người ngồi ở trong phòng đóng kín các cửa. Nan đề không phải ở nơi ánh sáng mà nằm nơi người ấy. Ánh sáng chỉ chiếu sáng trên những người mở ra cho ánh sáng. Đó là sự thật đối với ánh sáng vật lý, và cũng là sự thật đối với ánh sáng thuộc linh. Mỗi khi chúng ta khép kín mình lại thì ánh sáng không thể chiếu qua. Một số người khép kín đối với Chúa; họ không bao giờ có thể nhìn thấy ánh sáng của Đức Chúa Trời. Chúng ta đừng chỉ lưu ý đến việc đọc và nghiên cứu; thay vào đó, chúng ta cần phải hỏi xem mình có mở ra trước mặt Chúa hay không. Nếu chúng ta không để mặt trần, thì vinh quang của Chúa sẽ không chiếu trên chúng ta. Nếu lòng chúng ta không mở ra cho Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời không thể ban cho chúng ta chút ánh sáng nào cả.

Ánh sáng hoạt động theo một qui luật. Ánh sáng chiếu trên những người mở ra cho nó, và mức độ chiếu sáng tùy thuộc vào mức độ mở ra. Đó là một qui luật. Nếu mọi cánh cửa của một căn phòng đều đóng kín nhưng chỉ một khe hở còn hé mở, thì ánh sáng vẫn vào. Có được ánh sáng không khó. Hễ theo đúng qui luật thì sẽ nhận được ánh sáng. Nhưng nếu làm trái với qui luật này thì sẽ không có chút ánh sáng nào. Một người khép kín đối với Đức Chúa Trời có thể nghiên cứu và cầu nguyện nhiều, nhưng nói về việc hiểu biết Kinh Thánh thì người ấy vẫn ở trong tình trạng không hiểu biết. Khi một người không chịu mở ra cho Đức Chúa Trời thì khó mà mong có được chút ánh sáng nào. Ánh sáng của Đức Chúa Trời không đến cách vô điều kiện. Để nhận được ánh sáng của Đức Chúa Trời, trước hết một người phải đáp ứng những điều kiện để nhận được ánh sáng.

Mỗi con cái của Đức Chúa Trời đều có một quyển Kinh Thánh trong tay mình, nhưng lượng ánh sáng mỗi người nhận được từ quyển sách ấy thì khác nhau. Một số người hoàn toàn không biết Kinh Thánh nói gì. Những người khác nhận được một ít ánh sáng nhờ đọc Kinh Thánh. Còn những người khác nữa thì đầy dẫy ánh sáng khi họ đọc Kinh Thánh. Lý do có khác biệt như vậy là vì tình trạng những người đọc quyển sách ấy khác nhau. Ánh sáng của Đức Chúa Trời không thay đổi, nhưng con người thì khác. Những người mở ra cho Đức Chúa Trời có thể hiểu Kinh Thánh. Những người khép kín đối với Đức Chúa Trời không thể hiểu Kinh Thánh. Một số người hoàn toàn khép kín, và kết quả là họ hoàn toàn ở trong tình trạng tối tăm. Những người khác nữa thì khép kín một phần, và kết quả là họ chỉ nhận được một phần ánh sáng. Trong kinh nghiệm bản thân, nếu chúng ta thiếu khả năng nhìn thấy, dù ít hay nhiều, dù toàn bộ hay chỉ một phần, thì tình trạng ấy có nghĩa là chúng ta đang ở trong sự tối tăm. Chúng ta đừng bao giờ xem việc mình thấy Kinh Thánh khó hiểu là một điều nhỏ nhặt. Nếu chúng ta thấy Kinh Thánh khó hiểu thì tình trạng ấy chỉ có nghĩa là chúng ta đang sống trong sự tối tăm! Đọc lời Đức Chúa Trời mà không hiểu hay không nhận được chút ánh sáng nào từ đó là một sự việc rất nghiêm trọng.

Tiếp theo, chúng ta cần phải hỏi ý nghĩa của việc mở ra cho Đức Chúa Trời là gì? Sự mở ra phát xuất từ sự dâng mình vô điều kiện và hoàn toàn. Mở ra cho Đức Chúa Trời không phải là một thái độ nhất thời; đó là bản tính lâu bền mà một người phát triển trước mặt Đức Chúa Trời. Đó không phải là một tính khí ngẫu nhiên mà là một sự thực hành liên tục. Mở ra cho Đức Chúa Trời chỉ có thể phát xuất từ sự dâng mình vô điều kiện và hoàn toàn. Nếu một người dâng mình cho Đức Chúa Trời hoàn toàn và tuyệt đối, thì người ấy sẽ không dè dặt đối với Đức Chúa Trời và sẽ không khép kín trong bất cứ phương diện nào. Bất cứ sự khép kín nào cũng đều phản ảnh tình trạng thiếu sót trong việc dâng mình của một người. Sự tối tăm là kết quả của tình trạng khép kín, và khép kín là do thiếu dâng mình. Bất cứ khi nào thiếu dâng mình thì sẽ có những sự dè dặt. Khi một người không chịu hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời trong lãnh vực nào, thì người ấy sẽ cố tự bào chữa. Hậu quả là người ấy không thể hiểu lẽ thật trong Kinh Thánh liên quan đến lãnh vực ấy. Hễ chạm đến lãnh vực đó thì người ấy sẽ lẩn tránh. Đó là lý do tại sao chúng tôi nói rằng tình trạng tối tăm phát xuất từ sự khép kín, và việc khép kín phát xuất từ tình trạng thiếu dâng mình. Mọi loại tối tăm đều xuất hiện do tình trạng khép kín, và khép kín trong bất cứ lãnh vực nào đều là do thiếu dâng mình và thuận phục.

B. Mắt Đơn Thuần

Nhiều phân đoạn Kinh Thánh bàn về ánh sáng cách rõ ràng. Trong Ma-thi-ơ 6:22, Chúa Jesus nói đến ánh sáng của tấm lòng rằng: “Đèn của thân thể là con mắt”. Chúa không nói mắt là ánh sáng của thân thể, mà nói mắt là đèn của thân thể. Ánh sáng liên quan đến Đức Chúa Trời, trong khi đèn liên quan đến chúng ta. Ánh sáng ở trong lời Đức Chúa Trời, trong khi đèn liên quan đến chúng ta. Đèn là chỗ ánh sáng được giữ lại. Nói cách khác, đèn là chỗ Đức Chúa Trời ký thác ánh sáng của Ngài. Đó cũng là chỗ chúng ta giữ lại và tỏa ra ánh sáng. Để lời Đức Chúa Trời chiếu sáng trong mình, chúng ta phải có đèn ở bên trong. Đèn ấy là con mắt của chúng ta. “Nếu mắt ngươi đơn thuần, thì cả thân thể ngươi đều sáng sủa; nhưng nếu mắt ngươi gian ác, thì cả thân thể ngươi đều tối tăm” (cc. 22-23). Để cả thân thể chúng ta sáng sủa, Chúa nêu rõ một điều kiện – mắt chúng ta phải đơn thuần.

Có mắt đơn thuần nghĩa là gì? Tuy chúng ta có hai con mắt nhưng chỉ có một tiêu điểm; chúng chỉ có thể nhìn thấy một vật thể trong cùng một lúc. Nếu cùng một lúc lại có hai tiêu điểm và nhìn hai vật thể thì cặp mắt của chúng ta không bình thường; chúng ta cũng không nhìn được rõ ràng. Đôi mắt chúng ta không đơn thuần. Để cặp mắt nhìn thấy rõ ràng, chúng phải chỉ có một tiêu điểm, chứ không thể có hai. Trong việc nhận được sự chiếu sáng thì có vấn đề ánh sáng, và cũng có vấn đề cái nhìn của mắt. Nếu chưa từng kinh nghiệm chút ân điển hay sự thương xót nào thì chúng ta không bao giờ kinh nghiệm được chút ánh sáng nào [chiếu] trên mình. Nhưng bây giờ, chúng ta đã nhận được ân điển và sự thương xót, ánh sáng chiếu trên chúng ta. Nan đề tiếp theo không phải ở nơi ánh sáng, mà ở nơi mắt chúng ta. Nếu mắt chúng ta không đơn thuần thì chúng ta không thể nhận thấy ánh sáng. Mắt của nhiều người không đơn thuần; trong cùng một lúc, họ không chỉ nhìn thấy một vật thể mà nhìn thấy hai vật thể. Đôi khi họ nhìn một mà hóa hai. Ánh sáng không rõ ràng đối với họ. Thật ra, có thể họ hoàn toàn ở trong sự tối tăm.

Chúa nói: “Không ai có thể hầu việc hai chủ; vì sẽ ghét người này mà yêu người kia, hoặc trọng người này mà khinh người kia. Các ngươi không thể hầu việc cả Đức Chúa Trời lẫn tiền tài (ma-môn) nữa” (6:24). Nhiều người không có ánh sáng vì mắt họ không đơn thuần. Lý do mắt họ không đơn thuần là vì họ thiếu sự dâng mình trước mặt Chúa. Dâng mình là gì? Đó là chỉ hầu việc một mình Đức Giê-hô-va. Một người không thể hầu việc hai chủ. Hoặc người ấy sẽ ghét người này mà yêu người kia, hay sẽ trọng người này mà khinh người kia; người ấy không thể hầu việc cả hai cách tốt đẹp. Người ấy không thể duy trì tình trạng quân bình. Không ai có thể một mặt hầu việc Đức Chúa Trời và mặt khác phục vụ ma-môn. Sớm muộn gì tất cả những người cố hầu việc hai chủ cũng sẽ nhận thấy mình yêu người này mà ghét người kia. Hoặc chúng ta phải tuyệt đối dâng mình cho Đức Chúa Trời, hoặc chúng ta hoàn toàn phục vụ tiền tài. Chúa nói mắt phải đơn thuần. Tình trạng đó có nghĩa là sự hầu việc và dâng mình của chúng ta phải đơn thuần. Tình trạng đơn thuần của mắt cho thấy tình trạng đơn thuần của sự dâng mình.

Nguyện Chúa cho chúng ta nhìn thấy nguyên tắc cơ bản này. Nếu muốn đọc Kinh Thánh, hiểu những sự dạy dỗ của Kinh Thánh, và nhận được những khải thị của Kinh Thánh, chúng ta phải gánh vác một trách nhiệm trước mặt Chúa: Chúng ta phải tuyệt đối dâng mình cho Ngài. Chỉ điều đó mới ban cho chúng ta ánh sáng qua Kinh Thánh. Một khi có nan đề trong việc dâng mình thì chúng ta gặp nan đề trong việc nhìn thấy [ánh sáng]. Khi chúng ta gặp nan đề trong việc nhìn thấy [ánh sáng], thì có nghĩa là khởi đầu chúng ta đã có nan đề trong sự dâng mình. Chúng ta phải được hoàn toàn thuyết phục là không người nào có thể hầu việc hai chủ.

Người chủ kia có tên là ma-môn. Ma-môn chỉ về tiền bạc và của cải. Nhiều ánh sáng trong Kinh Thánh đã bị che khuất vì tiền bạc. Nhiều người bị che khuất không thấy ánh sáng của Kinh Thánh vì tiền tài. Nhiều người không thấy được lẽ thật trong Kinh Thánh vì họ có nan đề trong vấn đề tiền bạc. Ngoài Đức Chúa Trời, họ còn có tiền bạc, và không bằng lòng bỏ sự theo đuổi tiền tài của mình. Có một sự mâu thuẫn giữa lẽ thật và mối quan tâm riêng tư của họ. Nếu họ có thể để sang một bên mối quan tâm của mình và theo đuổi lẽ thật bằng mọi giá, thì Kinh Thánh sẽ trở nên rõ ràng đến trong suốt đối với họ. Nhiều người hi sinh những sự dạy dỗ của Kinh Thánh vì họ có nan đề trong vấn đề tiền tài. Nếu mọi Cơ Đốc nhân đều giải quyết nan đề tiền tài thì số người vâng phục sẽ gia tăng nhiều. Tại đây, chúng ta phải lưu ý đến lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời. Mỗi khi chúng ta bất cẩn mà xoay một chút sang mối quan tâm riêng của mình thì ánh sáng của Đức Chúa Trời sẽ bị chặn lại. Để nhìn thấy ánh sáng, chúng ta không thể phục vụ ma-môn. Chúng ta không thể có hai mối quan tâm. Chúng ta không thể duy trì mối quan tâm của Đức Chúa Trời cũng như mối quan tâm của mình. Chúng ta chỉ có thể nghĩ đến một điều: mối quan tâm của Đức Chúa Trời. Một khi suy nghĩ đến mối quan tâm riêng của mình thì chúng ta có hai chủ, và mắt chúng ta không còn đơn thuần nữa. Một người phân tâm không thể nghiên cứu Kinh Thánh; người ấy cũng không thể tránh khỏi có những mối quan tâm riêng. Chỉ những người có mắt đơn thuần mới có thể nghiên cứu Kinh Thánh.

Làm thế nào mắt có thể đơn thuần? Chúa phán: “Vì của báu ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó” (6:21). Điều lạ lùng là khi tiền tài ở dưới sự hướng dẫn của chúng ta, nó sẽ không làm hại mà còn trợ giúp chúng ta. Khi lòng chúng ta dành cho tiền tài, chúng ta yêu mến tiền bạc, và lòng mình khó hướng về Đức Chúa Trời. Nhưng nếu có thể điều khiển của báu của mình thì chúng ta sẽ có thể điều khiển lòng mình. Đó là lý do tại sao chúng ta phải tập phân phát của báu của mình. Chúa nói: “Vì của báu ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó”. Khi một người tích trữ của báu của mình nơi Chúa, tự phát lòng người ấy sẽ hướng về Chúa. Nếu một người tích trữ của báu mình ở trên trời, lòng người ấy sẽ ở trên trời. Của báu chúng ta ở đâu thì lòng chúng ta cũng ở đó. Nếu mọi sự chúng ta có đều ở với Đức Chúa Trời thì tự phát lòng chúng ta sẽ ở với Đức Chúa Trời và mắt chúng ta sẽ đơn thuần.

Để hiểu Kinh Thánh, chúng ta cần dâng mình tuyệt đối. Không dâng mình thì lòng chúng ta sẽ không hướng về Đức Chúa Trời. Tính chất đặc biệt của sự dâng mình là đem lòng chúng ta đến với Đức Chúa Trời. Khi chúng ta dâng mọi sự lên cho Đức Chúa Trời, lòng chúng ta sẽ đi theo chúng ta vì của báu của chúng ta đã ra đi. Có hai loại dâng mình. Một loại thì tấm lòng đi trước. Loại kia thì tấm lòng theo sau. Một số người dâng hiến của cải của mình sau khi lòng họ được chạm đến. Những người khác sau khi đã dâng hiến của cải của mình thì nhận thấy lòng mình theo sau. Dầu suy nghĩ không biết lòng mình có theo mình hay không, chúng ta chỉ cần quan tâm đến việc dâng mình. Bất cứ điều nào chúng ta tha thiết giữ lấy nhất thì cần phải ra đi trước tiên. Chúng ta cần phải phân phát điều đó cho những người túng thiếu trong danh Chúa. Khi những vật chúng ta sở hữu được phân phát, thì lòng chúng ta sẽ hướng về Chúa. Khi mọi điều của chúng ta đều ở với Chúa, mắt chúng ta sẽ đơn thuần.

Một khi mắt chúng ta trở nên đơn thuần, nó sẽ trở nên sáng tỏ, và ánh sáng sẽ chiếu xuyên qua. Chúa nói: “Cả thân thể ngươi đều sáng sủa” (c. 22). Cả thân thể sáng sủa nghĩa là gì? Tình trạng ấy có nghĩa là có đủ ánh sáng để chân chúng ta bước đi, để tay chúng ta lao động, và để tâm trí chúng ta suy nghĩ. Nói cách khác, chúng ta có ánh sáng trong mọi lãnh vực. Ánh sáng đầy dẫy cảm xúc, ý chí, tâm trí, tình yêu, bước đi và con đường của chúng ta. Chúng ta nhìn thấy mọi sự, vì mắt mình đơn thuần.

Trong phần trước, chúng tôi đã nói rằng chỉ những người thuộc linh mới có thể hiểu Kinh Thánh. Bây giờ chúng tôi phải thêm một điều nữa: Chỉ những người đã dâng mình mới có thể hiểu Kinh Thánh. Nếu một người chưa dâng mình thì người ấy không bao giờ có thể đọc Kinh Thánh có hiệu quả. Ngay khi mở Kinh Thánh ra người ấy sẽ đụng phải những lãnh vực mà mình đã giữ lại trong sự dâng mình, và tình trạng tối tăm sẽ bao phủ người ấy. Khi đọc tiếp, người ấy sẽ chạm đến những phương diện khác nhau chưa được dâng hiến, và tình trạng tối tăm sẽ lại bao trùm người ấy. Một khi tình trạng tối tăm bao phủ một người thì người ấy không hi vọng nhận được điều gì từ Đức Chúa Trời. Một người phải tuyệt đối vì Đức Chúa Trời. Người ấy không thể một mặt hầu việc Chúa, và mặt khác lại mong đi con đường riêng của mình. Một số người đã tranh luận rằng họ thật lòng tìm kiếm ý chỉ của Đức Chúa Trời, nhưng vẫn không biết Kinh Thánh dạy dỗ những gì. Họ nói họ không biết nan đề nằm ở chỗ nào. Nhưng đó là một lời bào chữa, chứ không phải là sự thật. Một người không biết vì người ấy không muốn đi con đường của Đức Chúa Trời. Nếu thật sự nghiêm túc muốn đi đường lối của Chúa thì người ấy sẽ tìm thấy con đường rõ ràng và hiển nhiên ở trước mặt mình. Loại người duy nhất không bao giờ sáng tỏ là người có mắt không đơn thuần.

C. Cần Liên Tục Vâng Phục

Đức Chúa Trời ban cho chúng ta khải thị về những sự dạy dỗ trong Kinh Thánh theo mức độ chúng ta vâng phục Ngài. Càng vâng phục Ngài thì chúng ta sẽ càng nhận được nhiều ánh sáng. Nếu tiếp tục vâng phục Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ tiếp tục nhìn thấy. Nếu không dâng mình thì chúng ta không thể nhìn thấy. Thiếu sự vâng phục liên tục, chúng ta không thể tiếp tục nhìn thấy. Nếu sự dâng mình của chúng ta không triệt để, sự chiếu sáng sẽ không lớn lao. Nếu sự vâng phục của chúng ta không tinh tế và chi tiết đúng mức, ánh sáng chúng ta nhận được sẽ không tinh tế và chi tiết đúng mức. Vì vậy, vấn đề căn bản là sự dâng mình. Nếu không hiểu ý nghĩa của sự dâng mình, một người không thể hiểu Kinh Thánh. Một người đã dâng mình không những phải có một sự dâng mình khởi đầu, căn bản, mà còn phải luôn luôn duy trì sự vâng phục trước mặt Chúa. Chỉ khi ấy người đó mới liên tục nhìn thấy. Mức độ ánh sáng một người nhận được tùy thuộc vào mức độ vâng phục người ấy duy trì sau khi dâng mình lần đầu tiên. Nếu vâng phục hoàn toàn thì chúng ta cũng nhìn thấy trọn vẹn.

Chúng ta cần phải lưu ý đến lời của Chúa trong Giăng 7:17: “Nếu người nào quyết tâm làm theo ý chỉ của Ngài, thì sẽ biết sự dạy dỗ ấy hoặc bởi Đức Chúa Trời, hoặc tự Ta nói ra”. Nếu quyết tâm làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời thì một người sẽ biết. Nói cách khác, sự vâng phục là một điều kiện để biết. Quyết tâm làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời là một điều kiện để biết sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời. Nếu một người không có ý định làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời, nhưng muốn biết sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời, thì người ấy đang xin điều không thể xảy ra được. Để biết sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời, trước hết một người phải quyết tâm làm theo ý chỉ của Ngài. Sự quyết tâm liên quan đến thái độ của người ấy. Đức Chúa Trời muốn chúng ta vâng phục trước hết trong thái độ của mình. Nếu một người vâng phục Đức Chúa Trời trong thái độ của mình, sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời sẽ rõ ràng đối với người ấy. Chúng ta không nên thắc mắc Kinh Thánh dạy gì. Trái lại, chúng ta nên hỏi xem mình có sẵn lòng vâng phục lời Ngài hay không. Nan đề nằm nơi thái độ của chúng ta, chứ không liên quan gì đến sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Kinh Thánh có mở ra cho chúng ta hay không tùy thuộc vào thái độ của chúng ta đối với Đức Chúa Trời. Chúng ta chịu trách nhiệm về thái độ của mình, trong khi Đức Chúa Trời chịu trách nhiệm về sự dạy dỗ của Ngài. Nếu thái độ của chúng ta đúng đắn thì Đức Chúa Trời sẽ mặc khải chính Ngài cho chúng ta và lập tức mở mắt chúng ta ra. Nếu chúng ta thêm vào thái độ ấy bằng sự vâng phục của mình, thì một lần nữa thái độ của chúng ta sẽ đúng đắn và Đức Chúa Trời sẽ ban cho chúng ta thêm khải thị. Trước hết là một thái độ đúng đắn, rồi mới đến khải thị. Nếu đáp ứng khải thị bằng sự vâng phục, chúng ta sẽ có thêm thái độ đúng đắn và nhận được thêm khải thị.

Nhiều người tuyên bố rằng mình đã nhìn thấy các lẽ thật trong Kinh Thánh. Thật ra, chỉ những người quyết tâm làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời mới nhìn thấy được những lẽ thật ấy. Chỉ có họ mới có thể tuyên bố rằng mình nhìn thấy rõ ràng và thấu suốt. Đức Chúa Trời phải thực hiện nhiều công tác trong chúng ta rồi chúng ta mới “quyết tâm” theo con đường này. Đừng tưởng là ánh sáng đến mà không phải trả giá. Để nhìn thấy mỗi một [khải thị] đều phải trả một giá cao; chúng ta phải trả một giá để nhìn thấy. Đôi khi, Đức Chúa Trời phải đem một người trải qua hai ba kinh nghiệm rồi người ấy mới nhìn thấy một điều gì đó. Đôi khi, Đức Chúa Trời phải đem người ấy qua sáu bảy kinh nghiệm rồi người ấy mới nhìn thấy một điều gì đó. Ánh sáng của Đức Chúa Trời thường đến với chúng ta theo cách phản chiếu. Trước hết ánh sáng chiếu trên một vật nào đó, rồi phản chiếu lại chúng ta. Ánh sáng của Đức Chúa Trời thường là ánh sáng phản chiếu. Chúng ta phải nhìn thấy ánh sáng từ góc độ này trước khi có thể nhìn thấy ánh sáng từ góc độ khác rồi mới đến góc độ thứ ba. Đôi khi, chúng ta cần trải qua một vài kinh nghiệm rồi mới có thể nhìn thấy ánh sáng. Nếu không vâng phục trong một điều thì chúng ta bỏ qua mất sự khải thị. Đó là cách ánh sáng của Đức Chúa Trời hành động. Nhiều khi chúng ta chỉ có thể nhìn thấy rõ ràng sau khi tự đặt mình ở những góc độ khác nhau. Trả giá càng cao trước mặt Chúa thì chúng ta càng nhìn thấy ánh sáng. Một kinh nghiệm vâng phục sẽ dẫn đến một kinh nghiệm khác rồi thậm chí [dẫn đến] sự vâng phục hơn nữa. Một kinh nghiệm về ánh sáng sẽ dẫn đến một kinh nghiệm khác rồi thậm chí [dẫn đến chỗ có] ánh sáng nhiều hơn. Ý chỉ của Đức Chúa Trời ẩn sau mọi sự Ngài đã xếp đặt. Mỗi khi một người bỏ sót hai ba cơ hội vâng phục Đức Chúa Trời, người ấy bị thiệt thòi trước mặt Đức Chúa Trời.

Dù có tự tin đối với việc dâng mình và vâng phục của mình đến đâu đi nữa, chúng ta vẫn phải nhận thức rằng mỗi khi chúng ta bị che khuất [không thấy được khải thị] thì có điều gì sai trật trong sự dâng mình của chúng ta. Mỗi khi chúng ta không nhìn thấy được thì mắt chúng ta có gì sai trật. Đức Chúa Trời không bao giờ thiếu ánh sáng, nhưng mỗi khi nhìn thấy bất cứ sự không sẵn lòng nào nơi chúng ta thì Ngài sẽ giữ lại lời phán của Ngài. Đức Chúa Trời không bao giờ bắt buộc ai làm bất cứ điều gì, nhưng cũng không truyền đạt lời Ngài một cách “rẻ tiền”. Nếu có bất cứ sự miễn cưỡng nào nơi chúng ta thì Thánh Linh sẽ tránh đi; Ngài sẽ rút lui chứ không ban phát chính Ngài một cách “rẻ tiền”. Nếu có điều gì sai trật trong sự dâng mình của một người thì Đức Chúa Trời sẽ không ban cho người ấy bất cứ ánh sáng nào. Một người không hiểu được Kinh Thánh không phải là chuyện nhỏ vì điều đó nói lên người ấy có nan đề trong sự dâng mình. Dầu xức mắt thuộc linh có giá phải trả, chứ không cho không. Để nhìn thấy mỗi một [khải thị] thì đều phải trả giá. Không khải thị nào chúng ta thấy mà không phải trả giá.

III. KINH NGHIỆM NHỜ THỰC HÀNH

Hê-bơ-rơ 5:14 chép: “Nhưng đồ ăn cứng thì để cho kẻ trưởng thành, tức là kẻ nhờ sự hay sử dụng mà luyện tập ngộ tài (quan năng) mình để phân biệt thiện ác”. Chữ hay sử dụng có thể được dịch là “thói quen”. Có một điều kiện để nhận được lời Đức Chúa Trời – một người phải trưởng thành. Chỉ một người trưởng thành mới có thể ăn đồ ăn cứng. Tại sao một người phải trưởng thành rồi mới có thể ăn đồ ăn cứng? Điều này liên quan đến thói quen của người ấy. Một người trưởng thành có thể ăn đồ cứng vì người ấy đã quen rồi. Quan năng của người ấy được vận dụng, và người ấy có thể phân biệt thiện ác. Câu 13 nói về việc được kinh nghiệm trong lời thuộc về sự công chính. Chữ kinh nghiệm trong tiếng Hi Lạp liên quan đến kỹ năng công nghiệp. Từ ngữ ấy có nghĩa là điêu luyện. Một số công nhân vụng về, trong khi những người khác thì điêu luyện. Một công nhân điêu luyện là người đã trải qua nhiều sự huấn luyện và tay nghề trở nên tài giỏi. Một người được kinh nghiệm trong lời Đức Chúa Trời là người được huấn luyện nhiều và điêu luyện trong lời Ngài. Nếu muốn nghiên cứu Kinh Thánh và hiểu lời Đức Chúa Trời, người ấy phải kinh nghiệm nhờ thực hành.

Kinh Thánh phơi bày tình trạng của chúng ta. Chúng ta là loại người thế nào sẽ quyết định loại Kinh Thánh mà chúng ta đọc. Nếu muốn biết tính nết và thói quen của một người như thế nào, chúng ta chỉ cần đưa cho người ấy đọc một chương trong Kinh Thánh và xem người ấy nhận được gì từ chương ấy. Người ấy là loại người thế nào sẽ quyết định việc người ấy đọc thế nào. Một người tò mò sẽ khám phá thấy Kinh Thánh đầy những điều kỳ lạ. Một người trí thức sẽ nhận thấy Kinh Thánh đầy những lý luận. Một người có đầu óc đơn giản sẽ thấy Kinh Thánh chỉ là bộ sưu tầm thơ văn. Sự thật là tính nết và thói quen của một người thường được biểu lộ qua việc người ấy đọc Kinh Thánh. Nếu một người chưa được Đức Chúa Trời sửa trị tính nết và thói quen của mình, người ấy sẽ sa vào tình trạng hoàn toàn sai trật, và việc người ấy đọc Kinh Thánh sẽ không có kết quả về mặt thuộc linh.

Để đọc Kinh Thánh, một người phải có những đức tính và thói quen như thế nào?

A. Không Được Chủ Quan

Mỗi người đọc Kinh Thánh đều cần phải học tập trở nên khách quan. Không người chủ quan nào có thể hiểu Kinh Thánh. Người chủ quan không thích hợp để làm một học trò. Nếu chúng ta nói với một người khách quan, người ấy sẽ hiểu sau khi chúng ta nói một lần. Nhưng một người chủ quan sẽ không hiểu sau khi chúng ta nói ba lần. Nhiều người không hiểu người khác nói gì, không phải vì họ không thông minh, mà vì quá chủ quan. Họ hoàn toàn sống trong tâm trí của mình và không thể tiếp nhận lời của người khác. Họ đầy những tư tưởng, ý kiến và đề nghị. Lời của người khác nói không tìm được chỗ nào trong họ. Tâm trí họ có thể tập trung [suy nghĩ] về nước, trong khi người khác đang nói về núi. Họ diễn dịch những gì mình vừa nghe và xem núi có nghĩa là núi với nước. Một người chủ quan không thể hiểu chính xác lời của con người, nói chi đến việc nghe lời của Đức Chúa Trời! Người ấy không thể hiểu những điều thuộc thế gian, nói chi đến những điều thuộc linh.

Một điều thú vị về những người nghiên cứu Kinh Thánh giỏi là họ đều mau nghe. Một khi người khác nói điều gì, họ liền hiểu chính xác những gì vừa được nói. Một người khách quan có thể lắng nghe người khác, và cũng có thể hiểu Kinh Thánh. Ngược lại, một số người hoàn toàn không hiểu người khác nói gì thậm chí sau khi nghe một hai lần. Họ chứa quá nhiều điều trong đầu óc mình. Họ đầy những tư tưởng, ý kiến và đề nghị. Người khác có thể lặp lại cùng một điều với họ một hai lần, nhưng họ vẫn không lãnh hội được. Để xem mình có chủ quan hay không, chúng ta chỉ cần tự hỏi rằng mình có hiểu những người khác nói gì không. Chúng ta có thể hiểu người khác nói gì cho dầu họ nói rất vắn tắt không? Những ngày chúng ta sống trên đất có hạn. Nếu có tính chủ quan thì thời giờ dành cho chúng ta sẽ giảm xuống nhiều. Nhờ đọc Kinh Thánh một lần mà người khách quan lãnh hội được nhiều hơn so với người chủ quan đọc Kinh Thánh mười lần. Một người chủ quan sẽ bỏ sót điều mình đọc thậm chí sau khi đọc điều đó một hai lần hay ngay cả chín mười lần. Kinh Thánh lướt qua người ấy mà không để lại ấn tượng nào.

Hãy nhớ lại câu chuyện về Sa-mu-ên. Khi Chúa gọi ông, ông cứ chạy đến Hê-li vì tưởng Hê-li đã gọi mình (1 Sa. 3:4-10). Đức Chúa Trời đã gọi ông, nhưng ông lại tưởng Hê-li gọi. Ông đã nghe tiếng của Hê-li nhiều lần, nhưng lần này chắc chắn không phải là tiếng của Hê-li. Ông không thể nhận ra sự khác nhau sao? Tính chủ quan của Sa-mu-ên làm cho ông tưởng Hê-li đã gọi mình. Đó là lý do tại sao ông không thể phân biệt giữa tiếng của Hê-li và tiếng của Đức Chúa Trời.

Nan đề đối với nhiều người là họ không để Đức Chúa Trời phá vỡ tính chủ quan của mình. Dầu có nghiên cứu Kinh Thánh bao nhiêu đi nữa, họ vẫn không thể có được ấn tượng nào về Kinh Thánh. Dường như họ chưa bao giờ nghe Đức Chúa Trời phán. Khi đến với Chúa để đọc lời Ngài, tâm trí của chúng ta phải mở ra cho Ngài. Ý kiến, cảm xúc, tấm lòng và mọi sự của chúng ta cũng phải mở ra cho Ngài nữa. Nói cách khác, chúng ta không thể chủ quan. Chúng ta phải nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này. Nếu chưa được xử lý đối với vấn đề này thì một người không thể đọc Kinh Thánh có hiệu quả. Một người khách quan thường xuyên chờ đợi; họ chờ Đức Chúa Trời phán. Bản thể bên trong của họ im lặng chờ đợi lời Đức Chúa Trời. Nếu ở trong tình trạng này, một người sẽ dễ dàng hiểu những gì Đức Chúa Trời đang bày tỏ khi người ấy mở ra cho lời Ngài. Không cần phải hỏi một người có thuộc linh hay không. Chúng ta chỉ cần hỏi người ấy đã nhận được gì khi đọc một chương nào đó trong Kinh Thánh. Một số người không thể cho chúng ta biết họ đã nhận được điều gì. Tình trạng đó chứng tỏ họ là người chủ quan. Một người chủ quan không dễ gì lắng nghe người khác. Người ấy giống như những người trong Hê-bơ-rơ 5:11, tức những người “chậm nghe”. Một số người đầy dẫy nhiều điều, và lời những người khác nói không tìm được chỗ nào trong họ. Tính chủ quan là một nan đề rất nghiêm trọng. Một người chủ quan không thể nghe lời của Đức Chúa Trời và không thể chạm đến những điều thuộc linh.

B. Không Được Bất Cẩn

Thứ hai, không người nào có thể được bất cẩn trong việc đọc Kinh Thánh. Kinh Thánh là một quyển sách rất chính xác. Không một chữ nào trong Kinh Thánh có thể bị đọc sai hay thay thế. Nếu chỉ hơi bất cẩn, một người sẽ bỏ sót lời Đức Chúa Trời. Một người chủ quan sẽ bỏ sót lời Đức Chúa Trời, và một người bất cẩn cũng sẽ bỏ sót lời Đức Chúa Trời. Chúng ta phải thận trọng. Càng biết lời Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ càng thận trọng. Một người cẩu thả sẽ đọc Kinh Thánh cách cẩu thả. Ngay khi nghe một anh em giảng Kinh Thánh thì chúng ta biết ngay đó là một người cẩu thả hay một người thận trọng. Trong việc đọc hay học thuộc lòng một câu [Kinh Thánh], nhiều người phạm những lỗi lầm do bất cẩn đối với những chữ trọng yếu. Đó là một thói quen tệ hại. Chúng ta dễ có thói quen không chính xác. Điều đó đưa đến một sự hiểu biết không chính xác về Kinh Thánh. Trong nhiều trường hợp, chỉ một chút bất cẩn về phần chúng ta có thể dẫn đến chỗ hiểu sai lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy xem xét một vài ví dụ.

Kinh Thánh lưu ý nhiều đến sự khác biệt giữa thể số ít và thể số nhiều. Chúng ta phải phân biệt một chữ ở thể số ít và ở thể số nhiều; chúng ta không thể bất cẩn về điểm này. Theo nguyên ngữ, tội và những tội [lỗi] khác nhau. Tội ở thể số ít chỉ về bản chất tội lỗi của con người, trong khi chữ ấy ở thể số nhiều, tức những tội [lỗi], chỉ về các hành vi tội lỗi của con người. Khi nói về việc Đức Chúa Trời tha thứ những tội lỗi của con người, Kinh Thánh dùng thể số nhiều – những tội, là nhiều hành vi tội lỗi. Đức Chúa Trời không bao giờ tha thứ tội của con người, tức bản chất tội lỗi. Tội không thể được tha. Chúng ta cần được giải cứu khỏi bản chất tội lỗi (tội ở thể số ít), nhưng chúng ta cần được tha thứ đối với những hành vi tội lỗi của mình (những tội ở thể số nhiều). Kinh Thánh nêu lên sự khác biệt rõ ràng giữa hai điều này.

Giữa tội và luật của tội cũng có một sự khác biệt. Nếu chưa được giải cứu khỏi luật của tội, một người không thể được giải cứu khỏi tội. La Mã chương 6 là về việc giải cứu khỏi tội, trong khi chương bảy bàn về luật của tội. Nếu bất cẩn một chút thì chúng ta sẽ nghĩ rằng hai vấn đề này có phần nào giống nhau. Khi đọc La Mã chương 6, có thể chúng ta nghĩ rằng nan đề tội hoàn toàn được giải quyết ở cuối chương ấy, vì tại đó Phao-lô đề cập trước phần đầu của chương mười hai, là chương bàn đến việc dâng thân thể và các chi thể của một người. Tuy nhiên, Phao-lô biết rõ rằng để được giải cứu khỏi tội, chúng ta cũng phải biết luật của tội, và để đắc thắng luật của tội thì phải cần đến luật của Linh sự sống trong chương tám. Nếu bất cẩn, chúng ta có thể nghĩ là tội và luật của tội không mấy khác biệt, và do đó có thể bỏ qua lời Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời thật thuần khiết; mỗi lời đều có sự nhấn mạnh thích hợp. Nếu nói năng bất cẩn thì chúng ta sẽ bị đưa đến chỗ nghĩ rằng lời Đức Chúa Trời cũng cẩu thả, và điều đó sẽ gây trở ngại cho chúng ta trong việc hiểu lời Ngài.

Trong La Mã chương 7, thêm vào luật của tội còn có một luật khác – luật của sự chết. Nếu bất cẩn thì có thể chúng ta nghĩ rằng luật của tội và luật của sự chết có phần nào giống nhau. Nhưng thật ra, hai điều đó hoàn toàn khác biệt. Tội chỉ về những sự ô uế của một người, trong khi sự chết chỉ về sự bất lực của một người. Muốn làm điều lành nhưng không có khả năng làm, đó là hành động của luật của tội, trong khi muốn kiềm chế tính gian ác nhưng không có khả năng kiềm chế, đó là hành động của luật của sự chết. Tội đưa một người đến chỗ tự phát làm điều mình không muốn, trong khi sự chết ngăn chặn một người làm điều người ấy muốn làm. Chúng ta được giải cứu khỏi luật của tội nhờ đồng chết với Đấng Christ, và được giải cứu khỏi luật của sự chết nhờ đồng sống lại với Đấng Christ. La Mã chương 7 không những cho chúng ta thấy luật của tội mà cũng cho thấy luật của sự chết. Nếu bất cẩn và cẩu thả, chúng ta sẽ bỏ sót những lẽ thật này. Vì vậy, hiển nhiên là chỉ những người thận trọng và chính xác mới có thể nghiên cứu Kinh Thánh có hiệu quả.

Tôi từng nghe một số người nói rằng chúng ta mặc áo công chính của Chúa Jesus, Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta sự công chính của Đấng Christ làm áo công chính của mình, và chúng ta không còn trần truồng nữa mà bây giờ có thể đến với Đức Chúa Trời. Nhưng Kinh Thánh không dạy dỗ như vậy. Chúng ta không tìm thấy chỗ nào trong Kinh Thánh nói sự công chính của Chúa Jesus được ban cho chúng ta để làm sự công chính của mình. Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta Chúa Jesus làm sự công chính của mình. Ngài đã không xé một mảnh công chính của Đấng Christ và ban điều đó cho chúng ta làm sự công chính của mình. Ngài đã ban cho chúng ta Chúa Jesus, tức chính thân-vị Ngài, làm sự công chính của chúng ta. Ở đây có một sự khác biệt lớn! Một người bất cẩn sẽ nghĩ rằng sự công chính của Chúa Jesus và Chúa Jesus là sự công chính có phần nào giống như nhau. Người ấy không nhận thức được rằng sự công chính của Chúa Jesus chỉ thuộc về một mình Ngài; điều đó không bao giờ có thể được chuyển sang cho chúng ta. Mọi người đều cần phải công chính trước mặt Đức Chúa Trời, và Chúa Jesus cũng phải công chính trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng sự công chính của Ngài dành cho chính Ngài. Sự công chính của Ngài là sự công chính Ngài sống trong thời gian ở trên đất. Nếu chúng ta có thể trở nên công chính chỉ nhờ nhận lấy cho mình sự công chính của Ngài, thì tại sao Chúa đã phải chết? Sự công chính của Chúa Jesus không thể chuyển nhượng được. Sự công chính của Ngài mãi mãi thuộc về một mình Ngài; không ai có thể chia sẻ sự công chính ấy. Sự công chính của chúng ta là thân-vị của Chúa Jesus, chứ không phải là sự công chính của Ngài. Trong toàn bộ Tân Ước, chúng ta chỉ có thể tìm thấy Chúa Jesus là sự công chính của mình (ngoại trừ một trường hợp trong 2 Phi-e-rơ 1:1, điều đó mang một ý nghĩa khác), chứ không có chỗ nào nói sự công chính của Chúa là sự công chính của chúng ta. Sự công chính của Chúa Jesus làm cho Ngài có đủ tư cách làm Cứu Chúa của chúng ta. Vì Ngài công chính nên không cần sự cứu chuộc cho chính mình. Chúa Jesus hoàn toàn được Đức Chúa Trời xưng là công chính. Bây giờ, Đức Chúa Trời ban Ngài cho chúng ta để làm sự công chính của chúng ta. Sự công chính mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta là Đấng Christ. Chúng ta mặc Đấng Christ vào. Khi có Ngài ở trên mình, chúng ta có sự công chính. Không phải chúng ta được xưng công chính nhờ hành vi của mình. Chúng ta mặc Đấng Christ vào, và Đấng Christ là sự công chính của chúng ta. Chúng ta được chấp nhận trong Con yêu dấu, chứ không được chấp nhận trong sự công chính của Con yêu dấu. Để nghiên cứu Kinh Thánh có hiệu quả, chúng ta phải chính xác và đừng bỏ sót một điểm nào.

Một số người nói rằng huyết của Chúa Jesus ban cho chúng ta sự sống. Nói như vậy có nghĩa là sự sống mới của chúng ta căn cứ vào huyết của Chúa Jesus. Họ nói rằng khi uống huyết của Chúa thì chúng ta có được sự sống của Ngài. Họ trích dẫn Lê-vi Ký 17:14, câu ấy nói rằng sự sống ở trong huyết. Nếu đọc câu ấy một cách nông cạn, chúng ta sẽ đồng ý với lời dạy dỗ ấy. Nhưng huyết không đem đến cho chúng ta một sự sống mới. Huyết là vì sự cứu chuộc; đó là để thỏa mãn đòi hỏi của Đức Chúa Trời. Xuất Ai Cập Ký 12:13 đưa ra cho chúng ta một nguyên tắc chủ đạo về huyết: “Khi thấy huyết đó thì Ta sẽ vượt qua ngươi”. Huyết là cho Đức Chúa Trời. Đó là để thỏa mãn đòi hỏi của Đức Chúa Trời chứ không phải thỏa mãn đòi hỏi của chúng ta. Chỉ có một trường hợp trong Kinh Thánh huyết được đề cập đến là dành cho chúng ta. Chỗ ấy nói rằng huyết áp dụng cho lương tâm chúng ta (Hê. 9:14). Tuy nhiên, thậm chí lương tâm cũng dành cho Đức Chúa Trời.

Thế thì ý nghĩa của chữ sự sống trong Lê-vi Ký chương 17 là gì? Trong nguyên ngữ, chữ sự sống trong câu này là cùng một chữ với hồn. Từ ngữ ấy chỉ về sự sống hồn. Chúa Jesus đổ sự sống hồn của mình ra cho đến chết. Ê-sai 53:12 nói rằng Ngài đổ hồn mình ra cho đến chết. Chúa Jesus đổ huyết Ngài ra, tức là đổ hồn của Ngài ra cho đến chết để hoàn thành sự cứu chuộc. Ngài kêu lớn trên thập tự giá rằng: “Thưa Cha, Con giao thác linh Con lại trong tay Cha” (Lu. 23:46, RcV). Vừa nói xong câu ấy thì Ngài tắt hơi. Thân thể của Ngài bị treo trên thập tự giá, và hồn Ngài, qua huyết, được đổ ra để hoàn thành sự cứu chuộc. (Đặc tính của con người là hồn. Một hồn tội lỗi phải chết; tức là trung tâm nhân cách của con người phải chết). Đồng thời, Ngài giao thác linh Ngài cho Đức Chúa Trời.

Giăng chương 6 nói một vài lần rằng những người ăn thịt của Chúa cũng như uống huyết Ngài sẽ có sự sống. Tại đó cũng nói những người ăn thịt của Ngài sẽ có sự sống. Nhưng không có chỗ nào nói rằng những người chỉ uống huyết sẽ có sự sống. Nếu một người uống huyết Ngài, người ấy cũng phải ăn thịt của Ngài rồi người ấy mới có sự sống. Chúng ta phải học tập để trở nên những người thận trọng. Nếu chúng ta trộn lẫn điều Đức Chúa Trời tách rời, thì cuối cùng chúng ta sẽ hiểu sai điều Ngài phán. Chúng ta không thể giảng giải Kinh Thánh một cách bất cẩn. Chúng ta phải cẩn trọng nghiên cứu Kinh Thánh, tra cứu hàng trăm trường hợp đề cập đến huyết, và nghiên cứu từng trường hợp một rồi mới có thể nhìn thấy ánh sáng. Huyết là để thỏa mãn đòi hỏi của Đức Chúa Trời chứ không phải để thỏa mãn đòi hỏi của chúng ta.

Giả sử, John Wesley đến nói với chúng ta nói rằng: “Huyết của Chúa Jesus sẽ tẩy sạch lòng chúng ta và xóa sạch mầm mống tội khỏi chúng ta, và chúng ta sẽ không còn phạm tội nữa”. Chúng ta nên đáp thế nào? Chúng ta nên nói: “Huyết của Chúa Jesus không bao giờ tẩy sạch lòng chúng ta. Kinh Thánh không bao giờ nói huyết của Chúa Jesus sẽ tẩy sạch lòng chúng ta. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một tấm lòng mới. Tấm lòng của con người gian ác hơn mọi sự và không bao giờ có thể được tẩy sạch”. Huyết là để cứu chuộc chứ không phải để tẩy sạch. Huyết là để tha thứ chứ không phải để thánh hóa. (Có một sự khác biệt giữa sự thánh hóa trước mặt Đức Chúa Trời và sự thánh hóa trước mặt con người). Một số người có thể hỏi: “Hê-bơ-rơ chương 10 không nói với chúng ta rằng huyết của Chúa tẩy sạch lòng của chúng ta sao?” (Tác giả đang đề cập đến bản Kinh Thánh Chinese Union – LND). Không! Sách Hê-bơ-rơ nói về việc rảy lương tâm (10:22). Lương tâm chỉ là một phần của tấm lòng. Phần duy nhất ở bên trong con người có ý thức về tội là lương tâm. Huyết làm thỏa mãn đòi hỏi của Đức Chúa Trời và cũng làm thỏa mãn tiếng kêu gào của lương tâm chúng ta. Khi chúng ta nhận thức Chúa Jesus đã cứu chuộc mình khỏi tội, tự phát lương tâm chúng ta sẽ không còn có ý thức về tội nữa. Chức năng của huyết trong lương tâm chúng ta không phải là giải phóng chúng ta khỏi tội mà là cất đi ý thức của chúng ta về tội. Giải phóng khỏi tội là kết quả công tác của Thánh Linh. Công tác của huyết khác với công tác của Thánh Linh; chúng ta đừng bao giờ nhầm lẫn hai điều này.

Trước mặt Chúa, chúng ta phải phát triển thói quen chính xác. Nếu không chính xác thì chúng ta sẽ hi sinh sự chính xác của Đức Chúa Trời. Nếu có một thói quen không chính xác thì chúng ta sẽ không nhận được gì khi đọc Kinh Thánh. Chúng ta phải nhận thấy Kinh Thánh chính xác như thế nào. Kinh Thánh chính xác đến mức nó không chừa chỗ cho bất cứ sự lẫn lộn nào. Chúng ta phải được Chúa đào tạo để trở nên chính xác.

C. Đừng Tò Mò

Trong khi cố gắng chính xác, chúng ta đừng trở nên tò mò. Lời Đức Chúa Trời thật chính xác, nhưng chúng ta đừng bao giờ tra cứu Lời với một tâm trí tò mò. Nếu tra cứu Lời Đức Chúa Trời với một tâm trí tò mò, chúng ta sẽ không nhìn thấy giá trị thuộc linh của quyển sách ấy. Kinh Thánh là một quyển sách thuộc linh, và chúng ta phải vận dụng linh mình rồi mới có thể hiểu quyển sách ấy. Nếu muốn có được tính chính xác là để thỏa mãn sự tò mò chứ không phải để thỏa mãn nhu cầu thuộc linh của mình, thì chúng ta đang đi con đường sai trật. Đáng tiếc là nhiều người đọc Kinh Thánh để đào bới ra những điều kỳ lạ. Một số người dành rất nhiều thời giờ cố gắng xác minh cây kiến thức về thiện và ác có phải là một cây nho hay không. Nghiên cứu Kinh Thánh như vậy thật vô ích. Chúng ta phải ghi nhớ Kinh Thánh là một quyển sách thuộc linh. Chúng ta phải chạm đến sự sống, chạm đến linh, và chạm đến Chúa. Một khi chạm đến những điều thuộc linh, tự phát chúng ta sẽ nhận ra tính chính xác theo nguyên văn của Lời vì trong thực chất, tất cả những điều thuộc linh đều chính xác. Nhưng nếu tiền đề của chúng ta không phải là theo đuổi những điều thuộc linh, thì chúng ta sẽ ở trên con đường sai trật.

Một số người thích đi con đường tò mò. Họ nghiên cứu các lời tiên tri vì tính tò mò thúc đẩy. Họ nghiên cứu các lời tiên tri không phải để chờ đợi Chúa trở lại, mà vì họ muốn biết tương lai. Có một sự khác biệt lớn giữa thuộc linh và không thuộc linh. Nếu chúng ta là một người tò mò thì tất cả những điều thuộc linh và quí giá đều sẽ trở nên không thuộc linh và chết chóc khi những điều ấy sa vào tay chúng ta. Đó là một điều rất nghiêm trọng. Trước mặt Chúa, chúng ta phải phân biệt giữa những điều quí giá và những điều không quí giá. Chúng ta phải phân biệt giữa những điều quan trọng và những điều không quan trọng. Chúa Jesus phán: “Một chấm một nét trong luật pháp hẳn không qua đi” (Mat. 5:18). Nhưng Ngài cũng phán rằng có “những điều hệ trọng hơn trong luật pháp” (23:23). Luật pháp rất chính xác đến mức một chấm hay một nét cũng không thể qua đi. Nhưng cũng có những điều hệ trọng hơn trong luật pháp. Những người tò mò luôn luôn thu thập những điều không quan trọng và nghiên cứu chúng. Nếu cứ nhận lấy những điều không quan trọng thì cuối cùng họ sẽ trở nên những người không nghiêm túc. Như Chúa Jesus đã nói, họ lọc con mòng mà nuốt con lạc đà (c. 24). Họ lọc ra những điều nhỏ nhất và nuốt những điều lớn nhất. Đọc [Kinh Thánh] như vậy thì hoàn toàn sai trật. Sai lầm ấy phát xuất từ bản tính tò mò của một người. Nếu bản tính không thay đổi thì chúng ta không thể trông mong đọc Kinh Thánh có hiệu quả.

Những đặc điểm được đề cập trên – tính chủ quan, bất cẩn và tò mò – là những nhược điểm chung giữa vòng loài người. Chúng ta phải cố gắng đắc thắng những nhược điểm ấy trước mặt Chúa. Chúng ta phải khách quan, chính xác và đừng tò mò. Không phải một sớm một chiều mà chúng ta có được tính khách quan, chính xác và không tò mò; chúng ta phải tự kỷ luật bản thân để phát triển một thói quen như vậy. Ngay khi cầm lên quyển Kinh Thánh, chúng ta cần phải đọc cách khách quan, chính xác và không tò mò. Khi có những đức tính và thói quen đúng đắn, chúng ta sẽ biết cách đọc Kinh Thánh đúng đắn.