Thông tin sách

Phá Vỡ Con Người Bề Ngoài Để Giải Phóng Linh

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Breaking of the Outer Man and the Release of the Spirit
ISBN: 978-1-57593-955-1
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 5

Untitled Document

CHƯƠNG NĂM

HỘI THÁNH VÀ CÔNG TÁC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Nếu thật sự biết ý nghĩa của công tác Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ phải nhận biết rằng người bề ngoài là một cản trở rất lớn. Chúng ta có thể nói ngày nay Đức Chúa Trời bị con người giới hạn. Con cái Đức Chúa Trời phải hiểu chức năng của Hội thánh và mối liên hệ giữa Hội thánh với quyền năng của Đức Chúa Trời và công việc của Ngài.

BIỂU LỘ ĐỨC CHÚA TRỜI HAY GIỚI HẠN ĐỨC CHÚA TRỜI

Đã có lần Đức Chúa Trời hạn chế chính Ngài trong thân thể của một con người, là Jesus người Na-xa-rét. Xác thịt ấy có thể giới hạn Đức Chúa Trời hay bày tỏ sự phong phú của Đức Chúa Trời. Trước sự nhục hóa, sự phong phú của Đức Chúa Trời không bị giới hạn. Nhưng sau sự nhục hóa, công tác và quyền năng của Đức Chúa Trời bị giới hạn trong xác thịt này. Đức Chúa Trời không làm gì tách rời khỏi xác thịt ấy. Đức Chúa Trời bằng lòng bị xác thịt ấy giới hạn. Dĩ nhiên Kinh Thánh cho chúng ta biết Đức Chúa Trời không bị giới hạn bởi xác thịt ấy về bất cứ phương diện nào. Xác thịt ấy có thể giới hạn Ngài, nhưng xác thịt ấy đã không giới hạn Ngài, trái lại, còn bày tỏ sự phong phú của Đức Chúa Trời một cách đầy trọn. Sự phong phú của Đức Chúa Trời trở nên sự phong phú của con người bằng xương bằng thịt ấy.

Vào giai đoạn nhục hóa, Đức Chúa Trời đã đặt chính Ngài trong xác thịt ấy. Ngày nay, Đức Chúa Trời đặt chính Ngài trong Hội thánh. Quyền năng Ngài và công tác Ngài được tìm thấy trong Hội thánh. Vào thời của bốn sách Phúc âm, Đức Chúa Trời không làm gì tách rời khỏi xác thịt ấy. Mọi công tác của Ngài đều được giao phó cho Con. Cũng vậy Đức Chúa Trời đã phó thác tất cả công tác của Ngài cho Hội thánh. Ngài không làm gì ngoài Hội thánh. Đức Chúa Trời không làm công việc gì cách độc lập. Ngài chỉ hành động qua Hội thánh. Từ lễ Ngũ tuần đến nay, công tác của Đức Chúa Trời luôn luôn được thực hiện ra qua Hội thánh. Y như Ngài đã hoàn toàn phó thác chính mình cách rõ ràng cho một con người, là Đấng Christ, mà không giữ lại chút gì, Ngài cũng đã ban chính mình cách hoàn toàn và rõ ràng cho Hội thánh mà không giữ lại chút gì. Trách nhiệm của Hội thánh lớn lao biết bao trước mặt Đức Chúa Trời! Hội thánh có thể giới hạn công tác của Đức Chúa Trời, có thể giới hạn sự tuôn đổ của Đức Chúa Trời.

Jesus người Na-xa-rét là Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Ngài. Ngài không giới hạn Đức Chúa Trời vì mọi sự ở trong và ở ngoài Ngài đều được Đức Chúa Trời chiếm hữu. Tình cảm của Ngài là tình cảm của Đức Chúa Trời. Tư tưởng của Ngài là tư tưởng của Đức Chúa Trời. Khi Ngài ở trên đất, Ngài không đến để làm theo ý muốn Ngài, nhưng ý muốn của Đấng đã sai Ngài (Gi. 6:38). Con không tự mình làm gì cả, Ngài chỉ làm những gì Ngài thấy Cha làm (5:19). Ngài không tự mình nói gì cả. Những gì Ngài nghe từ Cha thì Ngài nói với thế gian (8:26). Nơi Ngài, chúng ta thấy một con người được Đức Chúa Trời phó thác chính Ngài. Đức Chúa Trời có thể nói rằng ấy là Lời trở nên xác thịt, Đức Chúa Trời trở nên một con người cách đầy trọn. Khi Đức Chúa Trời muốn ban phát sự sống của Ngài cho loài người, Đấng ấy có thể sẵn sàng đáp ứng: “Nếu [hạt lúa mì] chết đi, thì kết quả nhiều” (12:24). Ngài có thể tuôn đổ sự sống của mình. Ngài không trở thành một chướng ngại vật hay một sự cản trở. Ngày nay, Đức Chúa Trời đã lựa chọn Hội thánh để làm chiếc bình của Ngài. Ngài đã đặt chính Ngài, quyền năng Ngài và công việc Ngài trong Hội thánh. Ao ước của Ngài là tuôn đổ chính Ngài ra qua Hội thánh. Hội thánh là lời phán của Đức Chúa Trời, là chiếc bình qua đó Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng Ngài và hoàn thành công tác Ngài. Nếu ngày nay Hội thánh cho Đức Chúa Trời có một con đường, thì quyền năng và công tác của Ngài sẽ được bày tỏ ra. Nếu Hội thánh thất bại, Đức Chúa Trời sẽ bị giới hạn.

Sự dạy dỗ cơ bản của các sách Phúc âm là Đức Chúa Trời đã ở trong một con người, trong khi sự dạy dỗ cơ bản của các Thư-tín là Đức Chúa Trời ở trong Hội thánh. Các sách Phúc âm cho chúng ta biết Đức Chúa Trời chỉ ở trong một con người. Ngài chỉ ở trong Jesus Christ. Các Thư-tín bày tỏ Đức Chúa Trời chỉ ở trong Hội thánh. Ngài không ở trong tổ chức hay hội đoàn. Ngài chỉ được tìm thấy trong Hội thánh. Nguyện mắt chúng ta mở ra để thấy sự thật vinh hiển này.

Khi mắt chúng ta được mở ra để thấy sự thật vinh hiển này, chúng ta sẽ tự động nhìn lên trời và thưa rằng: “Lạy Đức Chúa Trời của con, con đã giới hạn Ngài biết bao!” Khi Đức Chúa Trời Toàn Năng sống trong Đấng Christ, Ngài vẫn là Đức Chúa Trời Toàn Năng, Ngài không bị giới hạn hay bị giảm giá trị về bất cứ phương diện nào. Hi vọng và mục tiêu của Đức Chúa Trời ngày nay ấy là trong Hội thánh, Ngài vẫn tiếp tục là Đức Chúa Trời Toàn Năng, là Đấng vô hạn. Đức Chúa Trời muốn tự do bày tỏ chính Ngài trong Hội thánh y như Ngài đã được bày tỏ trong Đấng Christ. Nếu Hội thánh bị hạn chế, Đức Chúa Trời bị hạn chế. Nếu Hội thánh không có quyền năng, Đức Chúa Trời không có quyền năng. Đó là vấn đề rất nghiêm trọng. Chúng ta chỉ có thể nói như vậy cách khiêm nhường và kính sợ. Nói cách đơn giản, bất cứ chướng ngại vật nào trong chúng ta cũng trở nên chướng ngại vật cho Đức Chúa Trời. Bất cứ giới hạn nào trong chúng ta cũng trở nên giới hạn cho Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời không được tự do qua Hội thánh, Ngài không có đường để tiến lên. Ngày nay, con đường của Đức Chúa Trời là qua Hội thánh.

Vì sao sự sửa trị của Thánh Linh lại quan trọng như vậy? Vì sao sự phân cách hồn khỏi linh lại quan trọng như vậy? Vì sao người bề ngoài phải bị phá vỡ bởi công tác sửa trị của Thánh Linh? Bởi vì Đức Chúa Trời cần có một con đường qua chúng ta. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng đây chỉ là sự gây dựng thuộc linh có tính cách cá nhân. Đây không những là vấn đề kinh nghiệm thuộc linh có tính cách cá nhân, nhưng liên quan rất nhiều đến đường lối và công tác của Đức Chúa Trời. Đây là một vấn đề lớn. Chúng ta có nên giới hạn Đức Chúa Trời không? Đức Chúa Trời có được tự do trong chúng ta không? Chỉ khi nào chúng ta được xử lý và phá vỡ, Đức Chúa Trời mới được hoàn toàn tự do trong chúng ta.

Nếu Hội thánh phải cung ứng cho Đức Chúa Trời một con đường tự do, chúng ta phải chịu Ngài tước đoạt và cho phép Ngài phá vỡ con người bề ngoài của mình. Trở ngại lớn nhất đối với điều này là con người bề ngoài. Nếu nan đề con người bề ngoài không được giải quyết, vấn đề Hội thánh như ống dẫn của Đức Chúa Trời không bao giờ được giải quyết. Nếu người bề ngoài của chúng ta được ân điển Đức Chúa Trời phá vỡ, Đức Chúa Trời sẽ sử dụng chúng ta làm ống dẫn để tuôn đổ công tác Ngài cách không giới hạn.

SỰ PHÁ VỠ VÀ PHƯƠNG CÁCH CÔNG TÁC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VẬN HÀNH

Sau khi người bề ngoài được phá vỡ, làm thế nào một người đến với Lời Đức Chúa Trời, làm thế nào người ấy phục vụ như một người cung ứng lời Ngài và làm thế nào người ấy rao giảng phúc âm? Chúng ta hãy chú ý đến những vấn đề này.

Học Hỏi Lời

Một sự thật không thể chối cãi được trong việc học hỏi Lời Đức Chúa Trời là việc chúng ta thuộc loại người nào sẽ xác định loại Kinh Thánh chúng ta có trong tay. Con người thường đến với Kinh Thánh với một tâm trí nổi loạn, rối rắm và có vẻ khôn ngoan. Những gì người ấy nhận được từ Kinh Thánh là sản phẩm của tâm trí mình; người ấy không đụng chạm được linh của Lời. Nếu muốn gặp gỡ Chúa qua Kinh Thánh, tâm trí phản loạn và bất hợp tác của chúng ta phải được phá vỡ. Nếu tâm trí chúng ta luôn luôn nổi loạn và bất hợp tác, sự khôn ngoan của chúng ta chẳng ích lợi gì cả. Chúng ta có thể nghĩ rằng sự khôn ngoan của mình thật là xuất sắc, nhưng nó lại là một trở ngại lớn lao đối với Đức Chúa Trời. Dầu khôn ngoan đến đâu, chúng ta không bao giờ biết được tư tưởng của Đức Chúa Trời qua sự khôn ngoan ấy.

Ít nhất có hai điều chúng ta nên làm khi đến với Kinh Thánh. Trước hết, tư tưởng của chúng ta phải được đồng nhất hóa với tư tưởng của Kinh Thánh. Thứ hai, linh chúng ta phải được đồng nhất hóa với linh của Kinh Thánh. Chúng ta phải suy nghĩ giống như các tác giả của Kinh Thánh. Những người như Phao-lô và Giăng có những tư tưởng ẩn tàng khi họ viết các phần khác nhau của Lời Chúa. Chúng ta phải vào sâu trong chính các tư tưởng ấy. Chúng ta phải bắt đầu nơi họ bắt đầu, và khai triển tư tưởng của mình theo cùng chiều hướng mà họ khai triển. Chúng ta phải lý luận theo cách mà họ lý luận và cùng xem xét sự dạy dỗ mà họ xem xét. Nói cách khác, tư tưởng của chúng ta giống như một cái răng cưa bánh xe, và tư tưởng của họ cũng là một cái răng cưa bánh xe. Hai răng cưa bánh xe này phải ăn khớp với nhau. Tư tưởng của chúng ta phải đi vào tư tưởng của Phao-lô và Giăng. Khi tư tưởng của chúng ta đi vào tư tưởng của Kinh Thánh và tâm trí chúng ta trở nên một với tâm trí ẩn tàng trong sự cảm thúc của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ hiểu điều Kinh Thánh nói.

Một số người lấy tâm trí của mình làm cơ quan chính khi đọc Kinh Thánh. Họ đọc với hi vọng thâu lượm một vài tư tưởng từ những tư tưởng trong Kinh Thánh. Họ sẵn có một bộ giáo lý xoay vần trong tâm trí mình, và họ chỉ muốn thâu góp tài liệu trong Kinh Thánh để củng cố giáo lý của mình. Khi chúng ta đứng lên nói, sau năm mười phút, một người kinh nghiệm sẽ biết chúng ta đang trưng dẫn Kinh Thánh với tâm trí của mình hay tư tưởng của chúng ta hòa nhập vào tư tưởng của Kinh Thánh. Đó là hai điều hoàn toàn khác nhau. Hai loại giảng dạy này thuộc về hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Khi một vài người đứng lên giảng dạy, có thể lời họ căn cứ trên Kinh Thánh và những bài giảng của họ rất lôi cuốn, nhưng tư tưởng của họ trái ngược với tư tưởng của Kinh Thánh, hai dòng tư tưởng xung khắc với nhau. Tuy nhiên, những người kia lại khác. Khi họ nói về Kinh Thánh, tư tưởng của họ hòa nhập vào tư tưởng của Kinh Thánh. Hai trở nên một và hòa hợp với nhau. Đó là phương cách đúng đắn. Nhưng không phải ai cũng làm được như vậy. Để tư tưởng của chúng ta hòa nhập với tư tưởng của Kinh Thánh, con người bề ngoài của chúng ta phải bị phá vỡ. Nếu người bề ngoài không được phá vỡ, thậm chí chúng ta cũng không thể đọc Kinh Thánh. Chúng ta không nên nghĩ rằng sự học hỏi Kinh Thánh của mình nghèo nàn vì chúng ta không tìm được ai dạy dỗ mình. Việc học hỏi Kinh Thánh của chúng ta nghèo nàn vì chính con người chúng ta sai lạc, tư tưởng chúng ta không đầu phục Đức Chúa Trời. Ngay khi được phá vỡ, chúng ta sẽ ngưng các hoạt động của chính mình. Chúng ta sẽ không có ý niệm chủ quan của mình. Dần dần, một cách yếu ớt, từng chút một, chúng ta sẽ chạm đến sự suy nghĩ của Chúa. Chúng ta sẽ chạm đến những tư tưởng ẩn tàng đằng sau các tác giả của Kinh Thánh, và chúng ta sẽ suy nghĩ giống như họ. Con người bề ngoài phải được phá vỡ trước khi chúng ta có thể tiến sâu vào tư tưởng ẩn tàng trong Lời Đức Chúa Trời. Khi điều này xảy ra, người bề ngoài không còn là một cản trở nữa.

Trong việc học hỏi Lời Chúa, tư tưởng của chúng ta tiến sâu vào tư tưởng của các tác giả Kinh Thánh và tiến sâu vào tư tưởng của Thánh Linh là điều quan trọng. Tuy nhiên, đó chỉ là bước đầu. Không có bước này, chúng ta không thể học Kinh Thánh gì cả. Nhưng thậm chí khi đã thực hiện bước này, chúng ta vẫn có thể không đọc Kinh Thánh cách đúng đắn. Kinh Thánh không phải chỉ bao hàm các tư tưởng mà thôi. Điều quan trọng nhất về Kinh Thánh là Linh của Đức Chúa Trời được tuôn đổ qua quyển sách này. Phi-e-rơ, Giăng, Ma-thi-ơ, Mác và tất cả các tác giả của Kinh Thánh đều có cùng một kinh nghiệm: khi đang viết Kinh Thánh dưới sự cảm thúc của Thánh Linh, họ viết theo một dòng tư tưởng nào đó, nhưng đồng thời, linh của họ tuôn ra theo sự tuôn đổ của Thánh Linh. Thế giới không bao giờ có thể hiểu rằng phía sau những lời của các sách trong Kinh Thánh có một Linh. Khi Linh tuôn đổ, các tiên tri trở nên sống động như xưa và họ nói với chúng ta một lần nữa. Nếu nghe một tiên tri nói, chúng ta phải nhận thức rằng lời nói của ông không những chứa đựng lời và tư tưởng nhưng còn có một điều gì khác. Điều này đôi khi rất huyền nhiệm, mặc dầu người bên trong của chúng ta sáng tỏ rằng “điều gì đó” là Linh. Kinh Thánh không những chứa đựng tư tưởng mà còn là sự tuôn đổ Linh. Vì vậy, sự đòi hỏi cơ bản và quan trọng hơn hết trong việc đọc Kinh Thánh là chúng ta cần có khả năng giải phóng linh mình để chạm đến linh của Kinh Thánh. Chúng ta phải để linh của Kinh Thánh chạm đến linh mình rồi mới có thể hiểu Kinh Thánh.

Giả sử một cậu bé nghịch ngợm làm bể cửa sổ một nhà hàng xóm và chủ nhà chạy ra la cậu bé. Khi mẹ cậu biết được, bà cũng sẽ la rầy cậu. Nhưng cảm xúc của người chủ nhà khi la mắng khác với cảm xúc của người mẹ khi la mắng con mình. Bề ngoài, cả hai đều la mắng. Nhưng “linh” ẩn tàng trong sự la mắng ấy khác nhau. Chủ nhà la vì giận, linh của ông ta là linh thịnh nộ. Lời la mắng của người mẹ đầy tình yêu, hi vọng và sự dạy dỗ. Lời la rầy của bà là lời quở trách của tình yêu, lời quở trách của hi vọng và lời quở trách để dạy dỗ. Hai linh hoàn toàn khác nhau.

Đó là một sự minh họa đơn giản. Linh ở phía sau lời Kinh Thánh mạnh mẽ hơn nhiều so với loại “linh” được đề cập ở trên. Linh ẩn sau lời Kinh Thánh được viết ra là Linh đời đời. Linh ấy vẫn ở với chúng ta ngày nay, và mãi mãi dầm thấm Kinh Thánh. Nếu người bề ngoài của chúng ta được phá vỡ và linh chúng ta tự do, tư tưởng của chúng ta không những sẽ trở nên một với tư tưởng của Kinh Thánh mà toàn bản thể chúng ta sẽ chạm đến chính Linh ở đằng sau lời Kinh Thánh được viết ra. Nếu linh chúng ta không tuôn đổ ra và chúng ta bị dứt khỏi linh của các tác giả Kinh Thánh, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu Lời Đức Chúa Trời, và đối với chúng ta, Kinh Thánh sẽ là một quyển sách chết. Vì vậy, chúng ta trở lại với vấn đề căn bản: Người bề ngoài phải được phá vỡ. Tư tưởng của chúng ta sẽ có ích lợi và linh chúng ta được tự do tuôn đổ chỉ khi nào người bề ngoài được phá vỡ. Chỉ khi ấy, Đức Chúa Trời mới không bị chúng ta giới hạn. Nan đề chúng ta đối diện hôm nay là chúng ta thường xuyên ngăn trở Đức Chúa Trời. Ngay cả trong việc học hỏi Kinh Thánh, chúng ta ngăn trở Đức Chúa Trời và giới hạn sự tự do của Ngài.

Cung Ứng Lời

Một mặt, Đức Chúa Trời muốn chúng ta hiểu Lời Ngài, Đó là bước khởi đầu của công tác Ngài. Mặt khác, Ngài ao ước đặt một hai lời vào linh chúng ta. Những lời này trở nên một gánh nặng đối với chúng ta, và Ngài ao ước chúng ta cung ứng một hai lời này cho Hội thánh. Công vụ các Sứ đồ 6:4 nói: “Nhưng chúng tôi sẽ tiếp tục kiên trì trong sự cầu nguyện và trong chức vụ lời”. Chức vụ là sự phục vụ (cung ứng) và chức vụ lời là sự phục vụ (cung ứng) lời Đức Chúa Trời cho con người.

Nan đề của chúng ta là gì? Nan đề của chúng ta là chúng ta có lời ở bên trong nhưng không thể tuôn ra được. Một số người có lời và một gánh rất nặng trong linh mình. Họ muốn truyền đạt lời này cho các anh chị em. Nhưng khi họ đứng lên nói, gánh nặng bị cột trói trong họ. Sau khi nói một hai câu, một phút hay thậm chí một giờ gánh nặng vẫn chưa tuôn đổ ra được. Lời không thể tuôn đổ ra, và người bề ngoài không thể truyền đạt gánh nặng bên trong. Họ muốn giải tỏa gánh nặng và sứ điệp ở trong mình, nhưng người bề ngoài không thể nói lên lời nào cho họ. Dầu nói nhiều bao nhiêu đi nữa, họ cảm thấy gánh nặng ở trong mình vẫn không thay đổi. Họ đến với gánh nặng và ra đi với chính gánh nặng ấy. Lời giải thích duy nhất cho điều này là người bề ngoài của họ chưa được phá vỡ. Người bề ngoài của họ không thể giúp đỡ người bên trong. Trái lại, nó trở nên một tảng đá vấp chân cho người bên trong.

Nếu người bề ngoài của chúng ta được phá vỡ, chúng ta dễ dàng nói điều mình muốn nói. Khi chúng ta có một gánh nặng hay một lời ở bên trong, người bề ngoài của chúng ta sẽ tìm được lời nói thích hợp để diễn tả tư tưởng bên trong mình cách phù hợp. Ngay khi lời ở trong chúng ta tuôn đổ ra, gánh nặng trong chúng ta cũng được giải tỏa. Càng nói, chúng ta càng cảm thấy nhẹ nhàng. Chúng ta sẽ nhận thức rằng công tác của mình là phục vụ Hội thánh bằng lời của Đức Chúa Trời. Vì vậy, gánh nặng bên trong phải tương xứng với lời phù hợp đến từ tư tưởng bên ngoài. Nếu người bề ngoài chưa được phá vỡ, nó sẽ không đầu phục ý muốn của người bên trong. Nó sẽ không vâng theo cảm giác bên trong hay linh bên trong. Khi người bề ngoài cố gắng dò tìm cảm giác của người bên trong, nó không tìm thấy gì cả. Nó sẽ không tìm được lời cần thiết và thích hợp, và Đức Chúa Trời sẽ không thể tuôn đổ. Đức Chúa Trời sẽ bị vây bủa và ngăn chận, Hội thánh sẽ không nhận được sự giúp đỡ nào cả.

Chúng ta phải nhớ rằng người bề ngoài tạo nên sự ngăn trở lớn nhất cho chức vụ lời. Nhiều người nghĩ rằng sự thông minh tương đối hữu dụng. Nghĩ như vậy là sai lầm. Dầu một người thông minh đến đâu, người bề ngoài không bao giờ có thể thay thế người bề trong. Người bề trong sẽ tìm được những tư tưởng đúng đắn và lời nói thích hợp để tuôn đổ ra chỉ khi nào người bề ngoài được phá vỡ và đập tan. Vỏ bên ngoài phải được phá vỡ bởi Đức Chúa Trời. Vỏ này càng được phá vỡ, sự sống trong linh càng tuôn ra. Nếu vỏ này cứ còn đó, gánh nặng trong linh sẽ tồn tại, sự sống và quyền năng của Đức Chúa Trời sẽ không tuôn đổ cho Hội thánh. Một người như vậy không thể phục vụ như người cung ứng lời được. Quyền năng và sự sống của Đức Chúa Trời chính yếu được tuôn đổ ra qua chức vụ lời. Nếu người bề ngoài không bị đánh đập và không có vết thương nào mở ra, người bên trong không có lối thoát. Những ai đến nghe giảng chỉ nghe những âm thanh mà thôi, họ không chạm được sự sống. Người giảng có thể sốt sắng truyền đạt điều gì đó, nhưng thính giả không nhận được gì cả. Người ấy có lời ở bên trong, nhưng không thể nói ra vì người bề ngoài đã chận đường.

Chúng ta thấy một câu chuyện quí báu trong đời sống Chúa Jesus. Một người kia chỉ đụng đến viền áo Ngài mà bà lại nhận được sức mạnh của Ngài. Viền áo Ngài là phần ngoài cùng của con người Ngài. Người này cảm nhận được quyền năng Ngài thậm chí ở phần ngoài cùng của Ngài. Nan đề của chúng ta ngày nay là chúng ta có sự sống của Đức Chúa Trời ở bên trong, nhưng sự sống này không thể tuôn ra được. Chúng ta có lời bên trong, nhưng không thể tuôn đổ lời này ra. Chúng ta có lời của Đức Chúa Trời ở bên trong, nhưng có các chướng ngại vật quanh mình. Kết quả là lời ấy không thể tuôn ra được. Khi Đức Chúa Trời không có chút tự do nào trong chúng ta, Ngài không thể tuôn đổ tự do qua chúng ta.

Rao Giảng Phúc âm

Nhiều người có quan niệm sai lầm rằng một người tin vào phúc âm vì người ấy nghe sự dạy dỗ đúng đắn, hay vì cảm xúc của người ấy được chạm đến. Nhưng nói như vậy là rất xa sự thật. Những ai tiếp nhận Chúa dựa trên sự thúc đẩy của cảm xúc mình sẽ không bền, những người được thuyết phục trong tâm trí cũng vậy. Không có gì sai trong việc sử dụng tâm trí và tình cảm, nhưng những điều này không đủ. Người ta không được cứu qua tình cảm và tư tưởng. Tội nhân ngã xuống dưới chân Chúa vì linh của người giảng tuôn đổ ánh sáng qua lời chia sẻ. Ngay khi linh chúng ta tuôn ra, những người khác được chạm đến. Đó là lý do vì sao chúng ta cần một linh tuôn đổ để rao giảng phúc âm.

Một người thợ mỏ được Chúa đại dụng trong việc rao giảng phúc âm. Anh viết một cuốn sách mang tựa đề Thấy và Nghe trong đó anh mô tả kinh nghiệm của mình về phúc âm. Chúng tôi được chạm đến sâu xa qua quyển sách này. Anh em này không phải là người học cao hay có tài năng, anh chỉ là một anh em bình thường. Nhưng sự dâng mình tuyệt đối của anh đã trở nên nền tảng để Chúa đại dụng. Anh em có biết anh ấy có điều gì đặc biệt không? Anh ấy là một người tan vỡ. Linh của anh có thể tuôn đổ cách dễ dàng. Anh bắt đầu rao giảng vào năm hai mươi ba tuổi, khi anh mới kinh nghiệm sự cứu rỗi. Trong một buổi nhóm, lời của một người giảng đạo đã nhen lên trong anh một ao ước nóng cháy muốn cứu hồn người. Anh xin được phép chia sẻ. Khi anh đứng lên, anh không thể nói gì cả, dầu lòng anh nóng cháy vì những người hư mất. Nước mắt anh tuôn như suối. Cuối cùng, anh chỉ có thể nói một hai câu. Linh của Đức Chúa Trời đầy dẫy buổi nhóm, ai cũng bị cáo trách về tội và sự cứng cỏi của mình. Đó là một người tuy còn trẻ mà con người bề ngoài đã bị phá vỡ. Anh không nói nhiều, nhưng linh anh tuôn đổ ra và người ta được cứu. Suốt đời mình, anh đưa nhiều người đến sự cứu rỗi. Khi đọc tiểu sử của anh, chúng tôi cảm nhận anh là một người có linh được giải phóng.

Đó là cách rao giảng phúc âm. Cách rao giảng phúc âm là giải phóng linh. Khi sự cứng cỏi của người bề ngoài được cất đi và người bề ngoài tan vỡ, thì linh được giải phóng. Nếu khi nhìn thấy một người chưa được cứu, chúng ta được giục giã làm một điều gì đó để cứu họ, điều đó có nghĩa là linh chúng ta được giải phóng. Đó là vấn đề cơ bản. Việc rao giảng phúc âm liên hệ mật thiết với sự phá vỡ người bề ngoài. Khi người bề ngoài được phá vỡ, linh chúng ta sẽ tuôn ra và chạm đến người khác. Ấy là linh chúng ta đến với linh người khác. Ấy là Linh Đức Chúa Trời chạm đến linh tối tăm của con người. Khi điều này xảy ra, người ta được cứu và không có lý luận nào giải thích được sự thay đổi này. Tuy nhiên, khi người bề ngoài làm linh nghẹt ngòi, thì Đức Chúa Trời không có lối đi qua chúng ta và phúc âm không được giải phóng. Chúng ta luôn luôn phải chú ý đến vấn đề phá vỡ người bề ngoài vì tất cả các nan đề của chúng ta nằm ở con người bề ngoài. Nếu con người chúng ta không được xử lý, thật vô dụng khi chúng ta học thuộc lòng thêm những giáo điều. Điều duy nhất đem sự cứu rỗi đến cho người ta là linh chúng ta chạm đến linh của họ. Nếu linh chúng ta chạm đến linh của người khác, họ sẽ ngã sấp xuống trước mặt Chúa. Nếu linh chúng ta được giải tỏa một cách mạnh mẽ, họ sẽ không có sự lựa chọn nào khác hơn là phủ phục trước mặt Ngài.

Trong những năm này Đức Chúa Trời đang đi con đường khôi phục. Đức Chúa Trời không muốn thấy một người được cứu chờ đợi nhiều năm rồi mới giải quyết tội lỗi mình. Ngài không muốn thấy người ấy chờ đợi nhiều năm rồi mới dâng mình cho Ngài hay đáp ứng tiếng kêu gọi để bước đi theo Ngài. Chúa đang đi con đường khôi phục. Phúc âm phải được phục hồi, và bông trái của phúc âm cũng phải được khôi phục. Ngay khi được cứu, một người cần được cứu khỏi tội và dâng mình tuyệt đối cho Chúa. Ngay khi được cứu, người ấy nên bẻ gãy quyền lực của ma-môn trong mình. Người ấy nên giống như những người được Chúa cứu trong các sách Phúc âm và trong sách Công vụ các Sứ đồ. Nếu phúc âm thật sự được khôi phục, những người rao giảng phúc âm phải để Chúa mở một con đường tuôn đổ tự do qua họ.

Chúng tôi tin rằng vì Chúa đi con đường khôi phục, phúc âm ân điển sẽ trở nên một với phúc âm vương quốc. Trong các sách Phúc âm, chúng ta thấy không có sự phân rẽ giữa phúc âm vương quốc và phúc âm ân điển. Về sau, dường như những người nghe phúc âm ân điển không có cơ hội nghe phúc âm vương quốc. Phúc âm ân điển dường như bị phân rẽ với phúc âm vương quốc. Nhưng sẽ đến lúc một lần nữa phúc âm ân điển lại trở nên một với phúc âm vương quốc. Những ai tiếp nhận Chúa cũng sẽ từ bỏ mọi sự cho Ngài. Những ai tiếp nhận Ngài cũng sẽ dâng tất cả cho Ngài. Người ta sẽ không còn được cứu một cách nghèo nàn nhưng một cách mạnh mẽ và triệt để.

Chúng ta phải khiêm nhường trước mặt Chúa và nói rằng: “Phúc âm cần được khôi phục, và những người rao giảng phúc âm cũng cần được khôi phục”. Để phúc âm có thể đến với người ta, chúng ta phải để Chúa hành động qua chính mình. Cần có quyền năng lớn lao hơn để rao giảng phúc âm. Dầu vậy, cũng cần phải trả giá nhiều hơn. Nếu mong ước cả phúc âm lẫn người rao giảng phúc âm được khôi phục, chúng ta phải dâng mọi sự cho Chúa và thưa rằng: “Chúa ôi, con dâng tất cả cho Ngài. Con cầu nguyện để Chúa tìm được một con đường qua con. Con cầu nguyện để Hội thánh cũng tìm được một con đường qua con. Con không muốn cản trở Ngài hay Hội thánh”.

Chúa Jesus không bao giờ giới hạn Đức Chúa Trời. Ngài không bao giờ giới hạn Đức Chúa Trời trong bất cứ phương diện nào. Suốt hai ngàn năm qua, Đức Chúa Trời đã và đang hành động trong Hội thánh. Mục tiêu là để cuối cùng Hội thánh cũng không giới hạn Đức Chúa Trời. Giống như Đấng Christ bày tỏ Đức Chúa Trời chứ không giới hạn Ngài, Hội thánh cũng nên bày tỏ Ngài chứ không giới hạn Ngài. Đức Chúa Trời đã dạy dỗ, đập vỡ, lột sạch, và đánh đòn con cái Ngài nhiều lần. Đó là cách Ngài đối xử với Hội thánh. Ngài sẽ tiếp tục công tác này trong Hội thánh cho đến khi Hội thánh không còn giới hạn Ngài nữa, nhưng thay vào đó, Hội thánh sẽ bày tỏ Ngài. Ngày nay, chúng ta chỉ có thể cúi đầu thưa rằng: “Chúa ôi! Chúng con hổ thẹn vì đã làm chậm trễ công việc Ngài. Chúng con đã ngăn trở Sự Sống của Ngài, phúc âm của Ngài, và quyền năng Ngài”. Mỗi người trong chúng ta phải thưa với Chúa rằng: “Con xin dâng tất cả cho Ngài. Con cầu nguyện để Ngài có một lối tuôn đổ qua con”. Nếu muốn thấy phúc âm được khôi phục trọn vẹn, chúng ta phải dâng mình tuyệt đối. Thật khờ dại nếu chúng ta chỉ than khóc về sự kiện phúc âm không có quyền năng như Hội thánh đầu tiên. Chúng ta phải thừa nhận rằng sự dâng mình của chúng ta không tuyệt đối như sự dâng mình của Hội thánh đầu tiên. Để khôi phục phúc âm, chúng ta phải khôi phục sự dâng mình, cả hai đều phải tuyệt đối và triệt để. Nguyện Chúa tìm được một con đường qua chúng ta.