Thông tin sách

Phá Vỡ Con Người Bề Ngoài Để Giải Phóng Linh

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Breaking of the Outer Man and the Release of the Spirit
ISBN: 978-1-57593-955-1
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 3

Untitled Document

CHƯƠNG BA

NHỮNG ĐIỀU VƯỚNG BẬN TRONG TAY

Trước hết tôi xin giải thích tựa đề của chương này. Giả sử một người cha muốn con mình làm một điều gì đó cho mình. Người cha ra lệnh, nhưng người con lại nói: “Con đang bận tay. Khi nào con làm xong việc đang làm dở dang, con sẽ làm điều cha muốn”. Đó là ý nghĩa của việc có một điều gì đó vướng bận trong tay. Trước khi người cha yêu cầu người con làm gì, con đã có sẵn điều gì đó vướng bận trong tay mình rồi. Ai trong chúng ta cũng có điều gì đó vướng bận trong tay mình. Trên con đường theo Chúa, chúng ta thường bị ngăn trở bởi những điều vướng bận trong tay mình. Chúng ta phải chăm lo cho những gì vướng bận trong tay mình trước. Hậu quả là công tác của Đức Chúa Trời bị đình trệ. Khó tìm được một ai không có điều gì vướng bận trong tay. Chúng ta luôn luôn có điều gì đó vướng bận trong tay trước khi Đức Chúa Trời phán, và chúng ta luôn luôn có nhiều điều vướng bận trong tay trước khi con người bề ngoài bị phá vỡ. Con người bề ngoài tham gia vào những công việc, sự việc, lao động và các sinh hoạt. Khi Linh của Đức Chúa Trời hành động trong linh chúng ta, con người bề ngoài không thể đáp ứng nhu cầu. Những gì ở trong tay chúng ta sẽ làm cho chúng ta không đủ điều kiện để được hữu dụng về mặt thuộc linh trong bất cứ phương diện thực tế nào.

SỨC MẠNH CON NGƯỜI BỀ NGOÀI CÓ GIỚI HẠN

Sức mạnh con người bề ngoài của chúng ta có giới hạn. Giả sử một anh em không mạnh lắm và chỉ có thể nhấc một vật nặng năm mươi ký. Nếu có một vật nặng năm mươi ký trên vai, anh không thể mang thêm mười ký nữa. Anh bị giới hạn. Anh không thể vác nặng bao nhiêu cũng được. Anh có thể vác năm mươi ký và không thể vác thêm mười ký nữa. Năm mươi ký này là những gì có trong tay anh. Đó là một hình ảnh so sánh. Sức mạnh của con người bề ngoài có giới hạn, y như sức mạnh của thân thể chúng ta có giới hạn.

Nhiều người nhận thức rằng sức mạnh của thân thể có giới hạn. Nhưng họ không thấy rằng sức mạnh con người bề ngoài của mình cũng bị giới hạn. Kết quả là họ phung phí sức mạnh con người bề ngoài của mình. Giả sử một người đặt hết tình yêu vào cha mẹ mình. Người ấy sẽ không có sức để yêu các anh em hay yêu thương mọi người. Người ấy chỉ có bấy nhiêu sức mạnh thôi, và khi dùng hết sức của mình, người ấy không còn sức lực dùng cho những việc khác.

Sức mạnh của tâm trí một người cũng có giới hạn. Không ai có một nguồn năng lực tâm trí vô hạn. Nếu một người sử dụng nhiều thì giờ hơn cho một điều nào đó, tức là nếu tâm trí của người ấy đặt trọn vào một điều nào thì người ấy sẽ không có sức để suy nghĩ đến những điều khác. La Mã chương 8 cho chúng ta biết luật của Linh sự sống buông tha chúng ta khỏi luật của tội và sự chết. Như vậy tại sao luật của Linh sự sống không hành động trong một số người? Kinh Thánh cũng cho chúng ta thấy sự công chính của luật pháp được làm trọn trong những người bước đi theo linh. Nói cách khác, luật của Linh sự sống chỉ có hiệu quả trên những ai thuộc linh. Những người thuộc linh là những người đặt tâm trí vào những điều thuộc linh. Những ai đặt tâm trí vào những điều thuộc linh thì không đặt tâm trí vào xác thịt. Chỉ những ai không đặt tâm trí vào xác thịt mới có thể đặt tâm trí vào những điều thuộc linh. Cách diễn đạt đặt tâm trí vào có thể được dịch là “chú ý đến” hay “chăm sóc đến”. Giả sử một bà mẹ đi khỏi nhà, giao đứa con nhỏ của mình cho một người bạn và nói: “Xin chăm sóc nó giùm tôi”. Chăm sóc một đứa bé có nghĩa là gì? Có nghĩa là luôn luôn chú ý đến nó. Một người chỉ có thể chú ý đến một điều, người ấy không thể chú ý đến hai điều cùng một lúc. Nếu có người giao một đứa bé cho chúng ta trông nom, chúng ta không thể một mặt chăm sóc nó và một mặt chăn cừu và chăn bò trên núi. Nếu chăm sóc đứa bé ấy, chúng ta không thể chăm lo điều gì khác. Chỉ có những ai không chăm sóc những điều thuộc xác thịt mới có thể chăm sóc những điều thuộc linh, và chỉ có những ai chăm sóc những điều thuộc linh mới nhận được ích lợi từ luật của Linh. Sức mạnh tâm trí của chúng ta có giới hạn. Nếu phung phí sức mạnh tâm trí mình vào những điều thuộc xác thịt, chúng ta sẽ không có đủ năng lực tâm trí để chăm sóc những điều thuộc linh. Nếu đặt tâm trí vào những điều thuộc xác thịt, chúng ta không còn sức mạnh để đặt tâm trí vào những điều thuộc linh.

Chúng ta phải rất sáng tỏ về điều này: Sức mạnh con người bề ngoài của chúng ta có giới hạn cũng như sức mạnh hai cánh tay của chúng ta có giới hạn. Vì vậy, nếu trong tay đã có sẵn nhiều điều, chúng ta không thể mang lấy những gì của Đức Chúa Trời. Những gì chúng ta có trong tay mình thì tỉ lệ nghịch với quyền năng chúng ta có trong sự hầu việc Đức Chúa Trời. Những gì chúng ta có trong tay là một sự cản trở lớn, một sự ngăn trở rất lớn.

Giả sử về phương diện tình cảm, một người có “nhiều điều vướng bận trong tay”. Người ấy có mọi loại ao ước và hoài bão làm cho mình phân tâm. Người ấy muốn và khao khát nhiều thứ, cũng có rất nhiều điều vướng bận trong tay. Khi Đức Chúa Trời cần đến, thì người ấy chẳng còn tình cảm dành cho Ngài vì tất cả tình cảm của người ấy đều đã được tận dụng. Nếu đã tận dụng tất cả tình cảm của mình trong hai ngày vừa qua, người ấy sẽ không thể cảm xúc gì hay nói năng gì trong hai ngày sắp đến. Tình cảm của chúng ta có giới hạn, chúng ta không thể “múc ra” từ đó cách bất tận.

Một số người có ý chí mạnh mẽ, họ rất cương quyết. Chúng ta có thể nghĩ rằng họ có sức mạnh ý chí vô hạn. Nhưng ngay cả người mạnh mẽ nhất cũng thấy ý chí mình dao động khi phải quyết định trước mặt Chúa. Họ không biết chọn điều nào là tốt hơn. Trông họ có vẻ là một người mạnh mẽ, nhưng khi hoàn cảnh đòi hỏi phải sử dụng ý chí cách đúng đắn trong công việc của Đức Chúa Trời, họ không thể làm được. Nhiều người thích bày tỏ ý kiến. Họ có ý kiến trong mọi việc. Giây phút này họ có một ý kiến, giây phút sau họ có một ý kiến khác. Họ không bao giờ thiếu ý kiến. Nhưng khi phải phán đoán điều gì theo ý muốn của Đức Chúa Trời, họ rất lưỡng lự. Họ hoang mang và không thể quyết định được vì con người bề ngoài đầy dẫy “nhiều điều vướng bận trong tay”. Có quá nhiều điều trước mắt và trong tay họ. Toàn thể con người họ bị tiêu hao vì những điều này và tất cả sức lực của con người bề ngoài đều cạn kiệt và tiêu hao hết.

Chúng ta phải thấy rằng sức lực của con người bề ngoài có giới hạn. Một khi chúng ta có nhiều điều vướng bận trong tay mình, thì con người bề ngoài bị cột trói.

LINH SỬ DỤNG NGƯỜI BỀ NGOÀI ĐÃ ĐƯỢC PHÁ VỠ

Một khi con người bề ngoài bị cột trói, linh chúng ta cũng bị cột trói. Linh không thể bỏ qua con người bề ngoài để hành động trong những người khác. Đức Chúa Trời không bao giờ bỏ qua nhân linh khi Linh Ngài hành động trong con người. Đức Chúa Trời cũng không cho phép linh chúng ta bỏ qua con người bề ngoài khi linh chúng ta hành động nơi những người khác. Đó là nguyên tắc rất quan trọng mà chúng ta cần sáng tỏ. Thánh Linh không bao giờ hành động trên con người mà không qua người khác, và linh chúng ta không bao giờ có thể hành động trên người khác mà không qua con người bề ngoài của chúng ta. Linh chúng ta phải đi qua con người bề ngoài trước khi có thể hành động trong những người khác. Bất cứ khi nào con người bề ngoài bị “những điều vướng bận trong tay” chiếm cứ và đã cạn kiệt hết sức mạnh, chúng ta không thể tham gia vào công việc của Đức Chúa Trời. Nếu linh chúng ta không có cách nào tiến lên, Thánh Linh cũng không có cách nào tiến tới cả. Con người bề ngoài có thể cản đường con người bên trong. Con người bề ngoài có thể ngăn trở con người bên trong và cản ngăn không cho con người bên trong tiến ra bên ngoài. Đó là lý do vì sao chúng tôi nhiều lần nhấn mạnh đến sự phá vỡ con người bề ngoài.

Một khi con người bề ngoài có nhiều điều vướng bận trong tay, con người bên trong không có cách nào thoát ra, và công tác của Đức Chúa Trời bị ngăn trở. Những điều vướng bận trong tay chỉ về những gì hiện hữu mà chúng ta thấy trước công việc của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, những điều vướng bận trong tay là những gì không liên quan đến Đức Chúa Trời. Những điều này cứ diễn tiến không cần đến mạng lệnh, quyền năng và sự chỉ đạo của Đức Chúa Trời. Chúng không ở trong tay Ngài, trái lại, chúng là những thực thể độc lập.

Đức Chúa Trời phải phá vỡ con người bề ngoài trước khi Ngài có thể dùng con người bề trong. Ngài phải phá vỡ tình yêu của chúng ta trước khi Ngài có thể sử dụng tình yêu ấy để yêu thương anh em. Nếu con người bề ngoài không bị phá vỡ, chúng ta vẫn làm những việc riêng của mình, đi theo con đường của mình và yêu thương theo sở thích riêng. Trước hết Đức Chúa Trời phải phá vỡ con người bề ngoài rồi Ngài mới có thể dùng tình yêu “đã được phá vỡ” ấy để yêu thương anh em, và khi ấy tình yêu của chúng ta mới có thể mở rộng. Một khi con người bề ngoài bị phá vỡ, con người bề trong được giải phóng. Con người bề trong phải yêu thương, nhưng nó cần phải yêu thương qua con người bề ngoài. Nếu con người bề ngoài có nhiều điều vướng bận trong tay, con người bên trong sẽ không có gì để hành động qua đó cả.

Ý chí của chúng ta thì mạnh mẽ, không những mạnh mẽ mà còn cố chấp nữa. Khi con người bên trong của chúng ta cần ý chí, nó không tìm được, vì ý chí của chúng ta đã chuyển động quá độc lập và có quá nhiều điều vướng bận trong tay. Đức Chúa Trời phải cho chúng ta một “cú đấm” nặng nề. Ngài phải đập tan ý chí của chúng ta và làm chúng ta khiêm nhường đến nỗi phải sấp mặt xuống đất và bắt buộc phải nói: “Chúa ôi, con không dám suy nghĩ. Con không dám đòi hỏi. Con không dám quyết định. Con cần Ngài trong mọi sự”. Chúng ta phải bị đánh đập đến nỗi ý chí của mình không còn hành động độc lập. Chỉ khi ấy con người bên trong mới có thể nắm lấy ý chí và sử dụng nó.

Nếu người bề ngoài không sẵn sàng, người bên trong sẽ vô dụng. Làm thế nào chúng ta có thể rao giảng lời Đức Chúa Trời nếu không có một thân thể vật lý? Làm thế nào chúng ta có thể rao giảng nếu không có môi miệng? Đúng là chúng ta cần có linh để rao giảng. Nhưng sự rao giảng cũng cần đến môi miệng chúng ta nữa. Người ta có thể làm gì nếu chỉ có linh mà không có môi miệng? Vào lễ Ngũ tuần, có công tác của Thánh Linh. Nhưng vào lễ Ngũ tuần cũng có sự ban phát ân tứ phát ngôn. Nếu không phát ngôn, người ta không thể có lời để bày tỏ và giải thích lời Đức Chúa Trời. Nếu người ta không nói, Đức Chúa Trời cũng không nói gì được. Lời loài người chắc chắn không phải lời Đức Chúa Trời, nhưng lời Đức Chúa Trời được truyền đạt qua lời loài người. Nếu người ta không nói, sẽ không có lời Đức Chúa Trời. Phải có lời của con người rồi mới có lời của Đức Chúa Trời.

Giả sử một anh em đang chuẩn bị chia sẻ lời Đức Chúa Trời. Người ấy có thể có lời và có gánh nặng trong linh, gánh ấy có thể rất nặng. Nhưng nếu anh không có những tư tưởng phù hợp, gánh nặng của anh có thể không bao giờ được dốc đổ. Cuối cùng, ngay cả gánh nặng ấy cũng sẽ biến mất. Chúng ta không coi thường gánh nặng, nhưng dầu toàn thể linh chúng ta đầy dẫy gánh nặng, gánh nặng ấy cũng vô dụng và bị cột trói nếu tâm trí chúng ta không hữu hiệu. Chúng ta không thể cứu người ta chỉ với gánh nặng của mình. Gánh nặng trong linh chúng ta phải tuôn đổ ra qua tâm trí mình. Sau khi có gánh nặng bên trong, chúng ta vẫn cần đến môi miệng. Chúng ta vẫn cần giọng nói và sự giúp đỡ của thân thể. Ngày nay, nan đề là dầu người bên trong sẵn sàng tiếp nhận gánh nặng từ Đức Chúa Trời, nhưng tâm trí trong con người bề ngoài quá bận rộn và bối rối. Từ sáng đến tối, tâm trí chúng ta đưa ra những đề nghị và bày tỏ những ý kiến riêng. Trong tình trạng ấy, linh không có lối thoát ra.

Ngày nay, Linh của Đức Chúa Trời phải được tuôn đổ ra qua con người. Tình yêu của con người phải sẵn sàng trước khi người khác có thể thấy tình yêu của Đức Chúa Trời. Tư tưởng của con người phải sẵn sàng trước khi người khác có thể thấy tư tưởng của Đức Chúa Trời. Quyết định của con người phải được tìm thấy trước khi người khác có thể chạm được ý muốn của Đức Chúa Trời. Nhưng nan đề nơi con người là con người bề ngoài quá bận rộn với những điều của chính mình. Người ấy có những quan điểm và ý tưởng riêng của mình. Người ấy quá bận rộn với chính mình. Kết quả là con người bên trong không có cách nào tuôn đổ ra được. Đó là lý do vì sao Đức Chúa Trời phải phá vỡ con người bề ngoài. Điều này không có nghĩa là ý chí phải bị hủy diệt hoàn toàn. Tuy nhiên, điều này thật sự có nghĩa là “những điều vướng bận trong tay”, tức là trong ý chí, phải bị lột bỏ để ý chí không còn hành động cách độc lập. Điều này không có nghĩa là tư tưởng chúng ta phải bị tiêu trừ hoàn toàn, mà có nghĩa là chúng ta không còn suy nghĩ theo chính mình, không còn tìm ra mọi loại ý kiến hoặc bị dẫn đi lạc bởi tâm trí lang thang của mình. Điều này cũng không có nghĩa là tình cảm của chúng ta phải bị triệt tiêu, mà có nghĩa là tình cảm của chúng ta phải ở dưới sự điều khiển và hướng dẫn của con người bên trong. Bằng cách ấy, con người bên trong sẽ tìm được một tâm trí, tình cảm và ý chí sẵn sàng để được sử dụng.

Linh cần một tâm trí, tình cảm và ý chí để tự bày tỏ mình. Linh cần một con người bề ngoài sống động, không phải một con người chết, để bày tỏ chính mình. Linh cần một con người bề ngoài bị đánh đập, bị thương và bị phá vỡ chứ không phải một con người bề ngoài niêm phong, chưa hề bị đụng đến. Ngày nay, chướng ngại vật lớn nhất nằm ở nơi chúng ta. Linh của Đức Chúa Trời không thể mở một con đường xuyên qua chúng ta được. Linh Ngài sống trong linh chúng ta, nhưng Ngài không thể thoát ra từ linh chúng ta. Con người bề ngoài của chúng ta quá đầy dẫy; nó đầy dẫy những điều vướng bận trong tay. Chúng ta cần phải xin Đức Chúa Trời thương xót chúng ta để con người bề ngoài bị phá vỡ và con người bên trong có một con đường thoát ra.

Đức Chúa Trời không hủy diệt con người bề ngoài. Nhưng Ngài cũng không cho phép nó vẫn cứ nguyên vẹn và không bị phá vỡ. Ngài muốn thông qua con người bề ngoài của chúng ta. Ngài muốn linh chúng ta yêu thương, suy nghĩ, và quyết định qua con người bề ngoài. Công tác của Đức Chúa Trời chỉ có thể được hoàn thành qua một con người bề ngoài đã bị phá vỡ. Nếu muốn hầu việc Đức Chúa Trời, chúng ta phải trải qua sự xử lý cơ bản này. Nếu con người bề ngoài của chúng ta chưa bị phá vỡ, Chúa không thể có một con đường qua chúng ta. Ngài phải có lối đi qua con người bề ngoài của chúng ta trước khi có thể đến với những người khác.

Trước khi con người bề ngoài bị phá vỡ, con người bên trong và con người bề ngoài đứng ở vị trí đối lập với nhau. Con người bên trong là một con người nguyên vẹn và con người bề ngoài cũng là một con người nguyên vẹn. Con người bề ngoài nguyên vẹn và độc lập, nó tự do và đầy dẫy nhiều điều vướng bận trong tay. Trong khi đó, con người bên trong bị cầm tù. Sau khi con người bề ngoài thật sự được phá vỡ, nó không còn hành động độc lập nữa. Nó không bị hủy diệt, nhưng không còn đứng ở vị trí đối lập với con người bên trong, và đầu phục con người bên trong. Bằng cách này, trong chúng ta chỉ còn có một con người. Con người bề ngoài bị vỡ thành nhiều mảnh và sẵn sàng để con người bên trong sử dụng.

Những ai có con người bề ngoài bị phá vỡ là những người “hiệp nhất”. Người bề ngoài của họ ở dưới sự điều khiển của người bên trong. Một người chưa được cứu cũng là một người “hiệp nhất”, nhưng vai trò của hai con người trong người ấy trái ngược: người bên trong bị người bề ngoài điều khiển. Người chưa được cứu cũng có một linh, nhưng người bề ngoài của người ấy mạnh mẽ đến nỗi người bên trong hoàn toàn bị bắt phục. Cùng lắm là người bên trong có thể lên tiếng chống đối trong lương tâm. Người bên trong của một người chưa được cứu hoàn toàn bị người bề ngoài đánh bại và thống trị. Sau khi được cứu, người ấy nên đảo ngược mọi sự lại. Người bề ngoài cần bị đập tan hoàn toàn và trọn vẹn ở dưới quyền điều khiển của người bên trong. Y như người chưa được cứu thấy người bề ngoài cai trị người bên trong, chúng ta nên đảo ngược lại mọi sự và cho phép người bên trong điều khiển người bề ngoài. Khi đi xe đạp, một người có thể ở một trong hai tình trạng: Hoặc bánh xe tác động trên con đường hoặc con đường tác động trên bánh xe. Trên một mặt phẳng, chân chúng ta đạp bàn đạp làm chuyển động bánh xe và bánh xe tác động trên mặt đường. Khi xuống dốc, chân chúng ta không phải làm việc. Bánh xe tự lăn lấy, trong trường hợp này, con đường, tức là độ dốc, tác động trên bánh xe. Khi người bên trong mạnh mẽ và người bề ngoài bị phá vỡ, bánh xe tác động trên con đường, tức là chúng ta quyết định khi nào mình muốn chuyển động và chuyển động nhanh đến mức nào. Nhưng nếu con người bề ngoài cố chấp và không bị phá vỡ, cũng giống như chạy xe đạp xuống dốc, độ dốc tác động vào bánh xe. Bánh xe tự lăn lấy, và chúng ta không thể làm gì được. Đó là điều xảy ra khi con người bề ngoài điều khiển con người bên trong.

Một người hữu dụng trước mặt Chúa hay không tùy thuộc vào việc linh của người ấy có tuôn đổ ra qua người bề ngoài không. Khi con người bên trong của chúng ta bị cột trói, con người bên ngoài tự làm tất cả mọi điều. Con người bề ngoài hành động cách độc lập, bánh xe tự xoay lấy. Nhờ ân điển của Chúa, khi Ngài san bằng những con đường dốc và phá vỡ người bề ngoài, người bề ngoài sẽ không còn đề nghị và quyết định nữa. Khi điều này xảy ra, người bên trong sẽ được giải phóng tự do mà không còn bị người bề ngoài cản trở. Nếu Chúa ban ân điển cho chúng ta và Ngài phá vỡ con người bề ngoài của chúng ta, chúng ta sẽ trở nên một người thành thạo trong việc vận dụng linh mình, và chúng ta sẽ có thể tuôn đổ linh ra bất cứ lúc nào mình muốn.

CON NGƯỜI, CHỨ KHÔNG PHẢI GIÁO LÝ

Chúng ta không trở nên những con người đủ điều kiện hầu việc Đức Chúa Trời chỉ nhờ học một số giáo lý. Nan đề cơ bản là chính con người của chúng ta. Con người của chúng ta là phương tiện nhờ đó chúng ta thực hiện công tác của mình. Vấn đề là con người của chúng ta có trải qua sự xử lý của Đức Chúa Trời chưa. Nếu các giáo lý đúng đắn được giao phó cho một con người sai lầm, thì Hội thánh sẽ được cung ứng điều gì? Bài học cơ bản dành cho chúng ta là làm cho chúng ta trở nên những chiếc bình hữu dụng. Để làm cho chính mình trở nên những chiếc bình hữu dụng, con người bề ngoài của chúng ta phải bị phá vỡ.

Đức Chúa Trời đã và đang hành động trong chúng ta trải qua tất cả những năm tháng này. Mặc dầu chính chúng ta không sáng tỏ về công tác ấy, nhưng Đức Chúa Trời đã và đang tiến hành sự phá vỡ hằng ngày. Chúng ta đang trải qua những nỗi khó khăn và khổ sở suốt nhiều năm. Từng hồi từng lúc, bàn tay của Đức Chúa Trời đã ngăn chúng ta lại. Chúng ta muốn đi một hướng, nhưng Đức Chúa Trời không để cho chúng ta đi. Chúng ta muốn đi một hướng khác, nhưng Đức Chúa Trời lại chận chúng ta. Nếu không thấy hành động của Đức Chúa Trời qua việc phối hợp tất cả các hoàn cảnh này lại với nhau, chúng ta cần phải cầu nguyện: “Đức Chúa Trời ôi! Xin mở mắt con để con có thể thấy bàn tay Ngài”. Mắt của con lừa mở ra tinh tường hơn mắt của một người tự cho mình là tiên tri. Con lừa đã thấy sứ giả của Đức Giê-hô-va rồi, nhưng người tự xưng là tiên tri vẫn không hay biết gì cả. Con lừa nhận thấy bàn tay ngăn chận của Đức Chúa Trời, nhưng người tự xưng là tiên tri vẫn không nhận ra điều đó. Chúng ta cần phải nhận biết rằng sự phá vỡ là con đường Đức Chúa Trời dành cho chúng ta. Trải qua nhiều năm, Đức Chúa Trời đang tìm cách phá vỡ con người bề ngoài của chúng ta. Ngài đang tìm cách đập vỡ chúng ta để chúng ta không còn là những con người nguyên vẹn nữa. Rất tiếc, nhiều người nghĩ rằng những gì họ thiếu là giáo lý. Họ ao ước được nghe thêm giáo lý, học thêm những ý tưởng để giảng dạy, và hiểu biết nhiều hơn về những cách giải nghĩa Kinh Thánh. Nhưng đó hoàn toàn là con đường sai lạc. Bàn tay của Đức Chúa Trời chỉ đang làm một điều duy nhất trong chúng ta, đó là phá vỡ chúng ta. Chúng ta không thể có con đường riêng, chúng ta phải chọn con đường của Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể giữ tư tưởng của mình, chúng ta phải tiếp nhận tư tưởng của Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể có những quyết định của mình, chúng ta phải tiếp nhận những quyết định của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phải phá vỡ chúng ta hoàn toàn. Nan đề ở nơi chúng ta là trong khi Đức Chúa Trời thỉnh thoảng ngăn chận chúng ta, chúng ta lại đổ lỗi cho điều này, điều kia về sự ngăn chận ấy. Chúng ta vẫn giống như vị tiên tri thay vì thấy bàn tay của Ngài, lại trách móc “con lừa” sao dừng lại.

Mọi sự xảy đến với chúng ta đều đầy ý nghĩa và ở dưới sự sắp đặt do quyền tể trị của Đức Chúa Trời. Không có gì tình cờ xảy ra cho một Cơ Đốc nhân. Không có gì ra ngoài mạng lệnh của Ngài. Chúng ta phải hạ mình xuống [thuận phục] dưới sự sắp đặt của quyền tể trị của Đức Chúa Trời. Nguyện Chúa mở mắt chúng ta để thấy rằng Đức Chúa Trời đang sắp đặt mọi sự quanh chúng ta. Ngài có một mục đích trong chúng ta. Qua mọi sự, Ngài đang đập vỡ chúng ta. Một ngày kia khi Đức Chúa Trời ban ân điển cho chúng ta, chúng ta sẽ vui mừng tiếp nhận mọi sự sắp xếp Ngài đã đặt để trong hoàn cảnh của chúng ta. Linh chúng ta sẽ được giải phóng và chúng ta sẽ sử dụng được linh mình.

LÀ MỘT LUẬT, KHÔNG PHẢI LÀ VẤN ĐỀ CẦU NGUYỆN

Trong việc xử lý và phá vỡ chúng ta để giải phóng và sử dụng linh chúng ta, Đức Chúa Trời hành động theo luật của Ngài, không theo lời cầu nguyện của chúng ta. Điều này có ý nghĩa gì? Nghĩa là sự giải phóng con người bên trong qua việc phá vỡ con người bề ngoài là một luật. Đó không phải là điều gì chúng ta đạt đến do cầu nguyện.

Lời cầu nguyện không thể thay đổi một luật. Nếu chúng ta để tay mình vào lửa khi cầu nguyện, tay chúng ta vẫn bị phỏng (ở đây tôi không nói về phép lạ. Tôi đang nói về một luật thiên nhiên). Lời cầu nguyện của chúng ta không thể thay đổi một luật. Chúng ta phải học tập vâng theo luật của Đức Chúa Trời. Đừng nghĩ rằng chỉ có sự cầu nguyện mới hữu hiệu. Nếu không muốn tay bị phỏng, chúng ta đừng để tay mình vào lửa. Chúng ta không nên vừa cầu nguyện vừa để tay vào lửa. Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta theo luật. Người bên trong chỉ có thể được giải phóng qua người bề ngoài. Đó là một luật. Nếu người bề ngoài không được phá vỡ và đập tan, người bên trong sẽ không được giải phóng. Đó là đường lối của Chúa. Ngài phải phá vỡ chúng ta trước khi Ngài có một lối ra qua chúng ta. Chúng ta đừng bao giờ thách thức luật này trong khi cầu nguyện xin phước hạnh này hay phước hạnh kia. Những lời cầu nguyện như vậy không hữu hiệu. Lời cầu nguyện của chúng ta không thể thay đổi luật của Đức Chúa Trời.

Con đường dẫn đến công tác thuộc linh thật là để cho Đức Chúa Trời được giải phóng qua chúng ta. Đó là con đường duy nhất Đức Chúa Trời chọn lựa. Nếu một người không được phá vỡ, phúc âm sẽ không tuôn đổ ra qua người ấy, và Đức Chúa Trời không thể sử dụng người ấy được. Ngài không có cách nào tiến lên. Chính mình chúng ta phải thật sự phủ phục. Đầu phục luật của Đức Chúa Trời vẫn tốt hơn nhiều lời cầu nguyện. Một phút được khải thị về đường lối của Đức Chúa Trời tốt hơn sự khẩn nài liên tục, cầu xin Đức Chúa Trời ban phước và giúp đỡ chúng ta trong công tác của mình cách thiếu hiểu biết. Tốt hơn nên dừng lời cầu nguyện ấy lại và thưa với Chúa: “Con hạ mình trước mặt Ngài”. Lời cầu nguyện xin phước hạnh thường không gì khác hơn là một sự ngăn trở đối với Đức Chúa Trời. Chúng ta thường ao ước phước hạnh, nhưng thậm chí sự thương xót cũng không tìm được. Chúng ta phải cầu xin ánh sáng. Chúng ta phải học hạ mình xuống dưới tay Ngài và vâng theo luật này. Vâng lời sẽ có phước hạnh kèm theo.