Thông tin sách

Sự Chính Thống Của Hội Thánh

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Orthodoxy of the Church
ISBN: 0-87083-007-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 9

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG CHÍN

KẾT LUẬN

Trong Tân Ước có những lời tiên tri rất rõ về Giu-đa (Israel không có lời tiên tri nào. Vào thời Giê-rô-bô-am, Israel đã nghịch lại Đức Chúa Trời và là quốc gia bị diệt vong trước. Rõ ràng Đức Chúa Trời không hài lòng về Israel và đã từ bỏ quốc gia ấy. Vì vậy Israel không có lời tiên tri). Lời tiên tri về Giu-đa cứ tiếp diễn cho đến khi Chúa Jesus giáng sinh – chúng ta có thể thấy điều này trong phần gia phả ở Ma-thi-ơ chương 1. Vào thời Cựu Ước, có nhiều tiên tri mà công tác của họ chỉ có mục đích là cho chúng ta biết mọi sự sẽ như thế nào trong tương lai. Chẳng hạn, Đa-ni-ên tiên tri về tình trạng các quốc gia; Giu-đa sẽ bị diệt vong, các quốc gia Ngoại bang lần lượt xuất hiện trong vòng hai ngàn năm trăm năm cho đến lúc Chúa Jesus trở lại. Vì vậy, những lời tiên tri nổi tiếng như trong Đa-ni-ên chương 2, 7, 9 và 11 là những lời tiên tri rất chi tiết về dân Ngoại bang. Ngoài những lời tiên tri về Giu-đa và dân Ngoại bang thì trong kế hoạch của Đức Chúa Trời vẫn có hội thánh của Ngài. Lời tiên tri về hội thánh nằm ở đâu? Khi đọc bảy Thư Tín đầu của Phao-lô, chúng ta không thấy có lời tiên tri nào. Dường như có vài lời tiên tri trong Ma-thi-ơ chương 13 nhưng lại không đủ chi tiết và không nói về hội thánh cách đầy đủ rõ ràng vì ở đây đề cập đến biểu hiện bề ngoài của vương quốc thiên thượng. Vì thế, có thể nói rằng chỉ có Khải Thị chương 2 và 3, tức bảy bức thư sau, mới bày tỏ cho chúng ta lời tiên tri về hội thánh. Như vậy, đến đây chúng ta đã nghiên cứu từng hội thánh cách vắn tắt và thấy rằng mỗi hội thánh đã được ứng nghiệm. Chúng ta cũng đã thấy được những lời tiên tri mà Chúa đã bày tỏ và sự ứng nghiệm những lời tiên tri ấy trong lịch sử. Cám ơn Đức Chúa Trời vì những lời tiên tri này đã được ứng nghiệm rồi. Vì thế, theo sự ứng nghiệm này, chúng ta dễ dàng đọc bảy bức thư đó hơn.

Qua bảy bức thư ấy Chúa mong muốn gởi đến cho chúng ta một lời chỉ dẫn về cách trở nên người đắc thắng. Đặc biệt Chúa cho chúng ta biết phải sống cách nào để đắc thắng và cũng qua sự ứng nghiệm của các bức thư này, Ngài cho chúng ta thấy được phương cách trở nên người đắc thắng trên đất. Vì thế, điều này có liên quan đến con đường mà mỗi người chúng ta đang bước đi.

Khi xem tất cả bảy bức thư này, chúng ta thấy mỗi bức thư được chia thành bốn phần. Từ đầu đến cuối, các bức thư đều giống nhau. Trước hết, có danh của chính Chúa, tiếp theo là tình trạng hội thánh, sau đó, là phần thưởng dành cho người đắc thắng và cuối cùng là lời kêu gọi dành cho người nào có tai. Trong từng bức thư, Chúa cho chúng ta biết Ngài là ai, tình trạng hội thánh như thế nào, Ngài sẽ ban cho người đắc thắng điều gì, và sau đó kêu gọi người nào có tai thì hãy nghe. Có sự kêu gọi những người đắc thắng trong mỗi hội thánh; mỗi hội thánh có nét đặc trưng của mình và phần thưởng của Chúa dành cho người đắc thắng cũng khác nhau.

Như vậy, chúng ta học được rằng bất kể tình trạng của hội thánh như thế nào, hễ khi nào hội thánh có nan đề mà nếu chúng ta là người trung tín trước mặt Chúa thì chúng ta sẽ khám phá ra mình phải làm gì. Chúa sẽ chỉ cho chúng ta đường lối để giải quyết nan đề. Chúa nói Ngài là đường đi, thực tại và sự sống (Gi. 14:6). Cho nên, dù chúng ta đang rơi vào [tình trạng của] bức thư nào và ở trong hoàn cảnh nào, Chúa không muốn chúng ta chú tâm vào tình trạng đó, dù tình trạng ấy có thể tồi tệ đến đâu chăng nữa; trái lại, Ngài muốn chúng ta thấy được Ngài là ai. Sách Khải Thị khôi phục sự nhìn thấy này. Về sự biết Chúa, chúng ta nhìn thấy [Ngài] chỉ bởi một lần khải thị. Khi đã thấy [Chúa], mọi thất bại đều qua đi. Trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta phải nhận biết rằng tình thế khó khăn của hội thánh rất là cấp bách; trong tình huống như vậy, chúng ta cầu xin sự giúp đỡ nhưng Chúa phán chỉ những ai biết Ngài mới có sự giúp đỡ. Vì vậy, trong mỗi bức thư, Chúa đều đưa ra một lời tuyên bố bày tỏ Ngài là ai. Một Chúa như thế có thể giải quyết được tình trạng này không?

Đối với hội thánh như thế nào thì đối với chúng ta cũng như vậy. Trong những hoàn cảnh khó khăn, chúng ta phải biết Chúa là Đấng đối nghịch lại với sự khó khăn của mình. Các nan đề khác là thứ yếu. Giải pháp cho các nan đề tùy thuộc vào mức độ chúng ta biết Chúa. Một số người có thể chịu đựng được nhiều nhưng một số khác thì chỉ chịu được ít. Sức chịu đựng, dù nhiều hay ít, đều tùy thuộc vào mức độ chúng ta biết Chúa. Vì vậy ở phần đầu của mỗi bảy bức thư, Chúa có ý định cho chúng ta biết Ngài là ai. Nếu một người không biết Chúa, người ấy sẽ không thể biết hội thánh. Nhiều người hoàn toàn thỏa lòng với tình trạng hội thánh ngày nay vì trước mặt Đức Chúa Trời họ không nhìn thấy gì. Họ không thấy Đấng đang ngồi trên ngai là ai; họ không thấy những khía cạnh khác nhau của vinh quang Chúa và các mỹ đức của Ngài. Nếu hiểu biết Chúa, anh em sẽ khám phá ra tội của con người và tội của hội thánh. Giải pháp cho toàn bộ nan đề tùy thuộc vào việc chúng ta hiểu biết Chúa bao nhiêu. Người chỉ biết một ít về Đức Chúa Trời thì có ít khải thị về Ngài và dễ dung túng những điều tự quyền hơn. Nhưng với những người đang đứng trước mặt Chúa thì Ngài sẽ cất bỏ đi sự dung túng đối với những điều không theo ý Ngài. Một khi tôi đã nhận được sự khải thị trước mặt Chúa thì Ngài sẽ cất đi mọi điều không theo ý Ngài. Khi ấy, chúng ta biết rằng nếu muốn thánh khiết, chúng ta sẽ có Chúa; nếu không muốn thánh khiết, chúng ta sẽ đánh mất sự tương giao với Chúa.

Về những điều đã thấy trong bảy bức thư, chúng ta phải hiểu rằng mình đang bàn về vấn đề hệ thống. Xin nhớ rằng mọi điều trong trong bảy bức thư đều liên quan đến Chúa. Nếu hiểu biết Chúa, chúng ta sẽ lên án những người là dân của Đức Chúa Trời mà đang bước đi theo ước muốn riêng của họ; còn nếu không hiểu biết Chúa cách đầy đủ, chúng ta sẽ tỏ ra khoan dung đối với việc họ bước đi theo sở thích riêng. Nhiều khi chúng ta có thể dung chịu tình trạng của các Cơ Đốc nhân vì chúng ta không đủ trung tín với Đấng Christ. Sự thiếu trung tín của chúng ta với Chúa là do chúng ta vẫn không có sự khải thị để biết rằng Chúa đã kết án điều ấy là tội. Ô, thậm chí có lúc chúng ta phải chọn lựa giữa Chúa và dân của Ngài để xem chúng ta phải hầu việc ai.

Chúng ta đã biết số bảy được chia ra thành ba và bốn. Sau Ê-phê-sô thì có Si-miệc-nơ, và sau Si-miệc-nơ thì có Bẹt-găm. Ba hội thánh này thuộc một nhóm, vì tất cả đều đã qua đi. Bốn hội thánh sau tạo nên một nhóm khác. Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê khác với ba hội thánh trước. Vào thời có Sạt-đe thì Thi-a-ti-rơ vẫn còn ở trên đất; lúc Phi-la-đen-phi có mặt trên đất này thì Sạt-đe cũng còn ở đó; vào thời kỳ Lao-đi-xê hiện diện thì Phi-la-đen-phi cũng còn hiện diện. Nói cách khác, bốn hội thánh sau cùng tồn tại trên đất. Các hội thánh này không bắt đầu cùng một lúc nhưng lại kết thúc cùng lúc.

Ngày nay trước mắt chúng ta, bốn hội thánh này rất có ý nghĩa. Khi các Giáo Hội Cải Chánh xuất hiện thì Giáo Hội Công Giáo La Mã đã hiện hữu hơn ngàn năm. Khi Phi-la-đen-phi xuất hiện, các Giáo Hội Cải Chánh đã có hơn ba trăm năm. Khi Lao-đi-xê xuất hiện thì Phi-la-đen-phi đã có mặt vài chục năm rồi. Ngày nay, chúng ta là những người được sinh ra trong thời đại này đang đứng trước một điều rất đặc biệt: có bốn loại hội thánh khác nhau để chúng ta chọn. Nếu được sinh ra trước thế kỷ mười bốn hoặc mười lăm, chúng ta không có cách nào khác hơn là ở trong Giáo Hội Công Giáo La Mã. Nếu sinh ra trong thế kỷ mười tám, chúng ta có thể chọn hoặc là thuộc về Giáo Hội Công Giáo La Mã hoặc thuộc các Giáo Hội Cải Chánh. Trong thế kỷ tiếp theo, năm 1825, Phi-la-đen-phi xuất hiện và các anh em chỗi dậy; cho nên chúng ta có đến ba loại hội thánh để lựa chọn. Rồi sau năm 1840, Lao-đi-xê xuất hiện. Ngày nay, có bốn loại hội thánh khác nhau, trong đó đều có những người được cứu – một số thì tốt hơn, một số thì quá tệ. Đức Chúa Trời đặt chúng ta vào thời điểm có bốn con đường để lựa chọn.

Nhưng Chúa cũng bày tỏ cho chúng ta ước muốn của Ngài. Niềm ao ước của Ngài không phải là Giáo Hội Công Giáo La Mã; vấn đề này đã thuộc về quá khứ. Không cần thiết phải cầu nguyện rằng liệu tôi có phải làm một môn đồ của Giáo hoàng hay không. Mặc dù lời tiên tri về hội thánh này có trong chương 2 sách Khải Thị, nhưng cân nhắc có nên chọn giáo hội ấy hay không thì không còn cần thiết nữa. Tất cả những người tra cứu Kinh Thánh đều biết rằng vấn đề chọn lựa Giáo Hội Công Giáo La Mã đã chấm dứt rồi. Điều khó khăn ở đây là nhiều anh em vẫn không biết vấn đề chọn lựa các Giáo Hội Cải Chánh cũng đã qua rồi. Chúa có muốn chúng ta ở Sạt-đe không? Điều lạ lùng là nhiều người cảm thấy có phần nào thỏa lòng hơn khi ở Sạt-đe. Nhưng nếu đọc Lời Đức Chúa Trời, Chúa sẽ cho chúng ta thấy rằng Ngài không thỏa lòng về Sạt-đe. Ao ước của Chúa chính là Phi-la-đen-phi. Trong số bảy bức thư mà chúng ta đã xem, chỉ có Phi-la-đen-phi được Chúa khen. Trong các thư khác, Chúa luôn luôn đưa ra vài lời khiển trách. Si-miệc-nơ thì tốt hơn, không bị chê trách nhưng cũng không được khen. Tuy nhiên, Phi-la-đen-phi thì khác, từ đầu chí cuối Chúa chỉ khen. Thế thì anh em sẽ hỏi vậy chúng tôi có nên gia nhập phong trào của các anh em không (như thể phong trào này có thể được “gia nhập” vậy)? Nhiều người đứng trong phong trào của các anh em đã trở nên Lao-đi-xê rồi. Như vậy, chúng ta phải làm gì? Lao-đi-xê cũng bị Chúa từ bỏ. Nếu không cẩn thận thì thay vì theo đuổi Phi-la-đen-phi, chúng ta lại mắc vào Lao-đi-xê.

Ngày nay, có một nan đề lớn mà con cái Đức Chúa Trời phải lưu ý. Kể từ năm 1921, tại Trung Quốc, Phúc Âm càng ngày càng trở nên sáng tỏ hơn đối với chúng tôi, người được cứu ngày càng gia tăng, và Đức Chúa Trời dẫn dắt chúng tôi càng quan tâm đến lẽ thật về hội thánh hơn. Chúng tôi bắt đầu nhận thấy rằng hội thánh hoàn toàn thuộc về Đức Chúa Trời, chỉ những người được cứu mới ở trong đó, và hội thánh phải giữ những Lời mà Đức Chúa Trời đã chỉ định trong Kinh Thánh. Trong suốt thời gian đó, không ai trong chúng tôi từng nghe về sự chuyển động của các anh em. Mãi cho đến năm 1927, chúng tôi bắt đầu nghe về loại công tác này ở khắp nơi. Nhờ liên tục nhận được văn phẩm, chúng tôi biết được có một phong trào rất lớn đang diễn ra, đang lan tràn khắp các nước trên thế giới. Cuộc Cải Chánh cũng chỉ là một phong trào vĩ đại như vậy. Nhưng về một phương diện, chúng tôi cảm nhận rằng có nhiều người trong số họ đã sa vào tình trạng của Lao-đi-xê. Lúc đó chúng tôi có một thắc mắc: Kinh Thánh đã nói gì? Con cái Đức Chúa Trời có nên tham gia vào một phong trào nào đó không? Sự hiệp nhất của các Cơ Đốc nhân phải là trong Christ chứ không ở trong một phong trào nào cả. Vì thế, chúng tôi đã dành nhiều thì giờ hơn để tra cứu Kinh Thánh. Chúng tôi ngày càng sáng tỏ hơn rằng điều gì [có ranh giới] lớn hơn một địa phương thì đó không phải là hội thánh và điều gì nhỏ hơn một địa phương thì cũng không phải là hội thánh.

Trong thời đại ngày nay, Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy có bốn hội thánh khác nhau; chúng ta có thể phân theo cách này: đó là Giáo Hội Công Giáo La Mã, các Giáo Hội Cải Chánh, các anh em là những người yêu thương nhau, và các Hội Anh Em. Loại thứ tư, tức các Hội Anh Em, đã sa vào tình trạng Lao-đi-xê. Về nhóm này, nó đã trở thành một hệ phái. Tôi đã hỏi một anh em nọ: “Anh có nghĩ là tôi giống một anh em không?” Người ấy trả lời: “Giống, nhưng giữa vòng ‘các anh’ vẫn còn …”. Tôi liền đáp: “Vậy ‘các anh’ là gì? Tôi không đủ tiêu chuẩn làm một anh em sao? Trong ‘chúng ta’ bao gồm tất cả những người được cứu chuộc bởi huyết”. Nếu khi nào có một anh em ở Trùng Khánh được cứu mà hội thánh tại Trùng Khánh bảo người ấy vẫn chưa phải là anh em thì hội thánh ấy đã trở nên một hệ phái. Chính hệ phái đòi hỏi một điều gì đó hơn nữa từ một người là anh em trước khi chịu gọi người ấy là anh em. Mặc dù họ không nói mình là Hội Anh Em nhưng vẫn có một ranh giới vô hình được đặt ở đó.

Loại người nào là Phi-la-đen-phi ngày nay? Hội thánh ở mỗi nơi có thể là Phi-la-đen-phi và cũng có thể không. Thực ra, tôi không có cách nào để biết phải nói đâu là Phi-la-đen-phi và đâu là không phải. Có thể hội thánh tại Trùng Khánh là Phi-la-đen-phi còn hội thánh tại Côn Minh thì không; có thể hội thánh Thành Tô là Phi-la-đen-phi nhưng Lan Châu thì không. Ngày nay, điều này đã trở nên vấn đề địa phương, giống như bảy bức thư là dành cho các địa phương. Chúng ta phải từ khước Giáo Hội Công Giáo La Mã và ra khỏi các Giáo Hội Cải Chánh. Về phương diện tiêu cực, anh em có thể đã chấm dứt với cả hai; nhưng về phương diện tích cực, anh em có phải là Phi-la-đen-phi không? Hay vẫn còn là Lao-đi-xê? Rút khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã và các Giáo Hội Cải Chánh là điều dễ dàng; anh em chỉ cần viết một bức thư và công khai bước ra. Nhưng liệu anh em có phải là Phi-la-đen-phi hay không thì lại là một vấn đề khác. Điều ấy tùy thuộc vào việc anh em “đã âm thầm bước ra” hay chưa. Phi-la-đen-phi không thể ngã về Sạt-đe được nhưng nó có thể rơi vào Lao-đi-xê. Chúa quở trách Lao-đi-xê nặng hơn Sạt-đe. Ở đây Chúa muốn chúng ta học tập tôn cao danh Ngài. Vì nơi nào có hai, ba người nhóm lại trong danh Chúa thì có Chúa ở giữa. Nhưng anh em đừng bao giờ tự tôn cao mình. Bất cứ ai tự xưng mình là Phi-la-đen-phi thì không còn giống Phi-la-đen-phi nữa.

Ngày nay, nếu anh em đã ra khỏi giáo phái và đã nhìn thấy hội thánh thì chỉ có Lời Đức Chúa Trời mới là chuẩn mực. Chẳng hạn có một anh em nào đó đã được tái sinh rồi. Anh em có thể nói người ấy không phải là một anh em không? Dù có biết lẽ thật rõ ràng hay không, người ấy vẫn là một anh em. Dù ở nhà hay bị rơi xuống rãnh nước ngoài đường, người ấy vẫn là anh em của tôi. Nếu có nan đề nào, tôi chỉ có thể đổ lỗi cho Cha tôi là đã sinh người ấy ra. Tính chất đặc trưng của Phi-la-đen-phi là tình thương yêu anh em – ngày nay đây là đường lối duy nhất để anh em bước đi. Nhưng đừng bao giờ có thái độ như thế này: Tôi chỉ yêu những anh em nào sáng tỏ, đáng yêu còn các anh em không dễ thương thì tôi không yêu. Sáng tỏ hay không là việc của người đó. Chúng ta đừng bao giờ nói: “Anh là một người nổi loạn”. Điều anh em thấy năm nay là điều năm trước anh em không thấy. Có thể năm tới người ấy cũng nhìn thấy điều mà anh em đã thấy năm nay. Trong lúc đọc Kinh Thánh, Chúa cũng sẽ bày tỏ ánh sáng cho người ấy. Lòng Đức Chúa Trời rất rộng lớn cho nên lòng chúng ta cũng phải như vậy. Chúng ta phải học tập có một tấm lòng rộng mở đủ để bao hàm tất cả các con cái Đức Chúa Trời. Hễ khi nào anh em nói “chúng ta” và chỉ nói như vậy thôi mà không bao hàm hết mọi con cái Đức Chúa Trời thì anh em là một hệ phái lớn nhất, vì anh em không đứng trong vị trí của tình thương yêu anh em nhưng lại tự tôn cao chính mình. Đường lối của Phi-la-đen-phi là đường lối mà chúng ta phải nhận lấy. Sự khó khăn nằm ở chỗ là Phi-la-đen-phi thì bao hàm tất cả các anh em nhưng lại có một số người không thể bao hàm quá nhiều như thế.

Tôi xin đưa ra một trường hợp minh họa. Trước khi xảy ra cuộc chiến tranh với Nhật Bản, tôi đến Côn Minh; ở đó có một anh em thuộc Giáo Hội ____ muốn nói chuyện với tôi. Người ấy là một anh em rất tốt. Nhìn tôi, người ấy hỏi: “Anh còn nhớ tại Thượng Hải tôi đã hỏi anh một câu là làm thế nào chúng ta có thể hợp tác với nhau mà anh vẫn chưa trả lời cho tôi”. Tôi nói : “Thưa anh, anh có một Giáo Hội ____ mà tại đó tôi không có phần”. Người ấy nói: “Đúng, nhưng anh khỏi phải lo về việc đó; ý tôi nói là chúng ta vui vẻ hợp tác trước mặt Chúa”. Tôi nói: “Tôi có một hội thánh mà ở trong đó có tôi, Phao-lô, Phi-e-rơ, Giăng, Martin Luther, John Wesley và Hudson Taylor. Anh cũng ở trong đó. Hội thánh mà tôi có rất lớn đến nỗi tất cả những người ở trong Đấng Christ, dù lớn hay nhỏ, đều ở trong đó. Anh và tôi có sự khác nhau là tôi chỉ xây dựng một hội thánh còn anh muốn xây dựng hai hội thánh. Công việc của tôi chỉ là cho hội thánh của Đấng Christ, chứ không phải Giáo Hội ____ Nếu ý định của anh là xây dựng hội thánh của Đấng Christ, chứ không phải Giáo Hội ____, thì tôi có thể hoàn toàn hợp tác với anh”. Các anh chị em có thấy sự khác biệt ở đây không? Tình thương yêu của người anh em đó không đủ lớn. Người ấy chú trọng đến hội thánh của Đấng Christ ở bên trong Giáo Hội ____. Người ấy đang xây dựng hai hội thánh. Sau khi tôi nói, người ấy thừa nhận rằng đây là lần đầu tiên được nhìn thấy cốt lõi [của vấn đề hội thánh]. Người ấy nắm tay tôi và nói rằng hy vọng câu hỏi đó sẽ không được nêu lên nữa.

Tình thương yêu anh em có nghĩa là chúng ta phải thương yêu tất cả anh em. Nếu có người yếu đuối, thì đó là một vấn đề khác. Tôi nói rằng mọi con cái Đức Chúa Trời đều phải chịu báp-têm bằng cách dìm mình nhưng tôi không thể nói vì một người không làm theo cách đó nên người ấy không phải là một anh em. Nếu được dìm mình dưới nước, người ấy được tái sinh, còn nếu không dìm mình dưới nước, người ấy cũng được tái sinh. Anh em có thể cho rằng việc anh em đó được tái sinh là sự nhầm lẫn lớn nhất, nhưng Cha tôi là Đấng đã sinh ra người ấy. (Xin Chúa tha thứ cho tôi vì đã nói như vậy). Thực ra, khi có cơ hội, anh em phải cùng đọc Kinh Thánh với người ấy để giúp người ấy biết được việc hoạn quan và Phi-líp đã xuống nuớc [làm báp-têm] cũng như Chúa Giê-xu đã đi ra khỏi nước là như thế nào (Công. 8:36-38; Mat. 3:16). Trong Kinh Thánh, báp-têm là việc một người đi xuống nước và bước lên khỏi nước, chứ không phải chỉ có hai ngón tay nhúng xuống và rút lên. Tuy nhiên, chúng ta không thể nói vì chưa thực hiện điều này nên người đó không phải là anh em. Nền tảng của việc trở nên một anh em là sự sống chứ không phải báp-têm. Mặc dầu tin rằng báp-têm là đúng đắn, nhưng chúng ta không phải là Giáo Hội Báp-tít. Nền tảng cho sự tương giao là huyết và sự sống của Thánh Linh chứ không phải tri thức, ngay cả tri thức Kinh Thánh. Vấn đề duy nhất là một người có sự sống của Đức Chúa Trời hay không. Nếu đã được tái sinh, người đó là anh em. Yêu thương nhau là đứng trong vị trí này. Hễ khi nào đem những điều khác vào và đòi hỏi thêm những điều kiện khác thì chúng ta là một giáo phái. Xin hãy xem xét vấn đề bẻ bánh. Phao-lô là một tín đồ mới đi đến một nơi nào đó; có người đã đưa anh đến nơi ấy và anh thực sự có một chứng cớ. Họ biết anh là một anh em nên anh có thể bẻ bánh. Anh hoàn toàn không cần có một điều kiện thứ hai nào chẳng hạn như anh có tin rằng đại nạn kéo dài bảy năm không? Sự cất lên là từng phần hay cùng một lúc? Nếu anh em đòi hỏi người ta theo cách đó thì về cơ bản anh em đã sai. Nếu tôi chỉ yêu các anh em giống tôi thì tôi là bè phái và đi ngược lại với lời chứng về tình thương yêu anh em. Cảm tạ Đức Chúa Trời, tất cả chúng ta là anh em. Mọi người được chuộc bởi huyết quý báu đều là anh em. Nếu điều gì ra từ chính chúng ta thì đó là sự kiêu ngạo. Một số người nói: “Chỉ có chúng tôi là đúng; các anh đều sai”. Nhưng bánh thì phải bao hàm tất cả những anh em đúng cũng như những anh em sai.

Khi muốn theo Chúa như vậy, khi ao ước yêu thương tất cả anh em thì điều đó không có nghĩa là tất cả những anh em đó sẽ yêu lại mình. Chúng ta nên nhận biết điều này. Sạt-đe ra từ Thi-a-ti-rơ. Cho dù [lúc bấy giờ] Sạt-đe đi theo ý muốn của Chúa nhưng không thể tránh khỏi bị [Giáo Hội Công Giáo] La Mã căm ghét. Cũng vậy, vì Phi-la-đen-phi ra từ Sạt-đe nên các giáo phái cũng sẽ chống nghịch anh em. Vì phải bảo vệ tổ chức của mình nên họ sẽ nói rằng nếu hành động như vậy, các anh không yêu thương anh em mình. Từ quan điểm đó, họ cho rằng yêu thương anh em là yêu Sạt-đe, như thể yêu thương các anh em và yêu thương các giáo phái không phải là hai điều khác biệt. Những người có động cơ duy trì các giáo phái sẽ chỉ trích anh em là người thiếu tình thương yêu vì không xây dựng giáo phái của họ. Nhưng anh em phải hiểu rõ điều này: yêu thương các anh em và yêu thương giáo phái mà các anh em đó đang yêu thích là hai việc khác nhau.

Hơn nữa, chúng ta phải nhận thức rằng yêu thương cả hội thánh đơn giản chỉ căn cứ trên việc người đó có phải là anh em hay không; nếu người ấy là anh em thì chúng ta yêu thương. Đó là tình yêu thương các anh em. Nếu chúng ta chỉ yêu thương một số anh em nào đó mà thôi thì chúng ta chỉ đang yêu những anh em nằm trong nhóm của mình. Loại tình thương yêu này không thực sự là tình thương yêu dành cho các anh em mà là tình thương yêu dành cho sự chia rẽ. Nếu không buông bỏ tình thương yêu mang tính chất bè phái này, chúng ta không thể yêu thương các anh em. Thương yêu bè phái không những là không đúng mà còn hoàn toàn sai trật nữa. Yêu bè phái là sự cản trở lớn nhất cho việc yêu thương các anh em. Một người không thể yêu thương các anh em được trừ phi người ấy dứt bỏ tình thương yêu bè phái. Nhưng nếu một người yêu thương các anh em vì người ấy không có tình thương yêu bè phái thì sẽ bị người khác phê bình là không có tình yêu thương. Đây là điều thường tình; anh em đừng cho đó là lạ.

Chúng tôi xin đưa ra một điểm khác. Sự đắc thắng được đề cập bảy lần trong bức thư này. Chúa phán với Ê-phê-sô rằng: Hãy ăn năn. Sự đắc thắng tùy thuộc vào việc nhận ra tình trạng đánh mất tình thương yêu ban đầu. Sự đắc thắng của Si-miệc-nơ không gì khác hơn là lời Chúa phán rằng: “Khá trung tín cho đến chết thì các ngươi sẽ nhận lãnh mão miện của sự sống”. Tại Bẹt-găm, Chúa chống nghịch giáo lý của Ba-la-am và Ni-cô-la; vì thế, hễ ai từ chối các giáo lý này thì là người đắc thắng. Ở Thi-a-ti-rơ vẫn còn những người không theo sự dạy dỗ của Giê-sa-bên. Chúa phán: “Hãy giữ vững cho tới chừng Ta đến”. Đây là sự đắc thắng. Chúa không đòi hỏi họ phải chỗi dậy như Lu ther. Tại Sạt-đe có một ít người sống động. Mặc dù Sạt-đe không có điều gì trọn vẹn trong đó nhưng Chúa phán rằng ai mặc áo trắng là người đắc thắng. Đối với Phi-la-đen-phi, dầu hội thánh này chịu nhiều thử nghiệm và khó khăn nhưng đặc biệt Chúa nói hãy giữ vững điều họ có; vậy là họ đã đắc thắng rồi. Đối với Lao-đi-xê, chỉ có phương diện khách quan thôi thì không đủ nên hội thánh này phải bước đi với Chúa cách chủ quan. Tất cả những đắc thắng ở đây chỉ về những sự khác nhau giữa vòng con cái Đức Chúa Trời. Những lời hứa dành cho sự đắc thắng được ban ra cho các hội thánh cho nên trong các hội thánh có hai loại người đó là người đắc thắng và người thất bại. Tiêu chuẩn phân loại [hai hạng người này] là Đức Chúa Trời có một kế hoạch, một chuẩn mực; hễ người nào đạt được chuẩn mực của Ngài thì trở nên người đắc thắng, nếu không thì không phải là người đắc thắng. Người đắc thắng chỉ làm những gì nên làm. Nhiều người có quan niệm sai lầm rằng để trở nên người đắc thắng thì phải là người đặc biệt xuất sắc. Nhưng xin nhớ rằng, đắc thắng là mức độ tối thiểu, đắc thắng không phải là vượt quá mức mà là đạt tới mức. Nếu có thể đạt được chuẩn mực này thì anh em là người đắc thắng. Thất bại có nghĩa là anh em không thể đạt đến kế hoạch của Đức Chúa Trời và ở dưới mức [mà Ngài đã chỉ định].

Tôi không biết anh em cảm thấy thế nào, nhưng ngày nay có một điều làm tôi rất vui. Đức Chúa Trời không khiến tôi được sinh ra vào thời Thi-a-ti-rơ kéo dài gần một ngàn bốn trăm năm. Ngài cũng không cho tôi sinh ra trong thời kỳ Sạt-đe. Chúng ta được sinh ra trong thời đại này tức thời kỳ Phi-la-đen-phi mà chỉ mới tồn tại hơn một trăm năm nay. Chúa đặt để chúng ta vào thời đại Phi-la-đen-phi để có thể là Phi-la-đen-phi. Ngày nay trong Lao-đi-xê cũng có nhiều người đắc thắng nhưng họ chỉ là những người đắc thắng trong Lao-đi-xê. Trong cả lịch sử hội thánh, chưa có cơ hội nào tốt hơn cơ hội chúng ta có ngày nay.

“Kẻ đắc thắng Ta sẽ khiến làm rường cột trong đền thờ Đức Chúa Trời Ta và người không còn ra khỏi đó nữa” (Khải. 3:12). Chúng ta cần chú ý đến chữ “nữa”. “Nữa” nghĩa là chúng ta đã ra khỏi ít nhất một lần. Trong số các anh em, mười người thì đã có tám người trước đây đã từng ra khỏi. Tôi cảm thấy lời hứa của Chúa ở đây thật tuyệt diệu. Nếu trụ cột của đền thờ mà “ra khỏi” một lần nữa thì đền thờ sẽ sụp đổ. Ba danh xưng sau đây rất đặc biệt đó là “Danh của Đức Chúa Trời Ta, danh của thành Đức Chúa Trời Ta… và danh mới của Ta”. Ý nghĩa của từng danh xưng là gì? Môi danh xưng đều có ý nghĩa rất lớn. Danh của Đức Chúa Trời tượng trưng cho vinh quang của Ngài. Ngoài Phi-la-đen-phi không hội thánh nào khác nhận được vinh quang của Đức Chúa Trời. Danh của thành Đức Chúa Trời là Giê-ru-sa-lem Mới. Nói cách khác, Phi-la-đen-phi hoàn thành kế hoạch của Đức Chúa Trời. “Danh mới của Ta”. Như anh em biết, khi Chúa Jesus thăng thiên, Ngài đã nhận một Danh mới là Danh vượt trên hết mọi danh (Phil. 2:9-11). Ở đây Chúa bày tỏ rằng trong tất cả các hội thánh, Ngài đặc biệt để mắt, quan tâm đến Phi-la-đen-phi. Ngày nay, chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời đã cho chúng ta được sinh ra trong một thời đại mà mình có thể là Phi-la-đen-phi. Dù được sinh ra trong một thời đại mà tình trạng hội thánh hết sức rối loạn nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, chúng ta có thể làm những người thuộc Phi-la-đen-phi.

Sau cùng, xin hãy nhớ rằng Chúa đã phán cùng một lời bảy lần cho bảy hội thánh: “Ai có tai hãy nghe điều Linh phán cùng các hội thánh” (Khải. 3:22). Anh em phải chú ý đến lời này. Mắt Chúa không chỉ để ý đến bảy hội thánh mà còn đang chăm xem mọi hội thánh trên toàn thế giới, quá khứ và hiện tại, ở đây và khắp nơi. Những gì Chúa phán bảo là Ngài phán cho tất cả các hội thánh. Tình trạng sa bại được tìm thấy trong thời kỳ Ê-phê-sô rất có thể xuất hiện trong Phi-la-đen-phi ngày hôm nay. Mặc dù thời kỳ Si-miệc-nơ đã qua nhưng ngày nay nó có thể xuất hiện lại. Thường thì tình trạng của tất cả bảy hội thánh có thể xuất hiện trong một hội thánh. Tuy nhiên, hội thánh không đơn giản như vậy. Những tình trạng đặc biệt kia chỉ là những tình trạng chính yếu diễn ra trong một khoảng thời gian nào đó. Tất cả những tình trạng này có thể xảy ra cùng một lúc trong bảy hội thánh.

Ở đây Chúa phán: “Ai có tai hãy nghe điều Linh phán cùng các hội thánh”. Có hai người đang đi trên đường, một người nói: “Hãy đợi một chút, tôi nghe thấy có tiếng dế”. Bạn anh đáp lại: “Anh có điên không; xe cộ chạy trên đường ồn ào thế này, khó mà nghe được tiếng nói của mình, làm sao anh có thể nghe được tiếng dế chứ?” Nhưng anh ấy chạy đến bờ tường bên lề đường và bảo bạn mình đứng lắng nghe. Đúng vậy, có một con dế. Bạn anh thắc mắc làm sao anh có thể nghe được tiếng dế. Anh đáp: “Các chủ ngân hàng chỉ có thể nghe được tiếng của tiền bạc, nhạc sĩ thì nghe được tiếng nhạc; còn tôi là một nhà côn trùng học nên tai tôi có thể nghe được tiếng của các côn trùng”. Chúa bảo với chúng ta, người nào có tai có thể nghe được Lời Ngài thì hãy nghe. Có nhiều người không có tai và không thể nghe được Lời Chúa. Nếu có tai, anh em phải nghe. Hãy cầu xin Đức Chúa Trời ban cho chúng ta bước đi trong đường lối ngay thẳng. Trong bất cứ tình huống nào, dù cho điều gì xảy đến, chúng ta cũng phải chọn con đường Phi-la-đen-phi.