Thông tin sách

Sự Chính Thống Của Hội Thánh

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Orthodoxy of the Church
ISBN: 0-87083-007-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 8

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG TÁM

HỘI THÁNH TẠI LAO-ĐI-XÊ

Kinh Thánh: Khải. 3:14-22

Bây giờ chúng ta sẽ nói về hội thánh cuối cùng. Chúng ta đã thấy Giáo Hội Công Giáo La Mã, các Giáo Hội Cải Chánh và phong trào của các anh em. Giữa những hội thánh này, hội thánh mà Đức Chúa Trời chọn là phong trào của các anh em. Thi-a-ti-rơ đã hoàn toàn thất bại. Mặc dù Sạt-đe tốt hơn Thi-a-ti-rơ nhưng Chúa vẫn quở trách. Chỉ có Phi-la-đen-phi là không bị quở trách. Lời hứa của Chúa thì ở với Phi-la-đen-phi (nhưng Phi-la-đen-phi cũng có một lời kêu gọi dành cho những người đắc thắng). Nếu theo chúng ta thì chúng ta đã dừng lại tại Phi-la-đen-phi và không viết thêm điều gì nữa. Tuy nhiên, trong những hội thánh này, Chúa đang nói tiên tri cho chúng ta về tình trạng của hội thánh cho nên cần phải có thêm một bước nữa đến với Lao-đi-xê là hội thánh mà hầu hết mọi người đều quen thuộc. Nếu anh em hỏi Lao-đi-xê chỉ về hội thánh nào thì nhiều người không thể trả lời được. Nhiều con cái Đức Chúa Trời không sáng tỏ về Lao-đi-xê. Một số người nghĩ đến việc rút ra những bài học từ hội thánh này áp dụng cho cá nhân mình; một số khác lại cho rằng hội thánh này chỉ về tình trạng hoang tàn chung của hội thánh. Tuy nhiên, Chúa đang nói tiên tri ở đây.

Cũng giống như các hội thánh khác, Lao-đi-xê có ý nghĩa đặc biệt cho tên của mình. Tên này được tạo nên bởi hai chữ: laos(lao) có nghĩa là “người thường” (tín đồ thường hay thường dân), và dicea (đi-xê) có thể được dịch là “tập tục” hay “ý kiến”. Vậy Lao-đi-xê có nghĩa là tập tục của tín đồ thường hay những ý kiến của dân thường. Ở đây chúng ta thấy rất rõ ý nghĩa, đó là hội thánh đã thất bại rồi. Bây giờ hội thánh đã quay sang lề lối tiếp nhận các ý kiến và tập tục của những tín đồ thường. Ở Phi-la-đen-phi chúng ta thấy “các anh em” và “tình yêu thương lẫn nhau”. Nhưng ở đây chúng ta thấy “các tín đồ thường”, “những ý kiến” và “tập tục”.

Xin hãy nhớ một điều: Nếu con cái Đức Chúa Trời không đứng trong vị trí của Phi-la-đen-phi thì sẽ sa ngã và thất bại; tuy nhiên, họ không thể trở về với Sạt-đe. Khi một người đã thấy được lẽ thật về các anh em thì dù có muốn, họ cũng không thể quay trở lại các Giáo Hội Cải Chánh được nữa. Vì không thể đứng vững trong Phi-la-đen-phi, nên người ấy rút lui khỏi Phi-la-đen-phi mà trở nên Lao-đi-xê, như chúng ta thấy ở đây. Những gì ra từ Giáo Hội Công Giáo La Mã thì được gọi là Giáo Hội Cải Chánh; những gì ra từ Giáo Hội Cải Chánh thì được gọi là các anh em; còn điều gì ra từ Phi-la-đen-phi được gọi là Lao-đi-xê. Sạt-đe ra từ Thi-a-ti-rơ và Phi-la-đen-phi ra từ Sạt-đe; cũng vậy, Lao-đi-xê ra từ Phi-la-đen-phi. Ngày nay, con cái Đức Chúa Trời có sự nhầm lẫn là hễ khi nào nhìn thấy một giáo phái nào có tình trạng sai trật thì họ nói đó là Lao-đi-xê. Điều ấy không đúng. Một giáo phái sai trật là Sạt-đe chứ không phải Lao-đi-xê. Những giáo phái khác nhau là các Giáo Hội Cải Chánh. Các giáo phái này không đủ điều kiện để trở thành Lao-đi-xê. Chỉ có Phi-la-đen-phi thất bại mới có thể trở thành Lao-đi-xê. Tình trạng ở Lao-đi-xê không phải là tình trạng ở Sạt-đe. Chỉ có ai đã từng nếm biết sự tốt lành của Phi-la-đen-phi và bây giờ sa sút thì mới là Lao-đi-xê. Hội thánh mà trong thực tế chẳng có gì nhiều là Sạt-đe. Hội thánh không giữ được sự phong phú thuộc linh trong Thánh Linh thì trở nên Lao-đi-xê.

Thế thì loại sa ngã này là gì? Bắt đầu ở Ê-phê-sô, chúng ta thấy có tình trạng không bình thường giữa tình trạng bình thường. Ở Bẹt-găm, chúng ta thấy có giáo lý Ba-la-am. Tại Thi-a-ti-rơ thì có Giê-sa-bên; vì vậy, giai cấp trung gian bắt nguồn từ đây. Sạt-đe cho chúng ta quyển Kinh Thánh được mở ra nhưng chính hội thánh này lại tạo ra một giai cấp trung gian khác. Trong Phi-la-đen-phi, chúng ta thấy chỉ toàn là anh em; giai cấp “thắng hơn các tín đồ thường” không còn nữa. Mọi người đều quay về với Lời Chúa mà vâng phục Lời Ngài, và vâng theo điều Thánh Linh phán qua Lời Chúa. Nhưng một ngày kia, bởi không đứng trong vị trí của các anh em là những người nhận được sự sửa trị của Thánh Linh và bởi lìa khỏi vị trí của các anh em mà rơi vào vị trí của những tín đồ thường, nên Lao-đi-xê xuất hiện. Ở Sạt-đe, uy quyền nằm trong tay hệ thống mục sư. Tại Phi-la-đen-phi, uy quyền ở nơi Thánh Linh; Thánh Linh thực thi uy quyền qua Lời và qua danh Ngài, và tất cả các anh em yêu thương nhau. Bây giờ tại Lao-đi-xê, cả Thánh Linh và hệ thống mục sư đều không thi hành uy quyền mà là tín đồ thường. Những tín đồ thường vận dụng uy quyền có nghĩa là gì? Đó là việc sử dụng uy quyền của số đông. Ý kiến của số đông là ý kiến được chấp nhận; miễn là số đông đó phải đồng tình với nhau, thế là được. Đây chính là Lao-đi-xê. Nói cách khác, không phải các cha (linh mục) hay các mục sư cai trị, cũng không phải Thánh Linh mà là ý kiến của số đông người được xem là có giá trị. Ở đây không phải là các anh em mà là con người. Lao-đi-xê không đứng trong vị trí của các anh em; trái lại, đây là những con người bước theo ý muốn của xác thịt. Mỗi người giơ tay lên, thế là đủ. Chúng ta phải biết ý muốn Đức Chúa Trời và nhìn vào Phi-la-đen-phi theo ý muốn Đức Chúa Trời. Hễ khi nào không có tình thương yêu anh em mà chỉ có những ý kiến của con người theo xác thịt thì anh em đang gặp phải Lao-đi-xê.

Ở đây Chúa nói chính Ngài là “Đấng A-men, chứng nhân thành tín và chân thật, là khởi đầu cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời” (Khải. 3:14). Chúa là Đấng A-men. A-men có nghĩa là đúng vậy, “điều đó phải như vậy”. Vì thế, Ngài làm trọn mọi sự, và không điều gì vô ích cả. Chúa Jesus đã làm chứng công việc của Đức Chúa Trời trên đất. Giữa muôn người, muôn vật được Đức Chúa Trời tạo dựng thì Chúa là Đầu.

“Ta biết công việc ngươi, ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng. Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên Ta nhả ngươi ra khỏi miệng Ta” (cc. 15-16). Sạt-đe có tiếng là sống, nhưng thực tế là chết, còn Lao-đi-xê thì không lạnh cũng không nóng. Với Ê-phê-sô, Chúa phán: “Ta sẽ cất giá đèn khỏi chỗ nó”; với Lao-đi-xê, Chúa phán: “Ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng Ta”. Chúa sẽ không dùng họ nữa; họ không còn là a-men nữa. Vấn đề là họ không nóng cũng không lạnh. Họ đầy dẫy tri thức, nhưng thiếu quyền năng. Khi nóng cháy, họ là Phi-la-đen-phi; nhưng bây giờ họ còn lạnh hơn trước. Một khi Phi-la-đen-phi sa ngã thì sẽ trở thành Lao-đi-xê. Chỉ có những người thuộc Phi-la-đen-phi mới có thể sa ngã đến mức như thế.

“Vì ngươi nói: ta giàu rồi, ta đã được giàu có rồi, không cần chi nữa” (3:17). Tôi đã nói rằng sự chuyển động của các anh em có ý nghĩa hơn cuộc Cải Chánh. Cuộc Cải Chánh chỉ là cải cách về số lượng trong khi phong trào của các anh em là một sự cải chánh về phẩm chất, khôi phục lại thực chất ban đầu của hội thánh. Quyền năng như vậy thật là lớn lao. Nhưng vì các anh em này mạnh mẽ hơn những người khác về cách cư xử và lẽ thật, ngay cả một người nấu ăn trong vòng họ cũng hiểu biết [Lời Chúa] hơn một giáo sĩ trong các Giáo Hội Cải Chánh, nên họ trở nên kiêu ngạo. Thái độ của họ là: “Các anh là những người không đủ trình độ, chỉ có chúng tôi mới có đủ trình độ”. Trong các Giáo Hội Cải Chánh, không người nào có đủ trình độ. Scofield lừng danh cũng đã đến với các anh em để được dạy dỗ; Gypsy Smith, được nhiều người biết đến, cũng đã đến giữa vòng họ để nhận được nhiều điều ích lợi, tiếp thu những giáo lý của họ để rao giảng. Tất cả những công tác viên Cơ Đốc, sinh viên, người giảng đạo và các tín đồ đều đã tiếp nhận sự giúp đỡ và ánh sáng từ nơi họ. Chúng ta không biết có bao nhiêu người nữa đã nhận được sự giúp đỡ từ sách vở của họ. Nhiều người phải thừa nhận trong lòng rằng trên thế giới này không ai có thể dạy Kinh Thánh giỏi như các anh em. Kết quả là một số người trong họ trở nên kiêu ngạo. Họ nói: “Học trò của chúng tôi là thầy của những người khác”. Mặc dù bị chống đối dữ dội nhưng một số người trong họ vẫn tự xưng mình là anh hùng. Hậu quả rõ ràng nhất là một số người trở nên tự mãn. Một số anh em thì có tình thương yêu anh em và tìm cách giúp đỡ những người khác, trong khi các anh em khác chẳng có gì hết ngoài tri thức; cho nên điều không thể tránh khỏi là họ trở nên tự tôn và tự phụ. Chúa cho chúng ta thấy một Phi-la-đen-phi kiêu ngạo là Lao-đi-xê, và Lao-đi-xê là một Phi-la-đen-phi sa ngã. Do đó tại nhiều nơi, sự nhóm lại giữa họ có sự trục trặc bởi cách cư xử và sự dạy dỗ của họ. Đặc tính của Lao-đi-xê là sự kiêu ngạo thuộc linh. Về phương diện lịch sử, Chúa đã làm ứng nghiệm điều này cho chúng ta.

Ngày nay chúng ta có thể gặp Phi-la-đen-phi và cũng có thể gặp Lao-đi-xê. Cả hai đều giống nhau trong vị trí của họ, tức đều là hội thánh. Sự khác nhau là Phi-la-đen-phi thì có tình yêu thương anh em còn Lao-đi-xê có sự kiêu ngạo. Về vẻ bên ngoài thì không có sự khác nhau; sự khác biệt duy nhất là: Lao-đi-xê chính là một Phi-la-đen-phi kiêu ngạo. Tôi không muốn kể ra nhiều điều về họ. Tôi chỉ đưa ra cho anh em một số trường hợp minh họa. Có lần một anh em trong vòng họ nói: “Có điều thuộc linh nào mà không tìm thấy giữa vòng chúng ta không?” Một anh em nọ, sau khi xem một tờ báo [thuộc linh] mới, đã nói: “Có điều gì mới cho chúng ta nào? Có điều gì mà chúng ta không có chứ?”, anh trả lại tờ báo và không đọc thêm gì nữa. Một anh em khác bảo: “Vì Chúa đã ban ánh sáng lớn nhất cho chúng ta nên chúng ta cần phải thỏa mãn, nếu còn đọc sách của những người khác viết thì thật là phí thì giờ!” Anh em khác nữa lại nói: “Có điều gì người khác có mà chúng ta không có?” Và một anh em khác phát biểu: “Điều người khác có chúng ta cũng có, còn điều chúng ta có, có thể người khác không có”. Khi nghe những lời nói như vậy, lập tức chúng ta nhớ ngay Lời Chúa phán ở đây về những người nói rằng: “Ta giàu rồi!” Ô, chúng ta cần phải cẩn thận để không trở thành Lao-đi-xê!

Lần nọ, trên một hòn đảo ở Đại Tây Dương có một cơn bão dữ dội đã tàn phá nhiều nhà cửa, kể cả nhà ở và phòng nhóm của các anh em này; chỉ trong vài giờ, các anh em khắp thế giới đã gởi đến cho họ hơn hai trăm ngàn Anh kim. Sự cứu trợ đến với họ còn nhanh hơn cả sự cứu trợ của chính phủ. Giữa vòng họ thật sự có tình yêu thương anh em nhưng cũng có những người đã trở nên kiêu ngạo. Các Giáo Hội Cải Chánh không đủ điều kiện để trở thành Lao-đi-xê. Chính Sạt-đe cũng tự thừa nhận rằng mình không có gì hết. Tôi đã công tác hơn hai mươi năm nhưng chưa từng gặp một giáo sĩ hay mục sư nào trong giáo phái tuyên bố họ có những điều thuộc linh. Họ luôn nói mình thiếu hụt. Các Giáo Hội Cải Chánh thất bại và yếu đuối chính là Sạt-đe, không phải là Lao-đi-xê. Chỉ có Lao-đi-xê mới có đặc điểm là sự kiêu ngạo thuộc linh. Các Giáo Hội Cải Chánh có nhiều tội lỗi, nhưng sự kiêu ngạo thuộc linh không phải là tội nổi bật của họ. Chỉ có những anh em sa ngã mới nói: “Ta giàu rồi, ta đã được giàu có rồi, không cần chi nữa”. Chỉ có Phi-la-đen-phi sa ngã mới có thể trở thành Lao-đi-xê. Về sự giàu có thuộc linh, Sạt-đe biết rõ rằng mình không có gì cả. Họ thường nói: “Chúng tôi không sốt sắng đủ; những người sốt sắng trong chúng tôi đã đi hết rồi”. Giàu có là tình trạng của Phi-la-đen-phi, còn khoe khoang về sự giàu có của mình là điểm nổi bật của Lao-đi-xê. Chỉ có Lao-đi-xê mới có thể khoe khoang. Một người ra khỏi vị trí Phi-la-đen-phi thì không thể trở về với Sạt-đe. Không thể yêu cầu một anh em trở lại Sạt-đe; người ấy chỉ có thể đi tiếp để trở thành Lao-đi-xê. Lao-đi-xê cũng không tiếp nối con đường chính thống của các sứ đồ. Hội thánh này vượt ra khỏi đường thẳng của các sứ đồ. Họ là những người có tri thức hư không. Họ không có sự sống nhưng lại tự mãn, tự tôn, tự cao tự đại.

“Ngươi không biết rằng mình là kẻ khốn khổ, đáng thương, nghèo ngặt, đui mù, lõa lồ?” (c. 17). Những gì họ nói hoàn toàn là sự thật: Ta giàu rồi, ta đã được giàu có rồi và không cần chi nữa! Thật vậy, họ rất kỳ diệu trước mặt Đức Chúa Trời. Họ có lý do để khoe khoang. Chúng ta thừa nhận rằng có nhiều điều giữa vòng họ khiến họ có thể khoe khoang. Nhưng tốt hơn là để cho người khác có cảm nhận như thế chứ mình đừng tự cảm nhận; hãy để cho người khác biết về điều đó chứ mình đừng tự nhận biết. Điều đó thật sự là tốt nếu người khác nói như vậy còn nếu chúng ta tự nói ra thì không tốt. Chúng ta không được khoe khoang những điều thuộc linh. Nếu một người có khoe khoang sự giàu có của mình về những điều thuộc thế gian thì tiền bạc ấy cũng không bay mất hay suy giảm; nhưng đối với những điều thuộc linh thì một khi anh em khoe khoang, chúng sẽ tiêu biến đi. Khi một người nói mình mạnh mẽ thì sức mạnh ấy sẽ biến mất. Mặt Môi-se chiếu sáng nhưng ông không nhận thấy điều đó. Hễ ai nhận biết mặt mình đang chiếu sáng thì sự chiếu sáng đó sẽ mất đi. Nếu không biết mình đang lớn lên thì anh em được phước. Có nhiều người biết quá rõ về tình trạng của chính mình, nhưng thật ra họ không có gì cả. Nếu anh em có uy quyền thuộc linh thì đúng nhưng nếu nhận biết mình đang có uy quyền thuộc linh thì không đúng. Người Lao-đi-xê quá rõ ràng trong việc đánh giá chính mình; họ có quá nhiều điều. Trong mắt của Đức Chúa Trời, họ đui mù, nghèo ngặt, trần truồng. Đó là lý do tại sao chúng ta phải học bài học này. Lao-đi-xê biết quá rõ về sự giàu có của mình. Chúng tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ tăng trưởng nhưng không muốn chính mình cảm biết về điều đó.

Chúa phán: “Ngươi khốn khổ”, chữ “khốn khổ” ở đây tương đương với chữ “khốn nạn” mà Phao-lô dùng trong La Mã 7:24. Chúa phán là họ cũng giống như Phao-lô ở La Mã chương 7. Về phương diện thuộc linh, họ thật khốn nạn, xấu hổ; họ chẳng giống ai cả, và trong cái nhìn của Chúa, họ thật đáng thương. Những câu tiếp theo Chúa đưa ra ba lý do cho thấy tại sao họ khốn khổ và đáng thương: (1) nghèo nàn; (2) đui mù; (3) trần truồng.

Về sự nghèo nàn, Chúa nói: “Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của Ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có”. Cho dù họ giàu có về giáo lý nhưng Chúa vẫn thấy họ nghèo nàn. Họ phải có đức tin sống động; nếu không, Lời Đức Chúa Trời trở nên vô ích đối với họ. Sự thất bại và yếu đuối của họ là do đức tin của họ không còn nữa. Phi-e-rơ nói rằng vàng thử lửa là đức tin được thử nghiệm (1 Phi. 1:7). Khi Lời Chúa được ban ra cách nghèo nàn thì anh em phải cầu nguyện. Khi Lời Chúa gia tăng, anh em phải có đức tin để hòa lẫn với những lời mà anh em đã nghe. Phải vượt qua mọi loại thử thách để những lời mà anh em đã nghe trở nên ích lợi cách thực tiễn. Như thế, anh em phải mua vàng thử lửa; phải học tập tin cậy ngay cả khi đang ở trong hoạn nạn thì anh em mới thực sự giàu có.

Hơn nữa, Chúa phán: “Mua áo trắng để mặc vào, hầu cho sự xấu hổ về sự lõa lồ của ngươi khỏi lộ ra” (Khải. 3:18). Trước đây, chúng ta đã đề cập đến “áo trắng” chỉ về cách cư xử. “Áo trắng” ở đây cũng là áo trắng được đề cập ở một số chỗ khác trong Khải-thị. Mục đích của Đức Chúa Trời là họ không bị ô uế, giống như chiếc áo trắng. Đức Chúa Trời muốn họ liên tục bước đi trước mặt Ngài. Lõa lồ trước mặt Đức Chúa Trời là điều không thể được. Trong Cựu Ước, không ai có thể đến gần Đức Chúa Trời mà không mặc y phục. Khi các thầy tế lễ đến bàn thờ thì sự lõa lồ của họ không được để lộ ra. 2 Cô-rin-tô 5:3 chép: “miễn là chúng ta được mặc lấy, thấy không đến nỗi trần truồng”. Nhưng ở chỗ này vấn đề không phải là mặc hay không mặc mà là áo có trắng hay không. Chúa Jesus phán: “Còn hễ ai vì danh môn đồ mà cho một người trong vòng kẻ nhỏ này uống một chén nước lạnh, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, kẻ ấy hẳn chẳng mất phần thưởng mình đâu” (Mat. 10:42). Đây là áo trắng. Anh em có thể đãi người khác một bữa tiệc nhưng có thể đó không phải là “màu trắng”. Nếu chúng ta làm chỉ vì muốn giữ vinh hiển cho nhóm của mình thì việc làm ấy không có giá trị; nếu nó bắt nguồn từ một động cơ thấp hèn hơn điều này thì lại càng vô giá trị. Điều đó không đủ trong sạch. Chúa mong muốn chúng ta có mục đích trong sạch và động cơ trong sáng để làm việc cho Ngài. Có nhiều hoạt động và động cơ mà một khi đụng đến, chúng ta cảm thấy có nhiều điều không thuần khiết thì đó không phải là “màu trắng”. “Hầu cho sự xấu hổ và sự lõa lồ của ngươi khỏi lộ ra”. Khi bước đi trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta không phải xấu hổ.

Chúa cũng phán: “Mua thuốc mắt để thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được” (Khải. 3:18). Ở đây nói “thuốc xức” chứ không phải “thuốc viên”. Mua thuốc mắt để xức mắt ngươi, đây là sự mặc khải của Thánh Linh. Anh em phải có sự mặc khải của Thánh Linh thì mới kể là thấy. Trái lại, hiểu biết quá nhiều giáo lý có thể làm suy giảm sự mặc khải của Thánh Linh. Giáo lý là sự truyền đạt tư tưởng từ người này sang người khác nhưng cặp mắt thuộc linh thì không thấy gì. Có nhiều người đang bước đi trong ánh sáng của người khác. Nhiều anh em lớn tuổi nói thế này cho nên anh em cũng nói thế ấy. Ngày nay, anh em nói: “Người này, người kia đã nói với tôi”; nếu không có “người này, người kia” nói, anh em không biết phải làm gì. Anh em nhận giáo lý từ sự dạy dỗ của con người chứ không phải từ Chúa Jesus. Chúa Jesus nói tình trạng như vậy không có hiệu quả gì; anh em phải có sự mặc khải của Thánh Linh. Tôi không thể viết thư cho một người bạn nhờ anh ấy nghe Phúc Âm giùm để tôi có thể được cứu. Cũng vậy, bất cứ điều gì nhận được từ tay con người đều bị kết liễu khi nó đến với chúng ta; điều ấy không liên quan gì đến Đức Chúa Trời. Theo Kinh Thánh, đó là sự đui mù. Nếu không chạm đến Thánh Linh, anh em không thể giải quyết những điều thuộc linh. Vấn đề không phải là anh em nghe được bao nhiêu. Nhiều khi đó chỉ là một sự gia tăng về giáo lý, gia tăng về tri thức mà không thấy được điều gì trước mặt Đức Chúa Trời. Vậy, chúng ta phải học tập điều này trước mặt Đức Chúa Trời, ấy là phải mua thuốc xức mắt. Chỉ có chính mình nhìn thấy mới thực sự là thấy. Thấy là nền tảng của những điều đã đạt được và là nền tảng để lại tiếp thấy nữa.

“Kẻ Ta yêu mến thì Ta bẻ trách sửa trị; vậy, hãy sốt sắng và ăn năn” (c. 19). Những lời được phán trước đây là những lời bẻ trách. Nhưng Chúa cho thấy bởi yêu thương chúng ta, nên Ngài bẻ trách sửa trị như vậy. Vì thế, hãy sốt sắng. Anh em nên làm gì? Hãy ăn năn. Trước hết, phải ăn năn. Ăn năn không chỉ là vấn đề cá nhân mà hội thánh cũng cần phải ăn năn.

“Này, Ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa cho; thì Ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và người với Ta” (c. 20). Có khá nhiều điều được hàm ý trong câu này. Cửa này là loại cửa gì? Nhiều người dùng câu này để rao giảng Phúc Âm. Mượn câu này để rao giảng Phúc Âm thì được; mượn câu này để nói với tội nhân cũng không sao, nhưng không được mượn câu này quá lâu mà không trả lại. Câu này dành cho con cái Đức Chúa Trời. Câu này không chỉ về việc Chúa gõ cửa lòng một tội nhân; cửa này là cửa của hội thánh. Vì “cửa” này ở số ít cho nên Chúa đang ám chỉ về hội thánh. Thật lạ là Chúa là Đầu của hội thánh, hay chúng ta có thể nói Ngài là căn nguyên của hội thánh, thế mà Ngài lại đứng ngoài cửa hội thánh! “Này, Ta đứng ngoài cửa!” Thật là một tình trạng tồi tệ! Nếu Chúa đang ở ngoài cửa hội thánh thì cửa này là loại cửa gì?

Chúa phán, “Này!” Chúa phán điều này cho cả hội thánh. Cửa là cửa của hội thánh. “Nếu ai nghe tiếng Ta và mở cửa cho…” Nhóm chữ “nếu ai” cho thấy việc mở cửa là vấn đề cá nhân. Trong Kinh Thánh có hai phương diện liên quan đến lẽ thật. Một phương diện thì về Thánh Linh còn phương diện kia thì về Đấng Christ; một mặt thì chủ quan còn mặt kia khách quan; một mặt thì về kinh nghiệm, còn mặt kia liên quan đến đức tin. Nếu người nào đó chú ý quá nhiều đến lẽ thật khách quan thì anh em thấy người đó nói chuyện trên trời dưới đất và không thực tế. Nếu người ấy luôn đứng về mặt chủ quan, quá chú trọng đến hành động bên trong của Thánh Linh thì người ấy sẽ liên tục nhìn vào bên trong và trở nên không thỏa mãn. Tất cả những ai đang tìm kiếm Chúa cần phải được quân bình bởi cả hai lẽ thật này. Một lẽ thật cho tôi thấy mình được hoàn hảo trong Đấng Christ, và lẽ thật kia chỉ ra rằng hành động bên trong của Thánh Linh khiến tôi trở nên hoàn hảo. Thất bại lớn nhất của Các Anh Em là họ đã quá chú trọng đến lẽ thật khách quan mà bỏ qua lẽ thật chủ quan. Phi-la-đen-phi thất bại và trở nên Lao-đi-xê. Sự thất bại của hội thánh này là do có quá nhiều lẽ thật khách quan. Điều này không có nghĩa là họ không có gì cả về hành động bên trong của Thánh Linh; nhưng nói chung, họ có quá nhiều về phương diện khách quan nhưng lại có quá ít về phương diện chủ quan”. Nếu ngươi mở cửa, “Ta sẽ vào”. Điều này có nghĩa là phương diện khách quan trở thành chủ quan, tức là Ngài sẽ biến tất cả những gì anh em có thuộc phương diện khách quan thành phương diện chủ quan. Trong Giăng 15:4, Chúa nói đến cả hai phương diện. Ngài phán: “Hãy cứ ở trong Ta và Ta ở trong các ngươi”. “Ta sẽ ăn bữa tối với người và người với Ta”. Ở đây Chúa phán: Nếu ngươi mở cửa thì Ta sẽ ăn bữa tối với ngươi. Đây là sự tương giao và cũng là niềm vui. Như thế, chúng ta có một sự tương giao mật thiết với Chúa và niềm vui tuôn ra từ một mối tương giao như vậy.

“Kẻ đắc thắng Ta sẽ cho ngồi với Ta trên ngai Ta, như Ta đã đắc thắng và ngồi với Cha Ta trên ngai của Ngài” (c. 21). Trong các lời hứa dành cho những người đắc thắng trong bảy hội thánh, nhiều người cho rằng đây là lời hứa tốt nhất. Mặc dù một số người thích những lời hứa khác dành cho những người đắc thắng, nhưng nhiều người nói với tôi rằng lời hứa của Chúa dành cho Lao-đi-xê vượt trổi hơn tất cả. Trước đây, trong các lời hứa dành cho những người đắc thắng, Chúa không nói gì về chính Ngài cả; nhưng ở đây Chúa phán nếu ngươi đắc thắng, Ta sẽ ăn bữa tối với ngươi. Vì các ngươi đã trải qua đủ mọi thứ đắc thắng, các ngươi có thể ngồi với Cha Ta trên ngai. Anh em phải đắc thắng để có thể ngồi với Chúa trên ngai Ngài. Người đắc thắng ở đây có một lời hứa vượt trội hơn, vì thời đại hội thánh sắp kết thúc. Người đắc thắng đang chờ đợi ngày Chúa Jesus trở lại. Vì thế, ngai có ở đây.