Thông tin sách

Sự Chính Thống Của Hội Thánh

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Orthodoxy of the Church
ISBN: 0-87083-007-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 7

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG BẢY

HỘI THÁNH TẠI PHI-LA-ĐEN-PHI

Kinh Thánh: Khải. 3:7-13; Mat. 23: 8-11; Gi. 20:17; 1 Cô. 12:13; Ga. 3:28.

Ở đây, chúng tôi vẽ một biểu đồ. Có lẽ biểu đồ này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn. Phần thứ nhất tượng trưng cho hội thánh trong thời các sứ đồ. Mặc dù Ê-phê-sô là một hội thánh đã bị trì trệ rồi nhưng vẫn còn nằm trên đường thẳng vì Chúa vẫn công nhận hội thánh Ê-phê-sô là tiếp tục hội thánh thời các sứ đồ. Sau đó là Si-miệc-nơ cũng tiếp tục nằm trên đường thẳng. Si-miệc-nơ thật sự là một hội thánh chịu khổ. Không có lời khen ngợi hay quở trách nào đối với hội thánh này. Sau Si-miệc-nơ, có một điều đã xảy ra khi Bẹt-găm xuất hiện; ấy là hội thánh này không tiếp tục sự chính thống của các sứ đồ mà đã liên hiệp với thế gian tạo một bước ngoặt cho sự đi xuống. Hội thánh này tiếp theo hội thánh Si-miệc-nơ nhưng không tiếp tục ở trong sự chính thống của các sứ đồ. Vì Bẹt-găm đã tạo một bước ngoặt như vậy nên Thi-a-ti-rơ đi theo dấu chân của họ. Thi-a-ti-rơ đã đi cùng con đường như Bẹt-găm mà không đi con đường của các sứ đồ. Sạt-đe ra từ Thi-a-ti-rơ và cũng tạo nên một bước ngoặt nhưng bước ngoặt của họ là bước ngoặt quay trở lại. Thi-a-ti-rơ sẽ tiếp tục tồn tại cho đến khi Chúa đến và Sạt-đe cũng tiếp tục tồn tại cho đến khi Chúa đến.

Bây giờ chúng tôi mong muốn trình bày về Phi-la-đen-phi. Phi-la-đen-phi là hội thánh quay trở về với sự chính thống của các sứ đồ. Phi-la-đen-phi cũng có một bước ngoặt, một bước ngoặt trở lại với vị trí ban đầu của Kinh Thánh. Bước ngoặt khôi phục bắt đầu với Sạt-đe và được hoàn tất trong Phi-la-đen-phi. Bây giờ Phi-la-đen-phi lại nằm trên đường thẳng như vào thời các sứ đồ. Phi-la-đen-phi ra từ Sạt-đe. Hội thánh ấy không phải là Giáo Hội Công Giáo La Mã, cũng không phải Giáo Hội Cải Chánh mà là tiếp tục hội thánh thời các sứ đồ. Sau đó, Lao-đi-xê xuất hiện, hội thánh mà chúng ta sẽ biết khi nghiên cứu tới. Bây giờ, chúng ta dành một ít thì giờ để xem Phi-la-đen-phi là gì, hi vọng rằng chúng ta sẽ được sáng tỏ về những gì mà hội thánh ấy tượng trưng.

Giữa bảy hội thánh, có năm bị quở trách còn hai thì không. Hai hội thánh không bị quở trách đó là Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi. Chúa chỉ chấp nhận hai hội thánh này. Điều đáng chú ý là những gì Chúa phán với hội thánh Phi-la-đen-phi thì có phần nào giống như những gì Ngài đã phán với hội thánh Si-miệc-nơ. Vấn đề đối với Si-miệc-nơ là Do Thái giáo trong khi với Phi-la-đen-phi cũng là Do Thái giáo. Với hội thánh Si-miệc-nơ, Chúa phán: “Ngươi đã bị thử thách” (Khải. 2:10), trong khi với Phi-la-đen-phi, Ngài nói: “Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sắp đến trong khắp thiên hạ để thử những người ở trên đất” (3:10). Chúa cũng nói với hai hội thánh này về mão miện. Với Si-miệc-nơ, Ngài phán: “Ta sẽ ban cho ngươi mão miện của sự sống” (2:10), trong khi với Phi-la-đen-phi thì: “Hãy giữ vững điều ngươi đã có hầu chẳng ai đoạt lấy mão miện của ngươi” (3:11). Hai hội thánh này có những điểm tương đồng, cho thấy rằng họ cùng ở trên một đường thẳng, tức là trên con đường chính thống của hội thánh thời các sứ đồ. Hội thánh Sạt-đe là một sự khôi phục nhưng là một sự khôi phục không hoàn chỉnh; nó là một sự khôi phục không trọn vẹn. Nhưng Phi-la-đen-phi đã khôi phục đến chỗ làm Chúa thỏa lòng. Hội thánh Phi-la-đen-phi không những không bị quở trách giống như Si-miệc-nơ mà hơn thế nữa là còn được khen ngợi. Đường thẳng chúng tôi đã vẽ là đường thẳng của những người được chọn. Chúng ta biết rằng Chúa đã chọn Phi-la-đen-phi. Phi-la-đen-phi đã tiếp tục theo sự chính thống của các sứ đồ. Họ đã khôi phục đến Si-miệc-nơ. Do đó, lời Chúa cho hội thánh này đáng để chúng ta giữ và vâng theo. Bước ngoặt của Bẹt-găm và Thi-a-ti-rơ đã sa sút đến mức mà khi Sạt-đe xuất hiện, hội thánh đó không khôi phục đến mức hoàn hảo được dù đã làm được điều cực kỳ lớn lao. Mặc dầu hội thánh đó đã quay trở lại hướng khôi phục nhưng đã không thành công trong việc đạt đến mục tiêu. Phi-la-đen-phi là một sự khôi phục trọn vẹn. Về điều này, tôi hi vọng chúng ta sẽ thấy rõ.

Phi-la-đen-phi trong tiếng Hy-lạp bao gồm hai chữ: một chữ có nghĩa là “yêu thương lẫn nhau” và chữ kia có nghĩa là “anh em”. Vì vậy, Phi-la-đen-phi có nghĩa là “tình yêu thương anh em”. “Tình yêu thương anh em” là lời tiên tri của Chúa. Sinh tế là đặc điểm của Thi-a-ti-rơ và đã được ứng nghiệm trong Giáo Hội Công Giáo La Mã. Khôi phục là đặc điểm của Sạt-đe và được ứng nghiệm trong các Giáo Hội Cải Chánh. Bây giờ Chúa cho chúng ta biết có một hội thánh đã được khôi phục hoàn toàn rồi và được Chúa khen ngợi. Những ai đọc Kinh Thánh đều sẽ nêu lên câu hỏi: trên thực tế, hội thánh này là ai? Chúng ta thấy hội thánh ấy ở đâu trong lịch sử? Chúng ta không thể bỏ qua câu hỏi này cách dễ dàng.

Tôi đã nói đến cách cư xử của nhóm Ni-cô-la và sự dạy dỗ của nhóm Ni-cô-la trong hội thánh Ê-phê-sô và Bẹt-găm rồi. Hơn nữa, tôi cũng cho thấy họ tượng trưng cho giai cấp thầy tế lễ là như thế nào. Giữa vòng dân Israel, người Lê-vi có thể làm thầy tế lễ, còn những người khác thì không. Nhưng trong hội thánh, tất cả con cái Đức Chúa Trời đều là thầy tế lễ. 1 Phi-e-rơ chương 2 và Khải Thị chương 5 cho chúng ta thấy rõ rằng tất cả những ai được mua bởi huyết đều là thầy tế lễ. Tuy nhiên, điểm đặc biệt là nhóm Ni-cô-la đã tạo nên một giai cấp tế lễ. Những người thường (những tín đồ thường) phải vào thế gian kiếm một nghề và làm những công viêc thế tục. Các thầy tế lễ ở trên những tín đồ và tham dự vào công việc thuộc linh. Bây giờ, tôi sẽ trình bày vài điều bằng cách lặp lại vấn đề giai cấp trung gian này. Người Do Thái có Do Thái giáo, còn nhóm Ni-cô-la đã phát triển từ cách cư xử trở thành giáo lý. Chúng ta đã thấy sự hiện hữu của tầng lớp linh mục. Họ có thể chăm lo những công việc thuộc linh trong khi những người khác trông nom việc thế tục. Việc đặt tay là công việc của họ; chỉ họ mới có thể chúc phước. Nếu cần hỏi một vấn đề nào đó, chúng ta không thể tự mình cầu hỏi Đức Chúa Trời; chúng ta phải nhờ họ cầu hỏi Đức Chúa Trời thay cho chúng ta. Vào thời Sạt-đe, tình trạng đã được cải thiện. Hệ thống các linh mục đã bị bãi bỏ nhưng hệ thống giáo phẩm đã xuất hiện để thay thế. Trong các Giáo Hội Cải Chánh, có các Giáo Hội quốc gia cực kỳ nghiêm khắc và cũng có những Giáo Hội độc lập phân tán. Tuy nhiên, dù là Giáo Hội quốc gia hay độc lập, chúng ta luôn luôn thấy giai cấp trung gian tồn tại. Giáo Hội quốc gia có hệ thống giáo phẩm, còn Giáo Hội độc lập có hệ thống mục sư. Về hệ thống thuộc giai cấp tu sĩ, dù anh em gọi họ là các cha, các thầy tư tế hay mục sư thì nó vẫn là một điều mà Chúa không chấp nhận. Các Giáo Hội Cải Chánh là một sự thay đổi về hình thức trong việc tiếp tục giữ giáo lý của nhóm Ni-cô-la ở Bẹt-găm. Mặc dù trong các Giáo Hội Cải Chánh, không ai được gọi là cha, tuy nhiên các thầy và mục sư cũng hoàn toàn theo cùng một nguyên tắc. Cho dù anh em có thay đổi danh xưng của họ và gọi họ là những công tác viên, nhưng hễ khi nào còn đứng trong địa vị như thế thì họ vẫn mang mùi vị như thế.

Tôi đã trích dẫn nhiều câu Kinh Thánh làm nền tảng để cho thấy tất cả chúng ta là những thầy tế lễ. Nhưng bây giờ có một sự tranh luận giữa Đức Chúa Trời và con người. Vì Đức Chúa Trời phán rằng mọi người trong hội thánh đều có đủ điều kiện để làm thầy tế lễ, thế tại sao con người nói rằng uy quyền thuộc linh chỉ nằm trong tay của một giai cấp trung gian, chẳng hạn như các cha cố? Tôi xin lặp lại: Hễ có bao nhiêu người được chuộc bằng huyết quí báu thì có bấy nhiêu thầy tế lễ. Tại sao Chúa không quở trách Phi-la-đen-phi mà lại khen họ? Anh em nên nhớ rằng sự khởi đầu của giai cấp trung gian là ở Bẹt-găm, nhưng sự thực hành giai cấp này là ở La Mã. Họ có các giáo hoàng thi hành quyền quản trị trên Giáo Hội; họ có các viên chức cao cấp thực hiện uy quyền trên họ, và họ có các viên chức cao cấp của Va-ti-căn (cung điện của Giáo Hội) v.v... Nhưng Chúa phán: “Tất cả các ngươi là anh em”. Hãy giữ vững Ma-thi-ơ 23:8 và 20:26. Kinh Thánh không có hệ thống mục sư. Chúa phán: “Cũng đừng gọi ai ở dưới đất là cha, vì các ngươi chỉ có một Cha,... Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ, vì chỉ có một Đấng là Chủ các ngươi” (23:9-10). Nhưng Giáo Hội Công Giáo La Mã dùng từ ngữ cha, còn các Giáo Hội Cải Chánh dùng từ ngữ mục sư. Vào thế kỷ mười chín, có một cuộc phục hưng lớn đã hủy bỏ giai cấp trung gian. Sau Sạt-đe, có một sự khôi phục lớn xảy ra, ấy là trong hội thánh các anh em yêu thương nhau và giai cấp trung gian bị bãi bỏ. Đó là Phi-la-đen-phi.

Vào năm 1825, ở Dublin, thủ đô của Ailen, có một số tín đồ được Đức Chúa Trời cảm động yêu thương tất cả con cái Chúa, bất kể họ thuộc giáo phái nào. Loại tình yêu này không bị cản trở bởi những bức tường giáo phái. Họ bắt đầu thấy trong Kinh Thánh nói rằng chỉ có một Thân Thể duy nhất của Christ bất kể việc các giáo phái đã chia cắt họ. Họ đọc Kinh Thánh thêm nữa và thấy rằng hệ thống mà có một người quản trị hội thánh và một người rao giảng là không đúng Kinh Thánh. Vì vậy, họ bắt đầu nhóm lại vào mỗi ngày Chúa Nhật để bẻ bánh và cầu nguyện. Vào năm 1825 – tức là sau Giáo Hội Công Giáo La Mã hơn một ngàn năm và sau Cải Chánh Giáo vài trăm năm – lần đầu tiên người ta quay trở về với sự thờ phượng thuộc linh, đơn giản và tự do như theo Kinh Thánh. Khởi đầu chỉ có hai người, nhưng sau đó có bốn năm người.

Theo cái nhìn của thế giới này, những tín đồ đó là những người thấp thỏi, chẳng ai biết; nhưng giữa họ có Chúa và sự an ủi của Thánh Linh. Họ đứng trên nền tảng của hai lẽ thật rất sáng tỏ: thứ nhất, hội thánh là Thân Thể Đấng Christ và Thân Thể này là một; thứ hai, trong Tân ước, không có hệ thống giáo phẩm; tất cả những người cung ứng lời Chúa do con người lập nên đều không đúng Kinh Thánh. Họ tin rằng tất cả những tín đồ thật đều là các chi thể của một Thân Thể này. Họ nồng nhiệt đón chào tất cả những ai đến với họ bất kể người đó thuộc giáo phái nào. Họ không quan tâm về các giáo phái. Họ tin rằng tất cả những tín đồ thật đều có chức vụ tế lễ; vì thế, tất cả đều được tự do bước vào Nơi Chí Thánh. Họ cũng tin rằng Chúa thăng thiên đã ban nhiều ân tứ khác nhau cho hội thánh để làm hoàn hảo các thánh đồ vì sự xây dựng Thân Thể Christ. Do đó, họ đã tránh được hai lỗi lầm của hệ thống giáo phẩm – dâng sinh tế và chỉ một người rao giảng Lời. Những nguyên tắc này làm cho họ có thể tiếp nhận tất cả những ai ở trong Christ như là anh em và mở lòng ra cho tất cả những người có chức vụ Lời do Thánh Linh chỉ định để phụng sự.

Trong thời điểm này, có một người trong hàng giáo phẩm của Giáo Hội Anh Quốc, tên là John Nelson Darby, là người vô cùng bất mãn về tình trạng của hội thánh mình; ông tin rằng tình trạng đó không đúng Kinh Thánh. Ông thường xuyên gặp gỡ các anh em mặc dù vào lúc đó, ông vẫn còn mặc áo lễ của hàng giáo phẩm trong Anh Quốc Giáo. Ông là một người của Đức Chúa Trời, một người có quyền năng lớn, và là một người sẵn sàng chịu khổ. Ông cũng là một người thuộc linh, biết Đức Chúa Trời, biết Kinh Thánh và xử lý xác thịt. Vào năm 1827, ông chính thức rời bỏ Anh Quốc Giáo, cởi bỏ lễ phục và trở thành một anh em giản dị, nhóm lại với những anh em khác. Khởi đầu, những gì các anh em ấy nhìn thấy cũng hơi hạn chế, nhưng từ khi Darby chính thức gia nhập thì ánh sáng từ trời tuôn đổ như dòng nước lũ. Trong nhiều phương diện, công tác của Darby giống công tác của Wesley nhưng thái độ của ông đối với Anh Quốc Giáo thì hoàn toàn khác. Trong thế kỷ trước, Wes­ley cảm thấy rằng ông không thể rời bỏ Giáo Hội quốc gia với một lòng bình an; nhưng một thế kỷ sau, Darby lại cảm thấy ông không thể tiếp tục ở trong Anh Quốc Giáo với lòng bình an. Về lòng nhiệt thành, tận tụy và trung tín thì hai người rất giống nhau trong nhiều phương diện.

Cùng năm đó, J. G. Bellett cũng đến nhóm. Ông là một người thuộc linh và rất sâu nhiệm. Cách nhóm đơn giản nhưng phù hợp Kinh Thánh này đã chạm đến ông rất nhiều. Về tình trạng của thời điểm đó, ông nói:

Một anh em vừa nói với tôi rằng theo Kinh Thánh, anh đã thấy khi các tín đồ nhóm lại với nhau như các môn đồ của Đấng Christ, thì họ được tự do cùng nhau bẻ bánh như Chúa đã căn dặn; còn về việc lấy sự thực hành của các sứ đồ làm kim chỉ nam cho chúng ta, thì mỗi Chúa Nhật cần phải được biệt riêng ra để nhớ đến sự chết của Chúa và vâng theo mạng lịnh Ngài truyền lúc chia tay.

Lần khác, J. G. Bellett nói:

Ngày nọ, khi đi với một anh em xuống phố Lower Pembroke, anh ấy nói với tôi: “Tôi không nghi ngờ gì về ý muốn của Đức Chúa Trời đối với chúng ta về việc nhóm nhau lại trong sự giản dị như các môn đồ, không trông chờ nơi bục giảng hoặc người có chức vụ nào, nhưng tin rằng Chúa giữa vòng chúng ta sẽ gây dựng chúng ta với nhau bằng sự cung ứng mà Ngài hài lòng và thấy là thích hợp”. Vào lúc người anh em ấy nói như vậy, tôi tin chắc hồn mình đã nhận được một ý tưởng đúng đắn, tôi còn nhớ thời khắc ấy như thể chỉ mới hôm qua, và tôi có thể chỉ chính xác nơi chốn ấy. Đó là ngày khai sinh của tâm trí tôi, tôi có thể nói như vậy với tư cách là một anh em.

Các anh em đã dần dà tiến lên là như thế, từ từ nhận được khải thị và dần dần nhìn thấy ánh sáng. Năm sau, 1828, Darby xuất bản một quyển sách nhỏ, tựa đề là Bản Chất Và Sự Hiệp Nhất Của Hội thánh Đấng Christ. Đây là cuốn sách đầu tiên trong hàng ngàn quyển sách mà các anh em đã xuất bản. Trong sách này, Darby đã tuyên bố rõ rằng các anh em không có ý định lập một giáo phái mới hoặc liên hiệp các hội thánh lại. Ông nói:

Trước hết, đây không phải là một sự hiệp một có tính cách hình thức của các nhóm tự xưng [theo kiểu] bề ngoài như người ta mong đợi; thật đáng ngạc nhiên khi có những người biết suy nghĩ thuộc Cải Chánh giáo lại ước muốn điều đó: trái lại, tôi thì quan niệm rằng một hội đoàn như vậy không thể được xem là hội thánh của Đức Chúa Trời. Đó chỉ là bản sao của sự hiệp nhất theo kiểu [Giáo Hội Công Giáo] La Mã; chúng ta phải có sự sống của hội thánh và quyền năng của Lời đã bị đánh mất và sự hiệp một của sự sống thuộc linh đã bị loại bỏ hoàn toàn... Sự hiệp một đích thực phải là sự hiệp một của Linh và được thực hiện bởi sự hành động của Linh... Không một sự nhóm lại nào không bao gồm tất cả con cái của Đức Chúa Trời trong nền tảng trọn vẹn của vương quốc của Con mà lại có thể tìm được ơn phước đầy trọn, vì sự nhóm lại đó không nghĩ đến ơn phước ấy – ấy là vì đức tin của sự nhóm họp ấy không bao gồm điều đó... Hễ nơi nào có hai ba người nhóm lại với nhau trong danh Ngài thì danh Ngài được ghi [nhớ] ở đó để ban phước cho...

Hơn nữa, sự hiệp một là vinh quang của hội thánh, còn sự hiệp một mà để bảo vệ và thúc đẩy những quyền lợi riêng của chúng ta thì không phải là sự hiệp một của hội thánh, nó chỉ là sự liên minh và phủ nhận bản chất cùng hi vọng của hội thánh. Sự hiệp của hội thánh là sự hiệp một của Linh, và chỉ có thể ở trong những điều của Linh, do đó chỉ có thể được hoàn thành trong những con người thuộc linh...

Vậy thì dân của Chúa phải làm gì? Hãy để họ chờ đợi Chúa và chờ đợi theo sự dạy dỗ của Linh Ngài, trong sự đồng hóa theo ảnh tượng của Con Ngài bởi sự sống của Linh. Hãy để họ đi con đường mình bằng cách theo dấu chân bầy nếu họ biết nơi nào mà Người Chăn Hiền Lành đang cho bầy ăn lúc giữa trưa.

Trong một chỗ khác, Darby nói:

Vì bàn của chúng ta là bàn của Chúa, không phải của chúng ta, nên chúng ta tiếp nhận tất cả những ai Đức Chúa Trời tiếp nhận, là tất cả những tội nhân đáng thương chạy đến với Chúa để tìm nơi ẩn náu, không phải an nghỉ trong chính họ nhưng chỉ trong Christ mà thôi.

Cũng chính vào thời điểm đó, Đức Chúa Trời đã đồng thời hành động ở Ý và Gui ana thuộc Anh, dấy lên những buổi nhóm giống như vậy. Vào năm 1829, cũng có những buổi nhóm ở Arabia. Vào 1830, ở London, Plymouth và Bristol, nước Anh, cũng có những buổi nhóm. Sau đó, nhiều nơi ở Mỹ cũng có những buổi nhóm, còn ở lục địa Âu châu thì có nhiều buổi nhóm. Không lâu sau đó, hầu hết ở khắp mọi nơi trên thế giới, tất cả những người yêu Chúa đều có những buổi nhóm theo đường lối này. Mặc dầu không có một sự liên hiệp bên ngoài nào, tất cả những buổi nhóm đó đều do Chúa dấy lên.

Một đặc điểm đánh dấu cho sự dấy lên của các anh em này là, trong hội thánh, tất cả những người có tiếng tăm và chức tước đều từ bỏ tiếng tăm và chức tước của mình, những người có địa vị thì từ bỏ địa vị, những người có học vị thì từ bỏ học vị; mọi người đều từ bỏ tất cả những giai cấp và vai vế của mình trong thế gian để giản dị trở thành những môn đồ của Christ và anh em của nhau. Do đó, cũng như từ ngữ “cha” rất phổ biến trong Giáo Hội Công Giáo La Mã, từ ngữ “mục sư” rất phổ biến trong các Giáo Hội Cải Chánh thì từ ngữ “anh em” được dùng cách phổ biến giữa vòng họ. Họ được Chúa thu hút nên đã nhóm nhau lại; vì yêu Chúa nên tự nhiên họ yêu thương nhau.

Trong vòng vài chục năm, giữa vòng những anh em này, Đức Chúa Trời đã ban nhiều ân tứ cho hội thánh Ngài. Ngoài J. N. Darby và J. G. Bellett, chúng ta cũng thấy Đức Chúa Trời ban những chức vụ đặc biệt cho nhiều anh em khác để hội thánh Ngài được cung ứng. George Muller, người đã thiết lập một cô nhi viện, đã khôi phục vấn đề cầu nguyện bằng đức tin. Trong cả cuộc đời của mình, ông đã được đáp lời cầu nguyện 1.500.000 lần. C. H. Mackintosh, người viết bộ sách Chú Thích Ngũ Kinh, đã khôi phục sự hiểu biết về các biểu tượng. D. L. Moody nói rằng nếu như tất cả các sách trên toàn thế giới này bị đốt đi, mà ông còn lại quyển Kinh Thánh và bộ Chú Thích Ngũ Kinh của C.H. Mackintosh thì cũng mãn nguyện rồi. James G. Deck để lại cho chúng ta nhiều bài thánh ca hay. George Cutting khôi phục về tính chất chắc chắn của sự cứu rỗi. Ngoài Kinh Thánh là cuốn sách được bán rộng khắp thế giới thì cuốn sách nhỏ của ông với tựa là “Sự An Ninh, Chắc Chắn Và Vui Hưởng” đến năm 1930 đã bán được ba mươi triệu bản. William Kelly là người đã viết rất nhiều sách chú giải; ông là người mà C. H. Spurgeon nói rằng có một trí óc to bằng cả vũ trụ. F. W Grant là nhà thông thái nhất về Kinh Thánh trong thế kỷ mười chín và hai mươi. Robert Anderson là người hiểu biết về sách Đa-ni-ên nhất trong thời đại này. Charles Stanley là người đem nhiều người đến sự cứu rỗi nhất qua việc rao giảng về sự công chính của Đức Chúa Trời. S. P. Tregelles là nhà ngữ văn về Tân Ước nổi tiếng. Quyển lịch sử hội thánh của Andrew Miller phù hợp với Kinh Thánh nhất trong số những sách viết về lịch sử hội thánh. R. C. Chapman là người đã được Chúa đại dụng. Đây là những anh em vào thời điểm đó. Ngoài những người này ra, nếu phải liệt kê chi tiết những người khác được Chúa đại dụng giữa vòng các anh em thì con số ít nhất phải trên một ngàn.

Bây giờ hãy xem các anh em này đã đem đến cho chúng ta những gì: họ cho chúng ta thấy huyết Chúa Jesus đã làm thỏa mãn sự công chính của Đức Chúa Trời như thế nào; tính chắc chắn của sự cứu rỗi; thể nào những tín đồ yếu đuối nhất được tiếp nhận trong Christ như chính Đấng Christ đã được tiếp nhận; việc tin vào Lời Đức Chúa Trời là nền tảng cho sự cứu rỗi là như thế nào. Kể từ khi bắt đầu lịch sử hội thánh, không có giai đoạn nào mà Phúc Âm sáng tỏ như trong thời đại của họ. Không chỉ như vậy, cũng chính họ đã cho chúng ta thấy rằng hội thánh không thể chiếm hữu toàn thế giới, rằng hội thánh có một sự kêu gọi thiên thượng và hội thánh không có một hy vọng nào nơi trần thế. Cũng chính họ là những người đầu tiên đã mở những lời tiên tri ra, làm cho chúng ta thấy rằng sự trở lại của Chúa là hy vọng của hội thánh. Cũng chính họ đã mở sách Khải Thị, Đa-ni-ên ra và cho chúng ta thấy về vương quốc, cơn đại nạn, sự cất lên và Cô Dâu. Không có họ, có lẽ ngày nay chúng ta chỉ biết rất ít về những điều tương lai. Cũng chính họ là những người đã cho chúng ta biết luật của tội là gì, được giải thoát là gì, được đóng đinh với Christ là gì, sống lại với Christ là gì, làm thế nào để được đồng nhất với Chúa qua đức tin và làm thế nào để được biến đổi hằng ngày bằng cách ngắm xem Ngài. Chính họ cho chúng ta thấy chia rẽ thành ra các hệ phái là tội lỗi, sự hiệp nhất của Thân Thể Christ và sự hiệp nhất của Thánh Linh. Chính họ cho thấy sự khác nhau giữa Do Thái giáo và hội thánh. Trong Giáo Hội Công Giáo La Mã và các Giáo Hội Cải Chánh, người ta không thể thấy rõ sự khác biệt này nhưng họ đã làm cho chúng ta thấy cách mới mẻ. Cũng chính họ cho thấy thiết lập giai cấp trung gian là tội lỗi, tất cả con cái của Đức Chúa Trời là thầy tế lễ và tất cả mọi người đều có thể hầu việc Đức Chúa Trời là như thế nào. Chính họ khôi phục nguyên tắc nhóm họp trong 1 Cô-rin-tô chương 14, cho thấy rằng việc nói tiên tri không phải là công việc của một người mà là công việc của hai ba người, và rằng việc nói tiên tri không dựa trên sự chỉ định nhưng trên ân tứ của Thánh Linh. Nếu liệt kê từng điều họ đã khôi phục thì chúng ta có thể nói rằng không có lẽ thật nào trong các Giáo Hội Cải Chánh thuần khiết hiện nay mà họ đã không khôi phục hoặc đã khôi phục hơn thế nữa.

Không có gì ngạc nhiên khi D. M. Panton nói rằng: “Phong trào của các anh em và ý nghĩa của phong trào đó vĩ đại hơn cuộc Cải Chánh nhiều”. W. H. Griffith Thomas nói: “Giữa vòng con cái Đức Chúa Trời, chính họ là những người có thể phân giải Lời của lẽ thật đúng đắn nhất”. Henry Ironside nói: “Dù biết đến các anh em hay không, tất cả những người biết Đức Chúa Trời đều trực tiếp hoặc gián tiếp nhận sự giúp đỡ từ các anh em”.

Phong trào này lớn lao hơn phong trào Cải Chánh. Ở đây tôi muốn nói rằng công tác của Phi-la-đen-phi lớn lao hơn công tác của cuộc Cải Chánh. Phi-la-đen-phi cho chúng ta những điều mà cuộc Cải Chánh không có. Chúng ta cảm ơn Chúa vì vấn đề hội thánh được giải quyết bởi phong trào của các anh em. Vị trí con cái của Đức Chúa Trời đã hầu như được khôi phục. Do đó, cả về phẩm lẫn lượng, chúng ta đều thấy rằng phong trào này lớn lao hơn cuộc Cải Chánh. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng phong trào của các anh em hoàn toàn không nổi tiếng như phong trào Cải Chánh. Cuộc Cải Chánh đã xảy ra bằng gươm giáo trong khi phong trào của các anh em diễn ra bằng sự rao giảng. Vì sự nghiệp Cải Chánh, nhiều người đã mất mạng trong những cuộc chiến tranh ở Âu châu. Một lý do khác khiến cuộc Cải Chánh nổi tiếng là vì nó có quan hệ đến chính trị. Qua cuộc Cải Chánh, nhiều quốc gia đã cất bỏ được quyền lực chính trị của La Mã. Hễ điều gì không quan hệ đến chính trị thì người ta không dễ gì biết đến. Hơn nữa, các anh em đã thấy hai điều: một là những gì mà chúng ta gọi là thế giới có tổ chức tức thế giới tâm lý và hai là những gì mà các anh em gọi là thế giới Cơ Đốc giáo. Không những họ rời bỏ thế giới tâm lý mà đồng thời còn rời bỏ cả thế giới Cơ Đốc giáo mà đại diện là các Giáo Hội Cải Chánh. Đó là lý do tại sao họ không được quảng bá trong những Giáo Hội Cải Chánh. Họ không những ra khỏi thế giới tội lỗi mà còn ra khỏi cả thế giới Cơ Đốc giáo.

Từ thời của họ, người ta đã biết rằng hội thánh là Thân Thể Christ, con cái của Đức Chúa Trời là một hội thánh, và họ không được chia rẽ. Họ nhấn mạnh về các anh em và tình yêu thương chân thật dành cho nhau. Chúa Jesus nói rằng một hội thánh như vậy sẽ xuất hiện và tên gọi của hội thánh ấy là Phi-la-đen-phi.

Bây giờ hãy xem sách Khải Thị: “Hãy viết cho sứ giả của hội thánh tại Phi-la-đen-phi” (3:7). Phi-la-đen-phi là tình yêu thương anh em. Chúa đã khen Phi-la-đen-phi về điều gì? Ngài nói đó chính là tình yêu thương anh em vì địa vị trung gian đã hoàn toàn bị bãi bỏ. Tiện đây, tôi xin nói vài lời. Trong Christ, không có nam hay nữ. Trong Christ, không có các chị em. Chúng ta chỉ là anh em, không phải là các chị em. Thế thì các chị em sẽ hỏi: “Vậy, chúng tôi là ai?” Chúng ta tất cả là anh em. Tại sao chỉ là anh em? Vì tất cả chúng ta đều có sự sống của Christ. Ngày nay trên thế giới có rất nhiều người nam nhưng họ không phải là anh em của chúng ta. Một người nam là anh em không phải vì đó là một người nam nhưng vì họ có sự sống của Christ bên trong. Vì tôi cũng có sự sống của Christ bên trong nên chúng ta là anh em. Khi Chúa phục sinh và sắp thăng thiên, Ngài phán: “Ta lên cùng Cha Ta, cũng là Cha các ngươi” (Gi. 20:17). Trong Giăng chương 1, Ngài là Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời, nhưng trong Giăng chương 20, Ngài là Con Trưởng của Đức Chúa Trời. Trong chương 1, Đức Chúa Trời có Ngài là Con Duy Nhất; trong chương 20, sự sống của Ngài đã truyền vào trong con người nên Ngài là Con Trưởng và tất cả chúng ta là anh em. Qua sự chết và phục sinh, Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời đã trở thành Con Trưởng. Chúng ta có thể là anh em với nhau vì đã nhận được sự sống của Ngài. Vì tất cả chúng ta đều đã nhận được sự sống của Đấng Christ nên chúng ta đều là anh em. Một người nam là anh em vì anh tiếp nhận sự sống Đấng Christ. Một người nữ là anh em vì chị tiếp nhận sự sống Đấng Christ. Cả nam lẫn nữ đều cùng nhận một sự sống như nhau nên tất cả đều là anh em. Mọi Thư Tín đều được viết cho các anh em chứ không cho các chị em. Nói theo phương diện cá nhân thì có các chị em, nhưng trong Christ thì chỉ có các anh em. Bởi sự sống đó, chúng ta đã trở nên con cái (teknia) của Đức Chúa Trời. Tất cả các “con trai và con gái” trong Tân Ước nên được dịch là “các con”. Ngoài 2 Cô-rin-tô 6:18, Đức Chúa Trời không có con trai và con gái. Anh em thấy không? Trong Christ, tất cả đều đứng ở địa vị là anh em. Hồi đó, khi tôi ở Thượng Hải, có một anh em nọ làm thợ nề. Tôi nói với anh: “Anh vui lòng đi gọi một số anh em đến đây”. Anh hỏi: “Anh muốn tôi gọi các anh em nam hay các anh em nữ?” Đây là một người đã được Đức Chúa Trời dạy dỗ. Chúng ta nói đến các chị em khi đề cập đến các cá nhân, nhưng trong Christ thì không có sự khác biệt giữa nam và nữ.

Trong hội thánh cũng không có vấn đề nô lệ hay tự do. Không phải vì anh ấy là chủ nên anh ấy nhận được nhiều sự sống hơn; còn tôi là đầy tớ nên tôi nhận được ít sự sống hơn. Trước đây, tôi nhớ có một anh em nói với tôi rằng: những phòng nhóm của chúng ta trông có vẻ quá nghèo nàn. Tốt nhất là chúng ta nên chuẩn bị một nơi để đặc biệt rao giảng cho các viên chức chính phủ. Tôi đáp: “Thế anh sẽ đề gì trên bảng hiệu?” Đó không phải là hội thánh của Christ mà là hội thánh của những viên chức và tầng lớp quý tộc. Khi bước vào hội thánh thì không có những viên chức hay giới quý tộc. Trong hội thánh, tất cả đều là anh em. Khi Chúa mở mắt, chúng ta sẽ thấy rằng việc muốn trội hơn những người khác là vinh quang của thế gian còn trong hội thánh thì không có sự phân biệt nào.

Phao-lô nói rằng trong Christ không có người Do Thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ (Ga. 3:28). Hội thánh không đứng trên những sự khác biệt nhưng trên tình yêu thương anh em.

Như phần mở đầu các bức thư khác, trong Khải Thị 3:7 Chúa nói chính Ngài là: “Đấng thánh, Đấng chân thật, có chìa khóa của Đa-vít, mở thì không ai đóng được; đóng thì không ai mở được”. Thánh khiết là sự sống của Ngài; chính Ngài là sự thánh khiết. Ngài là lẽ thật trước mặt Đức Chúa Trời, Ngài là thực tại của Đức Chúa Trời, và thực tại của Đức Chúa Trời chính là Christ. Tay Ngài cầm chìa khóa. Ở đây, tôi muốn anh em chú ý một điều: khi Sạt-đe đứng lên làm chứng cho Chúa thì có những nguyên thủ của thế giới này giúp họ đánh trận. Cuộc chiến diễn ra ở lục địa Châu Âu hàng chục năm và sau đó ở Anh Quốc hàng chục năm nữa. Thế còn phong trào của các anh em thì sao? Không có một quyền lực nào hậu thuẫn họ. Họ có thể làm gì được? Chúa nói rằng Ngài cầm chìa khóa của Đa-vít, có nghĩa là Ngài có thẩm quyền. (Kinh Thánh gọi Đa-vít là vua). Vấn đề không phải là sức mạnh quân sự, cũng không phải là quảng cáo mà là mở cửa. Một chủ bút tờ báo ở Anh Quốc nói rằng: “Tôi không hề nghĩ là có quá nhiều anh em như vậy và không hề biết những người này lại phát triển nhanh như thế”. Nếu đi vòng quanh thế giới, chúng ta sẽ thấy rằng ở mỗi nơi đều có rất nhiều anh em. Mặc dù giữa vòng họ một số người hiểu biết giáo lý sâu sắc, một số hiểu biết nông cạn hơn nhưng vị trí của các anh em thì vẫn giống nhau. Thấy được điều này, chúng ta phải cảm tạ Đức Chúa Trời. Chúa phán rằng: “Ngài là Đấng mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được”.

“Ta biết công việc ngươi... rằng ngươi có ít năng lực” (c. 8). Khi đến điểm này, tự phát ý tưởng chúng ta sẽ quay về với thời kỳ có cuộc hồi hương của Xô-rô-ba-bên. Về sự kiện đó, có một tiên tri đã nói: “Ai có thể coi thường ngày của những điều nhỏ mọn này?” (Xa. 4:10 – bản dịch của Darby). Đừng xem thường ngày của những điều nhỏ mọn, tức là ngày xây dựng đền thờ. Trong Kinh Thánh có một biểu tượng rất lớn về hội thánh – đó là đền thờ. Khi Đa-vít làm vua cai trị thì dân Đức Chúa Trời được thống nhất. Sau đó, họ bị phân chia thành vương quốc Giu-đa và vương quốc Israel. Con cái Đức Chúa Trời bắt đầu bị phân chia, và đồng thời sự thờ lạy hình tượng và gian dâm cũng bắt đầu. Hậu quả là họ đã bị bắt và lưu đày qua Ba-by-lôn. Tất cả mọi người đều thừa nhận cảnh tù đày tại Ba-by-lôn là biểu tượng về Thi-a-ti-rơ – tức Giáo Hội Công Giáo La Mã. Vì Kinh Thánh lấy Ba-by-lôn làm biểu tượng về La Mã nên hội thánh cũng có một cuộc lưu đày tại Ba-by-lôn. Dân Đức Chúa Trời đã làm gì khi họ từ chốn lưu đày hồi hương? Họ hồi hương thật yếu ớt, từng nhóm một, và xây lại đền thờ. Dường như họ là biểu tượng về phong trào các anh em. Có những người Do Thái lớn tuổi đã từng thấy đền thờ cũ; bây giờ chính mắt họ trông thấy nền của đền thờ được xây lại mà cất tiếng khóc rất lớn vì vinh quang của đền thờ này kém xa đền thờ thời Sa-lô-môn. Tuy nhiên, qua một tiểu tiên tri, Đức Chúa Trời phán rằng: Đừng coi thường ngày của những điều nhỏ mọn vì đây là ngày của sự khôi phục. Ở đây, Chúa nói những lời tương tự với Phi-la-đen-phi: “Ngươi có ít năng lực”. Chứng cớ của hội thánh trong thế giới ngày nay khi so với chứng cớ vào ngày lễ Ngũ tuần thì thật là ngày của những điều nhỏ mọn.

“Ngươi... đã giữ đạo Ta (lời Ta), chẳng chối danh Ta” (Khải. 3:8). Chúa công nhận họ hai điều: không chối danh Chúa và không chối Lời Chúa. Trong lịch sử hội thánh, chưa từng có thời nào mà người ta biết Lời của Đức Chúa Trời như thời các anh em. Ánh sáng đã tuôn đổ như dòng thác lớn. Khi ở Thượng hải, vào tối nọ, tôi có gặp một anh em và người đó nói rằng anh làm đầu bếp trên một con tàu. Tôi nói chuyện với anh rất lâu. Tôi e rằng không bao nhiêu giáo sĩ biết Lời Chúa như anh. Thật vậy, đây là một trong những đặc điểm nổi bật của họ, ấy là họ biết Lời Đức Chúa Trời. Dù anh em có gặp người đơn sơ nhất giữa vòng họ, người ấy cũng hiểu rõ [Lời Chúa] hơn nhiều giáo sĩ.

Chúa phán: “Ngươi không chối danh Ta”. Từ năm 1825, các anh em nói rằng chỉ cần gọi họ là Cơ Đốc nhân thôi. Nếu anh em hỏi họ là ai, họ sẽ nói “Chúng tôi là những Cơ Đốc nhân”. Nếu anh em hỏi một người thuộc Giáo Hội Giám Lý, họ sẽ nói “Tôi là người Giám Lý”. Nếu hỏi một người thuộc Giáo Hội Ái Hữu (Friends Church), họ sẽ nói “Tôi thuộc về Giáo Hội Ái Hữu”. Những người thuộc Giáo Hội Luther sẽ trả lời “Tôi là người thuộc Giáo Hội Luther”; còn người thuộc Giáo Hội Báp-tít thì nói “Tôi là người Báp-tít”. Ngoài Christ ra, họ đã dùng nhiều danh xưng khác để tự gọi mình. Nhưng con cái Đức Chúa Trời chỉ có thể xưng mình bằng một danh. Chúa Jesus phán: “Hãy cầu nguyện trong danh Ta” và “nhóm lại trong danh Ta” (Gi. 16:26; Mat. 18:20). Chúng ta chỉ có thể có danh Chúa mà thôi. Whitefield nói: “Hãy từ bỏ tất cả các danh khác đi, và chỉ để cho danh Đấng Christ được tôn cao”. Những anh em này đã dấy lên làm chính việc đó. Lời tiên tri của Chúa cũng nói giống như vậy; ấy là họ chỉ tôn cao danh Chúa. Danh Đấng Christ là trung tâm của họ. Lời này rất thường được nghe nói giữa vòng họ: “Danh Đấng Christ không đủ phân rẽ chúng ta khỏi thế giới này sao? Đơn sơ mang danh Chúa vẫn chưa đủ sao?”

Trên chuyến tàu lửa nọ, tôi có gặp một tín đồ. Anh ấy hỏi tôi thuộc loại Cơ Đốc nhân nào. Tôi đáp: “Tôi chỉ là một Cơ Đốc nhân thôi”. Anh ấy nói: “Không có Cơ Đốc nhân như vậy trên thế giới này. Nói rằng anh là một Cơ Đốc nhân chẳng có ý nghĩa gì cả; anh phải nói anh là loại Cơ Đốc nhân nào thì lúc đó mới đủ nghĩa”. Tôi đáp: “Tôi chỉ đơn giản là một Cơ Đốc nhân. Anh nói rằng một người là Cơ Đốc nhân thì không có ý nghĩa gì sao? Theo anh, loại Cơ Đốc nhân nào là đủ nghĩa? Đối với tôi, tôi chỉ là một Cơ Đốc nhân – không còn gì hơn”. Ngày hôm đó, chúng tôi đã có một dịp nói chuyện với nhau rất hữu ích.

Tôi muốn anh em thấy một vấn đề: Nhiều người có ý tưởng cơ bản rằng danh Chúa thì chưa đủ. Nhiều người nghĩ rằng họ cần danh của một giáo phái; họ nghĩ rằng ngoài danh của Christ, họ cần phải có một danh khác. Thưa các anh em, xin đừng nghĩ rằng thái độ của chúng ta là quá khe khắt. Ở đây, Chúa phán “ngươi đã không chối danh Ta”. Nếu cảm nhận của tôi là đúng thì tất cả những danh khác là một sự xấu hổ đối với Ngài. Chữ “chối” ở đây là cùng một chữ dùng để mô tả việc Phi-e-rơ chối Chúa. Tôi là loại Cơ Đốc nhân nào? Tôi là một Cơ Đốc nhân. Tôi không muốn được gọi bằng một tên khác. Nhiều người không muốn tôn cao danh Đấng Christ và không muốn chỉ được gọi là Cơ Đốc nhân. Nhưng cảm tạ Đức Chúa Trời, lời tiên tri về Phi-la-đen-phi đã được ứng nghiệm trong các anh em. Họ không còn có một danh nào khác nữa. Họ là các anh em chứ không phải là “hội thánh Anh Em”.

“Kìa, Ta để trước mặt ngươi một cái cửa mở, chẳng ai có thể đóng được” (Khải. 3:8). Chúa nói với hội thánh Phi-la-đen-phi về cái cửa mở. Con người thường nói rằng nếu họ bước theo Kinh Thánh, thì chẳng bao lâu cánh cửa sẽ đóng lại. Vật cản khó khăn nhất phải vượt qua trong việc vâng phục Chúa là việc đóng cửa. Nhưng ở đây có một lời hứa: “Kìa, Ta để trước mặt ngươi một cánh cửa mở, chẳng ai có thể đóng được”. Đối với các anh em, điều này là một sự thật. Trên cả thế giới này, hoặc trong việc giải kinh hoặc trong sự rao giảng Phúc Âm, không có một nhóm nào có được những cơ hôi như các anh em đã có. Dù là ở châu Âu, châu Mỹ hay châu Phi, luôn luôn là như vậy. Không cần phải có sự ủng hộ, quảng cáo, tuyên truyền hoặc quyên góp của con người, họ vẫn có nhiều cơ hội để làm việc và cánh cửa cho công tác vẫn luôn được mở ra.

“Này, Ta cho ngươi những kẻ từ trong hội Sa-tan tự xưng mình là người Do Thái mà không phải là người Do Thái bèn là nói dối; kìa Ta khiến chúng nó đến lạy dưới chơn ngươi và cho chúng nó biết rằng Ta đã thương yêu ngươi” (c. 9). Chúng ta đã nhìn thấy ít nhất bốn điều làm cho Cơ Đốc giáo trở nên Do Thái giáo là như thế nào rồi: những thầy tế lễ trung gian, luật pháp bằng văn tự, đền thờ vật chất và những lời hứa thuộc đất. Chúa nói gì? “Ta sẽ làm cho chúng nó đến lạy dưới chơn ngươi”. Do Thái giáo bị hủy diệt trong tay các anh em. Khắp nơi trên thế giới này đều có một phong trào như thế. Hễ nơi nào có họ, Do Thái giáo bị thất bại. Ngày nay, giữa vòng những người thật sự biết Chúa, sức mạnh chính yếu của Do Thái giáo là một điều gì đó đã thuộc về quá khứ.

“Vì ngươi đã giữ đạo của sự nhẫn nại Ta” (c. 10). Điều này có quan hệ đến Khải Thị 1:9, tức câu chép Giăng là người “đồng phần với anh em về hoạn nạn, về nước và về nhẫn nại trong Jesus”. “Nhẫn nại” ở đây được dùng như một danh từ. Ngày nay là thời kỳ nhẫn nại của Đấng Christ. Ngày nay Chúa đã gặp những người coi thường Ngài nhưng Ngài vẫn nhẫn nại. Ngày nào đó, sự phán xét sẽ đến nhưng ngày nay Ngài vẫn nhẫn nại. Ngày nay, Lời của Ngài là Lời của sự nhẫn nại. Ở đây, Ngài không có một danh tiếng nào, Ngài là một người thấp hèn, vẫn là một người Na-xa-rét, vẫn còn là con của người thợ mộc. Khi chúng ta theo Chúa, Ngài nói: “Hãy giữ đạo (lời) của sự nhẫn nại Ta”.

“Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách là giờ sắp đến trên khắp thiên hạ để thử những người ở trên đất” (3:10). Chúng ta có thể dùng Trùng Khánh để minh họa: Khi nói rằng tôi sẽ giữ anh em khỏi bị ném bom thì có nghĩa là anh em sẽ vẫn cứ ở Trùng Khánh nhưng được giữ khỏi bị ném bom. Còn nếu nói rằng tôi sẽ giữ anh em khỏi giờ đó thì có nghĩa là ngay trước giờ ném bom đó, anh em được đưa đến Chengtu. Khi cả thế giới này bị thử thách (chúng ta biết rằng điều đó ám chỉ cơn đại nạn) thì anh em sẽ không gặp đại nạn. Trước khi giờ đó đến, chúng ta đã được cất lên rồi. Trong cả Kinh Thánh, chỉ có hai chỗ nói về lời hứa được cất lên: Lu-ca 21:36 và Khải Thị 3:10. Ngày nay, chúng ta phải theo Chúa, không sống buông thả, học tập bước đi theo con đường của Phi-la-đen-phi và xin Chúa giải cứu chúng ta khỏi giờ thử thách sắp đến.

“Ta đến mau chóng, hãy giữ vững điều ngươi đã có, hầu chẳng ai đoạt lấy mão miện của ngươi” (3:11). Chúa phán: “Ta đến mau chóng”; do đó, hội thánh này sẽ kéo dài cho đến khi Chúa trở lại. Thi-a-ti-rơ không qua đi, Sạt-đe không qua đi và Phi-la-đen-phi cũng không qua đi. “Hãy giữ vững điều ngươi có”; đó chính là “Lời Ta” và “Danh Ta”. Chúng ta không được quên Lời Chúa và không làm hổ thẹn danh Chúa. “Hầu chẳng ai đoạt lấy mão miện của ngươi”: Tất cả những người của Phi-la-đen-phi đều đã có mão miện rồi. Trong những hội thánh khác, nan đề là [làm sao] có được mão miện còn ở Phi-la-đen-phi nan đề là mất mão miện. Chúa nói rằng tất cả các ngươi đều có mão miện rồi. Trong cả Kinh Thánh, chỉ có một người biết mình đã có mão miện rồi, đó là Phao-lô (2 Ti. 4:8). Cũng vậy, trong các hội thánh, chỉ có Phi-la-đen-phi là biết mình đã có mão miện. Bây giờ, đừng để ai lấy mão miện của anh em đi; đừng ra khỏi Phi-la-đen-phi và rời bỏ vị trí của anh em. Ở đây nói rằng hãy giữ những điều anh em đã có để không ai lấy nó đi.

Điều này cho thấy rõ rằng Phi-la-đen-phi cũng có một hiểm họa riêng, nếu không, Chúa đã không đưa ra một lời cảnh cáo như vậy. Hơn nữa, hiểm họa này có phần nào thiết thực; đó là lý do tại sao Chúa khuyến cáo họ cách nghiêm túc như vậy. Hiểm họa này là gì? Đó là đánh mất những gì họ đã có. Hiểm họa của họ không nằm trong sự tiến bộ nhưng nằm trong sự thoái hóa. Những người ở Phi-la-đen-phi làm hài lòng Chúa vì họ yêu thương nhau, trung tín với Lời và danh Ngài. Hiểm họa của họ nằm trong việc đánh mất tình yêu thương và sự trung tín. Thật đáng sợ biết bao! Thật vậy, điều đó đã thực sự xảy ra. Sau hai mươi năm, các anh em cũng đã bị chia rẽ. Họ bị chia rẽ thành hai nhóm: “độc quyền” và “cởi mở”, và trong hai nhóm đó có nhiều hệ phái. Vì vậy, trong Phi-la-đen-phi vẫn có lời kêu gọi cho những người đắc thắng.

Nguyên nhân đưa đến nan đề này là gì? Chúng ta phải rất cẩn thận và khiêm nhường, nếu không, sẽ thất bại như vậy. Tôi nghĩ rằng bất kỳ sự chia rẽ nào cũng do thiếu yêu thương nhau. Khi tình yêu thương không còn hoặc thiếu hụt thì người ta chú ý đến luật pháp, nhấn mạnh đến phương thức và vạch lông tìm vết. Khi tình yêu đã cạn kiệt thì người ta sẽ kiêu ngạo về chính mình và ghen tỵ với người khác, do đó, dẫn đến những cuộc tranh luận và cãi vã. Thánh Linh là sức mạnh của sự hiệp một, còn xác thịt là sức mạnh của sự chia rẽ. Nếu xác thịt không bị xử lý thì chẳng bao lâu sự chia rẽ sẽ xảy ra.

Ngoài ra, tôi cho rằng sự thiếu hụt vào lúc đó là do các anh em không thấy lập trường (hay: chỗ đứng) “địa phương” và ranh giới của hội thánh. Về phương diện tiêu cực, họ thấy rõ những tội lỗi của hội thánh nhưng về phương diện tích cực như hội thánh yêu thương nhau như thế nào và hiệp một trên lập trường và ranh giới của địa phương ra sao thì họ chưa thấy đúng mức. Giáo Hội Công Giáo La Mã chú trọng đến sự hiệp một của một hội thánh thống nhất trên đất này, trong khi Các Anh Em lại chú trọng đến sự hiệp một lý tưởng của một hội thánh thuộc linh ở trên trời. Họ không thấy hoặc thấy không rõ đủ rằng tình yêu thương lẫn nhau trong các Thư Tín là tình yêu thương lẫn nhau trong hội thánh tại một địa phương; sự hiệp một là sự hiệp một của hội thánh tại một địa phương; sự liên kết là sự kết hợp của hội thánh tại một địa phương; sự gây dựng là sự gây dựng của hội thánh tại một địa phương; và ngay cả sự dứt thông công cũng là sự dứt thông công của hội thánh tại một địa phương. Trong bất cứ trường hợp nào, chỉ có hai loại người nói đến sự hiệp một của hội thánh: Giáo Hội Công Giáo La Mã nói đến sự hiệp một của các hội thánh trên đất trong khi Hội Anh Em nói về sự hiệp một thuộc linh ở trên trời. Kết quả Giáo Hội Công Giáo chỉ là sự hiệp một bề ngoài trong khi đó Hội Anh Em là sự hiệp một lý tưởng, mà thực tế là chia rẽ. Cả hai đều không chú ý đến sự hiệp một của mỗi một hội thánh địa phương trong mỗi một địa phương như đã được chép trong Kinh Thánh.

Vì Các Anh Em không chú ý đúng mức đến vấn đề hội thánh có địa phương làm ranh giới nên “Các Anh Em Độc Quyền” đòi hỏi phải có hành động thống nhất ở khắp mọi nơi mà hậu quả là dẫn đến việc phá vỡ ranh giới địa phương, rơi vào lỗi lầm của giáo hội thống nhất; trong khi “Các Anh Em Cởi Mở” đòi hỏi có sự quản trị độc lập của từng nơi nhóm họp, hậu quả là ở nhiều nơi đã có nhiều hội thánh trong cùng một địa phương, do đó rơi vào lỗi lầm của Giáo Hội Hội Chúng (Congregational Church), tức là làm cho mỗi hội chúng trở thành một đơn vị độc lập. “Các Anh Em Độc Quyền” đã vượt quá ranh giới địa phương trong khi “Các Anh Em Cởi Mở” thì nhỏ hơn ranh giới địa phương. Họ quên rằng trong Kinh Thánh có một và chỉ có một hội thánh duy nhất tại mỗi địa phương. Những lời trong Kinh Thánh nói cho hội thánh là nói với loại hội thánh này. Điều lạ lùng là ngày nay, người ta có khuynh hướng thay đổi những lời trong Kinh Thánh nói với hội thánh địa phương thành những lời nói với hội thánh thuộc linh. Hơn nữa, một số anh em khi thiết lập hội thánh đã thiết lập một hội thánh nhỏ hơn địa phương đó – hội thánh “tư gia” là một trường hợp. Nhưng trong Kinh Thánh không có một “Hội thánh Thống Nhất” (United Church) bao gồm tất cả các hội thánh ở khắp mọi nơi, cũng không có những hội thánh của những hội chúng và những nơi nhóm họp trong cùng một địa phương như những hội thánh độc lập. Một hội thánh cho nhiều địa phương hoặc nhiều hội thánh trong một địa phương – cả hai đều không phải là điều Đức Chúa Trời chỉ định. Lời Đức Chúa Trời khải thị rõ rằng một địa phương chỉ có một hội thánh và chỉ có một hội thánh trong một địa phương. Để có một hội thánh cho nhiều địa phương đòi hỏi phải có một sự hiệp nhất mà Kinh Thánh không đòi hỏi; để có nhiều hội thánh trong cùng một địa phương là phải chia rẽ sự hiệp một mà Kinh Thánh muốn có.

Khó khăn của Các Anh Em trong thời đó là họ không đủ sáng tỏ về sự dạy dỗ của Kinh Thánh về địa phương. Hậu quả là vì những người theo kiểu mẫu hiệp một của “Hội thánh Thống Nhất” liên kết với những anh em trong những nơi khác nên không e sợ phải bị chia rẽ với các anh em trong cùng một địa phương. Còn những người xem nơi nhóm lại như một đơn vị và không có nan đề gì với các anh em trong cùng nơi nhóm họp thì không sợ phải bị chia rẽ với các anh em ở trong những nơi nhóm họp khác trong cùng một địa phương. Vì họ không nhận thức được tầm quan trọng của những sự dạy dỗ trong Kinh Thánh về vấn đề địa phương nên trong cả hai trường hợp trên đều dẫn đến sự chia rẽ. Chúa không đòi hỏi một sự hiệp một không thực tiễn bao gồm tất cả mọi nơi. Chúa cũng không cho phép lấy một nơi nhóm họp làm ranh giới của sự hiệp một – điều đó quá tự do; đó là một sự phóng túng, không có một sự giới hạn nào hay bài học nào. Chỉ do một lời không hợp ý là lập tức có một chỗ nhóm họp khác được hình thành với một nhóm dăm ba người và xem nó như một đơn vị. Chỉ có thể có sự hiệp nhất trong một địa phương. Thật là một giới hạn nghiêm khắc cho sự phóng túng của xác thịt!

Phong trào của các anh em vẫn còn đang tiến triển, và ánh sáng “địa phương” ngày càng rõ ràng hơn. Chúa sẽ hành động đến mức nào thì chúng ta không biết. Chúng ta chỉ chờ đợi lịch sử rồi sau đó sẽ rõ. Nếu chúng ta tuyêt đối dâng mình cho Chúa và chính mình khiêm nhường thì chúng ta sẽ nhận được sự thương xót để được gìn giữ khỏi những lỗi lầm đó.

“Kẻ đắc thắng Ta sẽ khiến làm rường cột trong đền thờ Đức Chúa Trời, và người không còn ra khỏi đó nữa; Ta cũng sẽ lấy danh Đức Chúa Trời Ta, và danh của thành Đức Chúa Trời Ta, là Giê-ru-sa-lem Mới ở trên trời, từ Đức Chúa Trời Ta mà xuống, cùng danh mới của Ta mà viết trên người” (Khải. 3:12). Trong thời Phi-la-đen-phi, có nhiều trường hợp dứt thông công các anh em. Nhưng ở đây, họ không còn có thể bị dứt thông công nữa; họ sẽ là rường cột trong đền thờ của Đức Chúa Trời. Nếu cột bị dời đi thì đền thờ không thể đứng được. Phi-la-đen-phi làm cho đền thờ của Đức Chúa Trời đứng. Có ba danh được viết trên người đắc thắng: danh của Đức Chúa Trời, danh của Giê-ru-sa-lem Mới và danh mới của Chúa. Kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời đã được hoàn tất. Những người trong Phi-la-đen-phi quay trở về với Chúa và làm Ngài thỏa lòng.

“Ai có tai, hãy nghe điều Linh phán cùng các hội thánh” (c. 13). Xin nhớ rằng Đức Chúa Trời không giấu kín ước muốn của lòng Ngài; Đức Chúa Trời đã đặt một con đường rất sáng tỏ trước mặt chúng ta.