Thông tin sách

Sự Chính Thống Của Hội Thánh

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Orthodoxy of the Church
ISBN: 0-87083-007-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 6

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG SÁU

HỘI THÁNH TẠI SẠT-ĐE

Kinh Thánh: Khải. 3:1-6

Chúng ta đã thấy có cách cư xử của nhóm Ni-cô-la trong suốt thời các sứ đồ. Sau cách cư xử của nhóm Ni-cô-la, chúng ta thấy Bẹt-găm đã phạm tội trọng khi đem những điều của thế gian vào hội thánh là như thế nào. Giê-sa-bên xuất hiện sau nhóm Ni-cô-la, và đồng thời hình tượng được đưa vào hội thánh. Nhưng ở đây có một điểm tốt, đó là tại Thi-a-ti-rơ có sự phán xét Giê-sa-bên, tức là quăng người nữ này lên giường bệnh hầu bà ta không thể cử động được nữa; chúng ta cũng thấy những người theo bà sẽ bị giết vào một ngày nào đó. Nhưng lời tiên tri này vẫn chưa được ứng nghiệm cho đến khi Ba-by-lôn bị sụp đổ trong Khải Thị chương 17. Lịch sử Thi-a-ti-rơ bắt đầu từ khi Giê-sa-bên sai trái mang hình tượng vào trong hội thánh và kéo dài cho đến khi bà bị xét đoán. Bây giờ chúng ta phải thấy một điều: khi hội thánh liên tục sa bại từ lúc nhóm Ni-cô-la xuất hiện cho đến giai đoạn Giê-sa-bên thì Đức Chúa Trời không còn dung chịu được nữa. Vì vậy Sạt-đe xuất hiện. “Sạt-đe” có nghĩa là “những gì còn lại”. Hội thánh Sạt-đe chính là phản ứng của Đức Chúa Trời đối với Thi-a-ti-rơ. Lịch sử phục hưng trong các hội thánh trên toàn thế giới nói lên những phản ứng thần thượng này. Hễ khi nào Chúa bắt đầu một cuộc phục hưng, đó là lúc Ngài đang phản ứng. Phản ứng của Đức Chúa Trời chính là sự khôi phục của con người. Tôi muốn anh em ghi khắc nguyên tắc này trong tâm trí mình. Vì Chúa đã thấy tình trạng của Thi-a-ti-rơ nên Sạt-đe xuất hiên.

Trong Khải Thị, các hội thánh tương ứng với nhau từng đôi. Sạt-đe có quan hệ với Ê-phê-sô; Phi-la-đen-phi với Si-miệc-nơ; Lao-đi-xê với Bẹt-găm. Chỉ có Thi-a-ti-rơ đứng một mình. Ở Sạt-đe, Chúa phán danh Ngài là “Đấng có bảy Linh của Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao, phán rằng: Ta biết công việc ngươi, ngươi có tiếng là sống, nhưng mà là chết” (Khải. 3:1). Trong thư gởi cho hội thánh tại Ê-phê-sô có viết tay hữu Ngài cầm bảy ngôi sao, còn thư cho Sạt-đe thì nói Ngài có bảy ngôi sao. Ê-phê-sô là sự suy bại sau thời các sứ đồ, tức là thay đổi từ điều tốt sang điều xấu; còn Sạt-đe là sự khôi phục từ Thi-a-ti-rơ, tức là thay đổi từ xấu đến tốt. Có việc làm nhưng không có tình yêu, đó là Ê-phê-sô; còn có tiếng sống mà thực tế là chết, đó là Sạt-đe. Cho nên, hai hội thánh này là một cặp. Ở đây, Chúa bày tỏ chính Ngài là Đấng có bảy Linh. Đức Chúa Trời sai bảy Linh của Ngài đến thế gian để công tác, và điều này nói lên công tác của sự sống. Bảy ngôi sao ở Ê-phê-sô chỉ về các sứ giả; ở đây chỉ về sự soi sáng. Công tác khôi phục có một nửa ở trong Linh và một nửa trong ánh sáng.

Cũng như Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe cũng tồn tại một khoảng thời gian dài từ các hội thánh Cải Chánh cho đến khi Chúa trở lại. Mặc dù Sạt-đe không lâu đời bằng Thi-a-ti-rơ, nhưng hội thánh này không những chỉ về hội thánh vào thời Cải Chánh mà còn chỉ về lịch sử hội thánh sau cuộc Cải Chánh nữa.

“Ta biết công việc ngươi, ngươi có tiếng là sống nhưng mà là chết”. Tôi tin rằng không ai nghi ngờ sự kiện Martin Luther là một đầy tớ của Chúa và cuộc Cải Chánh là công việc của Đức Chúa Trời. Cuộc Cải Chánh là một công tác lớn, và đó là một phản ứng thần thượng. Chắc chắn Chúa đã dùng Luther như một người phát ngôn; ông là người được Đức Chúa Trời đặc biệt chọn lựa. Khi Luther bắt đầu tiến hành thì cuộc Cải Chánh đã hoàn toàn là Sạt-đe. Mục đích duy nhất của ông là vì sự khôi phục. Chúa không nói công việc của Luther là không tốt; nhưng Ngài nói công việc này không trọn vẹn; tốt nhưng chưa tốt đủ. Trong cái nhìn của Chúa, Ngài chẳng tìm thấy điều nào trọn vẹn cả: mọi sự đều có khởi đầu nhưng lại không có kết thúc. Chúa là Chúa của sự trọn vẹn nên Ngài đòi hỏi sự trọn vẹn. Vì vậy, chúng ta phải cầu hỏi Chúa để có thể thấy được vấn đề.

Với Luther, vấn đề xưng công chính đã được giải quyết. Sự xưng công chính là bởi đức tin, và để có sự bình an trước mặt Chúa cũng bởi đức tin. Luther không những cho chúng ta sự xưng công chính bởi đức tin mà còn mở Kinh Thánh ra cho chúng ta. Tại Thi-a-ti-rơ, thẩm quyền nằm trong tay Giê-sa-bên. Nói cách khác, thẩm quyền nằm trong tay Giáo Hội. Vấn đề là Giáo Hội nói gì chứ không phải Chúa nói gì. Mọi vấn đề đều do mẫu hội phát ngôn; tất cả mọi người thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mã đều nghe theo mẫu hội. Cho nên, Chúa phán Ngài sẽ giết “các con” của bà. Anh em nói đến người mẹ nhưng Chúa nói đến các con. Luther đã cho chúng ta thấy những gì Chúa nói và những gì Kinh Thánh nói. Con người có thể đọc Lời Đức Chúa Trời và tự họ có thể thấy Đức Chúa Trời thực sự nói gì, chứ không phải những gì La Mã nói. Khi Kinh Thánh mở ra, cả hội thánh được soi sáng.

Tuy nhiên, tại đây lại nảy sinh một nan đề: Cải Chánh Giáo cũng không cho chúng ta một hội thánh đúng đắn. Kết quả là, hễ nơi nào giáo lý về sự xưng công chính bởi đức tin và quyển “Kinh Thánh đã mở ra” được truyền đến thì một Giáo Hội quốc gia được thiết lập. Giáo phái Lutheran đã trở nên quốc giáo ở nhiều nước. Sau đó, ở Anh lại xuất hiện Anh Quốc Giáo và đây cũng là một Giáo Hội quốc gia. Khởi đầu với Công Giáo La Mã, bản chất của hội thánh đã bị thay đổi. Rồi đến thời có sự xưng công chính bởi đức tin và Kinh Thánh được mở ra, thì các Giáo Hội Cải Chánh vẫn chưa thấy được hội thánh phải như thế nào. Mặc dù đã có sự xưng công chính bởi đức tin và Kinh Thánh được mở ra, các Giáo Hội Cải Chánh vẫn theo gương Công Giáo La Mã, không quay về với hội thánh ban đầu. Trong suốt cuộc Cải Chánh, vấn đề hội thánh vẫn chưa được giải quyết. Luther đã không cải cách hội thánh. Chính Luther đã nói chúng ta không nên nghĩ rằng “xưng công chính bởi đức tin” là đủ; còn có nhiều điều nữa cần được sửa đổi. Thế nhưng những người thuộc các Giáo Hội Cải Chánh đã dừng lại tại điểm này. Luther không dừng lại nhưng họ đã dừng lại và cho rằng như vậy là đủ lắm rồi. Dù họ đã quay lại với đức tin ban đầu nhưng chính hội thánh thì vẫn không thay đổi. Lúc trước là Công Giáo La Mã mang tính toàn cầu; bây giờ đổi thành quốc giáo của Anh hay quốc giáo của Đức thế thôi.

Thưa anh em, anh em có thấy không? Công cuộc Cải Chánh đã không đưa hội thánh trở về với tình trạng ban đầu; nó chỉ làm cho Giáo Hội toàn cầu trở nên các Giáo Hội quốc gia. Thi-a-ti-rơ bị kết án vì đã đặt hội thánh vào trong thế gian; cũng vậy, Sạt-đe bị kết án vì đã đặt hội thánh vào trong các quốc gia. “Ngươi có tiếng sống nhưng mà là chết”. Cuộc Cải Chánh là sống nhưng vẫn còn nhiều điều chết chóc.

Sau đó, có nhiều “biệt giáo” đã phát triển, như Hội Trưởng Lão v.v... Về một mặt, chúng ta thấy có Giáo Hội Công Giáo La Mã; mặt khác, lại có các Giáo Hội Cải Chánh. Giữa vòng các Giáo Hội Cải Chánh, ngoài các Giáo Hội quốc gia còn có các Giáo Hội được thiết lập theo những ý kiến và giáo lý khác nhau. Người theo biệt giáo là những người không chấp nhận quốc gia là ranh giới nhưng lấy giáo lý làm ranh giới. Vì thế, có hai loại Giáo Hội giữa vòng các Giáo Hội Cải Chánh: một loại là Giáo Hội quốc gia và loại kia là các Giáo Hội độc lập. Ngày nay, anh em thấy ở Đức, Anh và một số quốc gia, có sự kết hiệp giữa quốc gia và Giáo Hội. Ở La Mã có Giáo Hội toàn cầu, còn ở Anh, Đức,… thì có các Giáo Hội quốc gia. Các vua và những nguyên thủ quốc gia không muốn nghe theo Giáo hoàng nhưng họ lại muốn những người khác nghe theo họ. Trong lĩnh vực chính trị, họ muốn làm vua; trong tôn giáo, họ cũng muốn làm vua. Kết quả là các Giáo Hội quốc gia đã ra đời. Người ta không hề thắc mắc rằng theo Kinh Thánh, hội thánh phải như thế nào. Họ không quay về với Kinh Thánh để xem việc có các Giáo Hội quốc gia là đúng đắn hay không. Sau đó, các Giáo Hội độc lập cũng xuất hiện. Sự thành lập các Giáo Hội độc lập là do việc đề cao một giáo lý nào đó; vì vậy, họ tự tách ra khỏi những người không có cùng giáo lý. Giáo Hội Báp-tít được thành lập bởi có một số người thấy được giáo lý Báp-têm; Giáo Hội Trưởng Lão được thành lập do một số người nhìn thấy hệ thống trưởng lão trong hội thánh. Các Giáo Hội này được thiết lập không phải vì một số người biết hội thánh là gì; trái lại, các Giáo Hội ấy được thiết lập theo một hệ thống. Đối với hai loại Giáo Hội thuộc Cải Chánh Giáo này, tức quốc gia và độc lập, thì Chúa bảo họ đã không trở lại với mục đích ban đầu. Câu nói này là có ý nghĩa nhất.

“Hãy tỉnh thức và làm cho vững các điều còn lại, là các điều hầu chết” (c. 2). Điều này chỉ về sự xưng công chính bởi đức tin và Kinh Thánh được mở ra và sự sống có được từ những điều ấy. Trong toàn bộ lịch sử Sạt-đe, những điều này sắp chết, nên Chúa nói: Hãy làm cho vững những điều sắp chết. Ngày nay, trong các Giáo Hội Cải Chánh, dù Kinh Thánh đã được mở ra rồi nhưng các điều lệ của con người vẫn còn hiệu lực; vì thế, Chúa phán: “Ta thấy công việc ngươi ở trước mặt Đức Chúa Trời Ta đều không được trọn vẹn chi cả” (c. 2). Ngay cả điều họ đã có rồi cũng không trọn vẹn. Một số điều của họ cũng không trọn vẹn; những điều ấy đã không trọn vẹn ngay từ lúc ban đầu. “Vậy, hãy nhớ lại ngươi đã nhận và nghe thể nào; hãy giữ lấy và ăn năn đi” (c. 3).

Phải chăng lịch sử các Giáo Hội Cải Chánh kết thúc như vậy? Không! Lịch sử các Giáo Hội Cải Chánh là lịch sử của những cuộc phục hưng. Ban đầu khi Luther tiến hành [cuộc Cải Chánh], biết bao người đã được cứu, phấn hưng và khôi phục. Một đặc điểm của các Giáo Hội Cải Chánh là “khôi phục”. Anh em không biết được Thánh Linh sẽ hành động đến mức độ như thế nào. Luther cải cách một vài điều; vì thế, Giáo Hội Luther ra đời. Lẽ thật về hệ thống trưởng lão được tìm thấy, và như vậy, Giáo Hội Trưởng Lão được tổ chức. Wes ley xuất hiện, cho nên Giáo Hội Giám Lý được thành lập. Ngày nay, trên thế giới vẫn còn những Giáo Hội nhỏ hơn. Năm 1914 đã có hơn một ngàn năm trăm Giáo Hội.

Cám ơn Chúa, Sạt-đe thường được Đức Chúa Trời ban phước. Nhưng khi có phước hạnh của Chúa thì con người tổ chức một điều gì đó để chứa đựng phước hạnh ấy. Dù phước hạnh của Chúa vẫn còn đó, nhưng phạm vi phước hạnh chỉ lớn chừng ấy. Các Giáo Hội Cải Chánh giống như một cái tách. Vào đầu thời kỳ phục hưng, hễ nơi nào có nước hằng sống thì con người đến đó. Hễ chỗ nào Linh của Đức Chúa Trời đang chuyển động, con người sẽ đi vào hướng chuyển động đó. Kết quả là họ sử dụng một cái tách với hy vọng giữ cho nước hằng sống không bị mất đi. Lợi ích của việc làm này là giữ được ân điển nhưng điều bất lợi là chỉ có một tách phước hạnh thôi. Ở thế hệ đầu, tách đầy tràn; thế hệ thứ hai, chỉ còn một nửa – tình trạng u ám bắt đầu; đến thế hệ thứ ba hay thứ năm, nước trong tách cạn hết, chỉ còn lại cái tách không. Sau đó, họ bắt đầu tranh cãi với các giáo phái khác xem thử cái tách của ai tốt hơn dù rằng tất cả những cái tách đó đều không đáng [dùng] để uống nữa. Kết quả là gì? Đức Chúa Trời lại phản ứng và xuất hiện một Sạt-đe khác. Toàn bộ lịch sử phục hưng là như vậy. Khi ân điển của Đức Chúa Trời đến, con người lập tức tạo nên một tổ chức để giữ lại ân điển ấy. Kết quả là tổ chức thì còn lại mà nội dung thì biến mất. Tuy nhiên, cái tách không thể bị vỡ; luôn luôn có những người nhiệt thành duy trì cái tách. Đây là một nguyên tắc: học trò của Wes ley không bao giờ ngang bằng Wesley, cũng như học trò của Cal vin không theo kịp Cal vin. Trường của các tiên tri hiếm khi đào tạo ra tiên tri – tất cả những tiên tri lớn đều được Đức Chúa Trời chọn từ trong đồng vắng. Linh Đức Chúa Trời giáng trên bất cứ người nào Ngài muốn. Ngài là Đầu hội thánh, chứ không phải chúng ta. Con Người luôn luôn nghĩ rằng nước hằng sống thật là giá trị và phải được giữ lại bởi tổ chức, nhưng trải qua các thế hệ nước ấy luôn vơi dần cho đến khi hoàn toàn khô cạn. Sau đó, Chúa lại ban cho chúng ta nước sống trong đồng vắng.

Về một mặt, có sự phục hưng – Ngợi khen Chúa! Mặt khác, sự phục hưng phải bị quở trách trước mặt Chúa, vì nó không hề quay về thời ban đầu. Các Giáo Hội Cải Chánh liên tiếp có các cuộc phục hưng nhưng Chúa nói rằng họ không trọn vẹn, không quay về với thời ban đầu. Anh em phải nhớ điều gì đã có từ ban đầu. Vấn đề không phải là bây giờ anh em nhận và nghe như thế nào mà là từ ban đầu anh em đã nhận và nghe như thế nào. Công-vụ chương 2 cho thấy có nhiều người được cứu và Chúa nói họ cứ bền lòng trong sự dạy dỗ và sự tương giao của các sứ đồ, sự bẻ bánh và sự cầu nguyện. Ở đây không nói họ tiếp tục sự bẻ bánh và cầu nguyện của các sứ đồ, nhưng nói rằng họ ở trong sự dạy dỗ và sự tương giao của các sứ đồ. Sự tương giao của Đấng Christ là sự tương giao của các sứ đồ; sự dạy dỗ của Đấng Christ là sự dạy dỗ của các sứ đồ. Chỉ có sự tương giao của các sứ đồ mới được Đức Chúa Trời kể là sự tương giao. Cũng vậy, Ngài chỉ xem sự dạy dỗ của các sứ đồ là sự dạy dỗ. Chúng ta không thể phát minh ra một sự tương giao hay sự dạy dỗ nào. Lỗi lầm của Thi-a-ti-rơ là đã tạo ra sự dạy dỗ riêng cho mình từ lúc Giê-sa-bên có mặt ở đó. Đức Chúa Trời không muốn chúng ta phát minh, Ngài chỉ muốn chúng ta nhận lãnh. Trong thế kỷ hai mươi, mọi thứ đều có thể được phát minh, nhưng sự dạy dỗ thì không thể được. Trong Linh, chúng ta có thể nói về sự khám phá, nhưng trong sự dạy dỗ thì không thể có bất kỳ sự phát minh nào. Anh em phải xem xét điều mình đã nhận lãnh, đã nghe hầu giữ lấy và ăn năn.

“Ta sẽ đến như kẻ trộm và ngươi hẳn chẳng biết giờ nào Ta thoạt đến trên ngươi” (c. 3). “Đến” là đến bằng cách giáng xuống. Theo Hi văn, “trên” hay “ở trên” là epi, có nghĩa là Ta sẽ giáng xuống bên cạnh ngươi, không phải ở trên ngươi nhưng bên ngoài ngươi. Cái đến của tên trộm là cái đến epi. Chúng ta ở đây, còn Ngài đi lảng vảng bên cạnh. Chúa dùng chữ này rất khéo. Anh em có thể dịch lại như sau: “Ta sẽ đến và đi qua khỏi ngươi mà ngươi không biết”.

Kẻ trộm đến không phải để lấy những thứ rẻ tiền mà luôn lấy những thứ tốt nhất. Chúa cũng sẽ lấy đi điều tốt nhất trên đất. Điều tốt nhất nằm trong tay Ngài chứ không phải ở ngoài Ngài. Chúng ta ở trong nhà: một được cất đi, một bị để lại. Vì thế, Chúa phán, nếu các ngươi không tỉnh thức thì Ngài sẽ đến. Chúa Jesus sẽ mau đến. Ngày ấy gần rồi! Nguyện chúng ta trở nên quý báu đủ để được Chúa “lấy cắp”.

“Nhưng ở Sạt-đe ngươi còn có mấy tên không làm ô uế áo xống mình; họ sẽ mặc áo trắng mà đồng đi với Ta, vì họ xứng đáng” (c. 4). Gia-cốp đã mang bảy mươi hồn người xuống Ai-cập (Xuất. 1:5). Thông thường Kinh Thánh nói đến nhiều người, nhiều hồn (người); nhưng ở đây Chúa nói có vài tên, Chúa đặc biệt chú ý đến tên chúng ta. Ngài nói có vài tên trong các ngươi không làm ô uế áo xống mình. Áo xống này là những việc làm công chính của chúng ta. Khi đứng trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta mặc lấy Đấng Christ vì Ngài là áo trắng của chúng ta. Tuy nhiên, ở đây chúng ta không đứng trước mặt Đức Chúa Trời mà đứng trước mặt Đấng Christ, trước ngai phán xét (La. 14:10). Vì thế, ở đây chúng ta không mặc lấy Đấng Christ, nhưng mặc “vải gai mịn, sạch và trắng: vì vải gai mịn là sự công chính của các thánh đồ” (Khải. 19:8). Có vài tên đã không làm ô uế áo xống mình; tức là cách sống của họ rất trong sạch. Họ sẽ đồng đi với Chúa vì họ xứng đáng.

“Kẻ đắc thắng sẽ được mặc áo trắng như vậy, Ta hẳn chẳng xoá tên người khỏi sách sự sống, nhưng Ta sẽ thừa nhận tên người trước mặt Cha Ta, cùng trước mặt các thiên sứ Ngài” (3:5). Vấn đề ở đây không phải là tên có được ghi hay không, mà là có được xưng nhận hay không. Những người được Chúa xưng nhận sẽ được dự phần vào một điều gì đó; còn những người không được Chúa xưng nhận thì không được dự phần. Tất cả các tên đều được ghi vào sách sự sống nhưng người nào không được Chúa xưng nhận thì giống như người bị đánh dấu bởi một cái khoanh tròn và sẽ không được dự phần. Vấn đề ở đây không liên quan gì đến sự sống đời đời trong cõi đời đời mà là anh em có được đồng trị với Chúa không. Thật không may khi được ghi vào sách rồi mà lại không được dự phần. Nguyện Chúa đầy ân điển đối với chúng ta để chúng ta có thể mặc áo trắng mà đứng trước mặt Ngài. Anh em có áo trắng để mặc trước mặt Đức Chúa Trời nhưng còn trước mặt Chúa thì sao?