Thông tin sách

Nghiên Cứu Sự Sống Sách Giăng

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Life-Study of John
ISBN: 0-7363-0957-8
Mua sách tại:

Đang đọc: Bài 49

Untitled Document

BÀI BỐN MƯƠI CHÍN

SỰ SỐNG TRONG SỰ PHỤC SINH (4)

VI. CÙNG LÀM VIỆC VÀ BƯỚC ĐI VỚI CÁC TÍN ĐỒ

Trong Giăng 21:1-14 chúng ta thấy Chúa chuyển động và sống với các tín đồ trong sự phục sinh. Bây giờ trong Giăng 21:15-25, chúng ta thấy Ngài cũng làm việc và bước đi với các tín đồ.

A. Làm Việc Như Người Chăn Tốt, Người Chăn Lớn, Và Người Chăn Trưởng

Chúa đang làm việc như Người Chăn để xây dựng Hội thánh bằng cách chăn bầy của Ngài (21:15-17; 10:16). Có ba phương diện về việc Chúa là Người Chăn: Người Chăn tốt (10:11), Người Chăn lớn (Hê. 13:20), và Người Chăn trưởng (1 Phi. 5:4). Việc chăn chiên thì không vì các cá nhân, mà vì bầy. Bầy là Hội thánh, và Hội thánh là một công trình xây dựng. Khi đọc Giăng chương 21 và Phi-e-rơ thứ nhất chúng ta có thể thấy chăn chiên là để xây dựng Hội thánh.

1. Khuấy Động Tình Yêu Của Các Môn Đồ Đối Với Ngài

Trong Giăng 21:15 Chúa Jesus nói với Si-môn Phi-e-rơ: “Si-môn, con của Giăng ơi, ngươi có thương yêu Ta hơn những kẻ nầy chăng?” Ở đây Chúa đang phục hồi tình yêu của Phi-e-rơ đối với Ngài. Phi-e-rơ thật có lòng yêu Chúa, nhưng ông quá tự tin nơi năng lực riêng, năng lực thiên nhiên của mình. Tình yêu ông dành cho Chúa thật quí báu, nhưng ông phải từ bỏ và xử lý năng lực thiên nhiên của mình. Chúa cho phép ông thất bại cùng cực qua việc ông chối Chúa trước mặt Ngài ba lần (18:17, 25, 27) để năng lực thiên nhiên và lòng tự tín của ông bị xử lý. Hơn nữa, Phi-e-rơ vừa mới dẫn đầu trong việc sa sút trước sự kêu gọi của Chúa. Lòng tự tín thiên nhiên của ông nơi tình yêu đối với Chúa chắc hẳn cũng bị xử lý qua thất bại này. Vì có lẽ ông thất vọng phần nào, nên Chúa đến để phục hồi tình yêu của ông đối với Ngài, để giao trách nhiệm chăn dắt Hội thánh Ngài cho ông và chuẩn bị ông cho sự tuận đạo, để ông không còn theo Ngài bằng chút tự tin nào nơi sức mạnh thiên nhiên của mình.

Khi Chúa nói với Phi-e-rơ trong Giăng 21:15-17, Ngài không gọi ông là “Phi-e-rơ”, là tên tái sinh của ông, tức tên mới của con người được tái sinh của ông. Chúa gọi ông là “Si-môn”. Si-môn là tên cũ của ông, tên mô tả con người thiên nhiên của ông. Vì Phi-e-rơ vẫn là một con người thiên nhiên, Chúa hỏi ông: “Si-môn, con của Giăng ơi, ngươi có thương yêu Ta hơn những kẻ này chăng?” Lý do Chúa hỏi ông câu này trước hết là vì vào buổi tối trước khi Ngài bị phản Phi-e-rơ đã dạn dĩ nói với Chúa ông sẽ không bỏ Ngài đâu, dầu tất cả các môn đồ khác bỏ Ngài (Mat. 26:33). Phi-e-rơ đã nói rằng ông sẽ theo Chúa cho đến chết (Gi. 13:37; Mat. 26:35). Khi nói như vậy, Phi-e-rơ cho mình khác hơn những môn đồ kia. Vâng, ông khác họ – về sự yếu đuối của mình, không phải về sức mạnh của mình. Khi Chúa hỏi ông: “Ngươi có thương yêu Ta hơn những kẻ này chăng?” Ngài nhắc cho Phi-e-rơ nhớ ông là ai. Ông là một con người rất tự tin và kiêu ngạo.

Tình yêu của Phi-e-rơ đối với Chúa thật quí báu, nhưng sức mạnh thiên nhiên của ông phải bị xử lý. Sức mạnh của Phi-e-rơ bị xử lý theo hai cách: trong sự kiện ông chối Chúa và trong việc ông dẫn đầu trong việc sa sút trước sự kêu gọi của Chúa. Phi-e-rơ thất bại trong sự thử nghiệm đầu tiên khi ông chối Chúa ba lần, và ông thất bại trong sự thử nghiệm thứ nhì khi ông đi đánh cá. Lý do các môn đồ đi đánh cá là vì họ không có thức ăn. Khi Áp-ra-ham ở tại Ca-na-an, ông cũng bị thử nghiệm bởi chính nan đề này và đi xuống Ai Cập vì nạn đói. Cũng theo nguyên tắc này, Phi-e-rơ và những môn đồ khác đi ra biển đánh cá, và đó là bị thử nghiệm do thiếu thức ăn. Phi-e-rơ nghĩ rằng mình mạnh mẽ, có thể chịu được bất cứ sự thử nghiệm nào, ngay cả chính sự chết. Ông đã nói với Chúa ông sẽ theo Ngài cho đến chết. Do đó, Chúa thử nghiệm Phi-e-rơ hai lần, và Phi-e-rơ thất bại trong cả hai cuộc thử nghiệm.

Chúa xử lý sức mạnh thiên nhiên của Phi-e-rơ như thế nào? Bằng cách tạm thời rút tay Ngài khỏi ông. Trong Giăng 10:28, Chúa nói không ai có thể giựt các tín đồ khỏi tay Ngài. Khi Phi-e-rơ phản Chúa, chối Ngài trước mặt Ngài ba lần, có nghĩa là Chúa đã rút tay Ngài khỏi ông trong chốc lát. Dường như Chúa muốn nói: “Phi-e-rơ, ngươi quá tự tin nơi chính mình. Ngươi không biết mình đứng được là nhờ Ta giữ ngươi trong tay Ta. Nếu Ta không giữ ngươi, ngươi không thể đứng được. Để Ta lấy tay Ta đi một lúc xem ngươi có đứng nổi không”. Rồi Chúa đứng lùi lại một chút, và Phi-e-rơ ngã. Đừng nghĩ anh em có năng lực để đứng vững. Không, một bàn tay vô hình nâng đỡ chúng ta luôn luôn. Tôi quí sự kiện nhiều thánh đồ đã và đang cầu nguyện cho tôi suốt bao nhiêu năm. Trong khi tương giao với Chúa trong linh, tôi cảm nhận và biết ơn cách sâu xa rất nhiều người yêu dấu đang cầu nguyện cho mình. Tự mình, tôi không thể đứng được. Tự mình, tôi không thể phụng sự được gì. Tôi biết nguồn của năng lực phụng sự. Và tôi biết nguồn sức mạnh giữ tôi đứng không ở nơi tôi mà ở nơi Ngài. Tất cả chúng ta đều cần nhận thức điều này. Vì Phi-e-rơ rất mạnh mẽ, quá tự tin nơi chính mình, nên Chúa buộc phải tạm thời rút tay Ngài. Kết quả là Phi-e-rơ ngã và chối Chúa ba lần. Hơn nữa, Phi-e-rơ không thể chịu nổi sự thử nghiệm về kế sinh nhai nên đã dẫn đầu trong việc sa sút mà đi ra biển. Có lẽ Phi-e-rơ nghĩ ông có lý do chính đáng để làm điều đó vì lúc ấy ông không thấy sự tiếp trợ của Chúa. Tuy nhiên, qua sự sa sút này, Phi-e-rơ đã bị phơi bày. Chúa rút tay Ngài khỏi ông trong chốc lát, và Phi-e-rơ bị phơi bày hoàn toàn. Đó là sự xử lý của Chúa.

Trong chương hai mươi mốt, Phi-e-rơ khiêm nhường và chán nản. Chắc chắn ông rất thất vọng. Do đó, Chúa đến để khôi phục ông, làm ông mạnh mẽ, và phục hồi ông. Thật đầy ý nghĩa khi Chúa hỏi Phi-e-rơ trước mặt tất cả các môn đồ: “Ngươi có thương yêu Ta hơn những kẻ này chăng?” Dường như Chúa muốn nói: “Si-môn, ngươi có nhớ cách đây một vài ngày, trước mặt mọi người khác, ngươi nói rằng dầu họ bỏ Ta, ngươi sẽ theo Ta đến chết không? Đó là lời ngươi nói. Bây giờ, Si-môn ơi, Ta hỏi ngươi có phải ngươi yêu Ta nhiều hơn là những người này yêu Ta không?” Nếu tôi là Phi-e-rơ, chắc tôi không còn mặt mũi nào mà nói gì cả. Phi-e-rơ đơn giản trả lời: “Thưa Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Ngài” (c. 15). Phi-e-rơ không thể đáp lời Chúa một cách rõ ràng, vì ông ở trong một tình huống rất khó xử. Ông không nói: “Thưa Chúa, con yêu Ngài”, hay: “Thưa Chúa, con không yêu Ngài”. Anh em sẽ trả lời với Chúa như thế nào nếu anh em là Phi-e-rơ? Có phải anh em nói: “Thưa Chúa, phải, con yêu Ngài hơn tất cả những người này” không? Có phải anh em nói: “Thưa Chúa, con xin lỗi Chúa, con không yêu Ngài”, hay: “Thưa Chúa, con xin lỗi vì con khoe khoang và không thể thực hiện điều mình khoe khoang”? Phi-e-rơ mất lòng tự tin và không thể nói gì ngoài ra: “Thưa Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Ngài”. Nói cách khác, dường như Phi-e-rơ muốn nói: “Con không biết con có yêu Ngài hay không. Chúa ơi, Ngài biết. Nếu con nói con yêu Ngài, thì con biết điều đó không có ý nghĩa gì cả. Trước đây, con đã nói con yêu Ngài, nhưng con thất bại. Thật ra, Ngài bảo con rằng con sẽ thất bại, chối Ngài ba lần, và điều đó đã xảy ra. Thưa Chúa, bây giờ thì tùy Ngài. Chúa biết chứ con không biết”. Ở đây chúng ta thấy một con người đã trở thành người được thử nghiệm và bị phá vỡ.

Trong câu 16 và 17, chúng ta thấy Chúa hỏi Phi-e-rơ thêm hai lần nữa: “Si-môn, con của Giăng, ngươi có yêu Ta không?” Khi Chúa hỏi ông điều này lần thứ ba, sâu trong lòng, Phi-e-rơ rất buồn rầu. Ông buồn rầu vì hai lý do. Lý do thứ nhất, Chúa hỏi ông câu này ba lần. Nếu tôi hỏi anh em ba lần cùng một câu, anh em cũng sẽ cảm thấy rất bối rối. Lý do thứ hai Phi-e-rơ buồn rầu là vì khi hỏi câu ấy ba lần như vậy, Chúa nhắc ông nhớ lại rằng ông đã chối Ngài ba lần. Khi chối Chúa, Phi-e-rơ đang sưởi ấm bên một ngọn lửa (18:25). Trong Giăng chương 21 cũng có lửa. Hành động của Chúa rất có ý nghĩa, vì bấy giờ, khi có lửa để nhắc nhở Phi-e-rơ, dường như Ngài muốn nói: “Phi-e-rơ, ngươi có nhớ lửa ấy không? Ngươi có nhớ ngươi đã chối Ta bên một ngọn lửa không? Bên ánh lửa ấy ngươi đã chối Ta, nhưng bên ánh lửa này Ta cung ứng cho ngươi”. Như vậy, Chúa làm cho Phi-e-rơ nhớ lại điều ông đã làm bên ngọn lửa ấy và nhận biết ông là ai và đang ở đâu. Phi-e-rơ học bài ấy cách đầy đủ. Trong cả Tân Ước, hình ảnh tốt nhất về Phi-e-rơ là hình ảnh trong Giăng chương 21. Tôi thật thích anh Phi-e-rơ trong chương này. Ở đây anh là một người mềm mại, khiêm nhường và tan vỡ, một người thật sự đã học được bài học được Chúa thử nghiệm và phá vỡ.

2. Giao Cho Họ Nhiệm Vụ Nuôi Chiên Con Và Chăn Chiên

Sau khi phục hồi tình yêu của Phi-e-rơ đối với Ngài, Chúa Jesus giao trách nhiệm cho Phi-e-rơ, Ngài nói: “Hãy nuôi chiên con Ta”, “Hãy chăn chiên Ta”, và “Hãy nuôi chiên Ta”. Hai mươi chương đầu của Phúc Âm Giăng nhấn mạnh đến vấn đề tin nơi Con để chúng ta có sự sống (3:15). Nhưng trong chương này, vấn đề không phải là tin mà là yêu thương. Việc kết quả trong chương mười lăm là sự tuôn đổ ra những điều phong phú của sự sống bề trong. Ở đây nuôi chiên con là nuôi dưỡng bằng sự phong phú của sự sống bề trong. Để nuôi dưỡng người khác, chúng ta cần vui hưởng sự phong phú của sự sống thần thượng từ nơi Chúa. Điều này đòi hỏi chúng ta phải yêu Ngài. Tin vào Chúa là tiếp nhận Ngài và yêu Chúa là vui hưởng Ngài. Chúa đến làm sự sống và nguồn cung ứng sự sống cho chúng ta. Chúng ta cần có đức tin nơi Ngài và tình yêu đối với Ngài. Theo Phúc Âm Giăng, có hai điều kiện để dự phần trong Chúa.

Nuôi chiên con là nuôi dưỡng bằng sự phong phú của sự sống bề trong, và chăn chiên là để xây dựng Hội thánh. Chăn chiên là vì “bầy” (10:14, 16), tức là Hội thánh (Công. 20:28). Vì vậy, điều này liên quan đến sự xây dựng của Đức Chúa Trời (Mat. 16:18). Về sau, trong Thư đầu tiên của mình, Phi-e-rơ đã nêu lên điểm này khi nói rằng sự tăng trưởng là để xây dựng nhà Đức Chúa Trời, và tăng trưởng được là nhờ nuôi dưỡng bằng sữa thuần khiết của Lời (1 Phi. 2:2-5) và nhờ truyền cho các trưởng lão chăn dắt bầy của Đức Chúa Trời (1 Phi. 5:1-4). Tăng trưởng bằng cách nuôi dưỡng là để xây dựng. Chúa vẫn đang làm việc với các môn đồ Ngài theo cách này. Ngày nay, qua việc nuôi chiên con và chăn chiên, Chúa đang làm việc với chúng ta để xây dựng Hội thánh.

Khi xem xét ba chương, Giăng chương 10, 1 Phi-e-rơ chương 2 và 5, chúng ta sẽ thấy nuôi chiên con và chăn chiên là để xây dựng Hội thánh. Theo Giăng chương 10, Chúa đã bỏ sự sống thuộc hồn để chiên Ngài có sự sống thần thượng của Ngài và được đem lại với nhau thành một bầy. Đem tất cả chiên Ngài lại với nhau thành một bầy thật sự là sự xây dựng. Trong 1 Phi-e-rơ chương 2, Phi-e-rơ nói chúng ta là những em bé sơ sinh phải được nuôi bằng sữa thuần khiết của Lời để lớn lên hầu được xây dựng lại với nhau thành một ngôi nhà thuộc linh. Cuối cùng, trong 1 Phi-e-rơ chương 5, với tư cách là một trong các trưởng lão, Phi-e-rơ giao cho các trưởng lão nhiệm vụ chăm sóc chiên bằng cách nuôi dưỡng và chăn dắt họ. Nuôi chiên khác với chăn giữ chiên. Trong Giăng 21:15, Chúa nói: “Hãy nuôi chiên con Ta”; trong câu 21:16, Ngài nói: “Hãy chăn chiên Ta”; và trong câu 21:17, Ngài nói: “Hãy nuôi chiên Ta”. Chăn chiên nghĩa là chăm sóc chiên, và nuôi chiên nghĩa là cung cấp thức ăn cho chiên. Ngày nay trong khi hầu việc Chúa, không những chúng ta phải chăm sóc chiên, mà còn nuôi dưỡng chiên bằng thức ăn thuộc linh. Chỉ chăm sóc và trông nom các anh chị em thì chưa đủ; chúng ta cũng phải nuôi họ nữa. Trong câu 15, Chúa nói: “Hãy nuôi chiên con Ta” và trong câu 17 Ngài nói: “Hãy nuôi chiên Ta”. Qua đó chúng ta thấy cả những tín đồ mới lẫn những tín đồ trưởng thành hơn đều cần được nuôi dưỡng. Nếu Chúa giao phó cho chúng ta gánh nặng về bầy của Ngài, chắc chắn chúng ta phải làm hai điều – nuôi dưỡng họ và chăm sóc họ.

B. Bước Đi Với Các Môn Đồ Là Những Người Theo Ngài

1. Dạy Họ Theo Ngài Vào Sự Chết

Trong Giăng 21:18-23, chúng ta thấy Chúa Jesus bước đi với các môn đồ là những người theo Ngài. Sau khi phục hồi tình yêu của Phi-e-rơ đối với Ngài và giao cho ông nhiệm vụ nuôi chiên con và chăn chiên, Chúa dạy các môn đồ theo Ngài vào sự chết qua việc nói trước về sự tuận đạo của Phi-e-rơ. Trong câu 18, Chúa nói với Phi-e-rơ: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng ngươi, khi ngươi còn trẻ, ngươi tự mình thắt lưng, muốn đi đâu tùy ý; nhưng khi ngươi già, sẽ giang tay ra, người khác thắt lưng cho, và kéo ngươi đến nơi mình không muốn”. Khi nói điều này với Phi-e-rơ, Chúa “chỉ về Phi-e-rơ phải chết cách nào để tôn vinh Đức Chúa Trời”. Về sau, trong 2 Phi-e-rơ 1:14, Phi-e-rơ nhắc đến điều này. Ở đây trong chương này, Chúa đang chuẩn bị cho Phi-e-rơ để ông theo Ngài vào sự chết, nhưng không bởi bất cứ điều gì của chính ông hay theo ý riêng ông. Dường như Chúa muốn nói: “Phi-e-rơ, ngươi không giữ lời của ngươi, nhưng Ta sẽ giữ lời của Ta. Thậm chí ngươi nói ngươi muốn chết vì Ta, nhưng ngươi không giữ lời. Một ngày kia ngươi sẽ chết vì Ta, vì ngươi sẽ chết để làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Khi ngươi còn trẻ, ngươi được tự do. Nhưng một ngày kia ngươi sẽ già. Lúc ấy người ta sẽ bắt ngươi, trói ngươi, và đem ngươi đến nơi mà ngươi không muốn đi”. Sau khi nghe những lời này, Phi-e-rơ nhận biết mình sẽ tuận đạo cho Chúa. Lúc ấy, Phi-e-rơ chẳng đáp vâng cũng chẳng từ chối.

Sau khi nói trước về sự tuận đạo của Phi-e-rơ, Chúa nói với ông: “Hãy theo Ta!” Tất cả chúng ta đều phải theo Chúa là Đấng cư-ngụ-bên-trong. “Ta” mà chúng ta phải theo là Đấng ở trong chúng ta. Như câu 18 cho thấy, chúng ta không được theo Chúa bởi ý riêng nhưng theo sự dẫn dắt của Ngài. Chúng ta theo Ngài thậm chí vào trong sự chết là để làm vinh hiển Đức Chúa Trời (c. 19). Hơn nữa, chúng ta phải theo Ngài mà không chú ý đến người khác. Sau khi Chúa bảo Phi-e-rơ theo Ngài, Phi-e-rơ quay qua Giăng và nói với Jesus: “Thưa Chúa, còn người này thể nào?” (c. 21). Trả lời câu hỏi ấy, Chúa đáp: “Nếu Ta muốn người đợi cho tới khi Ta đến, thì can gì với ngươi? Ngươi cứ theo Ta!” (c. 22). Chúa nói với Phi-e-rơ rằng những gì xảy đến cho Giăng không liên quan gì đến ông và ông hãy theo Ngài.

Chương này là một bức tranh cho thấy sau khi đã được Chúa tái sinh và ủy nhiệm, chúng ta phải yêu Chúa bằng bất cứ giá nào và phải theo Ngài đến cùng dầu phải hi sinh bất cứ điều gì. Khi theo Chúa như vậy, chúng ta sẽ hoàn thành mục đích nuôi chiên con Ngài, nuôi và chăn chiên Ngài.

2. Cho Thấy Một Số Môn Đồ Ngài Sẽ Sống Cho Đến Lúc Ngài Đến

Câu 23 cho thấy những gì Chúa nói với Phi-e-rơ về Giăng: “Vậy nên, lời ấy đồn ra trong anh em rằng môn đồ đó không chết; nhưng Jesus chẳng nói rằng, người đó không chết đâu, song nói: ‘Nếu Ta muốn người đợi cho tới khi Ta đến, thì can gì với ngươi?’ đó thôi” Qua lời này Chúa cho thấy một số môn đồ Ngài sẽ sống cho tới lúc Ngài đến.

3. Các Môn Đồ Theo Ngài, Sống Với Ngài Trong Sự Hiện Diện Không Thấy Được Của Ngài Và Chờ Đợi Ngài Đến Trong Sự Hiện Diện Thấy Được Của Ngài

Dường như trong phần Kinh Thánh này có một vài yếu tố mâu thuẫn. Khi Chúa nói: “Hãy theo Ta”, Ngài đang ở đó với các môn đồ. Vậy sao Ngài lại nói: “cho đến khi Ta đến”? Vì Ngài ở đó, Ngài không cần đến. Nếu Ngài có ý nói Ngài sẽ lìa họ và sau đó trở lại với họ, sao Ngài có thể nói với họ: “Hãy theo Ta”? Làm thế nào họ theo Ngài được? Khi tôi còn trẻ, điều này làm cho tôi bối rối. Tôi tự nhủ: “Nếu Chúa ở đây để chúng ta theo Ngài thì Ngài không cần phải đến. Ngài đã ở đây rồi. Nhưng nếu Ngài đến, thì Ngài phải ở xa chúng ta. Nếu vậy sao Ngài bảo chúng ta theo Ngài?” Câu trả lời cho mọi thắc mắc này là sự hiện diện không thấy được của Ngài. Theo sự hiện diện thấy được của Ngài, Ngài sẽ lìa khỏi các môn đồ và sau đó Ngài trở lại. Nhưng theo sự hiện diện không thấy được của Ngài, Ngài sẽ ở với họ luôn luôn. Một mặt, Ngài sẽ ở với họ, và mặt khác, Ngài sẽ ở xa họ. Vì vậy, một mặt, họ sẽ theo Ngài, mặt khác, họ sẽ phải chờ đợi Ngài trở lại.

Có hai phương diện về sự hiện diện của Chúa – sự hiện diện không thấy được và sự hiện diện thấy được của Ngài. Vì sự hiện diện không thấy được của Chúa, chúng ta có thể theo Ngài. Về phương diện không thấy được, Ngài ở đây và chúng ta theo Ngài. Về phương diện thấy được, Chúa không ở đây, và chúng ta phải chờ đợi Ngài trở lại. Bí quyết là sự hiện diện kỳ diệu của Chúa. Trong thời đại này, sự hiện diện không thấy được của Ngài tốt hơn sự hiện diện mắt thấy được. Sự hiện diện không thấy được của Ngài quí báu hơn, sẵn có, luôn luôn có, phong phú hơn và thực hữu hơn. Tôi hi vọng tất cả chúng ta hiểu hai phương diện này về sự hiện diện của Chúa. Về phương diện thấy được, chúng ta đang chờ đợi Ngài; về phương diện không thấy được, Ngài đang bước đi với chúng ta và chúng ta đang theo Ngài. Sau khi Ngài phục sinh, Chúa ở lại với các môn đồ bốn mươi ngày (Công. 1:3-4) để huấn luyện họ nhận biết, thực hành và sống bởi sự hiện diện không thấy được của Ngài. Trong câu 23, Chúa có ý nói vài môn đồ Ngài sẽ bước theo Ngài cho đến chết, và một số sẽ còn sống cho tới khi Ngài đến.

Giăng chương 21 là một chương rất thực tế. Chúng ta đã thấy mình được tái sinh làm con của Đức Chúa Trời, có sự sống và bản chất của Đức Chúa Trời. Do đó, chúng ta là sự bày tỏ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã giao phó cho chúng ta sứ mạng thiên thượng và thần thượng của Ngài, chúng ta phải làm để hoàn thành mục đích của Ngài, đó là nuôi chiên con của Ngài và chăn bầy của Ngài cho đến khi tất cả các con chiên được đem lại với nhau thành một Thân thể để làm nhà thuộc linh. Mặc dầu phải làm những điều ấy, chúng ta vẫn còn có vấn đề thực tế về cuộc sống của mình. Trong chương này chúng ta thấy Chúa sẽ cung cấp cho nhu cầu của chúng ta và chăm sóc cuộc sống chúng ta. Chúng ta chỉ việc phó thác cuộc sống mình vào tay Ngài và để đó. Nếu chúng ta đang theo ý muốn Ngài, chắc chắn Chúa sẽ duy trì cuộc sống chúng ta. Hơn nữa, chúng ta cũng cần nhận biết rằng mình phải chịu khổ và hi sinh cho chứng cớ Chúa, đi theo Ngài thậm chí đến chỗ chết.

Phạm vi các vấn đề được bàn đến trong chương hai mươi mốt rất rộng lớn, bắt đầu bằng sự khám phá sự kiện Chúa phục sinh và kết thúc bằng sự trở lại của Ngài. Hai chương này cho thấy mọi sự sẽ xảy đến với chúng ta ở khoảng giữa sự phục sinh của Chúa với sự tái lâm của Ngài. Giữa hai sự kiện này có mọi điều liên quan đến đời sống Cơ Đốc trong thời đại Hội thánh: tìm kiếm Chúa với lòng yêu mến Ngài, đặc biệt trong giờ thức canh buổi sáng; nhìn thấy Chúa phục sinh; nhận lãnh khải thị về kết quả sự phục sinh của Chúa là “các anh em” và “Cha” qua việc kinh nghiệm sự hiện ra của Ngài; nhóm họp với các tín đồ để vui hưởng sự hiện diện của Chúa; được Chúa thở Thánh Linh vào và được Ngài sai đi với sứ mạng và uy quyền của Ngài để đại diện cho Ngài; học cách sống bởi đức tin trong Chúa và tin cậy Ngài về cuộc sống hằng ngày của mình; yêu Chúa với sức mạnh thiên nhiên đã bị xử lý và học được bài học chịu phá vỡ, mất lòng tự tin, đặt lòng tin cậy nơi Chúa; chăn bầy để xây dựng Hội thánh; thực hành sự hiện diện không thấy được của Chúa mà trong sự thực hành ấy một số người theo Ngài thậm chí đến chỗ chết để làm vinh hiển Đức Chúa Trời, không bởi ý riêng nhưng theo sự dẫn dắt của Ngài, và một số người sẽ sống cho tới lúc Ngài trở lại.

Như chúng ta đã thấy, Phúc Âm Giăng bắt đầu với Lời trong cõi đời đời quá khứ. Sau khi trải qua tiến trình dài của sự nhục hóa, đóng đinh, và phục sinh, Lời này trở nên Linh ban-sự-sống, pneuma thánh, hơi thở thánh (20:22). Trong Hi văn, chữ pneuma được dùng chỉ về hơi thở và linh. Chính Lời đời đời đã trở nên một hơi thở như vậy, một Linh như vậy. Đó là Đức Chúa Trời đã-trải-qua-tiến-trình để chúng ta vui hưởng. Bây giờ Ngài là sự sống và Linh trong sự phục sinh, chuyển động, sống động, hoạt động và bước đi với chúng ta. Hơn nữa, Ngài nhóm họp với chúng ta luôn luôn. Là sự sống, Linh, hơi thở thánh, trong sự phục sinh Ngài thường xuyên ở với chúng ta cách không thấy được. Ngài sẽ tiếp tục ở với chúng ta một cách vô hình, cùng nhóm họp, cùng chuyển động, cùng sống, cùng công tác và cùng bước đi với chúng ta, cho đến khi Ngài đến theo cách thấy được. Đó chính là Jesus Christ mà chúng ta tin vào; chính Chúa mà chúng ta đã nhận lãnh; chính Đức Chúa Trời mà chúng ta hầu việc, thờ phượng, và vui hưởng; và chính là Linh bao-hàm-tất-cả luôn luôn ở với chúng ta và ở trong chúng ta. Ngợi khen Ngài!

Phúc Âm Giăng không có kết luận. Sách này không kết thúc, mà vẫn được Linh tiếp tục sáng tác. Có lẽ Phúc Âm Giăng ngày nay có hai hay ba ngàn chương. Sách này vẫn đang được viết ra, và chúng ta được bao gồm trong đó. Ngợi khen Chúa!