Thông tin sách

Nghiên Cứu Sự Sống Sách Giăng

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Life-Study of John
ISBN: 0-7363-0957-8
Mua sách tại:

Đang đọc: Bài 48

Untitled Document

BÀI BỐN MƯƠI TÁM

SỰ SỐNG TRONG SỰ PHỤC SINH (3)

Ý định của Thánh Linh khi viết Phúc Âm Giăng là bày tỏ cho chúng ta biết rằng chúng ta đã được làm cho trở nên con cái của Đức Chúa Trời bởi sự sống phục sinh của Đấng Christ. Điều này thật kỳ diệu và vinh hiển. Chúng ta là những con người vô giá trị, tội lỗi, thấp hèn, đê tiện, và dơ bẩn. Nhưng nhờ sự chết và sự phục sinh của Chúa, chúng ta đã được làm cho trở nên con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta có sự sống của Đức Chúa Trời, bản chất của Đức Chúa Trời, và sự đầy trọn của Đức Chúa Trời. Do đó chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời y như Con độc sinh của Ngài. Thật kỳ diệu! Chúa đã ban cho chúng ta vinh quang mà Cha đã ban cho Ngài từ cõi đời đời quá khứ. Vinh quang này là gì? Ấy là sự sống và bản chất của Đức Chúa Trời mà chúng ta đã nhận được, là điều làm cho chúng ta trở nên con cái Đức Chúa Trời để bày tỏ Ngài.

Làm con của Đức Chúa Trời đơn giản có nghĩa là giải bày và bày tỏ Đức Chúa Trời. Nói cách khác, Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời, Ngài có sự sống và bản chất của Đức Chúa Trời và Ngài chính là sự bày tỏ Đức Chúa Trời. Đó là vinh quang mà Đức Chúa Cha đã ban cho Con, và đó là vinh quang Chúa đã ban cho chúng ta bởi sự chết và sự phục sinh của Ngài. Bởi sự chết và sự phục sinh của Ngài, Chúa tuôn đổ chính Ngài ra và truyền chính Ngài vào trong chúng ta để làm cho chúng ta giống y như Ngài. Ngài là Con Đức Chúa Trời, và Ngài đã làm cho chúng ta thành các con của Đức Chúa Trời. Ngài có sự sống và bản chất của Đức Chúa Trời, và Ngài làm cho chúng ta có sự sống và bản chất của Đức Chúa Trời. Ngài chính là sự giải bày và bày tỏ Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng ta thành sự giải bày và bày tỏ Đức Chúa Trời. Vì vậy, chúng ta có cùng một sự sống, bản chất và địa vị giống như Ngài. Đó là vinh quang mà Chúa đã ban cho chúng ta. Điều này thật kỳ diệu!

Như chúng ta đã thấy, Chúa sai chúng ta y như Cha đã sai Ngài (20:21). Cha sai Ngài bằng cách ở trong Ngài và bằng cách làm một với Ngài. Cũng vậy, Đấng Christ sai chúng ta bằng cách ở trong chúng ta và làm một với chúng ta. Bây giờ chúng ta là sự giải bày và bày tỏ Đức Chúa Trời vì Con Đức Chúa Trời đã được truyền vào trong chúng ta và bây giờ Ngài đang ở trong chúng ta. Bây giờ Ngài là Linh nên Ngài ở trong chúng ta và là một với chúng ta. Do đó, chúng ta có những gì Ngài có, chúng ta ở nơi Ngài ở và chúng ta hoàn toàn giống như Ngài. Kết quả là Ngài có thể sai chúng ta và ban cho chúng ta sự ủy nhiệm thần thượng và thiên thượng. Đó là mục đích Đức Chúa Trời đã định trong cõi đời đời quá khứ. Mục đích đời đời của Đức Chúa Trời đơn giản là đem chính Ngài vào trong chúng ta, hòa lẫn chính Ngài với chúng ta để chúng ta có thể trở thành sự giải bày và bày tỏ Ngài.

Chúa đã hoàn thành tất cả những điều đó bởi sự chết và sự phục sinh của Ngài. Ngài là một hạt lúa mì sinh sôi nảy nở thành nhiều hạt bởi sự chết và sự phục sinh (12:24). Ngài là Con độc sinh được “sao lại” và gia tăng bội phần thành nhiều con (Hê. 2:10). Bởi sự phục sinh, Ngài làm cho mình kết quả nhiều, và sau khi phục sinh Ngài khải thị cho Ma-ri biết các môn đồ Ngài bây giờ là anh em Ngài (20:17). Ngài là Con độc sinh, nhưng bây giờ Ngài đã trở nên Con trưởng giữa nhiều con. Trước khi chết, Ngài là Con duy nhất của Đức Chúa Trời, không có anh em nào cả. Nhưng sau khi phục sinh, Con độc sinh đã trở nên “Con sanh đầu nhứt (hay: Con trưởng) giữa nhiều anh em” (La. 8:29). Xin xem hình ảnh minh họa của hạt lúa mì. Sau khi rơi xuống đất và chết đi, hạt lúa mì sống lại và sinh sôi nảy nở thành nhiều hạt. Hạt lúa mì đầu tiên ở đâu? Bây giờ nó ở trong nhiều hạt lúa. Thật ra, thậm chí hạt lúa mì đầu tiên chính là nhiều hạt. Trong chương mười hai, Đấng Christ là một hạt lúa, nhưng trong chương hai mươi, Ngài trở nên nhiều hạt. Sở dĩ có được như vậy chỉ là nhờ vào sự chết và sự phục sinh của Ngài. Trước chương mười tám, Ngài là Con độc sinh của Đức Chúa Trời, là sự bày tỏ duy nhất về Đức Chúa Trời. Khắp cả vũ trụ và giữa vòng toàn thể nhân loại, chỉ có một thân vị là chính hình ảnh và sự bày tỏ Đức Chúa Trời. Nhưng sau chương mười tám và mười chín, chúng ta có nhiều con của Đức Chúa Trời và nhiều sự bày tỏ về Đức Chúa Trời. Qua sự chết và phục sinh của Con độc sinh của Đức Chúa Trời, nhiều con đã được sản sinh. Một hạt lúa bây giờ đã được sinh sôi nảy nở thành nhiều hạt. Như vậy, tất cả các môn đồ của Chúa đã trở nên anh em Ngài. Những anh em này bây giờ chính là sự bày tỏ Đức Chúa Trời và bây giờ có thể đại diện cho Đức Chúa Trời Tam Nhất. Họ đã được giao thác sứ mạng thần thượng, thiên thượng để làm một điều gì trên đất này hầu qua đó giải bày và bày tỏ Đức Chúa Trời. Đó là ý nghĩa của Phúc Âm Giăng.

Vào cuối chương hai mươi, mọi sự đều kỳ diệu và hoàn chỉnh. Dường như chúng ta đã chạm được một điều gì thần thượng, thuộc linh, thiên thượng, đời đời vượt quá khái niệm của mình, và không cần phải có chương hai mươi mốt. Ý nghĩa và mục đích của chương được thêm vào này là gì? Vào cuối chương hai mươi, Chúa đã trở lại với tư cách là Linh để ở với các môn đồ và là mọi sự đối với họ. Vì vậy, Phúc âm này được kết thúc tại đó (20:30-31). Cho đến khi ấy, Phúc Âm Giăng trình bày một điều gì đó thần thượng, nhưng chúng ta thì có tính chất con người. Phúc âm này bày tỏ một điều gì đó thiên thượng, nhưng chúng ta thì vẫn còn trên đất. Phúc âm này khai mở một điều gì đó đời đời, nhưng chúng ta vẫn còn ở trong thời gian. Nói cách khác, mặc dầu đã được sinh lại làm con của Đức Chúa Trời, chúng ta vẫn ở trong thân thể vật lý này. Chúng ta là các con của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta vẫn là các con của loài người. Chúng ta đã được giao phó một sứ mạng thiên thượng, nhưng chúng ta vẫn phải có cái ăn và sinh sống. Làm thế nào các môn đồ có thể kiếm sống? Họ phải làm gì để thực hiện sứ mạng Chúa giao? Họ phải theo Ngài như thế nào sau khi Ngài đã sống lại? Tương lai họ sẽ ra sao? Cần phải có một chương nữa để giải quyết những vấn đề này. Vì vậy, chương hai mươi mốt bàn đến một vài vấn đề rất thực tế. Chúng ta không thể cứ ngồi đó, ngợi khen Chúa và la lên “Ha-lê-lu-gia, mọi sự là kỳ diệu, thiên thượng, thần thượng và đời đời! Ô, bây giờ chúng ta là các con của Đức Chúa Trời! Chúng ta có sự sống và bản chất của Đức Chúa Trời, chúng ta có vinh quang của Đức Chúa Trời, và chúng ta là những đại diện của Đức Chúa Trời và là biểu hiện của Ngài!” Nhưng còn ngày mai thì sao? Chúng ta sẽ ăn gì? Chúng ta kiếm đâu ra tiền để mua thức ăn? Chúng ta không thể kiêng ăn mãi. Vì có thêm những nan đề này mà chúng ta có chương hai mươi mốt để giúp chúng ta chăm lo cho cuộc sống của mình, gia đình của mình và cho nhiều điều khác trên trái đất.

Nếu so sánh mức độ của các chương hai mươi và hai mươi mốt, chúng ta sẽ thấy mức độ của chương hai mươi rất cao, còn mức độ của chương hai mươi mốt dường như quá thấp. Lý do là vì chương cuối cùng bàn về những vấn đề thực tế như cuộc sống và sự ăn uống của chúng ta. Chúng ta kiếm sống cách nào là điều rất thực tế. Chúng ta cần hiểu lý do vì sao chương hai mươi mốt theo sau chương hai mươi, vì sao có thêm một chương nữa theo sau phần kết luận. Chương này đơn giản cho thấy rằng sau khi đã được tái sinh cách kỳ diệu và thần thượng làm các con của Đức Chúa Trời, chúng ta vẫn còn ở trong thế giới này, chúng ta vẫn còn sống trên trái đất này, chúng ta vẫn còn ở trong thời gian, chúng ta vẫn có những nhu cầu thực tế và chúng ta vẫn gặp một vài nan đề thực tế cần được giải quyết. Vì vậy, Thánh Linh tiếp tục viết thêm một chương nữa.

V. CHUYỂN ĐỘNG VÀ SỐNG VỚI CÁC TÍN ĐỒ

Trong Giăng 21:1-14 chúng ta thấy Chúa di chuyển và sống với các tín đồ. Trong sự phục sinh, Chúa không những nhóm họp với các anh em mà còn đi theo và sống với họ. Không những Ngài có mặt với chúng ta khi chúng ta nhóm họp; Ngài cũng ở với chúng ta ngay trong bước đi hằng ngày của chúng ta. Bất cứ chúng ta đi đâu. Ngài đi theo đó. Bất cứ chúng ta làm gì, Ngài đều ở đó với chúng ta. Dầu chúng ta đúng hay sai, Chúa đều ở với chúng ta.

A. Đi Ra Biển Với Các Môn Đồ

Trong Giăng 21:1-11, Chúa di chuyển ra biển với các môn đồ, và bày tỏ chính Ngài một lần nữa cho họ tại biển Ti-bê-ri-a. Phi-e-rơ, là anh em lãnh đạo, đi đầu trong tình trạng sa sút mà rơi vào trong thế gian, ông nói: “Tôi đi đánh cá” (21:3). Sáu môn đồ khác nói: “Chúng tôi cũng đi với anh”. Không những sáu môn đồ đi theo Phi-e-rơ, mà ngay cả Chúa cũng theo ông. Chúa không nói với Phi-e-rơ: “Phi-e-rơ, ngươi đang làm gì đó? Ngươi thối lui trước sự kêu gọi của Ta sao? Ngươi trở lại biển sao? Ta sẽ không bao giờ đi với ngươi. Nếu ngươi đi đến đó, ngươi phải đi một mình”. Có lẽ vài người nói: “Nếu tôi đi xem xi-nê, Chúa Jesus có đi đến đó với tôi không?” Có, Ngài sẽ đi với anh em. Ngài không những ở với anh em trong phòng nhóm mà còn ở với anh em trong rạp xi-nê. Nhưng Ngài không đi với anh em đến rạp xi-nê để ban sự bình an cho anh em, mà để quấy rối anh em, khuấy động anh em, và bảo anh em hãy lìa khỏi nơi đó. Vì Ngài sẽ ở với anh em trong rạp xi-nê, nên anh em không bao giờ có thể vui hưởng ngọt ngào ở đó. Cuối cùng anh em sẽ nói: “Tôi phải thôi xem phim này, vì Jesus không chịu để tôi yên”. Đó là sự sống trong sự phục sinh. Trong sự phục sinh, Chúa Jesus đi ra biển cùng với các môn đồ.

1. Lại Hiện Ra Để Huấn Luyện Các Môn Đồ Nhận Biết Sự Hiện Diện Mắt Không Thấy Được Của Ngài

Câu 1 chép: “Sau các việc ấy, Jesus lại bày tỏ chính Ngài cho các môn đồ tại biển Ti-bê-ri-a”. Điều này chứng minh rằng Ngài đến với các môn đồ trong Giăng 20:26 thật sự là một sự bày tỏ, vì ở đây nói rằng Ngài “lại bày tỏ chính Ngài”. Một lần nữa, Ngài huấn luyện họ thực hành sự hiện diện không thấy được của Ngài. Vấn đề không phải là Ngài đến mà là Ngài bày tỏ chính Ngài ra. Dầu họ có ý thức được sự hiện diện của Ngài hay không, Ngài vẫn ở với họ luôn luôn. Nhưng vì sự yếu đuối của họ, thỉnh thoảng Ngài bày tỏ sự hiện diện của Ngài ra để củng cố đức tin của họ nơi Ngài.

2. Huấn Luyện Các Môn Đồ Sống Bởi Đức Tin Nơi Ngài

Chúa bày tỏ chính Ngài cho các môn đồ trong chương hai mươi mốt để huấn luyện họ, đặc biệt là Phi-e-rơ, sống bởi đức tin nơi Ngài. Giăng 21:2-14 bày tỏ hai điều chính: sự yếu đuối của những người được tái sinh, tức những người được giao phó sứ mạng thiên thượng của Đức Chúa Trời, và sự cung ứng đầy-đủ-tất-cả của Chúa, tức Đấng có thể giúp chúng ta sống trên trái đất này cho sự ủy thác của Ngài, cho mục đích của Ngài và cho chứng cớ của Ngài. Trước hết chúng ta hãy xem xét sự yếu đuối của những người đã được Đức Chúa Trời tái sinh và ủy nhiệm.

a. Phi-e-rơ Và Những Môn Đồ Khác Sa Sút Trở Về Nghề Cũ, Bỏ Sự Kêu Gọi Của Chúa

Vào đầu chương này, chúng ta thấy bức tranh về bảy môn đồ dưới sự lãnh đạo của Phi-e-rơ (cc. 2-3). Đi cùng với Phi-e-rơ có Thô-ma, Na-tha-na-ên, các con trai Xê-bê-đê và hai môn đồ khác. Số bảy tượng trưng cho cả Thân thể. Cả Thân thể và người lãnh đạo đi đâu vậy? Họ sa sút, bỏ sự kêu gọi của Chúa mà trở về nghề cũ (Mat. 4:19-20; Lu. 5:3-11). Phi-e-rơ nói với sáu môn đồ kia: “Tôi đi đánh cá” (c. 3). Mục đích của ông khi đi đánh cá như vậy là để kiếm sống, để tìm miếng ăn. Tất cả những môn đồ kia nói: “Chúng tôi cũng đi với anh” (c. 3). Vì Phi-e-rơ là người lãnh đạo, những người kia đi đánh cá dưới sự lãnh đạo của ông. Như vậy, cả Thân thể đi đánh cá, quên mất sứ mạng thần thượng của mình. Chúa dạy họ hãy ở lại Giê-ru-sa-lem vì họ đã được ủy thác sứ mạng (Lu. 24:49). Chúa bảo hãy ở lại Giê-ru-sa-lem chờ đợi ngày tất cả đều sẽ được mặc lấy quyền năng thiên thượng từ trên cao. Nhưng bức tranh trong chương hai mươi mốt cho thấy các môn đồ lìa khỏi vị trí ấy, bỏ chỗ đứng ấy. Qua việc lìa khỏi Giê-ru-sa-lem và đến Ga-li-lê, họ từ bỏ vị trí của mình. Họ đã quyết định ra biển đánh cá. Phi-e-rơ và những môn đồ khác đi đánh cá vì cuộc sống của mình. Có lẽ họ không còn đủ thức ăn và rất lo lắng về tình trạng đó. Có lẽ Phi-e-rơ nói: “Chúng ta chỉ còn đủ thực phẩm cho một bữa ăn. Tôi không biết bữa ăn kế tiếp sẽ đến từ đâu. Tôi đi đánh cá đây”. Không những sáu môn đồ cùng đi đánh cá với Phi-e-rơ, mà Chúa Jesus cũng đi nữa.

b. Phép Lạ Là Những Tay Đánh Cá Chuyên Nghiệp Không Đánh Được Cá

Trong câu 3 chúng ta được biết các môn đồ “xuống thuyền và đêm đó không bắt được gì cả”. Phi-e-rơ và các con trai Xê-bê-đê (Giăng và Gia-cơ) là những người đánh cá chuyên nghiệp, biển Ti-bê-ri-a thì rộng lớn và đầy cá, và ban đêm là thời điểm tốt nhất để đánh cá, nhưng suốt cả đêm họ không bắt được con nào. Là những người chuyên đánh cá, họ biết ban đêm là lúc tốt nhất để đánh cá. Nhưng dầu biển đầy cá, họ không bắt được một con nào cả. Suốt cả đêm họ ném lưới rồi lại ném lưới, nhưng không bắt được gì. Chắc hẳn Chúa có quyền tể trị để điều khiển mọi đàn cá, giữ chúng xa khỏi lưới của họ. Có lẽ Chúa Jesus ra lệnh cho cá: “Cá, hãy tránh xa khỏi lưới này”.

Phép lạ không bắt được cá là một bài học cho Phi-e-rơ và các môn đồ khác, đó cũng là bài học cho chúng ta ngày nay. Chúng ta không nên nghĩ rằng mình có thể đơn giản đi ra, tìm một việc làm và kiếm sống. Nếu Chúa ngăn tất cả việc làm xa khỏi chúng ta, thì chúng ta không bao giờ tìm được một việc làm nào cả. Đừng nghĩ rằng anh em có thể đi biển và đánh cá dễ dàng. Nếu việc đánh cá của chúng ta ở dưới sự dẫn dắt của Chúa và theo ý muốn Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ bắt được một ít cá. Nhưng nếu không theo ý Chúa mà chúng ta lại tự mình ra đi, thì tất cả những con cá sẽ sợ sệt tránh đi và bị giữ xa khỏi chúng ta theo quyền tể trị của Ngài. Là những Cơ Đốc nhân đã được Chúa tái sinh và ủy nhiệm, chúng ta phải đi và làm những điều theo ý muốn của Ngài, ngay cả trong vấn đề kiếm sống. Vì chúng ta đã được tái sinh và Chúa đã giao phó cho chúng ta một sứ mạng thần thượng, thiên thượng, nên chúng ta phải bước đi theo ý muốn của Ngài. Chúng ta không nên nghĩ đến việc làm ăn kiếm sống cách thiên nhiên. Những người khác có thể làm như thế, nhưng chúng ta thì không. Có lẽ có rất nhiều người vô tín đánh cá trên biển Ti-bê-ri-a cùng lúc với các môn đồ, và có lẽ họ bắt được nhiều cá. Còn những môn đồ có đức tin này lao khổ suốt đêm, và cá chỉ lánh xa họ mà thôi. Đó là một phép lạ. Vì vậy đừng nghĩ chúng ta cứ việc đi ra biển mà đánh cá. Nếu tự mình làm việc ấy, có lẽ cuối cùng chúng ta sẽ không được gì cả.

Câu 4 và 5 chép: “Đến rạng đông Jesus đứng trên bờ, nhưng môn đồ không biết đó là Jesus. Jesus bèn hỏi họ rằng: ‘Các con ơi, có chi ăn không?’ Thưa rằng: ‘Không’ ”. Chúa Jesus hiện ra vào lúc “rạng đông”. Chúa không đến – Ngài hiện ra. Trong câu 14, chúng ta được biết “Jesus được bày tỏ cho các môn đồ”. Trước khi Chúa Jesus đứng trên bờ, Ngài đã ở đó rồi. Khi các môn đồ đang ở trong thuyền đánh cá, Chúa cũng đã ở đó, vì Ngài ở trong họ. Nhưng vào thời điểm cụ thể này, Chúa hiện ra và bày tỏ chính Ngài cho họ.

c. Các Môn Đồ Có Cá Khi Họ Ở Trong Vị Trí Đúng Đắn

Chúng ta có thể so sánh Giăng 21:5 với Lu-ca 24:41-43. Khi các môn đồ ở trong vị trí đúng đắn, như trong Lu-ca 24:41-43, dầu là ở trong nhà, họ có dư dật cá, và họ dâng một miếng cho Chúa. Nhưng ở đây họ sống trong một tình trạng sa sút. Vì thế, dầu ở trên bờ biển, sau khi đánh cá cả đêm, họ vẫn không có cá, dầu một miếng cũng không. Không những họ không có gì để dâng cho Chúa; họ cũng không có gì để nuôi mình. Chúa hỏi họ có cá ăn không, và họ đáp: “Không”. Câu trả lời của họ chắc hẳn đã làm họ cảm thấy rất xấu hổ. Nếu tôi là Phi-e-rơ, chắc tôi rất xấu hổ khi trả lời câu hỏi của Chúa.

d. Phép Lạ Bắt Được Cá Cách Dư Dật Theo Lời Chúa

Câu 6 chép: “Ngài bảo rằng: ‘Hãy thả lưới bên hữu thuyền, thì các ngươi sẽ được’. Vậy, họ bèn thả lưới xuống, mà không thể kéo lên nổi, vì nhiều cá quá”. Buổi sáng (c. 4) không phải là thời điểm tốt để đánh cá, nhưng khi các môn đồ theo lời Chúa mà thả lưới, thì họ bắt được rất nhiều cá. Chắc chắn đó là một phép lạ. Chắc hẳn Chúa đã truyền cho cá đi vào lưới của họ. Qua phép lạ này, mắt họ mở ra, và “môn đồ mà Chúa thương yêu bèn nói với Phi-e-rơ rằng: Ấy là Chúa!” (21:7). Người đầu tiên nhận ra Chúa là Giăng. Khi Phi-e-rơ nhận ra đó là Chúa, ông nhảy xuống biển và đến với Ngài. Còn các môn đồ khác vào chiếc thuyền nhỏ, kéo theo lưới đầy cá.

e. Kêu Gọi Và Phục Hồi Phi-e-rơ Bằng Phép Lạ Đánh Cá

Trong Lu-ca 5:3-11, Chúa kêu gọi Phi-e-rơ bằng một phép lạ đánh cá. Ở đây Ngài cũng phục hồi ông bằng một phép lạ đánh cá. Ngài không thay đổi mục đích của mình.

f. Phép Lạ Có Cá Dọn Sẵn Trên Đất Liền

Khi các môn đồ lên đất liền, họ “thấy tại đó có lửa than, trên để cá và bánh” (c. 9). Phi-e-rơ và các môn đồ thấy rõ cá trên lửa than và bánh. Không cần phải bắt con cá nào dưới biển, vì đã có cá trên lửa than rồi. Chúa làm phép lạ này để dạy các môn đồ rằng nếu ở trong ý muốn của Ngài, họ sẽ tìm được cá ở bất cứ nơi nào, ngay cả trên đất liền. Nhưng nếu không ở trong ý muốn của Ngài, họ sẽ không bắt được con cá nào dầu có ra biển. Bắt cá không tùy thuộc phương cách thiên nhiên, mà tùy thuộc ý muốn của Chúa. Ngài là uy quyền tối cao, và mọi sự ở dưới sự cai trị của Ngài. Thậm chí tại một nơi, theo thiên nhiên, người ta nghĩ không có cá, Chúa cũng sẽ chuẩn bị cá cho chúng ta. Đó không phải cá dưới biển; đó là cá đã được nấu nướng và dọn sẵn cho chúng ta.

Trong chương này, chúng ta thấy ba phép lạ chỉ về ba dấu hiệu: phép lạ không có cá (c. 3), phép lạ nhiều cá (c. 6), và phép lạ có cá trên lửa than và bánh (c. 9). Ở đây Chúa huấn luyện Phi-e-rơ tin nơi Ngài [là Đấng có thể lo liệu] cho cuộc sống của ông. Phi-e-rơ và những người ở với ông đánh cá suốt đêm, nhưng không bắt được gì cả. Sau đó, theo lời Chúa, họ bắt được cá cách dư dật. Nếu không có những con cá này, thậm chí trên đất là nơi không có cá, Chúa cũng đã dọn sẵn cá và ngay cả bánh cho họ. Đó là một phép lạ. Qua đó, Chúa huấn luyện họ nhận biết rằng nếu không có sự dẫn dắt của Ngài, dầu họ đi ra biển là nơi có cá, vào ban đêm là thời giờ thuận tiện để đánh cá, họ cũng không thể bắt được gì cả. Tuy nhiên, với sự dẫn dắt của Ngài, ngay cả trên đất là nơi không có cá, và vào buổi sáng, không phải là lúc đánh cá, Chúa vẫn cung ứng cá cho họ. Dầu họ bắt được nhiều cá theo lời Chúa, Ngài không dùng cá ấy cho họ ăn. Đó thật là một bài học cho Phi-e-rơ. Ông nên tin nơi Chúa là Đấng “gọi những sự không có như đã có” (La. 4:17) cho cuộc sống của mình.

B. Sống Với Các Môn Đồ

Chúa không những chuyển động với các môn đồ; Ngài còn sống với họ nữa. Trong các câu từ 12 đến 14, Chúa chuẩn bị bữa ăn sáng và dọn cho các môn đồ. Lời Chúa: “Hãy lại ăn bữa sáng” bày tỏ sự chăm sóc nhân từ của Ngài đối với các nhu cầu của những người Ngài đã kêu gọi. Chúa không nói: “Phi-e-rơ ơi, bữa ăn sáng đã dọn sẵn rồi. Hãy tự lấy ăn”. Không, câu 13 chép: “Jesus đến, lấy bánh và cá cho họ”. Bánh tượng trưng cho sự phong phú của đất, và cá tượng trưng cho sự phong phú của biển do Chúa dự bị. Chúa thật tốt lành biết bao! Ngài phục vụ các môn đồ trong giờ ăn sáng. Hình ảnh này tốt hơn một ngàn lời nói. Mặc dầu Chúa không quở trách Phi-e-rơ, tôi tin rằng Phi-e-rơ không bao giờ quên được bài học này. Nếu là Phi-e-rơ, anh em sẽ cảm thấy như thế nào? Nếu là Phi-e-rơ, tôi sẽ che mặt lại vì xấu hổ. Tôi sẽ không biết phải nói gì với Chúa. Có lẽ Phi-e-rơ nói: “Chúa có khỏe không?” hay “Chúa ơi, con xin lỗi vì đã bỏ vị trí đúng đắn của mình để đến đây đánh cá”. Mặc dầu Phi-e-rơ không còn mặt mũi nào mà ăn, nhưng có lẽ ông quá đói nên phải ăn. Có lẽ Phi-e-rơ không ăn nhiều, và vừa ăn vừa hổ thẹn. Phi-e-rơ ở trong một tình huống lúng túng ngượng nghịu. Một mặt, ông có cá trong tay do Chúa nấu nướng, mặt khác, ông thấy thật nhiều cá trong lưới. Đó là vinh quang cho Chúa, nhưng thật là một bài học cho Phi-e-rơ.

Đây là một bài học rất lý thú. Chúng ta không cần một lời mô tả nào; chúng ta chỉ cần nhìn vào bức tranh ấy. Chúa cho họ thấy một ít cá đã được dọn sẵn. Như vậy, họ không cần ra biển. Thật ra, Chúa có ý nói: “Nếu Ta muốn các ngươi đi biển bắt cá, thì Ta sẽ bảo các ngươi làm điều ấy. Hãy nhìn một trăm năm mươi ba con cá này. Không cần có những con cá ấy, vì Ta đã chuẩn bị một ít cá cho các ngươi rồi”. Một lần nữa, tôi xin nói nếu là Phi-e-rơ thì tôi sẽ rất xấu hổ. Một mặt, tôi cảm tạ Chúa, nhưng mặt khác chắc hẳn tôi tự nhủ: “Sao mình ngu dại thế! Mình không cần đến đây đánh cá ngoài ý muốn của Chúa”.

Cuộc sống của chúng ta là một vấn đề rất thực tế. Đó là lý do vì sao Phúc Âm Giăng có thêm chương này. Vì là con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta đã được tái sinh và được giao phó nhiệm vụ thần thượng, chắc chắn Chúa sẽ chăm sóc cuộc sống của chúng ta. Chúng ta phải học bài học không vì cuộc sống của mình mà từ bỏ nhiệm vụ Chúa giao. Chúng ta không được bỏ gánh nặng của Chúa để lo sinh sống. Chúng ta không phải là người thế gian; chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Trước hết chúng ta phải tìm kiếm vương quốc của Đức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, rồi Chúa sẽ cung cấp thêm những điều thực tế cho chúng ta (Mat. 6:33). Ngài sẽ chăm sóc nhu cầu của chúng ta. Nếu thật sự được Chúa giao nhiệm vụ vì gánh nặng của Ngài, công tác của Ngài, và chứng cớ của Ngài, chúng ta được bình an, yên nghỉ vì chắc chắn Chúa sẽ cung cấp cho chúng ta điều chúng ta cần. Đó là bài học trong phân đoạn này của Giăng chương 21.

Hãy xem bức tranh này một lần nữa. Các môn đồ đã lao nhọc suốt đêm mà không bắt được gì. Rồi Chúa hiện ra cho họ, bảo họ ném lưới bên phải thuyền, và họ bắt được rất nhiều cá. Tuy nhiên, những con cá ấy không cần thiết, vì Chúa đã nấu dọn sẵn một số cá, cũng như một ít bánh cho họ ăn. Đó không phải là một bài học bằng lời nói, mà là một bài học qua phép lạ. Chúa không dạy Phi-e-rơ và các môn đồ khác bằng cách thuyết trình, giảng dạy hay ban sứ điệp. Ngài cho họ một bài học bằng ba phép lạ. Phép lạ thứ nhất là bảy người đánh cá suốt đêm mà không bắt được con cá nào, dầu một con cũng không. Phép lạ thứ hai là cuối cùng họ bắt được một trăm năm mươi ba con cá trong một mẻ lưới theo lời Chúa phán. Phép lạ thứ ba là Chúa đã nấu dọn một ít cá và bánh trên đất mà không dùng đến những con cá bắt được từ dưới biển. Chúa đã dạy cho các môn đồ một bài học bằng ba phép lạ.

Ở đây các môn đồ học biết họ phải chăm lo sứ mạng Chúa giao và tin cậy Chúa về cuộc sống của mình. Chúng ta phải chăm lo cho công tác và chứng cớ của Chúa thay vì cho cuộc sống của mình. Nếu từ bỏ sứ mạng Chúa giao để chăm lo cuộc sống của mình, chúng ta sẽ thất bại. Trong Giăng 21:2-14, Chúa ban cho các môn đồ một bài học về phương kế để duy trì sự sống mình, Ngài cho họ thấy cuộc sống của họ không tùy thuộc vào phương tiện thiên nhiên của họ mà tùy thuộc vào ý muốn của Chúa. Nếu chúng ta ở trong ý muốn của Chúa và theo ý muốn của Chúa, Ngài sẽ lo liệu cuộc sống của chúng ta thậm chí tại những nơi không ai lo liệu được. Nhưng nếu chúng ta theo phương cách thiên nhiên và đi ra biển, tức là đi vào thế gian, để làm ăn sinh sống, chắc chắn chúng ta sẽ gặp thất bại. Nếu đã được Chúa kêu gọi, chúng ta không nên lo âu về cuộc sống của mình. Chúa Jesus có cách nấu dọn cá mà không cần đi đánh cá. Ngài sẽ lo vấn đề thức ăn cho chúng ta, vì Ngài là Đấng gọi những sự không có như đã có. Chúa là Đấng kêu gọi chúng ta sẽ lo liệu cho cuộc sống của chúng ta.