Thông tin sách

Nghiên Cứu Sự Sống Sách Giăng

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Life-Study of John
ISBN: 0-7363-0957-8
Mua sách tại:

Đang đọc: Bài 45

Untitled Document

BÀI BỐN MƯƠI LĂM

SỰ SỐNG TRẢI QUA MỘT TIẾN TRÌNH ĐỂ GIA TĂNG BỘI PHẦN (4)

Bài này là phần tiếp theo bài bốn mươi bốn.

D. Được Những Người Tìm Kiếm Khám Phá

Mặc dầu sự phục sinh của Chúa đã hoàn tất, các môn đồ Ngài cần phải tìm kiếm để khám phá ra sự phục sinh ấy. Những người tìm kiếm Chúa Jesus với lòng yêu mến Ngài đã khám phá ra sự phục sinh. Giăng chương 20 cho thấy loại người nào sẽ nhận biết sự phục sinh của Chúa, ấy là loại người mà khải tượng về sự phục sinh được bày tỏ cho họ. Làm thế nào chúng ta có được khải thị về sự phục sinh của Chúa? Có một sự thật kỳ diệu và huyền nhiệm là sự phục sinh của Chúa đã hoàn tất trong vũ trụ này. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể biết được điều đó? Làm thế nào điều đó được bày tỏ cho chúng ta? Làm thế nào chúng ta có được khải tượng này? Chỉ bằng cách yêu Chúa và tìm kiếm Ngài. Sự kiện phục sinh của Chúa đã hoàn tất, nhưng sự kiện ấy phải được khám phá và nhìn thấy. Trước khi Ma-ri Ma-đơ-len đến mộ, sự phục sinh trong sự sống thật sự đã hoàn tất. Nhưng Ma-ri cần phải khám phá ra sự thật ấy bằng cách yêu Chúa và tìm kiếm Ngài. Điều đó đã lập nên một nguyên tắc. Ngày nay sự phục sinh của Đấng Christ là một sự kiện đã hoàn tất, nhưng rất nhiều người chưa nhìn thấy. Họ chưa bao giờ đi đến chỗ khám phá ra sự thật ấy. Anh em có khám phá ra sự thật về sự phục sinh của Đấng Christ chưa? Anh em đã nhận được khải thị hay khải tượng rằng Chúa đã phục sinh chưa? Tôi biết anh em có kiến thức, giáo lý và câu chuyện về sự phục sinh, nhưng anh em có khám phá ra sự thật về sự phục sinh trong linh chưa? Nếu muốn khám phá được điều ấy, trước hết chúng ta phải yêu Chúa và tìm kiếm Ngài.

Tại sao khi đến một buổi nhóm, anh em không có gì để cung ứng hay làm chứng? Đơn giản vì anh em chưa khám phá và thiếu sự khải thị. Hãy nhìn Ma-ri. Cô đã làm gì sau khi khám phá ra điều này? Cô chạy đến các môn đồ để nói một điều gì đó mới mẻ với họ. Tôi chắc rằng khi gặp Chúa vào buổi sáng và khám phá được điều gì mới mẻ về Ngài, chắc chắn anh em sẽ đến buổi nhóm tối và bật ra nói với chúng tôi một điều gì đó. Sự khám phá thuộc linh, sự khải thị thuộc linh, khải tượng thuộc linh, tùy thuộc rất nhiều vào việc tìm kiếm Chúa. Nếu không tìm kiếm Chúa, anh em khó có thể chia sẻ điều gì về Ngài.

Ma-ri Ma-đơ-len không có kiến thức. Cô tuyệt đối ở trong sự sống và hoàn toàn không ở trong cây kiến thức. Cô không biết gì cả. Theo sự suy nghĩ của loài người, đến mộ như cô là điều khờ dại, nhất là lại đến mộ vào lúc sáng sớm. Tuy nhiên, cô là người đầu tiên khám phá ra sự thật về sự phục sinh của Chúa.

Các chị em ơi, có thể các chị em rất yêu Chúa và là những người đầu tiên thấy sự thật về sự phục sinh của Ngài, nhưng giống như Ma-ri, các chị em vẫn cần được các anh em giúp đỡ. Ngay lập tức, Ma-ri chạy đến với hai anh em lãnh đạo, là Phi-e-rơ và Giăng, nói cho họ biết khám phá của mình. Thật thích thú khi chúng ta thấy chỉ có hai môn đồ đáp ứng và đi đến mộ khi Ma-ri đến gặp họ. Tại sao những người khác không đi? Có lẽ một mặt họ không tìm kiếm, và mặt khác, họ lười biếng. Có lẽ họ yêu cái giường của mình. Chỉ có Phi-e-rơ và Giăng chạy đến mộ để xem điều Ma-ri đã khám phá. Có thể vì trẻ tuổi hơn Phi-e-rơ, Giăng chạy nhanh hơn và đến mộ trước, nhưng vì một lý do nào đó, ông không bước vào trước. Là người kinh nghiệm hơn, Phi-e-rơ bước vào mộ trước tiên. Khi hai anh em thấy vải lanh và khăn quấn đầu gấp lại và được đặt ngăn nắp, gọn gàng trong mộ, họ sáng tỏ rằng Chúa hẳn đã phục sinh từ người chết. Họ sáng suốt hơn người chị em khờ dại đã nói với họ: “Họ đã đem Chúa ra khỏi mộ, và chúng tôi không biết họ để Ngài ở đâu” (20:2). Có lẽ Phi-e-rơ nói: “Tôi thông cảm với chị em khờ dại của tôi và không trách chị đâu. Nhưng bây giờ tôi nhận biết Chúa không bị người ta đem đi. Hãy nhìn vải liệm của Ngài. Chắc chắn Ngài đã bước ra khỏi mộ”.

Điều này cho chúng ta một hình ảnh về cách tìm kiếm Chúa. Người đầu tiên thấy mộ là Ma-ri, và người đầu tiên bước vào mộ là Phi-e-rơ. Ở đây các anh em thật sự là các anh em vì họ sáng suốt hơn và dễ tin vào sự thật hơn các chị em. Hai anh em thấy ngôi mộ trống, vải lanh, và khăn, thì họ hiểu rõ rằng Chúa chắc hẳn đã sống lại. Mặc dầu trông thấy sự kiện, nhận biết sự kiện và tin vào sự kiện cách khách quan, họ không kinh nghiệm cách chủ quan. Sau khi thỏa mãn với sự kiện khách quan, họ lìa khỏi mộ. Nhưng Ma-ri, là chị em, vẫn lần lữa, vì cô vẫn chờ đợi, nhìn xem và trông mong. Do tìm kiếm thêm mà cô được kinh nghiệm sự phục sinh của Chúa. Vì Chúa đã bày tỏ chính Ngài cho cô, cô không chỉ nhận được sự kiện mà còn nhận được kinh nghiệm. Cô là người đầu tiên kinh nghiệm Chúa phục sinh.

Ở đây chúng ta thấy một bức tranh tiết lộ hai phương diện liên quan đến Chúa – sự kiện và kinh nghiệm. Anh em có thể tin vào sự kiện nhưng không có kinh nghiệm. Phi-e-rơ và Giăng nhận thức và tin vào sự kiện, nhưng họ thiếu kinh nghiệm về Chúa phục sinh. Ma-ri có cả sự kiện lẫn kinh nghiệm. Thí dụ, có thể anh em có sự kiện về sự đóng đinh của Chúa nhưng không kinh nghiệm thập tự giá. Theo nguyên tắc tương tự, anh em có thể có sự kiện về sự phục sinh của Chúa nhưng không kinh nghiệm Chúa phục sinh. Chúng ta cần cả sự kiện lẫn kinh nghiệm. Trước hết Ma-ri thấy sự kiện được bày tỏ ra, nhưng cô không thỏa mãn với sự kiện suông. Cô đi xa hơn và nhận được kinh nghiệm về Chúa phục sinh.

Theo lệ thường, các anh em thường rất khách quan và các chị em rất chủ quan. Theo nguyên tắc của Kinh Thánh, đàn ông luôn luôn đại diện cho lẽ thật khách quan và phụ nữ luôn luôn đại diện cho kinh nghiệm chủ quan. Để minh họa, chúng ta thấy Áp-ra-ham đại diện cho giáo lý về đức tin hay lẽ thật về đức tin, nhưng Sa-ra đại diện cho kinh nghiệm về sự vâng phục. Đức tin có liên quan đến lẽ thật và có tính cách khách quan; sự vâng phục liên quan đến kinh nghiệm và có tính cách chủ quan. Tương tự như vậy, Phi-e-rơ và Giăng tin vào sự kiện về sự phục sinh của Chúa cách khách quan, nhưng Ma-ri kinh nghiệm sự phục sinh của Ngài cách chủ quan. Ngày nay nhiều Cơ Đốc nhân chưa bao giờ thấy sự kiện về sự phục sinh của Chúa. Trong khi một số ít rõ ràng được biết về sự phục sinh của Ngài, nhưng họ chỉ biết, mà không kinh nghiệm.

Trong nếp sống Hội thánh, các anh em luôn luôn sáng suốt hơn các chị em. Họ sáng suốt về lẽ thật và về sự kiện, nhưng họ không quan tâm nhiều đến kinh nghiệm. Có lẽ Phi-e-rơ nói với Giăng: “Chắc chắn Chúa đã từ người chết sống lại. Chúng ta đừng phí thì giờ ở đây làm chi, thôi mình về đi”. Mặc dầu hai anh em lãnh đạo ra về, Ma-ri, chị em khờ dại ấy, vẫn ở lại đó khóc lóc. Có lẽ Ma-ri nói: “Ai đem Chúa tôi đi rồi? Tôi muốn biết bây giờ Ngài ở đâu”. Nhưng hai anh em kia không thể giúp chị. Nhiều khi trong nếp sống Hội thánh, các anh em không thể giúp đỡ các chị em. Vì cho rằng họ khờ dại, chúng ta để họ ở đó và về nhà nghỉ ngơi. Chúng ta đã rõ về La Mã chương 6, chúng ta đã thấy và tin vào sự kiện. Tại sao các chị em phải phí thời giờ khóc lóc cầu nguyện như vậy? Đó là tình trạng thật tại mỗi Hội thánh địa phương. Tất cả các anh em lãnh đạo đều là những người sáng suốt, và tất cả các chị em đều là những người hay khóc. Tuy nhiên, cuối cùng những người khờ dại, khóc lóc có được kinh nghiệm. Họ không quan tâm đến lẽ thật, sự kiện, hay thậm chí đức tin. Họ chỉ muốn thật sự chạm đến Chúa hằng sống, họ tuyên bố: “Tôi không quan tâm đến vải liệm. Tôi chỉ quan tâm đến Ngài. Tôi muốn ở với Ngài và chạm đến Ngài. Hãy nói cho tôi biết các anh để Ngài ở đâu?” Các chị em thường cầu nguyện như vậy trong các buổi nhóm cầu nguyện. Suốt bốn mươi năm qua, nhiều lần tôi thấy khó chịu vì những lời cầu nguyện khờ dại, khóc lóc. Nhưng anh em chúng ta phải học tập đừng đổ lỗi hay trách móc các chị em. Chúng ta phải quí báu sự kiện mình có nhiều chị em khờ dại, khóc lóc, tìm kiếm, vì họ là những người đầu tiên có kinh nghiệm thật về Chúa phục sinh.

Có lẽ chính Chúa Jesus không dự định gặp một môn đồ nào. Là trái đầu mùa của sự phục sinh, Ngài cần trình diện Cha trong tình trạng mới mẻ, tươi mát của mình. Trước hết Ngài không nên gặp ai khác hơn là Cha. Nhưng do lòng tha thiết tìm kiếm của chị em này, Chúa Jesus không thể ở xa được. Do đó Ngài hiện ra cho Ma-ri. Khi Ma-ri hết sức cố gắng chạm đến Ngài, dường như Chúa nói: “Không, Ta chỉ cho ngươi thấy Ta thôi. Đừng chạm đến Ta. Tình trạng tươi mới của Ta trong sự phục sinh phải dành cho Cha. Sau khi Ta trình dâng tình trạng tươi mới của sự phục sinh cho Cha rồi, Ta sẽ trở lại với ngươi. Đó sẽ là lúc các ngươi vui hưởng sự phục sinh của Ta”. Các anh em phải học bài học của các chị em. Trong nhiều trường hợp, anh em chúng ta chỉ giữ các sự kiện bằng đức tin, nhưng chúng ta không kinh nghiệm được như các chị em.

Nếu muốn thấy thêm về Chúa, chúng ta phải tương giao với Ngài nhiều hơn. Ma-ri thấy Chúa, đó là giờ thức canh cầu nguyện tốt nhất vào buổi sáng. Trong giờ thức canh cầu nguyện vào buổi sáng, Ma-ri gặp Chúa và Chúa gặp cô; cô cầu nguyện với Chúa và Chúa nói với cô; cô tương giao với Chúa, Chúa ban lời và khải thị của Ngài cho cô. Như chúng ta sẽ thấy, Chúa khải thị cho cô rằng từ nay về sau, các môn đồ là anh em của Ngài. Ngài cũng nói với cô rằng Ngài sắp đi đến với Cha, Cha không những là Cha của Ngài và Đức Chúa Trời của Ngài, mà cũng là Cha của họ và Đức Chúa Trời của họ. Ma-ri đã đem khải thị này đến với các anh em.

Sáng hôm ấy, Ma-ri thấy ngôi mộ, hai thiên sứ, và thấy Chúa. Ban đầu cô không nhận ra Chúa, nhưng cuối cùng, sau khi Chúa gọi tên cô, cô đã nhận ra Ngài. Chúa đến với Ma-ri khi nào? Chúa không có tại đó vì ngôi mộ trống không. Ngài cũng không ở trên trời vì Ngài chưa lên trời. Như thế, sau khi Ngài lìa khỏi mộ và trước khi Ngài lên trời, thì Chúa ở đâu? Tôi tin rằng Chúa ở gần mộ mà không ở trong mộ. Mặc dầu Ngài ở gần mộ, nhưng ban đầu Phi-e-rơ, Giăng và Ma-ri không trông thấy Ngài. Cuối cùng Chúa bày tỏ Ngài cho Ma-ri, nhưng trước khi bày tỏ chính mình ra, Ngài đã ở đó rồi. Chúa có mặt tại đó suốt khoảng thời gian ấy, nhưng Ma-ri không biết. Cô nghĩ rằng một người nào đó đã đem Ngài đi. Thậm chí khi Phi-e-rơ và Giăng có mặt tại đó, tôi tin rằng Chúa cũng ở đó. Đơn giản là họ không nhận ra Ngài và Ngài không bày tỏ chính mình cho họ. Anh em có biết ngay giờ phút này, Chúa đang có mặt tại đây, nhưng chúng ta không nhận biết Ngài và điều đó không được bày tỏ cho chúng ta không?

Trong chương này rõ ràng có ba loại môn đồ. Ma-ri tượng trưng cho loại thứ nhất, Phi-e-rơ và Giăng tượng trưng cho loại thứ hai và các môn đồ biếng nhác tượng trưng cho loại thứ ba. Các môn đồ biếng nhác không có khải thị hay chẳng khám phá được gì về sự phục sinh của Chúa. Phi-e-rơ và Giăng thì khám phá được về sự phục sinh và có khải thị nhưng lại không kinh nghiệm. Ma-ri khám phá được, có khải thị và kinh nghiệm. Những gì được ghi lại ở đây cũng đúng là tình trạng của các Cơ Đốc nhân ngày nay. Bản ký thuật này bày tỏ sự phục sinh của Đấng Christ là một sự kiện đã hoàn tất, nhưng để khám phá được sự phục sinh của Ngài, chúng ta vẫn phải tìm kiếm, và để kinh nghiệm được sự phục sinh của Ngài, thậm chí chúng ta phải tìm kiếm sâu xa hơn nữa. Nói cách khác, khải thị tùy thuộc vào sự tìm kiếm, và kinh nghiệm tùy thuộc vào sự tìm kiếm sâu xa hơn. Chúng ta phải tìm kiếm Chúa trước rồi mới khám phá được sự phục sinh của Ngài, chúng ta phải tìm kiếm Chúa nhiều hơn nữa thì mới kinh nghiệm được sự phục sinh của Ngài.

E. Được Các Thiên Sứ Do Đức Chúa Trời Sai Đến Làm Chứng Cho

Sự phục sinh của Đấng Christ không những được những người tìm kiếm khám phá ra, mà còn được các thiên sứ do Đức Chúa Trời sai đến làm chứng cho (20:11-13). Khi nhìn vào mộ, Ma-ri thấy “thấy hai thiên sứ mặc áo trắng ngồi, một vị đàng đầu, một vị đàng chân, chỗ thi thể Jesus đã nằm” (20:12). Hai thiên sứ này giống như chê-ru-bim trên nắp vãn hồi, nhìn và quan sát cách Chúa vinh hiển là sự phục sinh đang thực hiện việc kỳ diệu là bước ra khỏi sự đe dọa của sự chết. Hai thiên sứ quan sát này trở nên nhân chứng mạnh mẽ nhất về sự phục sinh của Chúa Jesus. Cũng như vải lanh và khăn là lời chứng từ phía loài người, các thiên sứ là lời chứng từ phía Đức Chúa Trời. Chỉ có một chị em tìm kiếm Chúa đã chứng kiến tất cả những điều này.

F. Sinh Ra Nhiều “Anh Em”

Trong Giăng 20:17 Chúa Jesus nói với Ma-ri: “Chớ rờ đến Ta, vì Ta chưa lên cùng Cha; nhưng hãy đi đến cùng anh em Ta mà nói với họ rằng: ‘Ta lên cùng Cha Ta, cũng là Cha các ngươi, cùng Đức Chúa Trời Ta, cũng là Đức Chúa Trời các ngươi’ ” (20:17). Trong câu này Chúa chỉ về việc Ngài lên đến Cha. Vào ngày Chúa phục sinh, Ngài lên đến Cha. Đó là một sự thăng thiên bí mật, sự ứng nghiệm sau cùng của việc ra đi đã được nói trước trong Giăng 16:7, bốn mươi ngày trước khi Ngài thăng thiên cách công khai trước mắt các môn đồ (Công. 1:9-11). Vào ngày phục sinh, lúc sáng sớm, Ngài thăng thiên để làm thỏa lòng Cha, và vào buổi tối, Ngài trở lại với các môn đồ (20:19). Trước hết, sự tươi mới trong sự phục sinh của Ngài là để làm Cha vui thỏa, như theo biểu tượng, trái đầu mùa trước hết được đem đến cho Đức Chúa Trời.

Theo kinh nghiệm của mình, Ma-ri đã gần như kinh nghiệm được điều Đức Chúa Cha kinh nghiệm ngay sau đó. Chúa Jesus bày tỏ chính Ngài cho Ma-ri thậm chí trước khi Ngài bày tỏ cho Cha khi Ngài thăng thiên lên trời. Ma-ri thấy Chúa phục sinh trước Đức Chúa Cha. Lúc ấy, Ma-ri muốn rờ đến Chúa, nhưng Ngài ngăn cô lại. Cô thấy được Ngài là đủ rồi. Như chúng ta đã thấy, Chúa ngăn Ma-ri để cô đừng rờ đến Ngài vì Ngài chưa lên đến Cha. Trước hết, Ngài phải trình chính mình cho Cha và tiếp xúc với Cha. Rồi khi đến với các môn đồ vào buổi tối cùng ngày, Ngài bảo họ hãy rờ đến Ngài (Lu. 24:39). Qua những sự kiện này chúng ta có thể nhận biết Ma-ri là người đầu tiên thấy Chúa phục sinh.

Chúa Jesus cũng bảo Ma-ri: “Hãy đi đến cùng anh em Ta”. Ở đây chúng ta đến với một trong những điểm quan trọng nhất trong Phúc Âm Giăng, không bao nhiêu Cơ Đốc nhân thấy rõ điểm này. Trước khi phục sinh, Chúa không bao giờ gọi các môn đồ Ngài là “anh em”. Từ ngữ thân mật nhất mà Ngài dùng trước thời điểm ấy là “bạn hữu”. Trong Giăng 15:14 và 15, Ngài nói: “Ví thử các ngươi làm theo điều Ta truyền cho, thì các ngươi là bạn hữu Ta. Ta chẳng còn gọi các ngươi là đầy tớ (nô lệ) nữa, vì đầy tớ (nô lệ) chẳng biết điều chủ mình làm; nhưng Ta gọi các ngươi là bạn hữu, vì Ta từng tỏ cho các ngươi biết mọi điều Ta đã nghe nơi Cha Ta”. Nhưng bây giờ sau khi Ngài sống lại, các “bạn hữu” Ngài đã trở thành “anh em” của Ngài. Nhờ sự phục sinh của Chúa, các môn đồ Ngài đã được tái sinh (1 Phi. 1:3) bằng sự sống thần thượng được phóng thích bởi sự chết truyền-sự-sống của Ngài, như được bày tỏ trong Giăng 12:24. Tất cả các môn đồ Ngài đều được tái sinh trong sự phục sinh của Ngài. 1 Phi-e-rơ 1:3 nói chúng ta được tái sinh nhờ sự phục sinh của Đấng Christ. Nhờ sự phục sinh của Ngài mà Chúa truyền chính Ngài là Linh vào trong tất cả các môn đồ Ngài. Bởi nhận lãnh sự sống của Ngài, họ đều được sinh lại, tái sinh, và trở nên anh em của Ngài. Xin hãy nhớ rằng trên thập tự giá, Chúa nói với mẹ Ngài hãy nhận môn đồ Giăng làm con, và Ngài bảo môn đồ này nhận bà làm mẹ mình (19:26-27). Vào ngày Ngài phục sinh, lời Chúa trên thập tự giá đã được ứng nghiệm. Lúc ấy Giăng trở nên anh em của Chúa; như vậy, mẹ của Chúa trở nên mẹ của Giăng.

Bởi sự phục sinh của Đấng Christ, các môn đồ trở nên anh em của Chúa vì bây giờ họ có cùng một sự sống với Chúa. Chúa tái sinh họ bởi sự phục sinh của Ngài; do đó, họ không chỉ là các môn đồ và bạn hữu Ngài nữa, mà cũng là anh em của Ngài. Chúa là hạt lúa mì đã rơi xuống đất, chết đi, và mọc lên trong sự phục sinh để sinh ra nhiều hạt nhằm sản sinh ra ổ bánh mì là Thân thể Ngài (1 Cô. 10:17). Trước khi chết, Ngài chỉ là hạt lúa mì, một hạt duy nhất. Nhưng sau khi phục sinh, hạt lúa mì duy nhất ấy đã trở nên nhiều hạt. Đó là sự gia tăng bội phần của sự sống nhờ sự chết và sự phục sinh của Đấng Christ.

Trong sự phục sinh của Ngài, Con Độc Sinh đã trở nên “Con sanh đầu nhứt (hay: Con trưởng) giữa nhiều anh em” (La. 8:29). “Nhiều anh em” là những người được tái sinh nhờ sự phục sinh của Ngài với sự sống thần thượng đã được phóng thích bởi sự chết truyền-sự-sống của Ngài. Qua sự phục sinh của Ngài, sự sống thần thượng của Cha đã được truyền vào trong chúng ta. Do đó, tất cả chúng ta đã trở nên các con của Đức Chúa Trời. Bằng cách ấy Con độc nhất của Đức Chúa Trời đã trở nên “Con trưởng giữa nhiều anh em”. Vì vậy, Chúa đã không nói với Ma-ri: “Hãy đi đến các bạn hữu Ta”; nhưng Ngài nói: “Hãy đi đến cùng anh em Ta”.

Trước khi Ngài phục sinh, Đấng Christ là Con Độc Sinh của Cha, là sự bày tỏ Cha có tính cách cá nhân. Bây giờ qua sự chết và sự phục sinh của Ngài, sự bày tỏ Cha cách cá nhân ấy đã trở thành sự bày tỏ Đức Chúa Cha trong Con cách tập thể.

Nhiều anh em của Đấng Christ, tức “nhiều con” của Cha, là “Hội thánh” (Hê. 2:10-12) để trở nên sự biểu hiện tập thể của Đức Chúa Cha trong Con. Đó là ý định sau cùng của Đức Chúa Trời. Vì vậy, nhiều anh em là sự lan truyền sự sống của Cha và sự gia tăng bội phần của Con trong sự sống thần thượng. Như vậy, trong sự phục sinh của Chúa, mục đích đời đời của Đức Chúa Trời được thực hiện.

Chúng ta hãy xem xét Hê-bơ-rơ 2:10-12 cách chi tiết hơn. Câu 10 chép: “Bởi chưng Đấng mà muôn vật vốn vì Ngài và bởi Ngài, đã muốn đem nhiều con đến sự vinh hiển, thì khiến Nguyên Soái của sự cứu rỗi họ do sự chịu khổ mà được trọn vẹn là thích hợp vậy”. Đấng mà “muôn vật vốn vì Ngài và bởi Ngài” là Cha, và Nguyên Soái của sự cứu rỗi là Con. Cha đang dẫn dắt nhiều con vào vinh quang.

Câu 11 chép: “Vì cả Đấng làm nên thánh lẫn những kẻ được nên thánh đều bởi một Cha mà ra. Cho nên Ngài cũng không thẹn mà gọi họ là anh em”. Trong câu này, “Đấng làm nên thánh” là Con làm cho nên thánh, và “những kẻ được nên thánh” là các con được làm cho nên thánh. Chữ “một” ở đây chỉ về Cha. Vì thế, Con là Đấng Thánh-hóa, còn chúng ta, là những người được thánh hóa, đều thuộc về một Cha. Cho nên “Ngài cũng không thẹn mà gọi họ là anh em”. Khi nào Ngài gọi chúng ta là “anh em” lần đầu? Trong Giăng 20:17, khi Ngài bảo Ma-ri: “Hãy đi đến cùng anh em Ta”. Tại sao Ngài không hổ thẹn khi gọi chúng ta là anh em? Vì tất cả chúng ta đều nhận được sự sống của Cha. Sau khi Ngài phục sinh, tất cả các môn đồ Ngài đều nhận được sự sống của Cha. Bây giờ, vì Ngài và chúng ta đều thuộc về một nguồn và có cùng sự sống với cùng một bản chất, Ngài không hổ thẹn mà gọi chúng ta là anh em.

Câu 12 chép tiếp: “Rằng: Tôi sẽ truyền danh Chúa cho anh em Tôi, hát thi ca ngợi khen Chúa ở giữa hội”. Ở đây chúng ta thấy Con tuyên bố “danh” Cha cho anh em mình, tức là làm cho Cha được người ta biết đến là nguồn sự sống và là Đức Chúa Trời sinh thành. Câu này cũng cho chúng ta thấy Con hát thánh ca ngợi khen Cha ở giữa Hội thánh. Qua đó chúng ta thấy anh em Ngài là Hội thánh. Tôi đã để nhiều thì giờ tìm một câu khác nói Chúa Jesus hát ngợi khen Cha. Cuối cùng, khi không tìm ra câu nào, tôi nhận biết rằng bất cứ khi nào anh em của Ngài hát ngợi khen Cha, thì Ngài hát trong sự ca hát của họ. Trong khi chúng ta đang hát, Ngài hát trong sự ca hát của chúng ta.

G. Làm Cho Cha Ngài Và Đức Chúa Trời Của Ngài Thuộc Về Họ

Trong Giăng 20:17, Chúa Jesus cũng nói với Ma-ri: “Ta lên cùng Cha Ta, cũng là Cha các ngươi, cùng Đức Chúa Trời Ta, cũng là Đức Chúa Trời các ngươi”. Nhờ sự chết truyền-sự-sống và sự phục sinh của Ngài, Chúa đã làm cho các môn đồ nên một với Ngài. Vì vậy, Cha Ngài cũng là Cha của các môn đồ Ngài và Đức Chúa Trời của Ngài cũng là Đức Chúa Trời của họ. Nhờ sự phục sinh, họ đã nhận được cả sự sống của Cha lẫn bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời. Bởi làm cho họ thành anh em của Ngài, Ngài đã truyền sự sống của Cha và bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời vào trong họ. Bởi làm cho Cha Ngài và Đức Chúa Trời của Ngài trở nên Cha và Đức Chúa Trời của họ, Ngài đã đem họ vào trong địa vị của Ngài, tức địa vị làm Con, trước mặt Cha và Đức Chúa Trời để họ được tham dự vào trong Cha Ngài và Đức Chúa Trời của Ngài trong sự phục sinh. Do đó, trong sự sống và bản chất bề trong, và trong địa vị bề ngoài, các anh em Ngài giống y như Ngài. Bề trong chúng ta có thực tại và bề ngoài chúng ta có địa vị. Cha không những là Cha của chính Chúa; Ngài cũng là Cha của các môn đồ. Từ đó về sau, tất cả các môn đồ là con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng giống như Con trưởng, và Ngài giống như chúng ta. Đó là Hội thánh trong sự phục sinh của Ngài. Ngợi khen Ngài!

Tại sao Chúa nói với Ma-ri rằng Ngài lên cùng Cha và Đức Chúa Trời? Một mặt, Chúa là Con Đức Chúa Trời; vì vậy, Ngài sẽ thấy Cha với tư cách là Con. Mặt khác, Ngài vẫn là Con Loài Người; vì thế, Ngài sẽ thấy Đức Chúa Trời với tư cách là con người. Về một mặt chúng ta cũng là con người và về mặt khác là các con của Đức Chúa Trời. Vì chúng ta là loài người, Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời đối với chúng ta; vì chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời cũng là Cha chúng ta. Ngay lúc này, vì chúng ta vừa là loài người, vừa là các con của Đức Chúa Trời, chúng ta có cả Đức Chúa Trời và Cha. Là con người, tất cả các môn đồ đã trở nên anh em đối với Chúa và các con đối với Cha vì họ đã nhận được cùng một sự sống như Chúa. Đó là khải thị mà Ma-ri đã đem đến cho anh em của Chúa.