Thông tin sách

Nghiên Cứu Sự Sống Sách Giăng

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Life-Study of John
ISBN: 0-7363-0957-8
Mua sách tại:

Đang đọc: Bài 44

Untitled Document

BÀI BỐN MƯƠI BỐN

SỰ SỐNG TRẢI QUA MỘT TIẾN TRÌNH ĐỂ GIA TĂNG BỘI PHẦN (3)

Trong bài này chúng ta đến với Giăng chương 20, là chương nói về sự phục sinh của Chúa. Chúa chết để phục sinh. Trong Giăng 12:24 Ngài nói Ngài là hạt lúa mì rơi xuống đất và chết đi để được phóng thích nhằm truyền sự sống của hạt lúa ấy vào trong nhiều hạt lúa khác. Nói cách khác, Ngài phải chết để sống lại và trở nên nhiều hạt. Điều này dường như kỳ lạ và huyền nhiệm đối với tâm trí loài người. Tâm trí loài người không bao giờ ấp ủ tư tưởng nào như sự phục sinh theo sau sự chết. Ngay cả Sa-tan cũng nghĩ rằng sự chết sẽ kết liễu Chúa Jesus. Đối với Sa-tan, chết là hết. Nhưng đối với Chúa chết không phải là hết, mà là con đường để Ngài đi vào sự phục sinh. Do đó, đối với Chúa, chết không phải là thất bại mà là con đường dẫn đến chiến thắng. Bằng cách bị giết chết, Ngài đạt được chiến thắng vì sự chết trở nên cánh cửa và lối vào sự phục sinh. Thật vậy, sự chết của Ngài là vì sự phục sinh. Không có sự chết, không bao giờ Ngài có thể sản sinh Hội thánh. Không có sự chết, không bao giờ Ngài có thể tái sinh chúng ta để làm những chi thể của Thân thể Ngài. Vì vậy, mọi sự tùy thuộc vào sự chết của Chúa, là điều dẫn đến sự phục sinh.

Những gì Phúc Âm Giăng ghi lại về sự phục sinh của Chúa khác với ba sách Phúc âm kia. Các sách Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca ghi lại sự phục sinh của Chúa gần giống nhau. Nhưng những gì Giăng ghi chép rất khác biệt. Phúc Âm Giăng luôn luôn có quan điểm sự sống. Theo Phúc Âm Giăng, Chúa đến bày tỏ Đức Chúa Trời để chúng ta tiếp nhận Ngài làm sự sống, rồi Ngài chết và phục sinh để truyền chính Ngài là sự sống vào trong chúng ta. Nếu muốn hiểu sách này, chúng ta cần phải giữ quan điểm ấy trong tâm trí. Quan điểm tương tự cũng được tìm thấy trong phần ghi chép của Giăng về sự phục sinh của Chúa. Giăng chương 20 và 21 được viết theo quan điểm ấy, cho thấy cách Chúa được phóng thích bởi sự chết và được truyền vào trong chúng ta bởi sự phục sinh. Mục đích chính của hai chương này là sau khi phục sinh và bởi sự phục sinh, Chúa sẽ đến trong chúng ta và làm một với chúng ta.

Toàn thể Phúc Âm Giăng hướng về sự phục sinh. Mục đích Chúa nhục hóa làm một con người là để Ngài có thể truyền chính Ngài vào trong nhiều người và tái sản sinh nhiều con của Đức Chúa Trời. Ngài là Con Độc Sinh của Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Trời cần Con Độc Sinh của Ngài được tái sản sinh và gia tăng bội phần. Cách duy nhất để Con Độc Sinh của Đức Chúa Trời được tái sản sinh và gia tăng bội phần là bởi chết đi và sống lại. Thí dụ, cách duy nhất để một hạt lúa mì tái sản sinh và gia tăng bội phần thành nhiều hạt là bằng cách chết đi và sống lại. Như chúng ta đã thấy, cả Phúc Âm Giăng chỉ về hướng này – về sự tái sản sinh và gia tăng bội phần của Con Độc Sinh của Đức Chúa Trời. Bằng cách này, Con Độc Sinh trở nên nhiều con (La. 8:29). Để có biểu hiện tập thể của Ngài, Đức Chúa Trời cần phải có nhiều con. Vì mục đích đó, Con Độc Sinh của Đức Chúa Trời phải được phóng thích qua sự chết và được truyền vào trong chúng ta qua sự phục sinh.

VII. PHỤC SINH TRONG VINH QUANG THẦN THƯỢNG

Chúng ta đã xem xét thế nào sự sống đã trải qua một tiến trình để gia tăng bội phần. Sau khi trải qua sự tra xét, kết án, và thử nghiệm của sự chết, Ngài an nghỉ trong sự tôn trọng của loài người. Kế đến, sau khi trải qua giai đoạn sự chết trong tiến trình này, Đấng Christ phục sinh trong vinh quang thần thượng (20:1-13, 17). Bây giờ sau khi phục sinh, Ngài ở trong vinh quang thần thượng.

A. “Vào Ngày Thứ Nhất Trong Tuần Lễ”

Chúa phục sinh vào “ngày thứ nhất trong tuần lễ” (20:1). Sự phục sinh của Chúa là một khởi đầu mới mẻ, mở đường cho một thế hệ mới và một thời đại mới. Đó là lý do vì sao Chúa phục sinh vào “ngày thứ nhất trong tuần lễ”. Ngày ấy là ngày vĩ đại nhất trong Kinh Thánh. Sự kiện ngày ấy được gọi là “ngày thứ nhất trong tuần lễ” có nghĩa đó là một sự khởi đầu mới mẻ. Một tuần lễ là một giai đoạn gồm bảy ngày, và ngày đầu tiên ngụ ý một bước khởi đầu mới. Tại sao Chúa không sống lại vào ngày thứ sáu hay thứ bảy? Hay vào một ngày khác trong tuần? Vì sự phục sinh của Ngài dẫn vào một giai đoạn mới, một thời đại mới, một kỷ nguyên mới. Trong cõi sáng tạo cũ có bảy ngày. Đức Chúa Trời sáng tạo trong sáu ngày và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Bảy ngày này là kỷ nguyên của cõi sáng tạo cũ. Bởi sự phục sinh của Chúa Jesus, một kỷ nguyên khác bắt đầu cách mới mẻ. Cõi sáng tạo cũ thuộc về bảy ngày ấy. Bây giờ, sau bảy ngày ấy, có một bước khởi đầu mới với một ngày thứ nhất mới. Nói cách khác, bởi sự phục sinh của Chúa, cõi sáng tạo cũ qua đi và cõi sáng tạo mới bắt đầu. Do đó, ngày đầu của một tuần lễ khác có nghĩa là bước đầu của cõi sáng tạo mới, một kỷ nguyên mới và một thời đại mới.

Anh em có bao giờ lưu ý biểu tượng Cựu Ước nói về Chúa sẽ phục sinh vào ngày thứ nhất của tuần lễ không? Ở Lê-vi Ký 23:10, 11 và 15, bó lúa đầu mùa được dâng lên cho Chúa như của lễ đưa qua đưa lại vào ngày “sau ngày Sa-bát”. Bó lúa đầu mùa ấy là biểu tượng của Đấng Christ như trái đầu mùa trong sự phục sinh (1 Cô. 15:20, 23). Đấng Christ phục sinh vào ngay ngày “sau ngày Sa-bát”. Trong những câu này của Lê-vi Ký chương 23, từ ngữ “ngày thứ nhất của tuần lễ” không được dùng, thay vào đó, một từ ngữ khác được sử dụng – “ngày sau ngày Sa-bát”. Ngày Sa-bát là ngày thứ bảy, và ngày sau ngày Sa-bát là ngày đầu tuần. Trái đầu mùa được dâng lên cho Chúa vào “ngày sau ngày Sa-bát”, có nghĩa là vào ngày đầu tuần tiếp theo. Trái đầu mùa tượng trưng cho Đấng Christ phục sinh. Ngài là trái đầu mùa của sự phục sinh. Vì Chúa phục sinh từ những người chết như trái đầu mùa thu hoạch, trái đầu mùa này được dâng lên cho Đức Chúa Trời vào lúc nào? Vào ngày “sau ngày Sa-bát”, tức là vào ngày thứ nhất của tuần lễ. Đó không những là biểu tượng, mà còn là lời tiên tri được ứng nghiệm trong Giăng chương 20.

Trái đầu mùa thu hoạch được dâng lên cho Chúa là của lễ đưa qua đưa lại tượng trưng cho sự phục sinh. Của lễ đưa qua đưa lại khác với của lễ dâng giơ lên. Của lễ dâng đưa qua đưa lại được dâng lên với động tác tới lui, tượng trưng cho Đấng Christ trong sự phục sinh; của lễ dâng giơ lên được nâng lên với động tác lên xuống tượng trưng cho Đấng Christ thăng thiên. Đưa qua đưa lại biểu thị cử động liên tục. Vì vậy, Đấng Christ đang chuyển động trong sự sống vì Ngài đã phục sinh. Ngài là của lễ dâng đưa qua đưa lại vào ngày thứ nhất của tuần lễ.

Một điều khác được xem xét ở đây là việc cắt bì trẻ em Israel. Đức Chúa Trời truyền bảo phải cắt bì cho chúng nó vào ngày nào? Ấy là vào ngày thứ tám (Sáng. 17:12). Sau khoản thời gian bảy ngày thì đến ngày đầu của một khoản thời gian bảy ngày khác, tức là ngày thứ tám. Ý nghĩa của việc Chúa dạy con dân Israel chịu cắt bì vào ngày thứ tám là họ phải kết liễu bản chất cũ của mình và sống sự sống phục sinh. Họ được sinh ra cách thiên nhiên, họ phải cắt bỏ bản chất cũ và có bản chất mới, là bản chất sống bởi sự sống phục sinh. Do đó, dân Israel được truyền dạy phải chịu cắt bì vào ngày thứ tám. Cô-lô-se 2:11 và 12 tuyên bố rằng trong Đấng Christ, tất cả chúng ta đều đã chịu cắt bì bởi thập tự giá của Ngài. Ý định của Đức Chúa Trời là dân Ngài lột bỏ bản chất cũ và mặc lấy bản chất mới để họ sống trong sự sống phục sinh. Đó là điều thuộc về ngày thứ tám, là ngày thứ nhất của tuần lễ. Điều này đơn giản chỉ về sự phục sinh vì sự phục sinh là bước khởi đầu mới cho một kỷ nguyên mới trong cõi sáng tạo mới.

Bởi sự chết bao-hàm-tất-cả của Ngài, Đấng Christ đã kết liễu cõi sáng tạo cũ, là sự kiện đã được hoàn thành trong sáu ngày cộng với ngày Sa-bát. Trong sự phục sinh của mình, Ngài làm nảy mầm cõi sáng tạo mới với sự sống thần thượng. Như vậy, đó là bước khởi đầu của một “tuần lễ” mới – một thời đại mới. Ngày Ngài phục sinh đã được Đức Chúa Trời chỉ định. Thi Thiên 118:24 chép: “Nầy là ngày Đức Giê-hô-va làm nên, chúng tôi sẽ mừng rỡ và vui vẻ trong ngày ấy”. Nếu đọc câu này trong văn mạch, chúng ta sẽ thấy câu này chỉ về ngày Chúa phục sinh. Ngày Chúa phục sinh là ngày đặc biệt, ngày được Đức Chúa Trời chỉ định. Ngày Chúa phục sinh đã được nói trước là “ngày nay” trong Thi Thiên 2:7, tức là câu được trích dẫn trong Công vụ các Sứ đồ 13:33 và Hê-bơ-rơ 1:5. Khi Chúa Jesus vẫn còn bước đi trên đất, Ngài đã nói trước rằng Ngài sẽ bị đóng đinh và Ngài sẽ sống lại từ người chết vào ngày thứ ba (Mat. 16:21; Gi. 12:19, 22). “Ngày thứ ba” này là ngày đầu tiên trong tuần. Về sau, ngày ấy được các Cơ Đốc nhân đầu tiên gọi là “Chúa Nhật” (Khải. 1:10). Thật là một ngày kỳ diệu!

Chúng ta cũng cần nêu lên rằng không những Chúa phục sinh vào ngày đầu tuần, mà Ngài còn phục sinh vào giờ phút đầu tiên của ngày ấy. Ngài phục sinh vào buổi sáng, không phải vào buổi tối. Một lần nữa, điều này chỉ về một bước khởi đầu mới, một sự bắt đầu mới, một giai đoạn mới, một kỷ nguyên mới, một thời đại mới, một cõi sáng tạo mới, và một ngày mới. Sự phục sinh của Chúa là bước đầu của một ngày mới vì Ngài sống lại vào lúc sáng sớm của ngày đầu tiên.

B. Như “Trái Đầu Mùa” Của “Sự Phục Sinh”

Đấng Christ phục sinh là “trái đầu mùa” của “sự phục sinh” (1 Cô. 15:20-23). Trong sự phục sinh, Ngài được sinh ra làm Con trưởng của Đức Chúa Trời. Là Con độc nhất, tức Con Độc Sinh của Đức Chúa Trời, Ngài không cần được sinh ra; nhưng để Con Độc Sinh trở nên Con trưởng, Ngài phải được sinh ra trong sự phục sinh (Công. 13:33; Hê. 1:5). Vào ngày Chúa phục sinh, Đấng Christ được sinh ra để làm Con trưởng của Đức Chúa Trời và Đấng “sanh đầu nhất từ trong kẻ chết” để làm “Đầu của Thân thể, tức là Hội thánh” (Côl. 1:18).

C. Bỏ Cõi Sáng Tạo Cũ Lại Trong Mồ Mả

Khi Chúa Jesus phục sinh, Ngài bỏ cõi sáng tạo cũ lại trong mồ mả (20:1-10). Phi-e-rơ bước vào mộ và “thấy vải lanh nằm đó, và khăn trùm đầu Ngài không để chung với vải lanh, nhưng được gấp lại, để riêng một nơi” (cc. 6-7, RcV). Trước khi đem chôn, thi hài của Chúa được quấn bằng vải lanh (19:40). Điều này có nghĩa là Ngài đi vào mộ với một điều gì đó thuộc về cõi sáng tạo cũ, cho thấy việc chôn cất Ngài đưa cõi sáng tạo cũ vào mồ mả. Tất cả những gì bị ném bỏ khỏi thân thể phục sinh của Chúa và bỏ lại trong mộ tượng trưng cho cõi sáng tạo cũ mà Ngài đã mặc [khi được đặt] vào mộ phần. Ngài bị đóng đinh với cõi sáng tạo cũ và được chôn với cõi sáng tạo cũ. Nhưng từ trong đó Ngài phục sinh, bỏ nó lại trong mộ và trở nên trái đầu mùa của cõi sáng tạo mới.

Mọi sự bỏ lại trong mộ là lời chứng cho sự phục sinh của Chúa. Nếu vải và khăn không bị bỏ lại đó một cách ngăn nắp, gọn gàng, Phi-e-rơ và Giăng khó có thể tin (c. 8) rằng không phải Chúa bị một người nào đó đem đi, mà tự Ngài đã sống lại. Những vật ấy do hai môn đồ Chúa, là Giô-sép và Ni-cơ-đem dâng cho Chúa và quấn quanh Ngài (19:38-42). Những gì họ làm cho Chúa trong tình yêu đối với Ngài đã trở nên rất hữu ích để làm chứng cớ cho Chúa. Chúa phục sinh từ người chết, bỏ lại tất cả cõi sáng tạo cũ mà Ngài đã đem vào mộ như một lời chứng rằng Ngài đã bước ra khỏi sự chết.

Theo mắt Đức Chúa Trời, toàn thể cõi sáng tạo cũ đã bị chôn trong ngôi mộ ấy. Dầu anh em có tin hay không, đó là một sự thật kỳ diệu. Cõi sáng tạo cũ, bao hàm con người cũ và bản ngã cũ của anh em, đã bị chôn trong mộ với Jesus và bị bỏ lại trong đó. Khi Đấng Christ bao-hàm-tất-cả đi vào trong mộ, chúng ta cũng đi vào đó với Ngài. Khi Ngài phục sinh, Ngài bỏ chúng ta lại đó. Trong vũ trụ này có một ngôi mộ kỳ diệu, bao-hàm-tất-cả như vậy, là nơi con người cũ của chúng ta đã bị chôn và vẫn còn ở lại đó. Bây giờ con người cũ của chúng ta ở trong mộ, còn con người mới và được phục sinh của chúng ta ở trong Hội thánh.

Vải và khăn bị bỏ trong mộ cách rất ngăn nắp, gọn gàng (c. 7). Ai lấy vải lanh và khăn khỏi Chúa Jesus, và ai gấp khăn lại rồi để cách ngăn nắp, gọn gàng như vậy? Không phải các thiên sứ làm điều ấy, mà là chính Chúa Jesus. Bằng cớ của sự kiện này là sự phục sinh của La-xa-rơ trong chương 11. Sau khi La-xa-rơ được sống lại từ người chết và ra khỏi mộ, “tay chân buộc vải liệm, mặt quấn khăn” (11:44, RcV). Cho nên, Jesus đã bảo người ta: “Hãy mở cho người, để người đi” (11:44). La-xa-rơ cần được giúp đỡ để thoát ra khỏi vải liệm của mình vì ông là người được làm cho phục sinh, ông không phải là Đấng phục sinh. Nhưng Chúa Jesus là Đấng phục sinh, chứ không phải là người được làm cho phục sinh. Ngài tự sống lại và không cần sự giúp đỡ của các thiên sứ. Các thiên sứ chỉ là người quan sát. Nếu các thiên sứ phải cất bỏ vải liệm, thì có nghĩa là Chúa không thể tự mình sống lại từ giữa người chết.

Tôi tin rằng vào một thời điểm nào đó Ngài đã nói với sự chết: “Hỡi sự chết, giờ của ngươi đã hết. Bây giờ Ta sẽ sống lại, bước ra khỏi lãnh thổ của ngươi, cất bỏ vải liệm khỏi thân thể Ta, xếp tất cả ngăn nắp, gọn gàng, và bỏ lại trong mộ để làm chứng rằng Ta đã tự sống lại từ giữa người chết”. Rồi Chúa đã từ giã sự chết và bước ra. Theo nguyên tắc, ít nhất phải là như vậy. Chúa không vội vàng. Ngài không chạy hối hả khỏi mộ như một nạn nhân bị bắt cóc sau khi được thả ra. Không, Chúa rất bình an và khoan thai. Có lẽ Ngài đơn giản nhìn kỹ sự chết, thấy nó không có quyền lực làm gì Ngài. Mặc dầu sự chết hết sức cố gắng giữ Ngài lại, nhưng không thể được. Rất thoải mái, Chúa cất bỏ vải liệm, gấp khăn, và xếp đặt mọi thứ thật ngăn nắp. Sự chết quan sát Ngài khi Ngài làm những điều ấy cách nhẹ nhàng. Ngài không sợ hãi và không điều gì đe dọa Ngài. Có lẽ Ngài nói: “Hỡi sự chết, Ta đã hoàn tất sứ mạng của mình. Ngươi không làm gì được Ta, và Ta không sợ ngươi. Bây giờ là lúc Ta ra khỏi lãnh thổ của ngươi. Ta không vội vã. Ta có thể ở lại đây một ngày nữa nếu Ta muốn, nhưng bây giờ đã đến giờ [Ta] ra đi”. Đó là tình hình thật khi Chúa sống lại từ người chết.

Chứng cớ về sự phục sinh của Chúa đến từ hai phía – từ con người và từ thiên sứ. Như chúng ta đã thấy, tất cả vải liệm đã được hai môn đồ đáng kính dâng lên cho Chúa. Rồi sau cùng những gì họ cung cấp cho Chúa phát xuất từ tình yêu đối với Ngài đã trở nên một lời chứng vững chắc và quan trọng về sự phục sinh của Ngài. Đó là lời chứng về phía loài người. Như về sau chúng ta sẽ thấy, Đức Chúa Trời sai hai thiên sứ đến để làm chứng từ trời. Như vậy, có lời chứng từ hai phía về sự phục sinh của Chúa, thứ nhất từ loài người trên đất và thứ hai hai từ các thiên sứ trên trời. Ngợi khen Chúa vì cả loài người và thiên sứ, đất và trời, đều làm chứng về sự phục sinh của Chúa Jesus.