Thông tin sách

Nghiên Cứu Sự Sống Sách Giăng

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Life-Study of John
ISBN: 0-7363-0957-8
Mua sách tại:

Đang đọc: Bài 43

Untitled Document

BÀI BỐN MƯƠI BA

SỰ SỐNG TRẢI QUA MỘT TIẾN TRÌNH ĐỂ GIA TĂNG BỘI PHẦN (2)

Chúng ta đã thấy Phúc Âm Giăng bày tỏ Chúa chính là biểu hiện của Đức Chúa Trời đến với chúng ta như sự sống. Bằng cách truyền chính Ngài vào trong chúng ta, Ngài trở nên mọi sự đối với chúng ta và đáp ứng mọi nhu cầu của chúng ta để Ngài có thể đem Đức Chúa Trời vào trong chúng ta và đem chúng ta vào trong Đức Chúa Trời, hòa lẫn Đức Chúa Trời với chúng ta cho đến khi Đức Chúa Trời là một với chúng ta và chúng ta là một với Ngài. Nói cách khác, Chúa chính là sự bày tỏ Đức Chúa Trời, truyền chính Ngài vào trong chúng ta như sự sống, đáp ứng mọi nhu cầu của chúng ta, và hòa lẫn Đức Chúa Trời với chúng ta làm một. Đó là ý chính của các chương từ một đến mười bảy. Tất cả những ai đã được Ngài tái sinh sẽ làm một trong sự sống thần thượng này. Thật vậy, chúng ta là một với nhau trong sự sống thần thượng này, thậm chí chúng ta là một với Đức Chúa Trời trong sự sống thần thượng này. Sau khi khải thị như vậy trong mười bảy chương ấy, đến chương mười tám và mười chín, Thánh Linh bày tỏ rằng Chúa bằng lòng đi vào sự chết và nộp chính mình cho sự chết để Ngài được gieo xuống đất như hạt lúa mì mà chết đi, để rồi Ngài sống lại, phóng thích và truyền chính Ngài vào trong chúng ta, qua đó sinh ra lắm trái bởi sự chết và sự phục sinh của Ngài.

Tư tưởng của Thánh Linh trong Giăng chương 18 và 19 chính yếu không phải là về Đấng Cứu Chuộc mang tội lỗi chúng ta, chết cho tội lỗi chúng ta trên thập tự giá, và cứu chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của tội lỗi mình. Tư tưởng về Đấng Cứu chuộc và sự cứu chuộc của Ngài chính yếu nằm trong ba phúc âm đầu. Tư tưởng trong Phúc Âm Giăng, đặc biệt trong các chương mười tám và mười chín, chính yếu là về Chúa như hạt giống sự sống, đi vào sự chết và phóng thích chính Ngài qua sự chết và sự phục sinh. Bằng cách ấy, một hạt lúa mì đã được phóng thích để sinh ra nhiều hạt. Ban đầu sự sống bị hạn chế trong một hạt, nhưng bây giờ, bởi sự chết và sự phục sinh, chính sự sống của Đấng Christ đã được phóng thích, sinh ra nhiều hạt và bây giờ sự sống ấy ở trong nhiều hạt lúa. Đó là tư tưởng liên quan đến sự chết của Chúa trong Phúc Âm Giăng.

Chúng ta đã thấy nào là Chúa tự nguyện nộp mình cách dạn dĩ để được trải qua một tiến trình (18:1-11), nào là trong phẩm chất cao quí của mình, Ngài bị nhân loại tra xét (18:12-19:16), nào là Ngài bị kết án trong sự bất công của loài người (18:38b-19:16), và nào là trong sự tể trị của Đức Chúa Trời, Ngài bị sự chết thử nghiệm (19:17-37). Trong bài này, chúng ta đến với một vấn đề rất quan trọng là kết quả sự chết của Chúa (19:31-37).

V. HUYẾT VÀ NƯỚC TUÔN RA

Giăng 19:34 chép: “Dầu vậy, có một tên lính lấy giáo đâm ngang sườn Ngài, tức thì huyết và nước chảy ra”. Hai tố chất tuôn ra từ hông bị đâm của Chúa là huyết và nước. Huyết để cứu chuộc, xử lý tội lỗi (Gi. 1:29; Hê. 9:22) hầu chuộc mua Hội thánh (Công. 20:28), và nước để truyền sự sống, xử lý sự chết (Gi. 12:24; 3:14-15) hầu sinh ra Hội thánh (Êph. 5:29-31). Về phương diện tiêu cực, sự chết của Chúa cất tội lỗi chúng ta đi; về phương diện tích cực, sự chết của Ngài truyền sự sống vào trong chúng ta. Như vậy, sự chết của Chúa có hai phương diện: phương diện cứu chuộc và phương diện truyền sự sống. Phương diện cứu chuộc là vì phương diện truyền sự sống. Lời tường thuật của ba Phúc âm kia chỉ vì phương diện cứu chuộc của sự chết của Chúa, nhưng lời tường thuật của Phúc Âm Giăng không những vì phương diện cứu chuộc nhưng cũng vì phương diện truyền sự sống. Trong Ma-thi-ơ 27:45, 51; Mác 15:33; và Lu-ca 23:44-45, “sự tối tăm”, như một dấu hiệu của tội, hiện ra, và “bức màn trong đền thờ”, vốn phân rẽ con người với Đức Chúa Trời, “bị xé ra”. Đó là những dấu hiệu liên quan đến sự chết cứu chuộc của Chúa. Hơn nữa, những lời Chúa nói ra trên thập tự giá trong Lu-ca 23:34: “Cha ơi, xin tha cho họ”, và trong Ma-thi-ơ 27:46: “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi” (vì vào lúc ấy Ngài mang tội của chúng ta), cũng mô tả sự chết cứu chuộc của Chúa. Nhưng nước tuôn ra và xương không gãy của Ngài được Giăng đề cập trong các câu 34 và 36 là dấu hiệu của sự chết truyền-sự-sống của Chúa. Sự chết truyền-sự-sống này phóng thích sự sống thần thượng của Chúa từ trong Ngài để sinh ra Hội thánh, bao gồm tất cả những tín đồ của Ngài là những người mà sự sống thần thượng của Ngài đã được truyền vào. Sự chết truyền-sự-sống này được tượng trưng bởi giấc ngủ của A-đam sinh ra Ê-va (Sáng. 2:21-23), và được tượng trưng bởi sự chết của một hạt lúa mì rơi xuống đất để sinh ra nhiều hạt (Gi. 12:24) nhằm làm nên một ổ bánh – Thân thể của Đấng Christ (1 Cô. 10:17). Như vậy đó cũng là sự chết lan-truyền-sự-sống, sinh-sôi-nảy-nở-sự-sống, tái sinh và tái sản sinh.

Như chúng ta sẽ thấy, hông bị đâm của Chúa được biểu hiện trước bằng hông mở ra của A-đam mà từ đó Ê-va được tạo nên (Sáng. 2:21-23). Huyết được tượng trưng bởi huyết của chiên con lễ Vượt qua (Xuất. 12:7, 22; Khải. 12:11), và nước được tượng trưng bởi nước tuôn ra từ vầng đá bị đập (Xuất. 17:6; 1 Cô. 10:4). Huyết tạo nên “một suối” để rửa sạch tội (Xa. 13:1), và nước trở nên “suối sự sống” (Thi. 36:9; Khải. 21:6).

A. Không Một Cái Xương Nào Của Ngài Bị Gãy

Mỗi phương diện trong sự chết của Chúa đều [xảy ra] theo quyền tể trị của Đức Chúa Trời. Ở dưới sự tể trị của Đức Chúa Trời, không một cái xương nào của Chúa bị gãy (19:31-33, 36). Vì không muốn để các thi hài lại trên thập tự giá vào ngày Sa-bát, người Do Thái xin Phi-lát cho đánh gãy ống chân họ. Sau đó bọn lính đánh gãy ống chân của hai tên trộm bị đóng đinh với Chúa. Nhưng khi đến chỗ Jesus, họ thấy Ngài đã chết rồi. Vì Chúa đã chết, họ không cần đánh gãy xương Ngài. Điều này cho thấy theo một ý nghĩa, Chúa Jesus không bị giết chết bởi tay loài người nhưng Ngài tự chết. Mặc dầu Ngài bị đóng đinh, Ngài tự chết, làm ứng nghiệm lời Ngài nói trong 10:17 và 18: “Ta bỏ sự sống mình để Ta có thể nhận lại. Không ai cất sự sống khỏi Ta, nhưng Ta tự bỏ đi. Ta có quyền bỏ đi, và có quyền lấy lại” (RcV). Rõ ràng Jesus bị giết; thật ra, Ngài phó sự sống psuche, sự sống thuộc hồn của mình, và chết đi. Hai tên trộm bị giết, nhưng Jesus thì không. Trái lại, Ngài tự bỏ sự sống psuche để cứu chuộc chúng ta. Vì Ngài đã chết, bọn lính không đánh gãy chân Ngài. Theo sự tể trị của Chúa, điều này làm ứng nghiệm lời tiên tri nói: “Không một cái xương nào của Ngài bị gãy” (19:36, RcV).

Một trong những tên lính lo rằng có thể Chúa chưa thật sự chết, đã lấy giáo đâm hông Ngài. Điều này làm ứng nghiệm lời tiên tri trong Xa-cha-ri 12:10: “Chúng nó sẽ nhìn xem Ta là Đấng chúng nó đã đâm”. Những điều này đã xảy ra một cách tuyệt diệu và đầy ý nghĩa, tuyệt đối theo quyền tể trị của Đức Chúa Trời. Điều này chứng minh cách mạnh mẽ rằng sự chết của Chúa không phải là tình cờ, nhưng đã được Đức Chúa Trời hoạch định “trước buổi sáng thế” (1 Phi. 1:19-20).

Sự việc không một cái xương nào của Chúa bị gãy được tượng trưng bởi xương của chiên con lễ Vượt qua. Trong khi thiết lập lễ Vượt qua, Đức Chúa Trời chỉ định không được làm gãy một cái xương nào của con chiên (Xuất. 12:46; Dân. 9:11-12). Đó là một biểu tượng tuyệt vời. Sau đó, trong Thi Thiên 34:20 điều này cũng được nói tiên tri. Cả biểu tượng lẫn lời tiên tri đều được ứng nghiệm trong sự chết của Chúa trên thập tự giá.

Trong Sáng Thế Ký 2:21-23, chúng ta thấy lần đầu tiên Lời Thánh đề cập đến “xương”, đó là một xương sườn được lấy ra khỏi A-đam để sinh ra và tạo nên Ê-va, là người tương xứng với A-đam. Ê-va là biểu tượng của Hội thánh được sản sinh bằng sự sống phục sinh của Chúa đã được tuôn ra từ Ngài. Nói cách khác, Hội thánh ra từ sự sống phục sinh, sự sống không bị phá vỡ, sự sống không hư nát của Đấng Christ. Sự sống của Ngài là sự sống không bao giờ có thể bị tổn thương, phá hoại hay phá vỡ. Nếu một trong các xương của Chúa bị gãy, có nghĩa là sự sống phục sinh của Chúa có thể bị sự chết gây tổn thương và phá vỡ.

Chúng ta nhắc đến Sáng Thế Ký chương 2, để dễ thấy ý nghĩa của xương – xương tượng trưng cho sự sống phục sinh. Một nguyên tắc trong Kinh Thánh là nguyên tắc về tính quyết định của lần đầu tiên đề cập đến điều gì. Theo nguyên tắc này, lần đầu tiên một điều gì được đề cập đến sẽ quyết định ý nghĩa cho điều đó suốt cả Kinh Thánh. Bằng cách áp dụng nguyên tắc này cho các xương trong Phúc Âm Giăng, chúng ta thấy chỗ đầu tiên đã đề cập đến xương là Sáng Thế Ký chương 2, tức là phân đoạn chép về một xương sườn được lấy ra từ A-đam để làm thành một cô dâu. Ê-va là biểu tượng của Hội thánh, A-đam là biểu tượng của Đấng Christ, và xương tượng trưng cho sự sống phục sinh của Đấng Christ. Như Ê-va ra từ xương của A-đam, Hội thánh cũng ra từ sự sống phục sinh của Đấng Christ. Ê-va được tạo nên từ một cái xương, và Hội thánh được sản sinh bởi sự sống thần thượng. Do đó, xương tượng trưng cho sự sống phục sinh. Xương không bị gãy của Chúa Jesus cho thấy Ngài là sự sống phục sinh không bị sự chết phá vỡ. Như vậy, xương là biểu tượng, là hình ảnh tượng trưng sự sống phục sinh của Chúa, là sự sống mà không một điều gì có thể phá vỡ. Hông của Chúa bị đâm, nhưng không có xương nào của Ngài bị gãy. Điều này có nghĩa là dầu sự sống thuộc thể của Chúa bị giết đi, sự sống phục sinh của Ngài, chính sự sống thần thượng của Ngài, không thể bị tổn hại bởi bất cứ điều gì. Jesus bị thương, bị tổn hại, và giết chết trong sự sống psuche, là sự sống thuộc hồn của Ngài, chứ không trong sự sống thần thượng của Ngài. Mặc dầu sự sống loài người của Ngài bị sự chết phá hủy, sự sống thần thượng của Ngài không thể bị tổn hại. Đó là sự sống mà nhờ đó Hội thánh đã được sản sinh và xây dựng.

B. Hông Ngài Bị Đâm

Sau sự kiện liên quan đến xương Chúa, một trong những tên lính đâm thủng hông Ngài bằng một cái giáo, và “ngay lập tức, huyết và nước tuôn ra” (19:34, 37). Mặc dầu sự sống phục sinh của Chúa không bị phá vỡ, chính Ngài đã bị vỡ ra để sự sống thần thượng của Ngài tuôn ra. Ở đây, nước tượng trưng cho sự sống. Điều này được mô tả trong Cựu Ước bởi vầng đá bị đập vỡ, từ đó những dòng nước sống chảy ra để làm cho con cái Israel hết khát (Xuất. 17:6). Chúa là vầng đá bị đập vỡ trên thập tự giá. Ngài bị vỡ ra để sự sống thần thượng của Ngài có thể chảy ra từ Ngài là nước sống. Không những nước chảy ra từ Ngài, mà huyết cũng chảy ra nữa, huyết tượng trưng cho sự cứu chuộc. Trước khi có thể nhận Chúa là nước sống động của sự sống, trước hết chúng ta phải được tẩy sạch. Do đó, huyết là điều được đề cập trước hết và nước là điều thứ hai. Sau khi đã được huyết tẩy sạch, chúng ta có thể nhận lãnh Chúa là sự sống. Chúng ta không thể tìm thấy những điểm này trong ba sách Phúc âm kia, mà chỉ có thể tìm thấy trong Phúc Âm Giăng, vì đây là sách bày tỏ rằng Chúa là sự sống chỉ có thể được phóng thích bởi sự chết của Ngài. Trong khi phần ký thuật của ba sách Phúc âm kia chính yếu vì sự cứu chuộc, phần ký thuật của Phúc Âm Giăng chính yếu vì sự phóng thích sự sống.

1. Được Tượng Trưng Bởi Hông Mở Ra Của A-đam

Việc đâm thủng hông Chúa được tượng trưng bởi hông mở ra của A-đam (Sáng. 2:21). Hông A-đam được mở ra và một xương sườn được lấy ra. Ở đây hông Jesus mở ra, rồi huyết và nước từ đó chảy ra.

2. Huyết Tuôn Ra Vì Sự Cứu Chuộc

Huyết tuôn ra từ hông Chúa là dành cho sự cứu chuộc (Hê. 9:22; 1 Phi. 1:18-19; La. 3:25). Hê-bơ-rơ 9:22 nói: “Ngoài sự đổ huyết thì không có sự tha thứ”. Huyết ở đây chỉ về phương diện cứu chuộc của sự chết Đấng Christ (Gi. 1:29). Huyết đổ ra để cứu chuộc chúng ta được tượng trưng bởi huyết của chiên con lễ Vượt qua (Xuất. 12:7). Như Xa-cha-ri 13:1 nêu lên, huyết cứu chuộc hình thành một dòng suối để rửa sạch tội lỗi. Ha-lê-lu-gia về dòng suối ấy! Dòng suối ấy không phải để uống mà để rửa sạch. Huyết chảy ra cũng để mua Hội thánh (Công. 20:28). Huyết hình thành một dòng suối để rửa sạch tội lỗi là giá chuộc mua Hội thánh.

3. Nước Tuôn Chảy Để Truyền Sự Sống

Nước tuôn chảy ra từ hông Chúa tượng trưng cho phương diện truyền sự sống của sự chết Đấng Christ (12:24). Nước dành cho việc truyền sự sống (4:14; Khải. 22:1). Như chúng tôi đã nêu lên, điều này được tượng trưng bởi nước chảy ra của vầng đá bị đập vỡ (Xuất. 17:6; 1 Cô. 10:4). Nước ấy đã trở nên “suối nước sự sống” (Thi. 36:9). Trong khi huyết hình thành dòng suối rửa sạch, nước hình thành dòng suối để uống. Huyết để chuộc mua Hội thánh, trong khi nước, tượng trưng cho sự sống đời đời, là để sản sinh Hội thánh. Như chúng ta đã thấy, việc Ê-va được sinh ra từ xương sườn lấy ra từ A-đam tượng trưng cho điều này.

Phương diện thứ hai của sự chết của Chúa là sự chết phóng thích sự sống, sản sinh sự sống, sinh sôi nảy nở sự sống, là sự chết làm tái sinh và tái sản sinh. Khi Chúa Jesus nói Ngài là hạt lúa mì rơi xuống đất chết đi để nhiều hạt được sinh ra (12:24), Ngài chỉ về phương diện truyền sự sống của sự chết Ngài. Hạt lúa mì chết đi không phải vì sự cứu chuộc, nhưng hoàn toàn là để truyền sự sống vốn ở trong hạt đầu tiên vào trong nhiều hạt. Về phương diện tiêu cực, sự chết của Đấng Christ cất bỏ tội lỗi chúng ta; về phương diện tích cực, sự chết của Ngài truyền sự sống thần thượng vào trong chúng ta. Hôm nay khi chúng ta tin vào Ngài, tội lỗi chúng ta được cất bỏ nhờ sự chết cứu chuộc của Ngài, và sự sống đời đời được truyền vào trong chúng ta nhờ sự chết truyền-sự-sống của Ngài. Sự chết truyền-sự-sống này cũng là sự chết phóng thích sự sống, làm sản sinh sự sống, và sinh sôi nảy nở sự sống. Đó là sự chết làm tái sinh và tái sản sinh.

Xin xem một hạt lúa mì. Sự sống của hạt lúa mì bị hạn chế trong hạt lúa. Nhờ sự chết, sự sống trong hạt lúa được phóng thích. Cũng vậy, do sự chết của Ngài trên thập tự giá, sự sống thần thượng của Đấng Christ được phóng thích. Như thế, sự chết của Ngài là sự chết phóng thích sự sống. Vì sự sống thần thượng của Ngài không những được phóng thích từ Ngài, mà cũng được truyền vào trong chúng ta, nên sự chết của Ngài là sự chết truyền sự sống. Về phần Ngài, đó là sự chết phóng thích sự sống; về phần chúng ta, đó là sự chết truyền sự sống. Hơn nữa, đó là sự chết làm lan truyền sự sống, vì qua đó sự sống được lan rộng nhiều phương hướng. Hơn nữa, đó là sự chết làm sinh sôi nảy nở sự sống, làm cho sự sống được kết quả theo cấp số nhân. Đó cũng là sự chết tái sản sinh sự sống, vì một hạt đã được tái sản sinh thành nhiều hạt. Chúng ta cần có ấn tượng sâu sắc về những phương diện kỳ diệu này của sự chết bao-hàm-tất-cả của Chúa biết bao.

Trong chương một của sách Giăng, chúng ta thấy Chiên Con với bồ câu. Chỉ có Chiên Con mà thôi thì không đủ. Chúng ta cũng cần bồ câu nữa. Chiên Con chính yếu là để cứu chuộc, và bồ câu chính yếu là để truyền sự sống. Đó là gia tể của Đức Chúa Trời.

Phương diện truyền sự sống trong sự chết của Chúa thậm chí còn tuyệt diệu hơn phương diện cứu chuộc. Sự cứu chuộc tuyệt hảo, kỳ diệu, tuyệt vời, và dường như không một điều gì có thể trổi hơn. Nhưng sự truyền đạt sự sống vượt trổi sự cứu chuộc. Giả sử một tội nhân đến với Chúa và tin Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng chết trên thập tự giá vì tội lỗi của mình, đổ huyết Ngài vì tội lỗi của mình. Huyết này thậm chí hình thành một dòng suối mà trong đó anh được tẩy sạch. Điều đó kỳ diệu biết bao! Nhưng giả sử anh chỉ được tẩy sạch và không kinh nghiệm gì hơn, và sau đó anh được đưa vào “lâu đài trên trời”. Mặc dầu được tẩy sạch, anh vẫn chết, giống như thi hài trong nhà quàng. Bây giờ anh được sạch sẽ cách chết chóc, là một người chết được huyết tẩy sạch. Qua điều này chúng ta thấy được tẩy sạch bởi huyết vẫn chưa đủ. Chúng ta cũng phải sống động nữa. Chúng ta không cần đi đến lâu đài trên trời vì hễ có sự sống thần thượng và được sống động, chúng ta có một chỗ ở hỗ tương cho mình và Đức Chúa Trời. Nếu được cứu chuộc mà không được tái sinh thì tình trạng của chúng ta vẫn nghèo nàn. Mục đích của Đức Chúa Trời là sau khi cứu chuộc phải truyền sự sống. Sự cứu chuộc là vì điều này, ấy là để chuẩn bị con đường cho chúng ta nhận lãnh sự sống thần thượng. Nước phải theo sau huyết. Chúng ta đã thấy huyết tượng trưng cho phương diện cứu chuộc trong sự chết của Đấng Christ và nước tượng trưng cho phương diện truyền sự sống. Huyết dành cho sự cứu chuộc và hình thành một dòng suối mà trong đó chúng ta được tẩy sạch, còn nước dành cho sự tái sinh, hình thành một dòng suối để chúng ta có thể uống tại đó bất cứ lúc nào. Chúng ta đã được tẩy sạch ở bề ngoài và đã được đầy dẫy sự sống thần thượng này ở bề trong. Bây giờ chúng ta đang sống động cũng như tinh sạch, và tất cả chúng ta có thể la lên “Ha-lê-lu-gia! Tôi đã được cứu chuộc và được sinh lại!”

Ngày nay giữa vòng các Cơ Đốc nhân, có những sự dạy dỗ bất tận về sự chết cứu chuộc của Chúa như đã thấy trong ba sách Phúc âm đầu, nhưng phương diện ban sự sống của sự chết Ngài như đã thấy trong Phúc Âm Giăng lại bị xao lãng nhiều. Hầu hết các Cơ Đốc nhân bỏ qua điều này vì họ chưa bao giờ thấy vấn đề sự sống cách đầy đủ. Tuy nhiên, trong vài năm qua Chúa đã khải thị vấn đề này cho Hội thánh Ngài. Chúng ta được sáng tỏ hơn rằng đây mới là phương diện chính yếu của sự chết Chúa, còn phương diện cứu chuộc chỉ là phụ. Mục đích đời đời của Đức Chúa Trời là truyền chính Ngài vào trong chúng ta như sự sống – đó là phương diện chính. Nhưng chúng ta đã phạm tội. Vì vậy, sự cứu chuộc cần thiết như một biện pháp tạm thời. Tuy nhiên, đó không phải là phương diện chính. Từ cõi đời đời quá khứ đến cõi đời đời tương lai, Đức Chúa Trời có ý định truyền chính Ngài vào trong chúng ta như sự sống. Trải qua thời gian, chúng ta đã trở nên sa ngã và phạm tội. Sự sa ngã đem lại một khoảng trống trong mục đích đời đời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã bắc cầu qua khoảng trống này và lấp đầy khoảng trống ấy bằng sự cứu chuộc. Qua đó chúng ta thấy sự cứu chuộc là phụ đối với phương diện chính yếu trong sự chết của Chúa. Do đó, điểm chính liên quan đến sự chết của Chúa trong phần ký thuật của Giăng là sự chết của Chúa phóng thích sự sống và truyền sự sống vào trong chúng ta.

VI. AN NGHỈ TRONG SỰ TÔN TRỌNG CỦA LOÀI NGƯỜI

Sau khi đã hoàn thành công tác của Ngài trong sự chết, Chúa an nghỉ (19:38-42). Giăng chương 18 và 19 cho chúng ta thấy nhiều điều gian ác và hoạn nạn đến với Chúa. Một số người đối xử với Ngài cách gian ác, những người khác chế giễu Ngài, và ngay cả môn đồ thân cận nhất đã chối bỏ Ngài. Mọi sự xảy ra trong hoàn cảnh của Ngài đều tối tăm. Tuy nhiên, dầu những sự kiện ấy gian ác đến đâu và dầu phải khổ bao nhiêu đi nữa, Ngài vẫn chịu đựng tất cả và đã trải qua tất cả cách đắc thắng, chứng tỏ Ngài là sự sống đắc thắng và sự sống chinh phục. Sự sống của Ngài không phải là sự sống bị chinh phục; sự sống của Ngài là sự sống chinh phục. Do đó, ngay sau sự chết của Ngài, bối cảnh đã thay đổi từ đen qua trắng. Sau khi Chúa hoàn thành sự chết cứu chuộc và truyền-sự-sống, tình huống chịu khổ của Ngài ngay lập tức đổi thành tình huống được tôn trọng. Trước khi Ngài chết, mọi sự là gian ác và chết chóc; sau khi Ngài chết, mọi sự đều nhẹ nhàng và hài hòa. Giô-sép người A-ri-ma-thê, “một người giàu có” (c. 38; Mat. 27:57), và Ni-cơ-đem, “người cai trị dân Do Thái” (Gi. 3:1), đến với vải lanh mịn và các hương liệu rất đắt tiền, nhựa trầm hương và lô hội (cc. 39-40), để chuẩn bị chôn thi thể Ngài. Không phải những người nghèo, mà là những người giàu có chăm sóc thi hài của Ngài, chôn Ngài trong một ngôi mộ mới “với người giàu” (c. 41; Ês. 53:9). Qua sự kiện này chúng ta thấy toàn bộ tình hình đã thay đổi thành một cảnh huống đầy quyền thế, một tình trạng quí phái, một lãnh vực mới. Bây giờ Chúa thật đáng yêu đối với người ta, và họ đánh giá Ngài rất cao. Vì vậy, Chúa an nghỉ trong sự tôn trọng của loài người. Mặc dầu bị giết chết cách nhục nhã, Ngài được chôn cất cách tôn trọng. Nan đề nằm ở sự chết, nhưng sau khi Chúa chết, nan đề này được giải quyết. Khi Ngài chết, những điều rắc rối và gian ác đã chấm dứt. Bây giờ, theo sự tể trị của Đức Chúa Trời, trong sự tôn trọng theo tiêu chuẩn cao của loài người, Chúa an nghỉ vào ngày Sa-bát (c. 42, Lu. 23:55-56), chờ đợi thời điểm phục sinh giữa vòng người chết. Trong Giăng 5:17 đang khi người Do Thái giữ ngày Sa-bát, Chúa bảo họ rằng Cha và Ngài đang làm việc. Bây giờ công việc Ngài đã hoàn tất, Ngài nghỉ ngơi và vui hưởng một ngày Sa-bát đúng nghĩa. Sau ngày Sa-bát này, vào ngày đầu tuần, Ngài sẽ sống lại từ chỗ nghỉ ngơi của mình. Trong bài tiếp theo chúng ta sẽ xem xét sự sống lại của Chúa.

Nhờ đọc Giăng chương 18, 19 và xem xét tất cả những điểm được tìm thấy trong các chương này, chúng ta có thể hiểu ý nghĩa sự chết của Chúa. Những chương này khải thị cách Chúa dạn dĩ tự nguyện giao nộp chính mình và chinh phục hoàn cảnh của sự chết cùng ảnh hưởng của nó. Điều ấy chứng minh Ngài là sự sống đắc thắng, sự sống phục sinh và Ngài chết để có thể phóng thích chính Ngài là sự sống vào trong chúng ta. Sau khi hoàn thành điều ấy, Ngài được tôn trọng và được đặt vào sự an nghỉ. Mục đích của hai chương này là để bày tỏ rằng Chúa muốn nộp chính Ngài cho sự chết, qua đó chứng minh Ngài là sự sống phục sinh, sự sống đắc thắng không bao giờ bị sự chết làm cho tổn thương, gây thiệt hại hay bắt phục. Ngài minh chứng sự chết không thể chinh phục Ngài mà nó chỉ có thể phóng thích Ngài là sự sống. Một mặt, Chúa không thể bị phá vỡ; mặt khác, Ngài bị phá vỡ. Là sự sống phục sinh, Ngài không thể bị phá vỡ; nhưng vì mục đích phóng thích chính Ngài là sự sống, Ngài bị phá vỡ. Không một cái xương nào của Ngài bị gãy chứng tỏ không một điều gì thuộc về sự sống phục sinh của Ngài có thể bị phá vỡ. Tuy nhiên, Ngài bằng lòng chịu khổ và bị đâm để sự sống được phóng thích và truyền vào trong chúng ta. Một khi điều ấy đã hoàn thành, Ngài an nghỉ và chờ đợi sự phục sinh.

Chúng ta cũng đến chỗ hiểu sự chết của Chúa cách đúng đắn bằng cách so sánh bản ký thuật của Phúc Âm Giăng với bản ký thuật của Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca. Ba sách Phúc âm này cho thấy Chúa chết để cứu chuộc, nhưng Phúc Âm Giăng bày tỏ Ngài không những chết để cứu chuộc mà đặc biệt để phóng thích sự sống. Do đó, bởi sự chết của Ngài, chúng ta đã được cứu chuộc và có được sự sống Ngài phóng thích và truyền vào trong chúng ta.