Thông tin sách

Nghiên Cứu Sự Sống Sách Giăng

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Life-Study of John
ISBN: 0-7363-0957-8
Mua sách tại:

Đang đọc: Bài 41

Untitled Document

BÀI BỐN MƯƠI MỐT

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA SỰ SỐNG (4)

Mặc dầu chúng tôi đã nói nhiều về chương 17, nhưng vẫn cần phải nói thêm. Chúng ta đừng bao giờ quên chương này, vì trong chương này Chúa cầu xin Đức Chúa Trời làm vinh hiển Ngài để Đức Chúa Trời được làm cho vinh hiển trong Ngài và qua Ngài. Câu Chúa nói: “Cha ơi, giờ đã đến, xin tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Con hầu cho Con tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Cha” (17:1) là đề tài của lời cầu nguyện này. Con của Đức Chúa Trời đã được làm cho vinh hiển như thế nào để Đức Chúa Cha được làm cho vinh hiển trong Con và qua Con? Ấy là bởi sự phục sinh theo sau sự chết. Sau sự chết của Ngài, Chúa đã được phục sinh, nghĩa là Ngài được bày tỏ và làm cho vinh hiển. Chúa được tự do và được bày tỏ ra bởi sự phục sinh; như vậy Ngài được làm cho vinh hiển. Khi Chúa được làm cho vinh hiển như vậy, Cha được làm cho vinh hiển trong Con và qua Con.

Chúng ta đã thấy thế nào Con được làm cho vinh hiển trong sự phục sinh. Bây giờ ngày nay, Con được làm cho vinh hiển bằng cách nào để Cha được làm cho vinh hiển trong Con và qua Con? Ấy là bởi Hội thánh. Khi Hội thánh được tái sinh, thánh hóa, đóng đinh và liên hiệp với Đấng Christ trong vinh quang, khi ấy Con Đức Chúa Trời sẽ được giải bày và bày tỏ. Con Đức Chúa Trời sẽ được làm cho vinh hiển trong sự hiệp một của Hội thánh. Con Đức Chúa Trời được làm cho vinh hiển như vậy, nên lúc ấy Cha cũng sẽ được làm cho vinh hiển trong và qua Con. Vì vậy lời cầu nguyện: “Xin tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Con hầu cho Con tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Cha” bao hàm và tùy thuộc vào việc Hội thánh được tái sinh, thánh hóa, đóng đinh, và liên hiệp trong sự làm một với Con Đức Chúa Trời.

HIỆP MỘT TRONG SỰ SỐNG THẦN THƯỢNG

Như chúng ta đã thấy, lời cầu nguyện của Chúa trong Giăng chương 17 bày tỏ ba giai đoạn của sự hiệp một. Trong bài này, chúng ta hãy cẩn thận chú ý đến các câu trong Giăng chương 17 có liên quan đến sự hiệp một. Câu 11 chép: “Cha Thánh ơi, xin gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho Con, để họ hiệp làm một, cũng như Chúng Ta vậy”. Ở đây chúng ta thấy sự hiệp một là vấn đề được gìn giữ trong danh Cha. Như chúng tôi đã nêu lên, thực tại của danh Cha là sự sống thần thượng của Cha. Do đó nhân tố đầu tiên của sự hiệp một thật là danh Cha với sự sống thần thượng của Cha. Đó là sự sống được đề cập đến trong Giăng 17:2, là câu Chúa nói với Cha rằng Cha đã ban cho Con “quyền bính trên mọi xác thịt, hầu hễ ai Cha đã ban cho Con, thì Con ban cho họ sự sống đời đời”. Chúng ta cần phải quan tâm nhiều đến hai câu này để thấy nhân tố chính yếu đầu tiên của sự hiệp một thật.

HIỆP MỘT TRONG LỜI THÁNH

Giăng 17:21 là một câu kỳ diệu, sâu xa và thâm thúy. “Để họ thảy đều hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho họ cũng ở trong Chúng Ta, hầu thế gian tin rằng Cha đã sai Con”. Sự hiệp một trong câu này là sự hiệp một trong Đức Chúa Trời Tam Nhất. Khi tất cả chúng ta đều ở trong Đức Chúa Trời Tam Nhất, chúng ta có sự hiệp một. Làm thế nào chúng ta có thể ở trong Đức Chúa Trời Tam Nhất? Chỉ nhờ sự chết và sự phục sinh của Đấng Christ. Đó là lý do vì sao Chúa nói với chúng ta trong chương mười bốn rằng Ngài phải đi vào sự chết và đến trong sự phục sinh. Ấy là nhờ sự chết và sự phục sinh mà các môn đồ Ngài được đem vào trong Đức Chúa Trời Tam Nhất. Trong Đức Chúa Trời Tam Nhất có sự hiệp một thật sự và chân thật. Chúng ta phải quan tâm đến các câu 17 và 18 cùng với câu 21. “Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; đạo (lời) Cha tức là lẽ thật. Như Cha đã sai Con đến thế gian, thì Con cũng sai họ đến thế gian”. Trong câu 17 chúng ta có lời thánh hóa. Mặc dầu ở trong Đức Chúa Trời Tam Nhất, chúng ta có thể “lén ra” khỏi Đức Chúa Trời Tam Nhất mà vào trong thế gian. Do đó, chúng ta cần lời thánh hóa để phân rẽ chúng ta khỏi thế gian trở về với Đức Chúa Trời Tam Nhất. Vì vậy, nhân tố thứ hai của sự hiệp một chân chính là ở trong Đức Chúa Trời Tam Nhất nhờ sự thánh hóa bởi lời thánh.

HIỆP MỘT TRONG VINH QUANG THẦN THƯỢNG

Nhân tố thứ ba của sự hiệp một được tìm thấy trong câu 22. “Con đã ban cho họ sự vinh hiển mà Cha đã ban cho Con, để họ hiệp làm một cũng như Chúng Ta là một”. Nhân tố thứ ba của sự hiệp một chân chính là vinh quang – trong vinh quang thần thượng để bày tỏ Đức Chúa Trời Tam Nhất. Vì vinh quang mà Cha đã ban cho Con đã được Con ban cho chúng ta, nên sự hiệp một thật thì ở trong vinh quang thần thượng. Vinh quang là gì? Vinh quang là quyền làm con được Cha ban cho Con với sự sống và bản chất thần thượng của Cha để bày tỏ Cha trong sự đầy trọn của Ngài. Xin hãy lưu ý có bốn phương diện của vinh quang: quyền làm con, sự sống của Cha, bản chất thần thượng của Cha, và sự bày tỏ Cha trong sự đầy trọn của Ngài. Bốn điều này tương đương với vinh quang. Đó là vinh quang, tức là một quyền lợi và đặc quyền thần thượng mà chúng ta có trong Con. Cha đã ban vinh quang này cho Con, và Con có đặc quyền bày tỏ Cha theo cách ấy. Đó chính là vinh quang mà Con đã ban cho chúng ta. Ngày nay tất cả chúng ta đều có quyền làm con cùng với sự sống và bản chất của Cha để bày tỏ Cha trong mọi sự đầy trọn của Ngài trong Con. Chúng ta cần trở nên thật quen thuộc với những điểm này, vì trong vinh quang thần thượng ấy mà chúng ta thật sự làm một.

Câu 23 tiếp: “Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ hoàn toàn làm một, hầu cho thế gian biết Cha đã sai Con và đã thương yêu họ cũng như Cha đã thương yêu Con vậy”. Ở đây chúng ta thấy được làm cho hoàn hảo nên một vẫn gắn liền với việc ở trong Cha và ở trong Con. Nếu chúng ta quan tâm đến tất cả những câu này, thì chúng ta sẽ thấy được sự hiệp một chân thật.

Trong câu 24 Chúa nói: “Cha ơi, Con muốn Con ở đâu, thì những kẻ Cha đã ban cho Con cũng ở đó với Con, để họ ngắm xem sự vinh hiển của Con, là vinh hiển Cha đã ban cho Con, vì từ trước buổi sáng thế Cha đã thương yêu Con”. Chúa ở trong vinh quang thần thượng và đã cầu nguyện rằng tất cả những ai Cha đã ban cho Ngài cũng sẽ ở với Ngài trong vinh quang. Chúng ta cần chú ý kỹ đến các thì của vài động từ trong câu này. Ở đây câu này không nói họ “sẽ ở với Con” hay “họ sẽ ngắm xem vinh quang của Con”. Theo quan niệm tôn giáo, thiên nhiên, vinh quang là điều ở trong tương lai, trong “thiên đàng tương lai”. Theo quan niệm này, trong “thiên đàng tương lai” vinh quang sẽ chiếu sáng và tất cả chúng ta đều sẽ vào trong sự chiếu sáng ấy và ở trong vinh quang. Nhưng Chúa Jesus không dùng thì tương lai, mà dùng thì hiện tại, Ngài nói: “Con muốn Con ở đâu, thì những kẻ Cha đã ban cho Con cũng ở đó với Con, để họ ngắm xem sự vinh hiển của Con”. Chúa nói: “cũng ở” và “ngắm xem sự vinh hiển của Con”. Ở với Chúa trong vinh quang và ngắm xem vinh quang của Ngài không phải dành cho “thiên đàng tương lai”; chúng ta có thể kinh nghiệm những điều này hôm nay. Dường như Chúa nói với Cha: “Cha ơi, Cha đã ban cho Con vinh quang của Cha, quyền làm con với sự sống và bản chất thần thượng để bày tỏ Ngài và sự đầy trọn của Ngài. Đó là vinh quang mà Cha đã ban cho Con, và bây giờ Con ở trong vinh quang ấy. Nhưng những người Cha đã ban cho Con chưa ở trong vinh quang ấy. Con cầu nguyện để họ cũng được ở trong vinh quang ấy”. Lời cầu nguyện này được đáp lời khi nào? Trước hết, lời cầu nguyện này được đáp lời vào ngày Chúa phục sinh, và thứ hai, vào ngày Hội thánh được xây dựng lên. Khi Hội thánh được xây dựng lên, tất cả các môn đồ được đưa vào trong chính vinh quang ấy, vào trong quyền làm con với sự sống và bản chất thần thượng, để bày tỏ Đức Chúa Cha trong Con trong mọi sự đầy trọn của Ngài. Ha-lê-lu-gia, tất cả chúng ta đều ở trong vinh quang với Con! Con có quyền làm con với sự sống và bản chất thần thượng để bày tỏ Cha, và chúng ta cũng có điều này. Do đó, bây giờ chúng ta đang ở nơi Con ở – ấy là trong vinh quang. Bởi điều này chúng ta thấy sự hiệp một thật là trong Đức Chúa Trời Tam Nhất nhờ tiến trình sự chết và sự phục sinh của Con.

Giai đoạn đầu của sự hiệp một là sự hiệp một của sự sống, giai đoạn hai là sự hiệp một của sự thánh hóa, và giai đoạn ba là sự hiệp một trong sự vinh hóa của Đức Chúa Trời Tam Nhất. Giai đoạn sau cùng, sự vinh hóa của Đức Chúa Trời Tam Nhất, đơn giản là sự bày tỏ Đức Chúa Trời Tam Nhất, tức là vinh quang của quyền làm con. Khi chúng ta cùng đến chỗ nhận thức mình đã được tái sinh, thánh hóa và đóng đinh, khi ấy chúng ta là một để bày tỏ Đức Chúa Trời, để biểu lộ Đức Chúa Trời, và được làm cho hoàn hảo trong sự vinh hóa của Đức Chúa Trời Tam Nhất.

Bằng cách áp dụng ba giai đoạn này, chúng ta có thể khám phá mình đang ở giai đoạn nào. Anh em đang ở giai đoạn nào, một, hai hay ba? Anh em chỉ hiệp một trong sự sống hay anh em có sự hiệp một cao hơn trong sự thánh hóa, hay sự hiệp một cao nhất trong sự vinh hóa của Đức Chúa Trời Tam Nhất? Không phải tất cả chúng ta đều ở trong cùng một giai đoạn. Một số ở giai đoạn đầu, một số khác ở giai đoạn hai, và nhờ sự thương xót của Chúa, một số ít ở giai đoạn ba. Hễ được cứu và được sinh lại, anh em có sự sống của Cha và danh Cha. Do đó anh em là con cái của Cha và là một với những Cơ Đốc nhân khác, họ cũng là con cái của Cha. Vì vậy anh em là một trong sự sống. Nhưng anh em cũng cần được thánh hóa bởi lời Chúa để được phân rẽ khỏi những điều thuộc thế gian và sống trong Đức Chúa Trời. Khi ấy anh em sẽ là một với các thánh đồ trong giai đoạn thứ hai. Cuối cùng anh em cần nhận thức sự đóng đinh của thập tự giá để sống trong sự vinh hóa của Đức Chúa Trời Tam Nhất. Điều này có nghĩa là anh em phải từ chối chính mình, sống trong sự bày tỏ Đức Chúa Trời Tam Nhất, và được làm cho hoàn hảo dẫn đến sự hiệp một của sự vinh hóa của Đức Chúa Trời Tam Nhất. Như chúng ta đã thấy, đó là bước cuối cùng của sự hiệp một.

Lời cầu nguyện của Chúa chỉ được ứng nghiệm trong giai đoạn ba của sự hiệp một. Chỉ trong giai đoạn này Con Đức Chúa Trời sẽ được làm cho vinh hiển để Cha được làm cho vinh hiển trong Con và qua Con. Chỉ trong giai đoạn này chúng ta sẽ làm vinh hiển Chúa và biểu lộ Ngài trong sự hiệp một. Trong giai đoạn này chúng ta sẽ tuyệt đối được làm cho hoàn hảo nhằm đưa đến sự hiệp một để bày tỏ và làm vinh hiển Chúa. Khi ấy chúng ta sẽ làm cho quyền làm con trở thành hiện thực, vì tất cả những gì Đức Chúa Trời là và có sẽ được hiện thân trong chúng ta. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ có sự sống của Đức Chúa Trời, bản chất của Đức Chúa Trời, và ngay cả chính Đức Chúa Trời để đạt được mục đích là trở nên chính sự biểu lộ và bày tỏ Đức Chúa Trời. Cuối cùng, chúng ta sẽ có vinh quang đầy trọn mà Đức Chúa Trời đã ban cho Chúa là Con Đức Chúa Trời.

SỰ HIỆP MỘT LÀ SỰ XÂY DỰNG

Sự hiệp một thật cũng là sự xây dựng. Đừng nghĩ rằng đó là quan niệm của tôi hay điều này không được sự khải thị của Kinh Thánh hỗ trợ. Qua biểu tượng về đền tạm trong Cựu Ước, chúng ta có thể thấy sự hiệp một là sự xây dựng. Chỗ ở hỗ tương được khải thị trong Giăng chương 14 được đền tạm tượng trưng, mô tả và trình bày. Nếu không sáng tỏ về chỗ ở hỗ tương trong Giăng chương 14, anh em cần trở lại Xuất Ai Cập Ký chương 26 để thấy sự cấu tạo và xây dựng đền tạm.

Tất cả những ai đọc Kinh Thánh cách cẩn thận đều biết đền tạm không những là chỗ ở của Đức Chúa Trời mà còn là chỗ ở của những người hầu việc Đức Chúa Trời. Những ai hầu việc Đức Chúa Trời thì cư ngụ trong đền tạm. Nhiều lần trong Thi Thiên, tác giả cầu nguyện rằng ông muốn cứ ở trong đền thờ, tức trong nhà của Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như Thi Thiên 27:4 chép: “Tôi đã xin Đức Giê-hô-va một điều, và sẽ tìm kiếm điều ấy! Ấy là tôi muốn trọn đời được ở trong nhà Đức Giê-hô-va, để nhìn xem sự tốt đẹp của Đức Giê-hô-va, và cầu hỏi trong đền của Ngài”. Qua câu này chúng ta có thể thấy đền thờ hay đền tạm không những là chỗ ở của Đức Chúa Trời mà cũng là chỗ ở của những người yêu mến Đức Chúa Trời. Vì vậy đền tạm tượng trưng cho chỗ cư ngụ hỗ tương, chỗ ở hỗ tương.

Đền tạm được cấu tạo bằng bốn mươi tám tấm ván. Điều này đầy ý nghĩa. Vì đó là biểu tượng, chúng ta cần ẩn dụ hóa mọi khía cạnh của biểu tượng này. Bốn mươi tám tấm ván này được cấu tạo với con số cơ bản là số sáu. Số sáu là con số của sáu bình đựng nước trong Giăng chương 2, tượng trưng cho con người được sáng tạo vào ngày thứ sáu. Do đó số sáu là số của nhân tính, số của con người. Bốn mươi tám chia cho sáu là tám, trong Kinh Thánh số tám chỉ về sự phục sinh, một khởi đầu mới. Ngày đầu tiên trong tuần, ngày tiếp theo sau bảy ngày của tuần trước, là ngày thứ tám, nghĩa là một khởi đầu mới mẻ. Phép cắt bì được thực hiện lúc nào? Vào ngày thứ tám (Lê. 12:3). Chúa Jesus phục sinh khi nào? Vào ngày thứ nhất trong tuần, tức là vào ngày thứ tám (Gi. 20:1). Vì vậy, số tám chỉ về một khởi đầu mới trong sự phục sinh, và số bốn mươi tám chỉ về nhân tính trong sự phục sinh. Đó không phải là nhân tính thiên nhiên, mà là nhân tính đã phục sinh. Trong Hội thánh cần có nhân tính, nhưng phải là nhân tính phục sinh chứ không phải nhân tính thiên nhiên.

Bốn mươi tám tấm ván bằng gỗ tượng trưng cho nhân tính được bọc bằng vàng (Xuất. 26:29). Vàng tượng trưng cho thần tính bao hàm bản chất thần thượng và vinh quang thần thượng. Do đó vàng bọc bốn mươi tám tấm ván trong đền tạm tượng trưng cho thể yếu thần thượng cùng với vinh quang thần thượng. Trên lớp vàng bọc là những khoen vàng, và xỏ bên trong những khoen vàng là những thanh liên kết bằng vàng, kết hợp bốn mươi tám tấm ván lại với nhau. Ở đây chúng ta có sự hiệp một, sự hiệp một là sự xây dựng. Vì vậy, chúng ta có thể nói sự xây dựng là sự hiệp một.

Trong Kinh Thánh, sự hiệp một không chỉ là vấn đề gom chung các vật liệu lại với nhau. Gom các vật liệu lại với nhau không phải là sự hiệp một; đó chỉ là chất đống. Hiệp một là xây dựng lại với nhau. Để xây dựng lại với nhau, nhiều miếng không những được gom lại mà còn được ráp khít khao với nhau để hình thành một đơn vị. Chẳng hạn như một căn nhà: mỗi phần của căn nhà ráp lại với nhau để hình thành một đơn vị. Qua ví dụ về biểu tượng đền tạm, chúng ta có thể thấy bốn mươi tám tấm ván trở nên một kiến ốc.

Sự hiệp một ấy, sự xây dựng ấy trong đền tạm hoàn toàn tùy thuộc vào vàng. Nếu vàng bị lấy đi khỏi bốn mươi tám tấm ván, sự hiệp một sẽ mất, và bốn mươi tám tấm ván sẽ rời ra rơi xuống. Tự mình, các tấm ván bằng gỗ không có nhân tố liên kết hay yếu tố liên kết. Yếu tố liên kết ấy là vàng. Vàng bọc các tấm ván, trên vàng bọc là những khoen vàng và trong những khoen vàng là những thanh liên kết bằng vàng. Như vậy, trong vàng tất cả những tấm ván có thể hiệp một được. Ấy là trong sự sống thần thượng, bản chất thần thượng, và vinh quang thần thượng, không phải trong nhân tính, mà tất cả “các tấm ván” là một. Mặc dầu là những tấm ván trong sự phục sinh, nhân tính phục sinh này không phải là nhân tố liên hiệp; nhân tố liên hiệp là thần tính, là vàng. Sự sống, bản chất và vinh quang thần thượng là nhân tố liên hiệp. Cũng vậy, sự hiệp một của chúng ta không ở trong chúng ta nhưng ở trong Đức Chúa Trời Tam Nhất, là sự sống, bản chất, vinh quang và biểu hiện của chúng ta. Giống như bốn mươi tám tấm ván trong đền tạm, cuối cùng chúng ta không bày tỏ chính mình, nhưng bày tỏ vinh quang của Đức Chúa Trời Tam Nhất được tượng trưng bằng vàng. Bây giờ chúng ta có thể thấy bốn mươi tám tấm ván là một trong vinh quang thần thượng, bày tỏ vinh quang của vàng. Đó là sự hiệp một thật. Thật là sáng tỏ, sự hiệp một này không phải chỉ là quây quần lại với nhau mà là sự xây dựng. Quây quần lại với nhau không đủ để có sự hiệp một thật. Sự hiệp một này phải là sự xây dựng.

Khi đến cuối Kinh Thánh, chúng ta có mùa gặt của công tác xây dựng của Đức Chúa Trời qua các thời đại, tức Giê-ru-sa-lem Mới, tổng kết sau cùng của sự nghiệp xây dựng của Đức Chúa Trời. Sự hiệp một của Giê-ru-sa-lem Mới có phải là một đống đá quí không? Không, đó là một sự xây dựng. Biểu hiện bên ngoài của Giê-ru-sa-lem Mới là bích ngọc (Khải. 21:10-11, 18a). Trong Khải Thị chương 4, chúng ta thấy biểu hiện bên ngoài của Đức Chúa Trời, tức Đấng ngồi trên ngai, cũng là vẻ của bích ngọc, nghĩa là bích ngọc là sự bày tỏ Đức Chúa Trời, biểu hiện bên ngoài của Đức Chúa Trời. Vì vậy, cả Giê-ru-sa-lem Mới sẽ có cùng một vẻ bên ngoài giống như Đức Chúa Trời, sẽ bày tỏ Đức Chúa Trời. Điều đó có nghĩa là tất cả các đá quí là một trong việc bày tỏ hình ảnh Đức Chúa Trời. Đó là sự hiệp một thật.

Một số Cơ Đốc nhân nói mỗi Hội thánh địa phương phải đặc thù, phải khác với tất cả những Hội thánh địa phương kia. Tôi bị quan niệm này lừa dối nhiều năm. Nhưng một ngày kia Chúa bày tỏ cho tôi thấy rằng bảy Hội thánh trong Khải Thị tuy khác biệt, nhưng khác nhau về mặt tiêu cực, chứ không khác nhau về mặt tích cực. Trong tính chất tiêu cực của mình, vài Hội thánh trong số bảy Hội thánh ấy khác với các Hội thánh kia, nhưng trong tính chất tích cực, tất cả các Hội thánh đều giống nhau. Anh em hãy xem bốn phía của Giê-ru-sa-lem Mới. Theo ý kiến của những người cho rằng mỗi Hội thánh địa phương phải khác nhau một cách rõ ràng, thì bốn phía của Giê-ru-sa-lem Mới cũng nên khác nhau. Một phía nên là bích ngọc, những phía kia nên là hồng ngọc, lục ngọc hay kim cương, mỗi phía phải có tính cách đặc thù. Theo những người có ý kiến ấy, mỗi phía của tường thành nên bày tỏ một điều gì đó độc đáo, một điều gì đó khác với những phía kia. Nhưng đó không phải là sự hiệp một. Tất cả bốn phía của Giê-ru-sa-lem Mới có cùng một biểu hiện – biểu hiện của bích ngọc, là biểu hiện bên ngoài vinh hiển của Đức Chúa Trời.

Trong Tân Ước, sự khác biệt giữa các Hội thánh không phải về phương diện tích cực, nhưng về phương diện tiêu cực. Có thể một số người nói: “Không phải các Hội thánh do Phao-lô thành lập trong thế giới Ngoại bang thuộc một loại và các Hội thánh tại Giu-đa, đặc biệt là Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem, thuộc về một loại khác sao?” Điều đó đúng, nhưng chỉ theo nghĩa tiêu cực mà thôi, chứ không theo nghĩa tích cực. Theo nghĩa tích cực, tất cả các Hội thánh đều tin Chúa Jesus Christ và có Đấng Christ làm sự sống của mình để bày tỏ Đức Chúa Trời. Về phương diện tích cực, không có gì khác biệt giữa các Hội thánh. Tuy nhiên, về mặt tiêu cực, các Hội thánh ấy có một sự khác biệt vì các Hội thánh Ngoại bang không biết gì về việc giữ luật pháp, trong khi các thánh đồ tại Giu-đa, đặc biệt là một số trong Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem, vẫn thực hành các nghi lễ của Do Thái giáo, thậm chí mãi đến lúc Phao-lô đến thăm Giê-ru-sa-lem lần cuối. Đó là một khác biệt thật sự giữa các Hội thánh. Anh em có muốn giữ sự khác biệt này không? Các thánh đồ tại Giê-ru-sa-lem thậm chí còn thuyết phục Phao-lô trả tiền cho lễ thanh tẩy theo nghi thức của Do Thái giáo, nhưng Đức Chúa Trời không đồng ý với điều đó. Vâng, có những sự khác biệt giữa các Hội thánh, nhưng chỉ theo nghĩa tiêu cực mà thôi.

Như vậy, chúng ta nên giữ những sự khác biệt tiêu cực, hay nên tiếp tục giữ sự hiệp một tích cực? Tất cả các Hội thánh phải giống nhau. Chúng ta có một quyển Kinh Thánh, chúng ta tin vào một Đức Chúa Trời, chúng ta có cùng một Jesus Christ làm Cứu Chúa mình, và tất cả chúng ta vui hưởng Ngài là sự sống của mình để bày tỏ Đức Chúa Trời. Không có lý do nào để khác nhau. Nếu chúng ta vẫn duy trì sự khác biệt, có nghĩa là chúng ta tiêu cực. Tất cả bốn mươi tám tấm ván trong đền tạm đều bày tỏ vinh quang của một loại vàng, và toàn bộ tường thành Giê-ru-sa-lem đều sẽ có vẻ đẹp của bích ngọc. Chúng ta vui mừng biết bao vì tất cả các Hội thánh ngày nay đều giống nhau cách tích cực. Chúng ta phải từ bỏ quan niệm truyền thống cho rằng các Hội thánh nên khác nhau. Tất cả các Hội thánh phải giống nhau.