Thông tin sách

Nghiên Cứu Sự Sống Sách Giăng

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Life-Study of John
ISBN: 0-7363-0957-8
Mua sách tại:

Đang đọc: Bài 38

Untitled Document

BÀI BA MƯƠI TÁM

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA SỰ SỐNG (1)

Trong bài này chúng ta đến với lời cầu nguyện sâu nhiệm của Chúa trong Giăng chương 17. Lời cầu nguyện này là lời cầu nguyện kết thúc sứ điệp mà Chúa đã rao ra trong chương mười bốn, mười lăm và mười sáu. Nếu đọc kỹ Giăng chương 14 đến 17, chúng ta sẽ nhận thấy bốn chương này có một hương vị đặc biệt về cách diễn đạt và kết cấu. Hương vị này hoàn toàn khác biệt với những chương khác trong Kinh Thánh. Mặc dầu toàn bộ Kinh Thánh chắc chắn đều do Đức Chúa Trời hà hơi, nhưng bốn chương này có hương vị đặc biệt, không ai có thể bắt chước được. Hương vị này không những thánh khiết mà còn thần thượng. Không một con người nào có thể nói ra được một điều có tính chất rất thần thượng như vậy. Hương vị của những chương này thật đặc biệt, gây ấn tượng và độc đáo vì tuyệt đối thần thượng. Người viết những chương này chắc phải thần thượng. Không người nào có thể viết được một điều như vậy. Không người nào có thể nói: “Cha ơi, xin tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Con để Con tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Cha”. Chỉ có Con Đức Chúa Trời mới có thể nói ra những lời như vậy. Mặc dầu có thể không hiểu những chương này, nhưng nếu anh em ở trong linh khi đọc thì anh em sẽ cảm nhận được hương vị thần thượng. Đó là sự phát ngôn thần thượng, lời diễn đạt thần thượng, dòng chảy thần thượng với hương vị thần thượng. Tôi tin chắc rằng Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời. Ngoài Đức Chúa Trời, ai có thể sáng tác bốn chương này? Một người đánh cá như Giăng có thể nói ra những điều như vậy không? Không thể được. Nếu chúng ta qui tụ hai trăm người có bằng cấp tiến sĩ, họ cũng không có chất liệu để biên soạn một tác phẩm có hương vị như vậy. Chúng ta phải thờ phượng Chúa về bốn chương này biết bao! Chúng ta phải thờ phượng Ngài về sứ điệp Ngài ban bố trước khi Ngài chịu chết và chúng ta phải thờ phượng Ngài về lời cầu nguyện kết thúc của Ngài.

Để hiểu ý nghĩa lời cầu nguyện của Ngài, chúng ta phải nhớ ý tưởng chủ yếu trong sứ điệp Chúa ban bố trong ba chương trước. Ý tưởng chủ yếu của sứ điệp ấy thì phong phú, sâu nhiệm và thâm thúy. Phương diện đầu tiên của ý tưởng chủ yếu ấy là Chúa Jesus, Con Đức Chúa Trời, được Cha sai đến để ở giữa chúng ta. Rồi Ngài được biến hóa từ xác thịt thành ra Linh để có thể vào bên trong chúng ta. Nói cách khác, Ngài được biến hóa thành Thánh Linh, và Ngài vào trong chúng ta với tư cách là Thánh Linh. Khi Thánh Linh đến trong chúng ta, Ngài đến với tư cách là Linh thực tại để làm cho Chúa Jesus thành ra thật đối với chúng ta trong mọi phương diện. Khi làm như vậy, Chúa đem chúng ta vào trong Cha và đem Cha vào trong chúng ta. Đó là sự hòa lẫn thần tính với nhân tính. Nơi cư ngụ hỗ tương được bao hàm trong sự hòa lẫn này. Chúng ta trở nên nơi cư ngụ cho Đức Chúa Trời Tam Nhất và Đức Chúa Trời Tam Nhất trở nên nơi cư ngụ cho chúng ta. Chúng ta có thể ở trong Đức Chúa Trời Tam Nhất và Đức Chúa Trời Tam Nhất có thể ở trong chúng ta. Đó là ý tưởng chủ yếu của sứ điệp sâu xa và vinh hiển mà Chúa đã ban bố trong ba chương này. Sau khi ban sứ điệp ấy, Chúa dâng một lời cầu nguyện kết thúc.

Đề tài, ý tưởng chủ yếu của lời cầu nguyện này là gì? Mặc dầu đề tài của lời cầu nguyện này tùy thuộc rất nhiều vào ý tưởng chủ yếu của sứ điệp đi trước, chúng ta vẫn khó có thể khám phá ra đề tài của lời cầu nguyện này. Tôi đã để nhiều thì giờ nghiên cứu Giăng chương 17 mà không hiểu gì về ý nghĩa của lời cầu nguyện này. Khi còn trẻ, tôi nghe nói trong chương này Chúa cầu nguyện cho sự hiệp một.

Nhưng sự hiệp một, hay hiệp nhất giữa vòng các môn đồ của Ngài không phải là đề tài. Sự hiệp một chỉ là một vấn đề bề mặt. Có một điều gì đó sâu xa nằm bên dưới bề mặt ấy, và chúng ta không dễ gì đào lên được. Giăng chương 17 là một chương sâu nhiệm, khó dò. Chúng ta cảm tạ Chúa vì dần dần, từng chút một, Ngài đã bày tỏ cho chúng ta ý nghĩa thật, ý nghĩa đích thực, ý tưởng chủ yếu trong lời cầu nguyện của Ngài trong chương này.

I. CON ĐƯỢC LÀM CHO VINH HIỂN ĐỂ CHA ĐƯỢC LÀM CHO VINH HIỂN

Khái niệm cơ bản trong lời cầu nguyện của Chúa trong Giăng chương 17 là sự làm cho vinh hiển. Trong câu 1, Chúa nói: “Cha ơi, giờ đã đến, xin tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Con hầu cho Con tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Cha”. Đó là đề tài, là điểm chủ yếu của lời cầu nguyện này. Nếu thấy được những điểm chính của ba chương trước, chúng ta sẽ hiểu Con được làm cho vinh hiển để Cha được làm cho vinh hiển có nghĩa là gì. Cha phải làm vinh hiển Con để Con có thể làm vinh hiển Cha. Đó là sự làm cho vinh hiển hỗ tương giữa Con và Cha. Nếu Cha làm vinh hiển Con thì Con sẽ làm vinh hiển Cha.

Vì là lời cầu nguyện theo sau sứ điệp, hàm chứa điểm chính của sứ điệp, nên lời cầu nguyện kết thúc của Chúa nói đến điểm chính của sứ điệp Ngài ban bố trong ba chương trước. Xin ghi nhớ điều ấy, vì như vậy sẽ giúp anh em hiểu lời cầu nguyện này. Điểm chính của sứ điệp Chúa ban bố trong Giăng chương 14 đến 16 là Con được làm cho vinh hiển để Cha được làm cho vinh hiển trong Con. Cha được làm cho vinh hiển trong Con bằng cách nào? Qua cơ cấu hữu cơ của cây nho. Như chúng ta đã thấy, cơ cấu hữu cơ của cây nho là để truyền đạt và làm lan rộng sự sống, tức là để sinh sôi nảy nở và tái sản sinh sự sống, và cũng để bày tỏ Đức Chúa Trời Tam Nhất. Khi Đức Chúa Trời Tam Nhất được lan truyền, sinh sôi nảy nở, và được bày tỏ qua cơ cấu hữu cơ này, thì Con được làm cho vinh hiển và trong sự làm vinh hiển Con, Cha cũng được làm cho vinh hiển. Do đó Chúa cầu nguyện rằng Ngài, là Con, sẽ được làm cho vinh hiển để Cha cũng được làm cho vinh hiển.

Mục đích đời đời của Đức Chúa Trời, tức ý định sau cùng của Ngài, là hiển hiện, bày tỏ chính Ngài. Như tôi đã nêu lên vài lần trong quá khứ, làm vinh hiển đơn giản có nghĩa là hiển hiện. Được vinh hóa là được hiển hiện và bày tỏ. Chẳng hạn như điện không được “hiển hiện” ra tức là bị giấu đi. Trước khi đèn được bật lên, điện bị giấu trong đèn. Nhưng khi đèn bật lên, điện được hiển hiện và bày tỏ ra. Cũng vậy, ý định của Đức Chúa Trời là hiển hiện và bày tỏ chính Ngài. Cũng như điện được làm cho vinh hiển khi nó được bày tỏ ra, Đức Chúa Trời cũng được làm cho vinh hiển khi Ngài được bày tỏ ra.

Trong sự sáng tạo, Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài (Sáng 1:26). Hình ảnh ngụ ý một sự bày tỏ. Không có một hình ảnh nào đó, thì Đức Chúa Trời không bao giờ được bày tỏ ra. Vì vậy, hình ảnh chính là sự bày tỏ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có ý định bày tỏ chính Ngài ra khi tạo dựng nên con người theo hình ảnh Ngài. Chúa Jesus là Đức Chúa Trời nhục hóa làm người với mục đích bày tỏ Đức Chúa Trời không thấy được. Giăng 1:18 nói không ai từng thấy Đức Chúa Trời, nhưng Con đã giải bày Cha. Đức Chúa Trời thì vô hình và không thấy được. Ngoài Con của Đức Chúa Trời, không ai từng thấy Ngài. Bây giờ trong sự nhục hóa, Con đã giải bày Ngài. Giải bày Đức Chúa Trời có nghĩa là bày tỏ Ngài. Chúa Jesus chính là hình ảnh của Đức Chúa Trời không thể thấy được (Côl. 1:15), có nghĩa chính Ngài là sự bày tỏ Đức Chúa Trời không nhìn thấy được.

Hình ảnh minh họa tốt nhất về sự làm vinh hiển là một đóa hoa nở ra. Thí dụ như một hạt hoa cẩm chướng được gieo xuống đất. Sau khi mọc lên, nó nở hoa. Nở hoa là sự làm vinh hiển hạt giống cẩm chướng. Hạt giống cẩm chướng chứa đựng yếu tố sự sống và hình dạng sự sống của hoa cẩm chướng. Hình dạng, màu sắc và vẻ đẹp của hoa đều được chứa đựng trong hạt giống cẩm chướng nhỏ bé, nhưng không ai có thể nhìn thấy hình dạng, màu sắc, vẻ đẹp này cho đến khi hạt giống ấy mọc lên và nở hoa. Hoa nở là vinh quang của hạt giống. Sự nở hoa là sự làm vinh hiển hạt giống, vì nhờ nở hoa mà hạt giống được làm cho vinh hiển, tức là được bày tỏ ra.

Khi Jesus Christ đến trong xác thịt, Ngài giống như hạt giống cẩm chướng nhỏ bé ấy. Trong Ngài, tức trong hình dạng loài người của Ngài, trong cái vỏ loài người của Ngài, là mọi vẻ đẹp và hình dạng của sự sống thần thượng. Mọi phương diện đầy màu sắc của sự sống thần thượng đều được niêm phong và giấu kín trong con người Na-xa-rét nhỏ bé ấy. Một ngày kia, Ngài được gieo vào lòng đất. Sau khi chịu chết, Ngài lớn lên và nở hoa trong sự phục sinh. Trong sự phục sinh của Ngài, vẻ đẹp, hình dạng, kiểu mẫu, màu sắc và sự phong phú của sự sống được phóng thích và bày tỏ ra. Đó là sự làm vinh hiển Con. Vì mọi sự Đức Chúa Trời là và có đều được hiện thân trong Con, nên khi Con được làm cho vinh hiển, Cha cũng được làm cho vinh hiển trong sự làm vinh hiển Con.

Sau khi trở nên xác thịt, Chúa đã bày tỏ Đức Chúa Trời ở một mức độ nào đó, nhưng vinh quang của Đức Chúa Trời, vinh quang của mọi thuộc tính Đức Chúa Trời, đều được giấu kín trong xác thịt Ngài. Vinh quang của mọi sự đầy đủ của Đức Chúa Trời đã bị che phủ, bao bọc bởi xác thịt Ngài. Do đó Chúa bảo các môn đồ Ngài rằng Ngài phải chết và phục sinh. Chết không phải là một từ ngữ êm dịu đối với chúng ta. Tuy nhiên, khi một hạt giống được gieo xuống đất và chết đi thì không phải là điều xấu, mà là điều tốt vì vinh quang và vẻ đẹp của hoa giấu kín trong hạt giống được phóng thích khi hạt giống ấy chết đi. Vẻ đẹp đầy màu sắc và vinh quang phong phú được phóng thích ra qua sự chết và sự phục sinh. Đó là sự làm vinh hiển. Sau khi nói cho các môn đồ biết về cái chết và sự phục sinh sắp đến của mình, Chúa dâng lời cầu nguyện với Cha, Ngài cầu xin Cha làm vinh hiển Con để mọi vinh quang ẩn giấu trong Ngài được bày tỏ ra qua sự chết và sự phục sinh của Ngài. Làm vinh hiển Con nghĩa là bày tỏ ra mọi vinh quang ẩn giấu trong xác thịt Ngài, nghĩa là phóng thích qua sự chết và sự phục sinh mọi vinh quang thần thượng niêm phong trong xác thịt của Con.

Chúng ta đã thấy đề tài lời cầu nguyện của Chúa trong Giăng chương 17 là sự làm vinh hiển. Chúa là Đức Chúa Trời nhục hóa trong xác thịt, và xác thịt Ngài là đền tạm để Đức Chúa Trời cư ngụ trên đất (1:14). Yếu tố thần thượng của Ngài được giấu kín trong nhân tính Ngài, y như vinh quang Sê-ki-na của Đức Chúa Trời đã được giấu kín trong đền tạm. Một lần kia trên núi hóa hình, yếu tố thần thượng của Ngài được phóng thích từ bên trong xác thịt Ngài và được bày tỏ ra trong vinh quang, [và cảnh tượng ấy] được ba môn đồ Ngài trông thấy (Mat. 17:1-4; Gi. 1:14), nhưng rồi lại bị giấu đi trong xác thịt Ngài. Trước khi cầu nguyện lời này, Ngài đã nói trước Ngài sẽ được làm cho vinh hiển và Cha sẽ được làm cho vinh hiển trong sự làm vinh hiển Ngài (12:23; 13:31-32). Bây giờ Ngài phải trải qua sự chết để cái vỏ nhân tính niêm phong ấy được phá vỡ, hầu yếu tố thần thượng, sự sống thần thượng của Ngài được phóng thích ra. Ngài cũng phải được phục sinh để nâng cao nhân tính của mình thành ra yếu tố thần thượng, và để yếu tố thần thượng của Ngài được bày tỏ ra hầu cho toàn bản thể Ngài, cả thần tính lẫn nhân tính, đều được làm cho vinh hiển. Bằng cách ấy, Cha được làm cho vinh hiển trong Ngài. Ngài cầu nguyện cho vấn đề ấy trong Giăng chương 17.

Lời cầu nguyện kết thúc của Chúa là vì sự làm vinh hiển Đức Chúa Trời Tam Nhất. Sự ứng nghiệm, sự đáp lời cầu nguyện cho sự làm vinh hiển Đức Chúa Trời Tam Nhất có ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là sự phục sinh của Chúa. Trong sự phục sinh của Chúa, tất cả vẻ đẹp của sự sống, thể yếu của sự sống, màu sắc của sự sống, hình dạng của sự sống, và mọi khía cạnh của sự sống thần thượng của Đức Chúa Trời Tam Nhất đều được phóng thích. Trong sự phục sinh của Ngài, sự sống thần thượng của Chúa được phóng thích từ bên trong nhân tính Ngài và truyền vào nhiều tín đồ (12:23-24), và toàn bản thể Ngài, kể cả nhân tính, đều đã được đem vào vinh quang (Lu. 24:26), và trong đó yếu tố thần thượng của Cha được bày tỏ ra. Trước hết Đức Chúa Trời đáp ứng và làm ứng nghiệm lời cầu nguyện này trong sự phục sinh của Chúa (Công. 3:13-15).

Thứ hai, lời cầu nguyện này được ứng nghiệm trong Hội thánh, khi sự sống phục sinh của Ngài được bày tỏ qua nhiều chi thể Ngài thì Ngài được làm cho vinh hiển trong họ và Cha cũng được làm cho vinh hiển trong Ngài qua Hội thánh (Êph. 3:21; 1 Ti. 3:15-16). Hãy xem Hội thánh trong Công vụ các Sứ đồ vào ngày lễ Ngũ tuần. Tại đó chúng ta thấy vẻ đẹp, hình dạng, và sự phong phú của sự sống thần thượng. Sự phục sinh của Chúa không phải là sự ứng nghiệm trọn vẹn lời cầu nguyện của Ngài. Đó chỉ là bước đầu trong sự ứng nghiệm lời cầu nguyện này. Bước kế tiếp là Hội thánh. Từ ngày phục sinh cho đến khi Chúa trở lại là thời đại Hội thánh. Trong thời đại này, Chúa làm vinh hiển chính Ngài trong các tín đồ. Suốt mọi thời đại, Con Đức Chúa Trời đã được làm cho vinh hiển và vẫn còn được làm cho vinh hiển. Ngày nay chúng ta đang làm gì? Nếu chúng ta nói mình cùng đến với nhau để “trưng bày” Đấng Christ, có nghĩa là chúng ta đang làm vinh hiển Đấng Christ và làm cho Ngài được bày tỏ ra. Nếu chúng ta nói mình đang làm chứng cho Chúa, có nghĩa là chúng ta đang bày tỏ Đấng Christ qua mình. Chứng cớ của Chúa là sự bày tỏ và làm vinh hiển Chúa qua chúng ta. Nếu chúng ta muốn có một chứng cớ cho Chúa Jesus ở sở làm, trường học, và nhiều nơi khác, có nghĩa là chúng ta muốn Chúa Jesus được bày tỏ ra qua chúng ta. Đó là sự làm vinh hiển Chúa. Khi Chúa được bày tỏ ra và được làm cho vinh hiển qua chúng ta, thì đồng thời Cha cũng được làm cho vinh hiển trong Chúa. Như vậy ngày nay, lời cầu nguyện của Chúa vẫn đang được ứng nghiệm qua Hội thánh.

Trong Hội thánh, chúng ta có thể thấy vẻ đẹp và sự phong phú của sự sống thần thượng. Nhưng thỉnh thoảng trong Hội thánh, chúng ta cũng thấy biểu lộ con người xấu xa. Một mặt Hội thánh thuộc về sự sống thần thượng; mặt khác, Hội thánh vẫn đang ở trong sự sống của con người thiên nhiên. Trong Hội thánh, sự sống thần thượng được bày tỏ ra, nhưng thỉnh thoảng sự sống con người thiên nhiên cũng lộ ra. Khi sự sống thần thượng được bày tỏ, đó là vẻ đẹp và vinh quang. Nhưng khi sự sống của con người thiên nhiên lộ ra, thì đó là điều hổ thẹn và nhục nhã.

Đừng nhìn vào khía cạnh tối tăm của Hội thánh. Đừng đi tìm thùng rác. Hãy đến phòng khách và xem mọi vẻ đẹp tại đó. Mỗi nhà đều có ít nhất một chỗ để thùng rác. Cũng vậy, mỗi Hội thánh địa phương có một chỗ để thùng rác. Nơi ấy xấu xí và hôi hám. Đừng cố gắng tìm kiếm thùng rác. Trái lại, hãy ngồi ở “phòng khách” của mỗi Hội thánh. Mỗi khi đến thăm một Hội thánh địa phương, anh em phải quên đi ý định đi tìm chỗ để rác. Anh em đừng đến đó để tìm kiếm thùng rác. Anh em đến đó để thăm viếng Hội thánh. Vì vậy, anh em cần ở trong phòng khách của Hội thánh, vui hưởng vẻ đẹp của sự sống thần thượng được bày tỏ trong Hội thánh ấy. Dầu Hội thánh yếu ớt thế nào chăng nữa, ít nhất cũng có một mức lượng sự sống thần thượng đẹp đẽ tại đó. Chúng ta cần nhìn vẻ đẹp của nếp sống Hội thánh, vì nếp sống Hội thánh là giai đoạn thứ hai của sự làm vinh hiển Đức Chúa Trời Tam Nhất.

Một số anh chị em chuyên tìm kiếm rác rến trong Hội thánh địa phương. Một số khác không những lùng kiếm rác rến, mà còn phơi bày rác rến nữa. Họ không bao giờ thấy vẻ đẹp của sự sống thần thượng trong Hội thánh tại địa phương mình. Họ luôn luôn chú ý đến rác rến. Họ là những người lùng kiếm rác, phơi bày rác, thậm chí còn triển lãm rác. Họ thích triễn lãm tất cả rác rến trong Hội thánh tại địa phương mình. Mỗi khi làm như vậy, họ đang ở trong tối tăm. Thỉnh thoảng, trước khi đến thăm một Hội thánh địa phương khác, các đồng công trẻ tuổi đến gặp tôi xin lời khuyên. Tôi luôn luôn nói với họ: “Khi đến Hội thánh đó, anh em hãy hết sức cố gắng tìm ra những điểm tốt. Hãy quên đi những điểm xấu mà mình có thể thấy. Đừng nhìn vào những điểm ấy. Hãy tránh xa đi. Đừng để rác rến trong Hội thánh mà mình đến thăm tạo ấn tượng trong anh em”. Dầu ở ngay tại địa phương mình, anh em cũng đừng tìm kiếm rác rến. Nếu làm như vậy, anh em sẽ là người đầu tiên phải chịu khổ. Trước hết rác rến sẽ gây tổn hại cho anh em. Tôi thích đến bàn ăn của một Hội thánh địa phương. Gia đình nào cũng dọn những món ăn ngon nhất trên bàn. Hãy đến, ngồi tại bàn ăn, thưởng thức những gì dọn ra tại đó và nói: “Ngợi khen Chúa, Ha-lê-lu-gia!” Sau khi ăn uống thỏa thuê, hãy chào tạm biệt và ra đi. Tôi không muốn biết điều gì xấu hay tiêu cực. Những gì tôi thấy đều vinh hiển. Chúng ta phải tin rằng mỗi Hội thánh địa phương, nếu ở trong tình trạng đúng đắn, đều có vẻ đẹp của sự sống thần thượng đến một mức độ nào đó.

Giai đoạn ba của sự ứng nghiệm lời Chúa cầu nguyện trong chương 17 là gì? Đó là Giê-ru-sa-lem Mới. Lời cầu nguyện trong Giăng 17 này cuối cùng sẽ được ứng nghiệm trong Giê-ru-sa-lem Mới. Qua thành thánh, Con được bày tỏ ra cách đầy trọn trong vinh quang và Đức Chúa Trời cũng sẽ được làm cho vinh hiển trong Ngài cho đến đời đời (Khải. 21:11; 23-24). Hãy xem hình ảnh Giê-ru-sa-lem Mới: đó là một chiếc bình để bày tỏ Đấng Christ, để làm cho Đức Chúa Trời được bày tỏ qua Đấng Christ. Giê-ru-sa-lem Mới là sự làm vinh hiển Con để Cha được làm cho vinh hiển qua Con.

Có lẽ anh em không sáng tỏ về bức tranh Giê-ru-sa-lem Mới. Khải Thị chương 21 và 22 bày tỏ rõ rằng Đức Chúa Trời là sự sáng, và Đấng Christ, tức Chiên Con, là đèn. Ánh sáng ở trong đèn, và đèn là trung tâm của thành, chung quanh thành là một bức tường trong suốt. Đức Chúa Trời được mô tả là ánh sáng chiếu qua đèn, tức là Con Đức Chúa Trời. Con Đức Chúa Trời sẽ được làm cho vinh hiển qua bức tường trong suốt. Thành bao gồm tất cả những người được cứu chuộc, có tên của mười hai chi phái Israel và tên của mười hai sứ đồ. Mười hai chi phái tượng trưng cho mọi thánh đồ của Cựu Ước, và mười hai sứ đồ tượng trưng cho tất cả các thánh đồ của Tân Ước. Giê-ru-sa-lem Mới là cơ cấu tổng hợp của tất cả những người được cứu chuộc, là những con người trong suốt và được xây dựng lại với nhau. Họ có Đấng Christ, là trung tâm, là đèn mà trong đó Đức Chúa Trời, là sự sáng, chiếu soi. Khi ngọn đèn được bày tỏ và làm vinh hiển qua tường thành, thì ánh sáng trong đèn cũng được làm cho vinh hiển.

Giê-ru-sa-lem Mới là hình ảnh trọn vẹn bày tỏ thế nào Con được làm cho vinh hiển trong thành ấy, và thế nào Cha được làm cho vinh hiển trong sự làm vinh hiển Con. Nhiều lần một vài thánh đồ thân mến nói với tôi: “Anh ơi, anh không biết chứ Hội thánh nơi tôi ở nghèo nàn lắm”. Tôi không thích nghe điều đó. Đó là một lời nói dối. Hội thánh hôm nay có thể nghèo nàn, nhưng sau một thời gian Hội thánh sẽ không còn nghèo nàn nữa. Có lẽ anh em không có đức tin để nói như vậy về Hội thánh địa phương mình. Có thể anh em nói: “Không, Hội thánh tại địa phương tôi không bao giờ có thể tốt hơn được”. Đừng nói “không bao giờ”, vì ít nhất Hội thánh của anh em sẽ trở nên tốt trong Giê-ru-sa-lem Mới. Mọi phần của thành Giê-ru-sa-lem Mới đều sẽ chiếu sáng và vinh hiển.

Vào năm 1941, trong một buổi nhóm cầu nguyện tại Hội thánh Thượng Hải, một chị em rất nổi bật đã dâng lên một lời cầu nguyện dài. Trong lời cầu nguyện ấy, chị than thở: “Chúa ôi, xin thương xót chúng con. Hội thánh ở đây yếu ớt quá”. Ngay sau đó, anh Nee dâng lên một lời cầu nguyện rằng: “Ngợi khen Chúa vì Hội thánh không yếu ớt. Hội thánh thật vinh hiển”. Lời cầu nguyện của anh làm mọi người sửng sốt. Dường như có sự xung đột giữa hai lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện nào đúng? Cuối cùng khi đến Giê-ru-sa-lem Mới, chúng ta sẽ thấy lời cầu nguyện của anh Nee là đúng. Hội thánh hoàn toàn vinh hiển. Đừng tin những lời lừa dối. Hội thánh thật vinh hiển. Nếu ngày nay Hội thánh không tỏ ra vinh hiển, thì có thể ngày mai hay năm tới hay vào thời đại tới Hội thánh sẽ vinh hiển. Trong cõi đời đời, toàn thể Hội thánh chắc chắn sẽ vinh hiển.

Chúng ta đã thấy sự ứng nghiệm ba mặt của lời cầu nguyện này. Giai đoạn đầu của sự ứng nghiệm này là sự phục sinh của Jesus. Nhờ sự phục sinh ấy, Chúa Jesus được bày tỏ ra và được làm cho vinh hiển, và bởi sự làm vinh hiển ấy, Cha cũng được làm cho vinh hiển. Bước thứ hai của sự ứng nghiệm này ở trong Hội thánh. Từ ngày lễ Ngũ tuần cho đến ngày Chúa đến lần thứ hai, Thánh Linh đã bày tỏ và tiếp tục bày tỏ Đấng Christ qua các thánh đồ. Nói cách khác, Thánh Linh làm vinh hiển Đấng Christ qua Hội thánh. Khi Đấng Christ được làm cho vinh hiển, Cha cũng được làm cho vinh hiển trong Con. Giai đoạn sau cùng của sự ứng nghiệm lời cầu nguyện này sẽ xảy ra khi thời gian được đầy trọn. Lúc ấy mọi người được cứu chuộc của cả Tân Ước lẫn Cựu Ước sẽ kết hợp với nhau thành biểu hiện trọn vẹn về Đức Chúa Trời Tam Nhất. Trong biểu hiện trọn vẹn này, Đấng Christ sẽ là đèn và Đức Chúa Trời sẽ là ánh sáng. Đấng Christ sẽ được bày tỏ ra và được làm cho vinh hiển qua Giê-ru-sa-lem Mới, và Đức Chúa Cha sẽ được bày tỏ ra và được làm cho vinh hiển trong Con cũng như qua Giê-ru-sa-lem Mới. Đó sẽ là sự ứng nghiệm trọn vẹn lời của Chúa: “Xin tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Con hầu cho Con tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Cha”.

A. Con Được Làm Cho Vinh Hiển

Con được làm cho vinh hiển cùng với Cha (cc. 1, 5). Trong câu 5, Chúa nói: “Cha ơi, bây giờ xin làm vinh hiển Con với chính Cha, với vinh quang mà Con đã có với Cha trước khi có thế giới” (RcV). Từ ngữ “với” được dùng ba lần trong câu này. Trong các nhóm chữ “với chính Cha” và “với Cha”, đều ra từ cùng một từ Hi Lạp được dùng với ý nghĩa “với”. Ý nghĩa của từ ngữ này là “cùng với”. Điều này có nghĩa là Con hoàn toàn giống như Cha trong sự làm vinh hiển. Con được làm cho vinh hiển cùng với Cha và với chính vinh quang mà Cha có. Từ ngữ này làm vững mạnh dấu chỉ trong câu 1 về thần cách của thân vị Chúa, rằng Ngài có vinh quang thần thượng cùng với Cha trước khi có thế giới, tức là trong cõi đời đời quá khứ, để bây giờ Ngài cũng được làm cho vinh hiển cùng với Cha trong vinh quang ấy. Chúa dự phần vinh quang thần thượng, không riêng rẽ một mình Ngài, nhưng cùng với Cha, vì Ngài và Cha là một (10:30). Bởi cầu nguyện như vậy, Chúa chỉ về thân vị Ngài, thần cách Ngài, cho thấy Ngài cũng giống Cha trong vinh quang thần thượng.

B. Để Cha Được Làm Cho Vinh Hiển

1. Trong Sự Làm Vinh Hiển Con

Cha được làm cho vinh hiển trong sự làm vinh hiển Con. Tách rời Con, Cha không thể nào được làm cho vinh hiển, vì Cha đã phó thác mọi điều Ngài là và có cho Con. Cha được hiện thân trong Con. Vì vậy, Cha không thể được làm cho vinh hiển tách rời khỏi Con, nhưng chỉ được làm cho vinh hiển trong sự làm vinh hiển Con. Chúng ta đã thấy Chúa được làm cho vinh hiển trong sự phục sinh của

Ngài. Khi nào Chúa được bày tỏ ra và được làm cho vinh hiển, thì Cha cũng được bày tỏ ra và được làm cho vinh hiển. Vì Chúa là một với Cha và Cha ở trong Chúa, sự phóng thích vinh quang và vẻ đẹp của Chúa bày tỏ vinh quang và vẻ đẹp của Đức Chúa Cha. Vì hai là một, nên Cha được làm cho vinh hiển trong sự làm vinh hiển Con. Vì Cha ở trong Con nên Chúa nói: “Xin tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Con để Con tôn vinh (hay: làm vinh hiển) Cha”.

2. Qua Các Tín Đồ Của Con

Cha cũng được làm cho vinh hiển qua những người tin vào Con. Cha là nguồn, thể yếu, khởi nguyên và mọi sự đối với cây nho. Nhưng cây nho không bao giờ được bày tỏ, được làm vinh hiển mà không có các nhánh. Cha được làm cho vinh hiển trong sự làm vinh hiển Con, và Con được làm cho vinh hiển qua tất cả các nhánh.

C. Thân Vị Của Con

Trong các câu 1 và 5, chúng ta thấy thần tính và thần cách của Con giống như của Cha. Con là thần thượng y như Cha thần thượng. Thần cách của Cha là thần cách của Con. Thần cách của Con giống như thần cách của Cha. Các từ ngữ Xin làm vinh hiển Con với chính Cha có nghĩa là vinh quang của Con là vinh quang của Cha. Thí dụ như dọn cho tôi ăn tối cùng với bạn tôi nghĩa là dọn cho tôi và bạn tôi. Bạn tôi có cùng một địa vị với tôi. Cũng vậy, Con có cùng địa vị với Cha. Con được làm cho vinh hiển cùng với Cha bằng vinh quang mà Cha đã ban cho Ngài trước khi thế giới được tạo dựng. Do đó, Con có cùng một địa vị y như Cha. Nói cách khác, thân vị của Chúa có thể được xếp chung với thân vị của Cha. Sự làm vinh hiển Con được xếp ngang hàng với sự làm vinh hiển Cha. Vì vậy, thân vị của Ngài ngang bằng với thân vị của Cha.

D. Công Tác Của Con

Câu 2 chép: “Cũng như Cha ban cho Con quyền bính (hay: uy quyền) trên mọi xác thịt, hầu hễ ai Cha đã ban cho Con, thì Con ban cho họ sự sống đời đời”. Câu này chỉ về công tác của Chúa. Con có uy quyền của Cha trên cả nhân loại để Ngài có thể ban sự sống đời đời, không phải cho toàn thể nhân loại nhưng chỉ cho những người nào Cha đã ban cho Ngài, là những người Cha đã chọn lựa. Cha đã ban uy quyền cho Con trên mọi xác thịt, trên cả nhân loại. Toàn thể nhân loại ở dưới uy quyền của Con vì Cha đã phó thác cho Ngài uy quyền ấy. Chúa có uy quyền cai trị toàn thể nhân loại. Tại sao Ngài có uy quyền ấy? Để Ngài ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Ngài. Khi đọc cẩn thận câu này, chúng ta có thể thấy Chúa có uy quyền cai trị toàn thể nhân loại để ban sự sống đời đời cho một phần nhân loại mà Cha đã lựa chọn và ban cho Chúa. Chúa tạo dựng con người, thi hành uy quyền của Ngài trên họ, và cứu chuộc một số người trong họ với mục đích ban cho họ sự sống đời đời. Nói cách khác, trước hết Chúa phải tạo dựng, rồi cai trị, cứu chuộc, và cuối cùng ban sự sống cho một nhóm người được lựa chọn. Vì vậy, công tác của Chúa bao hàm sự sáng tạo, cai trị, cứu chuộc và truyền sự sống. Chúa có cùng một địa vị với Cha: Ngài là Đấng tạo dựng, cai trị, cứu chuộc và ban sự sống đời đời. Đừng nghĩ rằng anh em tình cờ nhận được sự sống đời đời. Không, đó không phải là việc tình cờ. Giữa vòng hàng tỉ người, Đức Chúa Cha đã yêu thương anh em, lựa chọn anh em, và đánh dấu để riêng anh em ra. Có dấu vết thần thượng trên chúng ta.

Không những Cha đánh dấu để riêng chúng ta ra mà Ngài còn ban chúng ta cho Con. Đừng chỉ nghĩ rằng mình là một tội nhân nghèo nàn, đáng thương. Theo một ý nghĩa, anh em là như vậy, nhưng theo một ý nghĩa khác, anh em là một món quà dành cho Con. Anh em cần phải nói: “Ngợi khen Đức Chúa Trời Tam Nhất vì con là món quà quí báu Cha đã ban cho Con Ngài. Chúa ơi, con thì đáng mến, quí báu, tốt đẹp, cao cả và thậm chí đáng yêu; con là món quà, chứ không phải ‘thùng rác’. Cha không bao giờ ban ‘thùng rác’ cho Con Ngài. Là một người đã được ban cho Con yêu dấu của Đức Chúa Trời, con là quí báu, đáng mến, đáng yêu và ngọt ngào”. Nếu thấy điều này, thì quan điểm, thái độ, và quan niệm của anh em sẽ thay đổi không những đối với chính mình, mà còn đối với tất cả các thánh đồ. Anh em có tin rằng tất cả các anh chị em yêu dấu đều là những món quà dành cho Con Ngài không? Anh em có tin rằng người mà mình không thích là một món quà như vậy không? Nếu thấy được điều đó, anh em sẽ yêu thương mọi thánh đồ, vì mỗi thánh đồ yêu dấu đều là một món quà được Cha tuyển chọn và ban tặng cho Con. Cha đã lựa chọn chúng ta giữa hàng tỉ người. Tất cả chúng ta đều là những người được lựa chọn, những người hạng nhất trong “cửa hiệu bán quà” của vũ trụ này. Chúng ta đã được lựa chọn và tặng cho Con yêu dấu của Đức Chúa Trời.

Cha đã ban uy quyền cho Con không những để cai trị trên loài người, mà còn để duy trì nhân loại. Đức Chúa Con thi hành uy quyền của Ngài trong việc chăm sóc loài người để chúng ta được hiện hữu. Những con người như Hít-le đã giết chết rất nhiều người. Nhưng dường như Đức Chúa Con nói: “Hít-le, ngươi hãy đi vào hỏa ngục. Ta phải bảo tồn nhân loại. Rất nhiều món quà quí báu Cha đã ban cho Ta phải hiện hữu. Ta đang tìm kiếm những món quà ấy”. Ngợi khen Chúa vì tất cả chúng ta là những món quà quí báu mà Cha đã ban cho Con Ngài.

E. Sự Sống Đời Đời

Trong câu 3 Chúa nói: “Còn sự sống đời đời là nhận biết Cha, tức là Chân Thần duy nhất, cùng Jesus Christ mà Cha đã sai đến”. Sự sống đời đời là gì? Khi tôi còn trẻ, người ta nói với tôi sự sống đời đời chỉ là phước hạnh trong tương lai. Sự sống đời đời là sự sống thần thượng với một chức năng đặc biệt, ấy là nhận biết Đức Chúa Trời (xin so sánh với Mat. 11:27) và Đấng Christ.

Mỗi sự sống đều có chức năng riêng của nó. Chức năng của sự sống loài chó là sủa, chức năng của sự sống loài chim là bay, chức năng của sự sống loài mèo là bắt chuột, và chức năng của sự sống loài gà là đẻ trứng. Chức năng của sự sống thần thượng là nhận biết Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời và Đấng Christ là thần thượng. Để nhận biết thân vị thần thượng chúng ta cần sự sống thần thượng. Vì các tín đồ được sinh ra với sự sống thần thượng, nên họ nhận biết Đức Chúa Trời và Đấng Christ (Hê. 8:11; Phil. 3:10). Hê-bơ-rơ 8:11 nói không cần ai dạy tín đồ thời Tân Ước nhận biết Đức Chúa Trời. Tại sao không cần làm điều ấy? Vì mỗi một tín đồ thời Tân Ước đều nhận biết Đức Chúa Trời. Các tín đồ thời Tân Ước có sự sống thần thượng, và sự sống thần thượng là sự sống nhận biết Đức Chúa Trời. Chúng ta không cần dạy một con chó sủa, vì sự sống của loài chó có chức năng sủa. Cũng vậy, vì chúng ta có sự sống thần thượng chúng ta không cần được ai dạy dỗ phải nhận biết Đức Chúa Trời, vì chức năng của sự sống thần thượng là nhận biết Đức Chúa Trời và Đấng Christ. Ô, tôi có thể nhận biết Đấng Christ! Tất cả chúng ta có thể nhận biết Ngài vì chúng ta có sự sống thần thượng, là sự sống có chức năng nhận biết Đức Chúa Trời và Đấng Christ.