Thông tin sách

Nghiên Cứu Sự Sống Sách Giăng

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Life-Study of John
ISBN: 0-7363-0957-8
Mua sách tại:

Đang đọc: Bài 18

Untitled Document

BÀI MƯỜI TÁM

NHU CẦU CỦA NGƯỜI KHÁT – SỰ SỐNG GIẢI KHÁT (2)

Trong chương năm chúng ta đã thấy sự tương phản giữa sự sống và tôn giáo, nhưng sự bắt bớ thật sự vẫn chưa bắt đầu. Sự bắt bớ bắt đầu trong chương bảy.

II. SỰ SỐNG DƯỚI SỰ BẮT BỚ CỦA TÔN GIÁO

A. Âm Mưu Của Tôn Giáo Và Lễ Tiệc Của Tôn Giáo

Đang khi các nhà tôn giáo dự lễ, họ âm mưu giết Jesus (7:1-2). Đó là hình ảnh chính xác về tôn giáo ngày nay, vì theo nguyên tắc, tôn giáo ngày nay cũng giống như vậy. Một mặt, các nhà tôn giáo thờ phượng Đức Chúa Trời, trong khi mặt khác, họ âm mưu giết những người thật sự tìm kiếm Đức Chúa Trời. Nếu là một người thật sự tìm kiếm sự sống, anh em phải được chuẩn bị để nhìn biết tôn giáo đang nỗ lực giết anh em. Điều này xảy ra từ thế kỷ đầu tiên mãi cho đến ngày nay. Trong mọi thế kỷ, những người thật tìm kiếm sự sống đã bị những nhà tôn giáo bắt bớ. Chẳng hạn như Madame Guyon trong thời mình đã bị những nhà tôn giáo bỏ tù. Hễ anh em đi với Chúa theo sự sống bề trong và không theo những điều bề ngoài, anh em sẽ bị những con người nặng tinh thần tôn giáo bắt bớ.

Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa (1:1, 10). Tuy nhiên, là một con người, Ngài chịu đựng sự bắt bớ từ các tạo vật của Ngài (7:1). Đấng Tạo Hóa mà phải chịu đựng sự bắt bớ của các tạo vật thì không phải là điều dễ. Ngài kiên nhẫn biết bao! Ngài khiêm nhường biết bao! Nhưng Chúa đã làm như vậy. Ngay cả những lễ tiệc tôn giáo cũng cung cấp cơ hội cho sự bắt bớ này (7:2, 11). Những nhà tôn giáo lợi dụng lễ tiệc tôn giáo để bắt bớ Chúa Jesus.

B. Sự Sống Chịu Đựng Sự Vô Tín Của Dân Chúng

Người Do Thái bắt bớ đang tìm cách giết Chúa Jesus (7:1, 21, 25, 30, 32, 34). Vì những nhà tôn giáo Do Thái đang âm mưu hại Chúa Jesus, Ngài phải thận trọng phần nào. Nếu chỉ sơ hở một chút, Ngài có thể rơi vào tay họ. Ngài không thể hành động tự do. Mặc dầu Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng, nhưng là một con người ở dưới sự bắt bớ, Ngài bị giới hạn trong các hoạt động của mình. Một mặt những nhà tôn giáo tìm cách giết Ngài, mặt khác những người em vô tín thách thức Ngài tìm vinh quang thế gian (7:3-4). Dường như các em Ngài muốn nói với Ngài: “Tại sao anh không lên Giê-ru-sa-lem? Anh nên làm cho mình nổi tiếng đi chứ”. Cả sự bắt bớ của người Do Thái và sự thách thức của các em Ngài đều đến từ kẻ thù là Sa-tan. Sa-tan xúi giục người Do Thái tìm cách giết Chúa và xúi giục những người em vô tín của Ngài thách thức Ngài đi lên Giê-ru-sa-lem làm cho mình nổi danh để được vinh quang. Ngày nay tình hình tương tự như vậy. Thỉnh thoảng một vài anh em đề nghị chúng tôi làm một số điều để được danh tiếng và được nhiều người biết đến. Nhưng được nhiều người biết đến và nổi danh là điều đáng sợ. Nếu anh em định nổi danh, thì tốt hơn anh em nên chịu mang tiếng xấu.

C. Sự Sống Bị Giới Hạn Trong Thời Gian

Trong 7:6-9 chúng ta thấy Chúa bị giới hạn trong thời gian. Chúa nói với các em Ngài: “Thì giờ Ta chưa đến, còn về các ngươi thì giờ được tiện luôn” (7:6). Mặc dầu Chúa là Đức Chúa Trời đời đời, vô hạn, vô biên (La. 9:5), Ngài sống trên đất như một con người, bị giới hạn ngay cả trong vấn đề thời gian. Chúa bằng lòng mất sự tự do của Ngài, bị ràng buộc trong vấn đề thời gian, và làm theo ý Cha để Ngài có thể cung ứng nước sống động của sự sống cho chúng ta. Cả chương bảy bày tỏ thế nào Chúa hành động như một con người bị giới hạn về mọi phương diện.

D. Sự Sống Tìm Kiếm Vinh Quang Của Đức Chúa Trời

Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng (Ês. 9:5), nhưng là một con người ở dưới sự bắt bớ, Ngài bị giới hạn trong hoạt động của mình (Gi. 7:10). Ngài không hành động cách tự do. Mặc dầu Chúa là Đức Chúa Trời toàn tri, nhưng với tư cách là một con người thấp hèn, Ngài dường như là người mù chữ. “Người Do Thái lấy làm lạ, mà nói rằng: Người nầy chẳng từng học, làm sao biết chữ?” (7:15). Dầu Chúa học ít, Ngài biết mọi sự. Không những Ngài biết chữ, Ngài còn biết trí, lòng và linh của loài người. Chúa không muốn tìm vinh quang của mình, nhưng tìm vinh quang của Đức Chúa Trời (7:17-18).

E. Nguồn Gốc Và Căn Nguyên Của Sự Sống –
Đức Chúa Trời Cha

Nguồn và gốc của Chúa là Đức Chúa Trời Cha (7:25-36; 13:3). Mặc dầu nguồn gốc của Ngài là Đức Chúa Trời Cha, Ngài đến như một con người quê ở Na-xa-rét thuộc xứ Ga-li-lê (7:27, 42, 52; 1:45-46). Có một thời gian tôi không được vui với Chúa vì cảm thấy Ngài thiếu thành thật trong Giăng chương bảy. Đối với tôi dường như Ngài có phần nào thiếu minh bạch. Ngài nói với người ta rằng nguồn gốc của Ngài là Đức Chúa Trời, nhưng quê của Ngài ở Na-xa-rét. Ở đây có một nguyên tắc quan trọng: trong mọi sự liên quan đến Chúa, dáng dấp bề ngoài không bao giờ có vẻ tốt đẹp, nhưng nội dung bên trong rất tuyệt vời. Điều này cũng đúng về sự khôi phục của Chúa ngày nay. Nếu nhìn biểu hiện bề ngoài của sự khôi phục, anh em sẽ thấy không có gì hấp dẫn. Tuy nhiên, tình trạng bên trong hoàn toàn khác. Anh em đừng bị bối rối về dáng dấp bề ngoài. Khi nhìn Chúa ở bề ngoài, người ta thấy Ngài chỉ là một người Na-xa-rét. Ngài không có phong độ, vẻ dễ thương, vẻ đẹp hay sự quyến rũ. Nhưng bên trong Ngài chính là Đức Chúa Trời. Đôi khi tôi nói với Chúa: “Chúa ơi, vì sao trong số những người Ngài đem vào sự khôi phục của Ngài trên đất nước này lại có rất ít ai đẹp? Thậm chí có một số người ăn mặc không chỉnh tề khi đi nhóm”. Nhưng tôi đã đi đến chỗ nhìn thấy có báu vật trong những bình bằng đất. Chúa đã bảo tôi đừng quan tâm đến dáng vẻ bề ngoài. Người Na-xa-rét ấy bề ngoài có vẻ không lôi cuốn, nhưng nội dung bên trong của người thì xuất sắc và thiên thượng.

III. TIẾNG KÊU CỦA SỰ SỐNG
DÀNH CHO NGƯỜI KHAO KHÁT

A. Ngày Sau Cùng Tượng Trưng Cho Sự Chấm Dứt Mọi Sự Hưởng Thụ Về Những Thành Công Của Đời Người

Vào ngày sau cùng của kỳ lễ, là ngày trọng thể, Jesus đứng lên kêu mời những người khát (7:37-39). Ngày sau cùng tượng trưng cho sự chấm dứt mọi sự hưởng thụ về những thành công của đời người. Dầu anh em có đạt được thành công nào chăng nữa, rồi cũng có ngày sau cùng. Chẳng hạn, dầu anh em có thể có một cuộc hôn nhân tuyệt vời, cuộc hôn nhân ấy sẽ không tồn tại mãi.

Nhóm chữ “ngày sau cùng” xuất hiện trong cả chương sáu và bảy (6:39-40; 7:37). Tuy nhiên, hai loại ngày sau cùng này thì khác nhau. Ngày sau cùng trong chương sáu là ngày tận cùng xảy ra trong một tương lai xa, khi Chúa làm cho chúng ta sống lại. Còn ngày sau cùng trong chương bảy chỉ về nhiều ngày sau cùng trong đời người. Ngày sau cùng quan trọng nhất nằm trong tương lai, nhưng trước ngày ấy, chúng ta có nhiều ngày sau cùng trong đời người của mình. Bộ áo quần anh em cho là có giá trị sẽ có ngày sau cùng. Cuộc hôn nhân của anh em rồi cũng sẽ có ngày sau cùng. Mọi sự đều có ngày sau cùng của nó. Lễ Lều tạm tiếp diễn trong bảy ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày cuối cùng của kỳ lễ. Sau cùng có nghĩa là sự kết thúc. Dầu anh em giàu có bao nhiêu rồi cũng có lúc chấm dứt. Dầu anh em khỏe mạnh bao nhiêu rồi cũng có khi kết thúc. Sẽ có ngày sau cùng đối với tài sản của anh em, ngày sau cùng đối với sức khỏe của anh em, ngày sau cùng đối với gia đình anh em, ngày sau cùng đối với người vợ hay chồng yêu dấu của mình, ngày sau cùng đối với cha mẹ mình, ngày sau cùng đối với con cái mình, ngày sau cùng đối với mọi hoàn cảnh của mình – tóm lại, có một ngày sau cùng!

Khi tôi đến tuổi bốn mươi, người ta bắt đầu nói với tôi: “Cuộc đời bắt đầu ở tuổi bốn mươi”. Nhưng những người khác bảo tôi: “Anh ơi, anh phải nhận biết rằng sau tuổi bốn mươi, cuộc đời đã bước vào buổi xế chiều rồi. Khi mới ra đời, cuộc đời anh bắt đầu như buổi bình minh. Vào tuổi bốn mươi, cuộc đời anh là ở giữa trưa. Sau tuổi bốn mươi, cuộc đời anh đã về chiều. Có lẽ một lúc nào đó sau tuổi sáu mươi, cuộc đời anh sẽ chấm dứt”. Không sớm thì muộn, sẽ có ngày cuối cuộc đời.

Hãy nhìn vào hình ảnh người Israel lao khổ suốt năm cho đến khi họ thâu hoạch bắp và rượu. Họ nhận được mọi sự do công lao của đôi tay mình. Cuối cùng, công khó họ qua đi, điều còn lại cho họ là tụ họp với nhau và vui hưởng mùa màng đã thu hoạch trong bảy ngày. Ngày thứ bảy là ngày quan trọng nhất, đó là ngày cuối cùng. Ngày cuối cùng là ngày họ giải tán.

B. Tiếng Kêu Hãy Đến Và Uống

Vào ngày cuối cùng của kỳ lễ, trong khi dân chúng đang giải tán, Chúa đứng lên kêu gọi: “Nếu người nào khát, hãy đến cùng Ta mà uống” (7:37). Dân chúng không thỏa mãn. Những điều họ đã vui hưởng trong suốt bảy ngày qua không làm cho họ hết khát. Nếu đến và uống Christ, họ sẽ có những dòng sông nước sống tuôn chảy từ trong bản thể sâu thẳm nhất của mình. Nước sống là Thánh Linh tuôn chảy ra từ vầng đá bị đập.

Như chúng ta sẽ thấy, khi Chúa nói những lời này, Thánh Linh chưa “sẵn sàng”, vì Chúa chưa bị đánh đập và chưa được vinh hóa (7:39). Chúa được vinh hóa có nghĩa là gì? Đơn giản có nghĩa là Ngài phải được phục sinh (Lu. 24:26). Chúa được biến hóa từ thân thể mong manh của Ngài thành một Linh vinh hiển qua sự chết và sự phục sinh của Ngài. Trước khi lên thập tự giá, Chúa là vầng đá, nhưng Ngài chưa bị đánh đập hay bị đóng đinh trên thập tự giá. Khi Ngài bị đóng đinh và phục sinh, nước sống tuôn chảy ra từ Ngài vào trong chúng ta để làm cho chúng ta hết khát. Vào ngày sau cùng của kỳ lễ lạc của anh em – vào lúc kết thúc mọi niềm vui và hưởng thụ, là khi anh em vẫn cảm thấy khát – anh em cần phải đến với Jesus này và nhận lãnh nước sống để làm cho mình hết khát.

Có một thiếu nữ sống trong một gia đình rất giàu có. Cô liên tục theo đuổi những thú vui. Một ngày kia cô dự một buổi dạ vũ dành cho những người thuộc giới thượng lưu tại nước Anh. Cô rất vui thích dự buổi dạ vũ và tận hưởng những giờ phút tuyệt vời. Sau khi tiệc tàn, cô trở về nhà. Trong khi thay quần áo, cô cảm thấy vẫn khát khao điều gì đó. Rồi ném hết tất cả y phục khiêu vũ và giày vớ, cô kêu lên: “Những thứ này có ích gì cho tôi!” Sau khi vui vẻ hưởng thụ, cô vẫn cảm thấy khát khao điều gì đó. Lúc ấy, có một tiếng nói bên trong thầm thì với cô: “Ngươi phải cầu nguyện với Đức Chúa Trời”. Tuy nhiên, cô tự nhủ: “Tôi không tin có Đức Chúa Trời; làm sao tôi cầu nguyện với Ngài được?” Nhưng tiếng nói ấy tiếp tục thì thầm: “Cứ thử nói một lời với Đức Chúa Trời. Hãy nói: Đức Chúa Trời ơi, nếu có một Đức Chúa Trời, xin hãy làm cho con được thỏa mãn”. Cuối cùng, cô đã cầu nguyện như vậy. Ngay ngày hôm sau cả cuộc đời cô hoàn toàn thay đổi. Cô được thỏa mãn. Nước sự sống Chúa ban cho cô đã làm cho cô hết khát.

Nếu nghiên cứu tiểu sử của các thánh đồ, anh em sẽ tìm thấy nhiều câu chuyện khác tương tự như vậy. Nhiều người có học vấn cao, rất thành công, rất giàu sang, và có nhiều điều để vui thỏa, nhưng cuối cùng họ đều cảm thấy mình thất bại vì mọi sự đều trở nên khô khan đối với họ. Nhưng khi ấy có tiếng kêu: “Nếu ai khát, hãy đến cùng Ta mà uống”. Mặc dầu có thể anh em đang vui hưởng những ngày tốt đẹp, nhưng cuối cùng sẽ đến ngày sau cùng, là khi mọi sự vui thỏa qua đi và anh em cảm thấy khát. Hãy nhớ, chỉ có chính Chúa Jesus mới có thể ban cho anh em nước sống làm anh em hết khát.

C. Dòng Chảy Của Những Sông Nước Sống

Chúa Jesus nói: “Kẻ nào tin Ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng người ấy, y như Kinh Thánh đã chép vậy” (7:38). Trong 4:14, Chúa nói rằng ai uống nước Ngài ban cho chúng ta, sẽ có một mạch nước trong mình phun trào lên cho đến sự sống đời đời. Trong chương 7, Chúa có phần đi xa hơn. Ngài nói rằng ai uống nơi Ngài thì người ấy sẽ có những dòng sông nước sự sống tuôn chảy. Chúa không nói về chỉ một dòng chảy mà là nhiều dòng sông. Sông nước sống duy nhất là Thánh Linh. Từ con sông duy nhất ấy, nhiều dòng sông sẽ chảy ra. “Những sông nước sống” này là nhiều dòng chảy thuộc nhiều phương diện khác nhau của sự sống (đc. La. 15:30; 1 Tê. 1:6; 2 Tê. 2:13; Ga. 5:22-23) của một “sông nước sự sống” duy nhất (Khải. 22:1), tức là “Linh sự sống” của Đức Chúa Trời (La. 8:2). Một dòng sông là dòng sông bình an, và những dòng sông khác là vui mừng, an ủi, công chính, sự sống, thánh khiết, yêu thương, kiên nhẫn và khiêm nhường. Tôi không biết có tất cả bao nhiêu dòng sông. Các dòng sông nước sống này tuôn ra từ những nơi sâu thẳm của bản thể chúng ta. Đó là Đấng Christ như sự sống. Theo nguyên tắc đã được đưa ra trong chương hai, dòng chảy của những sông nước sống này cũng là sự thay đổi từ chết qua sống. Sự chết bắt nguồn từ cây kiến thức, và sự sống bắt nguồn từ cây sự sống.

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đến một buổi nhóm và ngồi đó mà không có dòng nước sống tuôn chảy? Chắc chắn đó sẽ là buổi nhóm chết. Nếu không ai có gì để tuôn tràn ra, sự chết sẽ thắng thế. Tuy nhiên, nếu mỗi người có vài dòng sông tuôn chảy ra, cuối cùng buổi nhóm sẽ được tràn ngập, sẽ đầy dẫy sự sống. Đó là sự thay đổi từ chết qua sống.

D. Linh Chưa Sẵn Sàng

Câu 39 chép: “Nhưng Ngài nói điều này về Linh, là Đấng mà những ai tin vào Ngài sắp nhận lãnh; vì Linh chưa [sẵn sàng], vì Jesus chưa được vinh hóa” (RcV). Nhiều Cơ Đốc nhân không hiểu từ ngữ “chưa” trong câu này. Bản Kinh Thánh King James thêm chữ “ban cho” in nghiêng, cho thấy câu này đã làm cho các dịch giả bối rối. Nhưng câu 39 không có nghĩa là Linh “chưa được ban cho”; mà có nghĩa là Linh “chưa” sẵn sàng. Linh chưa ở tại đó. Linh của Đức Chúa Trời vẫn ở đó từ ban đầu (Sáng. 1:1-2), nhưng Linh là “Linh của Đấng Christ” (La. 8:9), “Linh của Jesus Christ” (Phil. 1:19) thì “chưa [sẵn sàng]” vào lúc Chúa Jesus nói lời này, vì Ngài chưa được vinh hóa. Jesus được vinh hóa khi Ngài phục sinh (Lu. 24:26). Sau khi Ngài phục sinh, Linh của Đức Chúa Trời trở nên Linh Jesus Christ nhục hóa, chịu đóng đinh, và phục sinh, Linh ấy đã được Đấng Christ thở vào trong các môn đồ vào buổi tối ngày Ngài phục sinh (Gi. 20:22). Linh bây giờ là “Đấng an ủi khác, là Linh của thực tại” mà Đấng Christ đã hứa trước khi Ngài chết (Gi. 14:16-17). Khi Linh là Linh của Đức Chúa Trời thì Ngài chỉ có yếu tố thần thượng. Khi Ngài trở nên Linh của Jesus Christ qua sự nhục hóa, đóng đinh và phục sinh của Đấng Christ, thì Ngài vừa có yếu tố thần thượng vừa có yếu tố con người, cùng với tất cả thể yếu và thực tại của sự nhục hóa, đóng đinh, và phục sinh của Đấng Christ. Vì vậy, bây giờ Ngài là Linh bao-hàm-tất-cả của Jesus Christ như nước sống để chúng ta nhận lãnh.

Chúng ta đã thấy Jesus được vinh hóa khi Ngài phục sinh. Trong sự phục sinh, Chúa trở nên Linh ban-sự-sống (1 Cô. 15:45). A-đam sau cùng, tức Đấng Christ trong xác thịt, đã trở nên Linh ban-sự-sống trong sự phục sinh. Kể từ đó, Linh của Jesus Christ vừa có yếu tố thần thượng vừa có yếu tố con người, kể cả thực tại của sự nhục hóa, đóng đinh và phục sinh của Đấng Christ.

Trong Sáng Thế Ký chương 1, chúng ta có Linh của Đức Chúa Trời. Linh của Đức Chúa Trời chỉ là chính Đức Chúa Trời bước ra để đến với cõi thọ tạo của Ngài. Vào thời điểm của Sáng Thế Ký chương 1, trong Linh của Đức Chúa Trời chỉ có thần tính. Một ngày kia, Đức Chúa Trời nhục hóa để làm một con người là Jesus Christ. Ba mươi ba năm rưỡi sau đó, Đấng Christ bị đóng đinh. Sau khi chịu đóng đinh, Ngài trải qua sự phục sinh và thăng thiên, và Linh của Đức Chúa Trời trở nên Linh của Jesus Christ nhục hóa và phục sinh. Bây giờ, Linh của Jesus Christ đang bước ra để chạm đến loài người. Trước đây, ấy là Linh của Đức Chúa Trời đến để chạm đến cõi thọ tạo của Ngài chỉ với thần tính, nhưng bây giờ Linh của Jesus Christ bước ra để đến với loài người bằng thần tính, nhân tính, hiệu lực của sự chết bao-hàm-tất-cả của Ngài và với yếu tố phục sinh. Trước khi Đấng Christ phục sinh, một Linh như vậy “chưa sẵn sàng”.

Chúng ta có thể dùng hình ảnh minh họa của một ly nước được pha thêm vào nhiều thứ. Nước trải qua một giai đoạn để sữa được pha thêm vào. Nước ấy lại trải qua một giai đoạn khác để mật ong, trà và muối được pha thêm vào. Cuối cùng nước ấy trở thành một thức uống bao-hàm-tất-cả. Trước khi nước trải qua tất cả những chặng này, một thức uống tuyệt vời như vậy “chưa sẵn sàng”, mặc dầu nước trong ly đã sẵn sàng rồi. Bây giờ, nước ấy là thức uống bao-hàm-tất-cả. Cũng vậy, Linh mà Chúa Jesus đã hứa trong 7:39 và 14:16-17 không phải là Linh chỉ với thần tính như nội dung của Ngài, mà là Linh với thần tính, nhân tính, sự chết bao-hàm-tất-cả, sự phục sinh và sự thăng thiên. Bây giờ, chúng ta không những có Linh của Đức Chúa Trời, mà cũng có Linh của Jesus Christ. Một Linh bao-hàm-tất-cả như vậy ban cho chúng ta dòng chảy của những sông nước sự sống.

Thỉnh thoảng khi một đứa bé cần uống thuốc, người mẹ nào khôn ngoan sẽ “hòa” thuốc ấy trong một thức uống. Khi đứa bé uống thức uống ấy vào, nó cũng uống thuốc trong đó nữa. Có “thuốc” trong Linh bao-hàm-tất-cả. Thuốc này là sự chết tiêu trừ của Đấng Christ ở trong Thánh Linh hôm nay. Càng nói: “Ô, Chúa Jesus”, anh em càng nhận được Linh bao-hàm-tất-cả. Sau vài phút, anh em có thể cảm thấy Linh giết chết tính nóng nảy, kiêu ngạo, ích kỷ và những điều tiêu cực khác. Anh em có bao giờ cố gắng kể chính mình đã chết theo La Mã chương 6 chưa? Nếu có, anh em biết càng kể mình đã chết, anh em càng sống động. Tuy nhiên, trong Linh bao-hàm-tất-cả có sự giết chết của thập tự giá. Sự chết được đề cập trong La Mã chương 6 bây giờ đã được bao hàm trong Linh như được bày tỏ trong La Mã chương 8. Vì vậy, Linh bao-hàm-tất-cả này liên tục đặt anh em trên thập tự giá như được đề cập trong La Mã 8:13. Hiệu lực giết chết của sự chết Đấng Christ không những chỉ ở trên thập tự giá, vì nếu như vậy thì hiệu lực ấy không đắc thắng cho chúng ta. Ngày nay hiệu lực giết chết ấy ở trong Linh của Jesus Christ. Khi Linh chuyển động trong chúng ta, hiệu lực giết chết của thập tự giá xuyên thấu vào trong bản thể chúng ta. Ngài sẽ giết chết mọi yếu tố tiêu cực trong bản thể chúng ta. Hơn nữa, trong thức uống bao-hàm-tất-cả này có chất bổ dưỡng. Trong Linh này có mọi điều chúng ta cần.

IV. SỰ CHIA RẼ GÂY NÊN DO BIỂU HIỆN BỀ NGOÀI
CỦA SỰ SỐNG

Trong 7:40-52 chúng ta thấy sự chia rẽ gây nên do biểu hiện bề ngoài của Chúa. Jesus thật là một người gây rối. Ngài gây nên sự chia rẽ. Ngày nay, những người tìm kiếm sự sống cũng gây rối và chia rẽ. Đấng Christ là dòng dõi Đa-vít, sinh tại Bết-lê-hem (7:42; Lu. 2:4-7), nhưng Ngài xuất hiện như một người Na-xa-rét đến từ Ga-li-lê (7:52). Mặc dầu Chúa ra đời tại Bết-lê-hem, Ngài lớn lên tại Na-xa-rét, một thành phố bị dân chúng thời ấy khinh miệt. Ngài là dòng dõi của Đa-vít nhưng Ngài đến như một người Na-xa-rét (Mat. 2:23). Ngài lớn lên như một “cái rễ ra từ đất khô”, không có “hình dung hay sự đẹp đẽ”, “không có sự tốt đẹp để chúng ta ưa thích Ngài. Ngài bị người ta khinh dể và chối từ” (Ês. 53:2-3). Vì thế, chúng ta không nên nhận biết Ngài theo xác thịt (2 Cô. 5:16), nhưng theo Linh. Vì Chúa được trưởng dưỡng tại Na-xa-rét, nên người ta không kể Ngài là người sinh tại Bết-lê-hem.

Một số người hiểu Đấng Christ theo biểu hiện bề ngoài (7:27, 41-42, 52) bằng cách nhận lấy cây kiến thức là điều dẫn đến sự chết (Sáng. 2:17). Xin hãy nghe lời họ nói. “Kinh thánh há chẳng nói rằng Đấng Christ do dòng giống Đa-vít mà đến, ra từ Bết-lê-hem là làng của Đa-vít sao?” (7:41-42). Lời nói này chỉ là sự sử dụng tâm trí. Lý luận này thuộc tâm trí, theo nguyên tắc của cây kiến thức. Tuy nhiên, một số người hiểu Đấng Christ theo thực tại bề trong của Ngài (7:40, 50-51) bằng cách nhận lấy cây sự sống là điều dẫn đến sự sống (Sáng. 2:9). Đừng chú ý đến biểu hiện bề ngoài. Anh em cần phải thấy những gì ở bên trong. Có Đấng Christ ở bên trong không? Tất cả chúng ta cần phải biết Đấng Christ theo thực tại bề trong chứ không theo biểu hiện bề ngoài.

Toàn thể Phúc Âm Giăng cho chúng ta một hình ảnh gây ấn tượng sâu đậm. Một ngày kia, Chúa Jesus đến Bê-tha-ni và ở lại trong một ngôi nhà nhỏ với La-xa-rơ, Ma-thê và Ma-ri (Gi. 12:1-2). Tại Giê-ru-sa-lem thời đó có đền thờ. Trong đền thờ thánh ấy có các thầy tế lễ mặc áo dài tế lễ mà dâng các sinh tế trên bàn thờ và đốt hương đúng cách thức. Mọi sự trong đền thờ đều quyến rũ. Nhưng trong căn nhà nhỏ tại Bê-tha-ni không có gì cả – không có thầy tế lễ, không có áo tế lễ, không có bàn thờ, không có của lễ, và không có trầm hương. Chỉ có hai chị em nghèo và một anh em. Vào thời ấy, chính Đức Chúa Trời ở trong đền thờ hay trong căn nhà nhỏ bé ấy? Ngài đã ở trong căn nhà nhỏ bé ấy. Giả sử lúc ấy anh em muốn tìm kiếm Đức Chúa Trời thì anh em sẽ đi đâu? Anh em đến căn nhà nhỏ bé ấy hay đến đền thờ? Tất cả chúng ta đều sẽ đến đền thờ, và có lẽ không ai trong chúng ta đến ngôi nhà nhỏ bé ấy. Tuy nhiên, Jesus, chính là hiện thân của Đức Chúa Trời, lại không ở trong đền thờ mà trong căn nhà nhỏ bé. Cuối cùng, giữa vòng chúng ta sẽ có sự chia rẽ vì phần đông chúng ta sẽ đi đến đền thờ và chỉ một số ít đến căn nhà nhỏ là nơi có Jesus. Những người đến đền thờ ắt hẳn nghĩ rằng đến căn nhà nhỏ để tìm Đức Chúa Trời là điều ngu dại. Như vậy, chúng ta cần phải học tập đi theo Chúa Jesus theo thực tại bề trong, chứ không theo biểu hiện bề ngoài. Nguyên tắc này sẽ tồn tại mãi mãi. Ngợi khen Chúa vì Ngài ở với người thấp hèn.

Khi Chúa ở trên đất, Ngài không có một diện mạo lôi cuốn. Ngày nay, trong nếp sống Hội thánh khôi phục của Ngài cũng vậy; không có sự quyến rũ bề ngoài. Tuy nhiên, nếu anh em vào bên trong nếp sống Hội thánh trong sự khôi phục của Chúa, thì anh em sẽ thấy vẻ đẹp của Đấng Christ tại đó. Ngài không phải là người Na-xa-rét – Ngài là dòng dõi Đa-vít! Đó là Đấng Christ! Ha-lê-lu-gia!