Thông tin sách

Hội Thánh Vinh Hiển

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Glorious Church
ISBN: 0-87083-745-1
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 4

Untitled Document

CHƯƠNG BỐN

“VÀ NÀNG SANH MỘT NGƯỜI-CON-TRAI”

Chúng ta đã thấy người nữ trong Sáng Thế Ký chương 2 và thế nào người nữ ấy nói về người nam mà trong ý muốn đời đời của Ngài Đức Chúa Trời ao ước có được để làm vinh hiển danh Ngài. Sau đó, trong Ê-phê-sô chương 5, chúng ta thấy một người nữ khác, là thực tại của người nữ trong Sáng Thế Ký chương 2. Người nữ này cho thấy Đức Chúa Trời đang hành động để phục hồi mọi sự theo ý định ban đầu của Ngài sau khi con người sa ngã. Bây giờ chúng ta hãy xem Khải thị chương 12 nói về một người nữ khác. Chúng ta phải xem xét người nữ này trong mối liên hệ với người nữ trong Sáng Thế Ký chương 2.

Khải thị là một cuốn sách bày tỏ những điều thuộc thời kỳ sau cùng. Có tất cả hai mươi hai chương trong sách này, nhưng cuối chương 11, chúng ta có thể nói mọi sự đều đã được hoàn tất. Khải thị 10:7 ghi: “Nhưng đến ngày của tiếng thiên sứ thứ bảy, khi người sắp thổi kèn lên, thì sự huyền nhiệm của Đức Chúa Trời được hoàn thành”. Trong chương 11, khi thiên sứ thứ bảy thổi kèn, mọi sự liên quan đến sự huyền nhiệm của Đức Chúa Trời và mọi sự liên quan đến Đức Chúa Trời đều được thành tựu. Câu 15 ghi: “Và thiên sứ thứ bảy thổi kèn, có những tiếng lớn trên trời rằng: Vương quốc thế gian đã trở nên vương quốc của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài, và Ngài sẽ cai trị đời đời vô cùng”. Điều này có nghĩa là khi thiên sứ thứ bảy thổi kèn, cõi đời đời đã bắt đầu rồi. Vương quốc một ngàn năm, trời mới đất mới, và mọi sự liên quan đến cõi đời đời đều được gián tiếp bày tỏ trong câu này. Thế thì vì sao sau mười một chương đầu vẫn còn có thêm mười một chương nữa? Câu trả lời của chúng tôi là mười một chương sau là phần bổ sung cho mười một chương đầu. Bắt đầu từ chương mười hai, chúng ta biết được cách mà vương quốc thế gian sẽ trở nên vương quốc của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài, và thế nào Đức Chúa Trời sẽ lập Con Ngài làm Vua đời đời.

Theo Khải thị 11:19, khi thiên sứ thứ bảy thổi kèn, có một điều đã xảy ra. “Đền thờ Đức Chúa Trời ở trên trời mở ra, hòm giao ước được thấy tại trong đền thờ của Ngài; rồi có chớp, tiếng sấm, động đất và mưa đá lớn”. Sách Khải thị chứa đựng nhiều khải tượng, nhưng có hai khải tượng trọng yếu làm nền tảng cho tất cả những khải tượng khác. Trước hết là khải tượng về ngai (Khải. 4:2). Tất cả những khải tượng từ chương bốn đến chương mười một, là lúc thiên sứ thứ bảy thổi kèn, đều căn cứ trên ngai này. Khải tượng thứ hai là khải tượng về đền thờ (Khải. 11:19). Từ chương mười hai đến cuối sách, mọi khải tượng đều căn cứ trên đền thờ của Đức Chúa Trời.

Trong chương bốn, Giăng thấy khải tượng về ngai Đức Chúa Trời với một cầu vồng bao quanh. Điều này có nghĩa là từ chương này trở đi, mọi sự đều dựa trên uy quyền của ngai và sự tưởng nhớ lại giao ước Đức Chúa Trời lập với mọi tạo vật sống trên đất. Cầu vồng là dấu hiệu của giao ước Đức Chúa Trời lập với mọi tạo vật sống. Hiện nay, chúng ta không thể thấy một cầu vồng trọn vẹn. Cùng lắm là chúng ta chỉ thấy một nửa cầu vồng. Nhưng có một cầu vồng đầy đủ bao quanh ngai. Cầu vồng ấy trọn vẹn, không có chỗ nào đứt đoạn. Đức Chúa Trời thành tín; Ngài sẽ nhớ và giữ giao ước của Ngài. Đức Chúa Trời sẽ nhớ giao ước Ngài đã lập với mọi tạo vật sống trên đất. Khi Đức Chúa Trời muốn làm bất cứ điều gì cho loài người, Ngài phải theo đúng giao ước mà Ngài đã lập.

Vào cuối chương mười một, Giăng thấy một khải tượng khác, đó là khải tượng về đền thờ của Đức Chúa Trời. Trong đền thờ thấy có hòm giao ước. Ban đầu, Đức Chúa Trời bảo dân Israel thiết kế hòm giao ước theo kiểu mẫu Ngài chỉ trên núi và đặt hòm giao ước vào Nơi Chí Thánh trong đền tạm. Về sau, khi Sa-lô-môn xây đền thờ, hòm giao ước đã được đặt vào đó. Khi dân Israel bị lưu đày qua Ba-by-lôn, hòm giao ước bị mất. Nhưng mặc dầu hòm giao ước trên đất bị mất, hòm giao ước trên trời vẫn còn. Hòm giao ước trên đất được làm theo hòm giao ước trên trời. Bóng trên đất biến mất nhưng thực chất, thực tại trên trời vẫn còn. Vào cuối Khải thị chương 11, một lần nữa Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy hòm giao ước.

Hòm giao ước là gì? Hòm giao ước là sự bày tỏ chính Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời phải thành tín với chính Ngài. Ngai là nơi Đức Chúa Trời thi hành uy quyền, và đền thờ là nơi Ngài cư ngụ. Ngai là một điều gì ở bên ngoài hướng về thế gian và nhân loại, nhưng đền thờ là điều gì dành cho chính Đức Chúa Trời. Cầu vồng quanh ngai nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ không làm gì hại cho con người, trong khi hòm giao ước trong đền thờ nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ không làm gì mà thiếu hụt chính mình Ngài. Điều Đức Chúa Trời đã định, Ngài phải hoàn thành. Điều gì Đức Chúa Trời muốn làm, Ngài có thể thực hiện cách thành công. Hòm giao ước không chỉ vì con người, nhưng cũng vì chính Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không thể từ chối chính Ngài; Ngài không thể tự mâu thuẫn. Trong cõi đời đời, Đức Chúa Trời dự định có một dân tộc được làm cho vinh hiển, và Ngài quyết định vương quốc của thế gian này sẽ trở nên vương quốc của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài. Khi nhìn thấy tình trạng của hội thánh ngày nay, chúng ta không thể không hỏi: “Làm thế nào Đức Chúa Trời hoàn thành mục đích này được?” Tuy nhiên, chúng ta biết Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ ngừng lại giữa chừng. Ngài có hòm giao ước, và chính Ngài đã lập giao ước. Đức Chúa Trời công chính không thể không công chính với con người. Hơn nữa, Đức Chúa Trời công chính không bao giờ có thể không công chính với chính Ngài. Con người không bao giờ có thể mâu thuẫn với chính mình, vì mỗi người có cá tính riêng. Đức Chúa Trời cũng không từ chối Chính Mình trong công tác của Ngài vì Ngài cũng có đặc tính của riêng Ngài. Khi Đức Chúa Trời bày tỏ hòm giao ước cho chúng ta, Ngài muốn nói rằng những gì Ngài ao ước thực hiện Ngài phải hoàn thành.

Ở đây chúng ta phải thấy một điểm. Nền tảng mà trên đó Đức Chúa Trời và Đấng Christ của Ngài sẽ cai trị đời đời, mãi mãi là gì? Dựa trên nền tảng nào Đức Chúa Trời làm cho vương quốc của thế gian này trở nên vương quốc của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài? Nền tảng ấy là đặc tính của Ngài. Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành mọi điều này vì chính đặc tính của Ngài. Không một điều gì có thể ngăn cản Ngài. Chúng ta phải học biết rằng bất cứ điều gì thuộc về Đức Chúa Trời thì không bao giờ bị ngăn trở. Hòm giao ước vẫn còn, tượng trưng cho chính Đức Chúa Trời và giao ước của Ngài. Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành điều này bằng chính Ngài. Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời vì từ chương mười hai đến cuối sách chúng ta được biết Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành mọi điều Ngài đã định trong cõi đời đời qua sự thành tín của chính Ngài.

NGƯỜI NỮ TRONG KHẢI TƯỢNG

Khải thị 12:1 nói: “Trên trời thấy có một dấu lạ lớn: một người nữ mặc mặt trời, dưới chân có mặt trăng, đầu đội mão miện bằng mười hai ngôi sao”. Người nữ được mô tả ở đây là ai? Đây là người mà lắm nhà nghiên cứu Kinh thánh đã tranh luận rất nhiều. Vài người nói người nữ này tượng trưng cho Ma-ri, mẹ của Chúa Jesus. Những người khác nói người nữ này tượng trưng cho quốc gia Israel. Tuy nhiên, theo Kinh thánh người nữ này không thể là Ma-ri, mẹ của Chúa, và cũng không thể tượng trưng cho dân Israel. Đây là những lý do:

(1) Vì khải tượng này được bày tỏ trên trời, người nữ này hoàn toàn thuộc về trời. Ma-ri hay dân Israel đều không có vị trí này.

(2) Sau khi người nữ này sinh người-con-trai, nàng chạy trốn vào trong đồng vắng. Nếu so sánh người nữ này với quốc gia Israel, so sánh người người-con-trai nàng sinh ra với Đấng Christ, và so sánh người con trai được đưa lên trời với sự thăng thiên của Đấng Christ, thì điều này không tương ứng với những sự kiện thật sự. Mặc dầu quốc gia Israel bị tan lạc, việc dân tộc này đi vào đồng vắng không phải là kết quả do sự thăng thiên của Đấng Christ. Vào lúc Đấng Christ thăng thiên, dân Israel bị tan lạc đã lâu và không còn là một quốc gia nữa. Nhưng ở đây chúng ta thấy người nữ chạy trốn vào đồng vắng sau khi người-con-trai được cất lên đến Đức Chúa Trời. Trước khi Chúa thăng thiên rất lâu đã không còn quốc gia Israel. Vì vậy, người nữ này không thể chỉ về quốc gia Israel. Lại càng không đủ nền tảng để nói rằng người nữ này chỉ về Ma-ri.

(3) Trong khi người nữ này quặn thắt để sinh người-con-trai, nàng đã gặp một con rồng. Con rồng này có bảy đầu và mười sừng. Chương mười bảy cho chúng ta thấy bảy đầu này là bảy vua: năm đã ngã, một còn tồn tại và một chưa đến. Mười sừng là mười vua chưa nhận được vương quốc, về sau sẽ dấy lên. Chúng ta biết rằng trước khi Đấng Christ thăng thiên không có các sự kiện lịch sử nào như vậy đã xảy ra. Vì vậy, người nữ này và người-con-trai phải chỉ về những điều trong tương lai. Nếu chúng ta nói người nữ này chỉ về quốc gia Israel, hoặc chỉ về Ma-ri, và người-con-trai chỉ về Chúa Jesus, thì chúng ta đã mâu thuẫn với lịch sử.

(4) Sau khi người-con-trai được cất lên đến Đức Chúa Trời, chiến tranh xảy ra trên trời và Sa-tan bị ném xuống đất. Khi ấy có một lời công bố trên trời: “Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, vương quốc của Đức Chúa Trời chúng ta, và uy quyền của Đấng Christ của Ngài đã đến, vì kẻ kiện cáo anh em chúng ta đã bị ném xuống, tức là kẻ ngày đêm kiện cáo họ trước mặt Đức Chúa Trời” (Khải. 12:10). Chúng ta biết điều này chưa được hoàn tất. Ê-phê-sô chương 6 cho chúng ta biết hội thánh trên đất vẫn phải đánh trận với các kẻ cai trị, các giới thẩm quyền và các lực lượng tà linh gian ác trên trời. Sa-tan vẫn còn đó. Vì phần Kinh thánh này chưa xảy ra, nên không thể chỉ về thời Chúa Jesus được.

(5) Khi con rồng bị ném xuống đất, nó bắt bớ người đàn bà đã sinh người-con-trai. Nhiều người dùng điều này để quả quyết rằng người đàn bà ấy là Ma-ri. Sau khi Ma-ri sinh Chúa Jesus, bà chạy trốn qua Ai-cập; tuy nhiên, bà không làm điều này khi Chúa thăng thiên. Câu 14 đến 16 nói: “Và nàng được ban cho một cặp cánh chim ưng lớn để bay vào đồng vắng đến chỗ của mình, nơi nàng được nuôi dưỡng một thì, những thì và nửa thì khỏi mặt con rắn. Rắn phun nước ở miệng nó ra như sông theo sau người đàn bà, để cuốn nàng đi theo dòng nước ấy. Và đất giúp đỡ người đàn bà, hả miệng nuốt sông mà con rồng đã phun khỏi miệng nó”. Dầu người ta có nói người đàn bà này chỉ về Ma-ri hay quốc gia Israel hay không, qua lịch sử, chúng ta biết khi Đấng Christ thăng thiên, không một điều nào như vậy đã xảy ra. Vì vậy, người đàn bà này không thể chỉ về Ma-ri hay quốc gia Israel.

(6) Còn có một bằng cớ nữa. Câu 17 nói: “Con rồng nổi giận với người đàn bà và bỏ đi gây chiến với những người khác của dòng dõi nàng, là kẻ giữ điều răn của Đức Chúa Trời và có chứng cớ của Jesus”. Sau khi người-con-trai do người đàn bà sinh ra được đưa lên đến ngai, những người còn lại của dòng dõi bà còn ở lại trên đất. Đây không thể là Ma-ri. Hơn nữa, những người còn lại này giữ điều răn của Đức Chúa Trời và có chứng cớ của Chúa Jesus. Nếu nói quốc gia Israel giữ điều răn của Đức Chúa Trời thì điều ấy có thể chấp nhận được, nhưng nói họ giữ chứng cớ của Chúa Jesus thì sẽ lẫn lộn Cựu Ước với Tân Ước. Tóm lại, người đàn bà này không thể là Ma-ri hay quốc gia Israel.

Thế thì nàng là ai? Cựu Ước bày tỏ chỉ có một người nữ gặp con rắn: đó là Ê-va trong Sáng Thế Ký chương 3. Trong Tân Ước cũng chỉ có một người nữ gặp con rắn. Ở đây chúng ta thấy sự tương ứng và tương quan của Kinh thánh từ đầu đến cuối. Hơn nữa, Đức Chúa Trời đặc biệt chỉ ra con rồng lớn là con rắn xưa ấy . Điều này có nghĩa là Ngài nói đến con rắn mà trước đó đã từng được đề cập một lần. Đức Chúa Trời làm cho điểm này sáng tỏ rằng đó chính là con rắn xưa duy nhất ấy. Chữ “ấy” (tức mạo từ “the” trong tiếng Anh) được nhấn mạnh: con rắn xưa “ấy” (“the” old serpent). Do đó, người đàn bà được đề cập ở đây cũng phải là người đàn bà ấy (that woman).

Theo cùng một nguyên tắc mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao được đề cập trong Sáng Thế Ký chương 1 cũng được đề cập trong Khải thị chương 12. Con rắn đã từng ở trong Sáng Thế Ký chương 3 cũng có ở đây. Dòng dõi của người đàn bà được đề cập trong Sáng Thế Ký chương 3 cũng được đề cập ở đây. Hơn nữa, sự quặn thắt khi sinh nở trong Sáng Thế Ký chương 3 cũng có ở đây. Nếu chúng ta đặt hai phần Kinh thánh này lại với nhau, chắc chắn chúng ta có thể thấy người đàn bà trong Khải thị chương 12 chính là người đàn bà mà Đức Chúa Trời định trong ý muốn đời đời của Ngài. Tất cả những gì xảy ra cho nàng vào thời sau cùng được bày tỏ rõ ràng ở đây. Người đàn bà trong Sáng Thế Ký chương 2 nói về mục đích đời đời của Đức Chúa Trời; người nữ trong Ê-phê-sô chương 5 nói về vị trí và tương lai của hội thánh; và người nữ trong Khải thị chương 12 bày tỏ những sự việc vào thời sau cùng. Ngoài ba người nữ này, có một người nữ khác bày tỏ những điều trong cõi đời đời.

Khi người nữ xuất hiện trong khải tượng, Kinh thánh trước hết nêu rõ nàng “mặc mặt trời, dưới chân có mặt trăng và đầu đội mão miện bằng mười hai ngôi sao” (12:1). Những sự kiện này rất có ý nghĩa liên quan đến các thời đại.

(1) Người nữ mặc mặt trời. Mặt trời chỉ về Chúa Jesus. Việc nàng mặc mặt trời có nghĩa là khi mặt trời chiếu sáng rực rỡ nhất thì mặt trời ấy chiếu sáng trên nàng. Trong thời đại hiện nay, Đức Chúa Trời đang bày tỏ chính Ngài qua nàng. Điều này bày tỏ mối quan hệ giữa nàng với Đấng Christ và thời kỳ ân điển.

(2) Người nữ có mặt trăng ở dưới chân nàng. Nhóm chữ “dưới chân nàng” không có nghĩa là nàng giày đạp mặt trăng. Theo Hi văn, nó có nghĩa là mặt trăng chịu khuất phục dưới chân nàng. Ánh sáng của mặt trăng là ánh sáng phản chiếu; tự nó không có ánh sáng. Mọi sự trong thời đại luật pháp chỉ phản chiếu những gì trong thời đại ân điển. Luật pháp chỉ là biểu tượng. Đền thờ và hòm giao ước là biểu tượng. Hương liệu, bánh trần thiết trong Nơi Thánh, và các sinh tế do các thầy tế lễ dâng lên đều là biểu tượng, huyết của chiên và bò cũng như thế. Mặt trăng ở dưới chân người nữ nghĩa là mọi điều liên quan đến luật pháp đều thấp hơn nàng. Điều này nói đến mối quan hệ của nàng với thời đại luật pháp.

(3) Người nữ này có một vương miện gồm mười hai ngôi sao trên đầu. Những hình ảnh tượng trưng chính yếu trong thời đại các tổ phụ là từ thời Áp-ra-ham đến mười hai chi phái. Vương miện mười hai ngôi sao trên đầu nàng chỉ về mối quan hệ của nàng với thời đại các tổ phụ.

Theo cách ấy, chúng ta thấy người nữ không chỉ liên quan đến thời đại ân điển, nhưng cũng liên quan đến thời đại luật pháp và thời đại các tổ phụ. Tuy nhiên, nàng liên quan đến thời đại ân điển mật thiết hơn. Nàng bao hàm tất cả các thánh đồ thuộc thời đại ân điển cũng như tất cả các thánh đồ thuộc thời đại luật pháp và thời đại các tổ phụ.

SỰ RA ĐỜI CỦA NGƯỜI-CON-TRAI

Khải thị 12:2 nói: “Nàng có thai, kêu la, quặn thắt và đau đớn trong sự sinh nở”. Có thai ở đây có tính cách hình bóng chứ không phải có ý theo nghĩa đen. Có thai nghĩa là gì? Ấy có nghĩa là một em bé đang ở trong bụng mẹ, đứa bé và bà mẹ kết hiệp trong một trong một thân thể. Khi người mẹ ăn, đứa bé được nuôi dưỡng. Khi người mẹ đau ốm, đứa bé cũng bị ảnh hưởng. Tình trạng của người mẹ là tình trạng của đứa bé. Người mẹ và đứa bé là một.

Tuy nhiên, đứa bé này cũng khác với người mẹ; nó là một hữu thể khác. Nếu anh em nói họ là một, họ thật sự là một, vì đứa bé nhận lãnh sự sống từ người mẹ. Tuy nhiên, về tương lai, nó khác với mẹ. Tương lai của nó hoàn toàn khác biệt với mẹ nó. Ngay sau khi ra đời, nó được đưa lên ngai của Đức Chúa Trời, trong khi mẹ nó chạy trốn vào đồng vắng.

Hơn nữa, trong khi người mẹ có thai, người ta chỉ nhìn thấy người mẹ; còn đứa bé được giấu kín. Nhìn bên ngoài, dường như chỉ có người mẹ. Chắc chắn đứa bé đang hiện hữu, nhưng nó ẩn giấu bên trong người mẹ; nó được bao hàm bên trong người mẹ.

Câu 3 nói: “Trên trời cũng thấy có một dấu hiệu khác nữa; kìa, có một con rồng lớn màu đỏ, có bảy đầu và mười sừng, đầu đội bảy vương miện”. Sau vài ngàn năm, con rắn ấy hoàn toàn khác hẳn. Thuở ban đầu nó là một con rắn, nhưng bây giờ nó bành trướng thành một con rồng. Hình thể con rồng này ra sao? Nó có bảy đầu, mười sừng và có bảy vương miện trên các đầu. Bề ngoài của nó giống như con thú từ biển lên, có mười sừng và bảy đầu. Khải thị 13:1 nói: “Rồi tôi thấy một con thú dưới biển lên, có mười sừng và bảy đầu, các sừng đội mười vương miện”. Con thú ở biển lên cũng có bảy đầu và mười sừng với các vương miện. Điều này bày tỏ mục tiêu của Sa-tan, nó muốn có các vương miện, tức là uy quyền. Sự khác biệt giữa con rồng và con thú là các vương miện của con rồng thì ở trên đầu, trong khi các vương miện con thú thì ở trên các sừng của nó. Đầu nghĩa là uy quyền để quyết định, và sừng là uy quyền để thi hành. Đầu cai trị và sừng thi hành. Nói cách khác, sừng vâng phục mệnh lệnh của đầu. Khi nào đầu chuyển động thì sừng sẽ đi theo. Nghĩa là mọi hành vi cử chỉ của con thú đều ở dưới quyền cai trị của con rồng.

Khải thị 12:4 bắt đầu như vầy: “Đuôi nó kéo một phần ba các ngôi sao trên trời và ném xuống đất”. Ê-sai 9:15 bày tỏ rằng đuôi chỉ về sự nói dối và lừa dối. Trong Khải thị chương 2 và 3, các ngôi sao chỉ về các thiên sứ. Vì các ngôi sao trên trời được đề cập đến ở đây, chúng là các thiên sứ. Một phần ba các thiên sứ trên trời bị con rồng lừa dối, chúng rơi xuống và bị ném xuống cùng với con rồng.

Câu 4 nói tiếp: “Con rồng đứng trước người đàn bà sắp sinh, để khi nàng sinh, nó sẽ nuốt con của nàng”. Đây là người đàn bà Đức Chúa Trời đã định trong ý muốn Ngài và người-con-trai mà Ngài ao ước có được. Nhưng con rồng ngăn trở điều Đức Chúa Trời theo đuổi trong người đàn bà. Con rồng biết người đàn bà sắp sinh một đứa con trai; vì vậy, nó đứng trước người đàn bà và chờ đợi để nuốt con nàng ngay khi nàng sinh nó ra.

Câu 5 nói: “Và nàng sinh một con trai, một người-con-trai”. Để thấy được mối quan hệ giữa người đàn bà và người-con-trai, chúng ta hãy xem Ga-la-ti 4:26: “Nhưng Giê-ru-sa-lem ở trên thì tự do, là mẹ của chúng ta”. Phần cuối của Ga-la-ti 4:27 nói: “Vì con cái của kẻ đơn độc nhiều hơn con cái của người có chồng”. Giê-ru-sa-lem ở trên là Giê-ru-sa-lem Mới, và Giê-ru-sa-lem Mới là người nữ, là mục tiêu mà Đức Chúa Trời ao ước có được trong cõi đời đời. Người nữ trong sự sáng tạo là Ê-va, người nữ trong thời đại ân điển là Thân Thể của Đấng Christ, người nữ vào cuối thời đại ân điển được mô tả trong Khải thị chương 12, và người nữ trong cõi đời đời tương lai sẽ là Giê-ru-sa-lem Mới. Khi Lời Chúa nói Giê-ru-sa-lem ở trên có nhiều con cái, không có nghĩa là mẹ và các con tách rời nhau, mà có nghĩa là một người đã trở nên nhiều người và nhiều người được kết hợp làm một. Nhiều con cộng lại sẽ bằng người mẹ. Không phải người mẹ sinh năm đứa con rồi sau đó có sáu cá nhân, nhưng là năm đứa con cộng lại tạo nên người mẹ. Mỗi đứa con là một phần của người mẹ: một phần của người mẹ được lấy ra vì đứa con này, một phần khác được lấy ra vì đứa con khác, và mỗi đứa đều như vậy. Dường như chúng đều do bà sinh ra, nhưng thật ra chúng là chính bà. Người mẹ không phải là một hữu thể khác cộng với các đứa con; bà là sự tập hợp của tất cả các con. Khi nhìn toàn thể, chúng ta thấy người mẹ; khi nhìn từng người chúng ta thấy các con. Khi nhìn toàn bộ mọi người trong mục đích của Đức Chúa Trời, chúng ta thấy người nữ; nếu nhìn riêng từng người, chúng ta thấy nhiều con trai. Đây là một nguyên tắc đặc biệt.

Cùng một ý nghĩa như vậy được áp dụng trong Khải thị chương 12 khi chương này nói về người đàn bà sinh một đứa con trai, một người-con-trai. Người-con-trai nàng sinh ra là một điều lạ lùng, một dấu hiệu. Các chữ “sinh ra” không có nghĩa là đứa bé ban đầu ở với nàng và sau đó lìa khỏi nàng, nhưng chỉ có nghĩa là bên trong nàng có một hữu thể như vậy. “Nàng sinh một con trai, một người-con-trai” chỉ có nghĩa là có một nhóm người được bao hàm trong người đàn bà này.

Toàn dân của Đức Chúa Trời đều có phần trong mục đích đời đời của Ngài, nhưng không phải tất cả đều đảm đương trách nhiệm đúng đắn của mình. Vì vậy, Đức Chúa Trời chọn lựa một số người giữa vòng họ. Nhóm người này là một phần của toàn thể, một phần được Đức Chúa Trời chọn lựa giữa nhiều người. Đây là người-con-trai do người đàn bà sinh ra. Về toàn thể, ấy là người mẹ, về thiểu số, ấy là người-con-trai. Người-con-trai là “các anh em” trong câu 10 và “họ” trong câu 11. Điều này có nghĩa là người-con-trai không phải là một cá nhân riêng lẻ, mà là một tập thể gồm nhiều người. Tất cả những người này cộng lại với nhau thành người-con-trai. So sánh với người mẹ, người-con-trai rất nhỏ bé. Khi nhóm người này được đem so với toàn thể, họ chỉ là thiểu số. Nhưng kế hoạch của Đức Chúa Trời được hoàn thành trong họ và mục tiêu của Ngài đặt để trên họ.

Câu 5 nói: “Nàng sinh một con trai, một người-con-trai, con trai ấy sẽ dùng gậy sắt mà chăn các quốc gia”. Điều này nói về vương quốc một ngàn năm. Những người đắc thắng là công cụ để Đức Chúa Trời đạt đến mục đích của Ngài. Khải thị đề cập đến việc chăn các quốc gia bằng gậy sắt ba lần. Trước hết, đoạn 2:26-27 nói: “Người đắc thắng và giữ công việc Ta đến cùng, Ta sẽ ban cho uy quyền trên các quốc gia; và người sẽ chăn họ bằng gậy sắt”. Phân đoạn này nói đến những người đắc thắng trong hội thánh cách rõ ràng. Lần cuối nhóm chữ này được nhắc đến là ở chương 19:15: “Có lưỡi bén từ miệng Ngài ra để đánh các quốc gia; và Ngài sẽ chăn họ bằng gậy sắt”. Phân đoạn này chỉ về Chúa Jesus. Thế thì phần Kinh thánh ở chương 12 chỉ về ai? Phần Kinh thánh này chắc hẳn phải chỉ về hoặc người đắc thắng, hoặc Chúa Jesus. Có thể nào phần này chỉ về Chúa Jesus không? Không. (Tuy nhiên, không phải phần Kinh thánh này hoàn toàn không thể chỉ về Ngài, vì về sau chúng ta sẽ thấy Chúa Jesus được bao hàm ở đây). Vì sao lại không thể được? Trước hết, người-con-trai được đưa lên đến ngai Đức Chúa Trời ngay sau khi ra đời. Vì vậy, không thể chỉ về Chúa Jesus. Chúa Jesus không được đưa lên trời ngay sau khi Ngài sinh ra. Ngài đã sống ba mươi ba năm rưỡi trên trái đất này, rồi Ngài chết, phục sinh rồi sau đó mới lên trời. Vì lý do này, chúng ta tin rằng người-con-trai chỉ về những người đắc thắng trong hội thánh. Đây là một số người đắc thắng trong hội thánh. Người-con-trai chỉ về họ, không phải chỉ về Chúa Jesus. (Tuy nhiên, người-con-trai cũng bao hàm luôn Chúa Jesus bởi vì Chúa Jesus là người đắc thắng đầu tiên và tất cả những người đắc thắng đều bao hàm trong Ngài). Người-con-trai và người mẹ khác nhau, tuy nhiên, họ cũng là một. Người đắc thắng khác với hội thánh, nhưng họ được bao hàm trong hội thánh.

SỰ CẤT LÊN CỦA NGƯỜI-CON-TRAI

Khải thị 12:5 tiếp tục như sau: “Đứa con của nàng được cất lên đến Đức Chúa Trời và ngai Ngài”. “Được cất lên” trong câu này khác với ý nghĩa “được cất lên” trong 1 Tê-sa-lô-ni-ca chương 4. Câu ấy nói một số người sẽ được cất lên trong các đám mây, trong khi ở đây nói người-con-trai được cất lên đến ngai của Đức Chúa Trời. Người-con-trai được cất lên đến ngai vì đã có một người nào đó ở trên ngai rồi. Đầu của hội thánh đang ở trên ngai. Mục đích của Đức Chúa Trời không phải chỉ có một người ở trên ngai, nhưng là nhiều người ở trên ngai. Ao ước ban đầu của Ngài là có một nhóm người ở trên ngai để thi hành uy quyền của Ngài. Đức Chúa Trời ao ước Đấng Christ và hội thánh cùng hoàn thành mục đích của Ngài. Tuy nhiên, đại đa số mọi người trong hội thánh vẫn sẽ không đạt đến ngai được. Chỉ có một thiểu số, được gọi là những người đắc thắng có thể lên đến ngai của Đức Chúa Trời. Họ sẽ được cất lên đến ngai Ngài vì họ sẽ đạt được mục đích của Ngài.

Hai điều này xảy ra ngay sau khi người-con-trai được cất lên: “Và người đàn bà chạy trốn vào đồng vắng, tại đó nàng có một chỗ Đức Chúa Trời đã chuẩn bị sẵn để họ nuôi nàng trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày. Và trên trời có chiến tranh: Mi-ca-ên và các thiên sứ người chiến đấu với con rồng. Rồng và các thiên sứ của nó chiến đấu lại” (Khải. 12:6-7). Xin hãy lưu ý chữ “và” được dùng hai lần ngay sau khi người-con-trai được cất lên trong câu 5. Câu 6 nói: “Và người đàn bà trốn vào đồng vắng...” Kế đến câu 7 nói: “Và trên trời có chiến tranh...” Sự việc người đàn bà chạy trốn vào đồng vắng và chiến tranh trên trời đều vì người-con-trai đã được cất lên.

Chúng ta hãy xem cuộc chiến trên trời. Trước hết có Mi-ca-ên, một tên đầy ý nghĩa. Mi-ca-ên nghĩa là “Ai giống như Đức Chúa Trời?” Đây là một câu hỏi tuyệt vời. Ý định của Sa-tan là muốn giống như Đức Chúa Trời, nhưng Mi-ca-ên hỏi: “Ai giống như Đức Chúa Trời?” Không những Sa-tan ao ước giống Đức Chúa Trời, hắn còn cám dỗ con người trở nên giống Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, câu hỏi của Mi-ca-ên: “Ai giống như Đức Chúa Trời?” làm rúng động quyền lực của Sa-tan. Dường như Mi-ca-ên đang nói với Sa-tan: “Ngươi muốn giống Đức Chúa Trời, nhưng ngươi sẽ không bao giờ làm được điều đó!” Đây là điều mà tên của Mi-ca-ên bày tỏ cho chúng ta.

Ngay sau khi người-con-trai được cất lên, có cuộc chiến tranh ở trên trời. Nói cách khác, nguyên nhân gây nên cuộc chiến tranh ở trên trời là vì sự cất lên của người-con-trai. Qua điều này chúng ta thấy sự cất lên của người-con-trai không phải chỉ là vấn đề của một vài cá nhân được cất lên, nhưng hơn thế nữa, điều ấy kết thúc trận chiến đã tiếp diễn trong suốt các thời đại và các thế hệ. Con rắn xưa, tức kẻ thù của Đức Chúa Trời, đã chiến đấu với Ngài suốt mấy ngàn năm. Khi cuộc chiến này xảy ra trên trời, Mi-ca-ên và các thiên sứ của nó chiến đấu với con rồng, tức là con rắn xưa. Trước đây hắn là một con rắn, nhưng bây giờ hắn đã đổi dạng thành một con rồng. Hắn đã liên tục tăng cường năng lực của mình cách kiên trì. Tuy nhiên, một khi người-con-trai được cất lên, không những con rồng không thể bành trướng hơn nữa mà còn bị ném xuống từ trời. Sự cất lên của người-con-trai là một sự việc gây cho Sa-tan không còn vị trí ở trên trời nữa.

Kết quả của cuộc chiến giữa Mi-ca-ên và các thiên sứ của người với con rồng và các thiên sứ của hắn ra sao? Câu 8 và 9 nói: “Và chúng (con rồng và các thiên sứ của hắn) không thắng được, ở trên trời cũng không thấy chỗ của chúng nữa. Và con rồng lớn bị ném xuống, tức là con rắn xưa, gọi là Ma quỉ và Sa-tan, đứa lừa dối cả thiên hạ; hắn bị ném xuống đất, và các thiên sứ của hắn bị ném xuống cùng với hắn”. Kết quả của cuộc chiến này là sự bại trận của con rồng. Không có chỗ nào cho hắn trên trời; hắn và các thiên sứ của hắn tất cả đều đã bị ném xuống đất.

Sự chết của Chúa Jesus đã đối phó với địa vị mà Sa-tan giành được bởi sự sa ngã của con người. Nói cách khác, sự cứu chuộc đã phá hủy địa vị hợp pháp của Sa-tan. Công tác của hội thánh là thi hành trong vương quốc Đức Chúa Trời điều mà Chúa Jesus đã hoàn thành trong sự cứu chuộc và kết quả là hoàn toàn chấm dứt địa vị hợp pháp mà Sa-tan đã giành được qua sự sa ngã của con người. Sự cứu chuộc là giải pháp của Đấng Christ đối với sự sa ngã; vương quốc là giải pháp của hội thánh đối với sự sa ngã. Công tác phán xét là công tác của Đấng Christ, trong khi phận sự thi hành sự phán xét này đặt trên hội thánh. Lật đổ Sa-tan là công tác của chúng ta. Đức Chúa Trời đang tìm cách kết thúc thời đại này. Ngài cần những người đắc thắng. Nếu không có người-con-trai, sẽ không có cách nào lật đổ công việc của Sa-tan. Sa-tan đã bị phán xét do sự cứu chuộc; bây giờ hình phạt phải được vương quốc thi hành.

Sau khi con rồng và các thiên sứ của nó bị ném xuống từ trời, câu 10 nói: “Và tôi nghe một tiếng lớn trên trời nói: Bây giờ sự cứu rỗi và quyền năng và vương quốc của Đức Chúa Trời chúng ta và uy quyền của Đấng Christ của Ngài đã đến”. Đây là vương quốc. Khi Sa-tan bị ném xuống, khi các thiên sứ của hắn bị ném xuống với hắn, và khi không có chỗ cho chúng trên trời, thì đây là sự cứu rỗi, quyền năng, vương quốc của Đức Chúa Trời chúng ta và uy quyền của Đấng Christ của Ngài.

Chúng ta hãy cùng đọc hai câu này: “Và thiên sứ thứ bảy thổi kèn; và có những tiếng lớn trên trời nói rằng: Vương quốc thế gian đã trở nên vương quốc của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài, và Ngài sẽ cai trị đời đời, mãi mãi” (11:15). Đó mới là chủ đề. “Và tôi nghe một tiếng lớn trên trời nói: Bây giờ sự cứu rỗi, và quyền năng và vương quốc của Đức Chúa Trời chúng ta và uy quyền của Đấng Christ của Ngài đã đến” (12:10). Đây chính là chủ đề đã được thi hành một cách mỹ mãn. Bí quyết dẫn đến sự thành công là sự cất lên của người con trai. Vì người-con-trai được cất lên nên sẽ có chiến tranh trên trời và Sa-tan sẽ bị ném xuống. Kết quả việc Sa-tan bị ném xuống là sự xuất hiện của vương quốc của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài. Sự cất lên của những người đắc thắng khiến Sa-tan bị ném xuống và dẫn đến vương quốc. Công tác của những người đắc thắng là đem vương quốc của Đức Chúa Trời đến. Công tác của Chúa đã hoàn tất và Ngài đang ngồi trên ngai. Bây giờ những người đắc thắng đem điều này vào hiện thực.

Có một phân đoạn tương ứng trong Lu-ca chương 10 nói rằng: “Và bảy mươi người vui mừng trở về nói: Thưa Chúa, ngay cả các quỉ cũng phục chúng tôi trong danh Ngài” (c. 17). Các môn đồ đã đuổi được quỉ. Sau đó Chúa nói: “Ta thấy Sa-tan từ trời sa xuống như chớp” (c. 18). Câu này nói về Sa-tan bị ném xuống từ trời. Nhưng sự kiện này xảy ra khi nào? Xảy ra trong Khải thị chương 12. Điều gì làm cho Sa-tan bị ném xuống? Theo Lu-ca 10:18, mà câu này dựa trên câu 17, Sa-tan bị ném xuống từ trời vì hội thánh đuổi quỉ. Câu 17 cũng cho thấy việc đuổi quỉ không phải là vấn đề một lần đủ cả; trái lại, hội thánh cần tiếp tục đuổi quỉ trên đất để Sa-tan bị ném xuống từ trời. Khi Chúa Jesus chết, tất cả quyền lực của Sa-tan bị hủy diệt. Nhưng điều gì thật sự làm cho Sa-tan mất quyền lực trên trời? Tất cả quyền lực của hắn có thể bị chấm dứt do các con cái Đức Chúa Trời trên đất liên tục xử lý hắn, từng trường hợp một. Khi các quỉ bị bắt phục nhiều lần trong danh Chúa Jesus, Sa-tan sẽ bị ném xuống.

Giả sử chúng ta có một cái cân. Trên một đĩa cân là Sa-tan. Vì không biết Sa-tan nặng bao nhiêu nên chúng ta phải liên tục đặt thêm trọng lượng lên đĩa cân bên kia. Mỗi lần xử lý Sa-tan là chúng ta thêm trọng lượng vào bên kia. Khi trọng lượng gia tăng đến một mức độ nào đó, Sa-tan sẽ bị dời chỗ. Ban đầu, khi chúng ta tiếp tục đặt thêm trọng lượng vào phía bên kia thì dường như không có tác dụng gì. Nhưng mỗi lần gia tăng thêm trọng lượng thì đều có giá trị. Sau cùng, khi trọng lượng cuối cùng được thêm vào, cái cân sẽ bắt đầu chuyển động. Chúng ta không biết ai sẽ thêm trọng lượng cuối cùng vào, nhưng tất cả trọng lượng được thêm vào từ đầu đến cuối đều tạo nên hiệu quả. Công tác của hội thánh là chống lại công việc của Sa-tan để chúng ta có thể cùng nhau đuổi quỉ. Đây là lý do vì sao Sa-tan sẽ làm bất cứ điều gì với năng lực của hắn để ngăn cản chúng ta trở nên người đắc thắng.

Đuổi quỉ không nhất thiết có nghĩa là khi chúng ta gặp quỉ chúng ta phải đương đầu với hắn. Đuổi quỉ nghĩa là chúng ta đuổi mọi công tác và năng lực của quỉ. Chúng ta nắm lấy uy quyền của Chúa và đứng vững trong vị trí của mình. Anh em này thêm vào một ít trọng lượng và anh em khác lại thêm vào một ít nữa. Rồi một ngày kia Sa-tan sẽ bị ném xuống từ trời. Đức Chúa Trời không trực tiếp ra tay ném Sa-tan xuống khỏi trời. Ngài có thể làm điều này rất dễ dàng, nhưng Ngài không làm. Ngài đã phó thác công tác này cho hội thánh. Ôi, thật đáng thương vì hội thánh đã thất bại trong vấn đề này và không thể thực hiện điều đó được! Đây là lý do vì sao cần phải có những người đắc thắng đứng trong vị trí hội thánh để làm công việc của Đức Chúa Trời. Khi những người đắc thắng đứng trong vị trí của hội thánh và làm công việc mà lẽ ra hội thánh phải làm, kết quả sẽ là: “Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng và vương quốc của Đức Chúa Trời chúng ta và uy quyền của Đấng Christ của Ngài đã đến”. Người-con-trai trong Khải thị chương 12 gồm có những người đắc thắng đứng đại diện cho hội thánh. Vì vậy, ngay sau khi người-con-trai được cất lên, Sa-tan bị ném xuống khỏi trời và vương quốc liền đến.

NGUYÊN TẮC NGƯỜI-CON-TRAI

Kinh thánh nói người-con-trai sẽ “chăn mọi quốc gia bằng một cây gậy sắt”. Đây là mục đích của Đức Chúa Trời. Công tác của hội thánh sẽ làm cho Sa-tan mất năng quyền và đem vương quốc của Đức Chúa Trời đến. Hội thánh mà Đức Chúa Trời ao ước phải có những đặc tính của A-bi-ga-in, ấy là hợp tác với Đấng Christ. Nhưng vì hội thánh không đạt đến mục đích của Đức Chúa Trời, thậm chí hội thánh cũng không biết đến mục đích của Đức Chúa Trời nên Ngài phải làm gì đây? Ngài sẽ chọn một nhóm người đắc thắng là những người đạt đến mục đích của Ngài và hoàn thành sự đòi hỏi của Ngài. Đây là nguyên tắc của người-con-trai.

Có nhiều ví dụ về nguyên tắc này trong Kinh thánh. Mục đích của Đức Chúa Trời trong việc lựa chọn dân Israel trong thời Cựu Ước là gì? Xuất Ai Cập Ký chương 19 cho chúng ta biết Ngài chọn lựa họ để làm một vương quốc gồm các thầy tế lễ. Một vương quốc của các thầy tế lễ nghĩa là gì? Nghĩa là cả quốc gia phải phục vụ Ngài và là thầy tế lễ của Ngài. Tuy nhiên, không phải toàn dân Israel đều trở nên thầy tế lễ, vì họ đã thờ phượng bò con bằng vàng. Thay vì phục vụ Đức Chúa Trời, họ thờ lạy hình tượng. Vì vậy, Môi-se ra lệnh cho dân Israel rằng: “Ai đứng về phía Đức Chúa Trời? Hãy để người ấy đến với ta” (Xuất. 32:26). Sau đó tất cả các con trai Lê-vi tụ tập lại với Môi-se. Kế đến Môi-se bảo họ: “Chúa là Đức Chúa Trời của Israel phán như vầy: Mỗi người hãy đeo gươm bên hông, ra vào từ cổng này đến cổng kia của doanh trại, và giết tất cả anh em, tất cả bạn hữu, và tất cả những người láng giềng của mình” (c. 27). Thờ lạy hình tượng là tội nặng nhất, nên Đức Chúa Trời đòi hỏi những người này giết chính anh em mình bằng gươm. “Và con cái Lê-vi làm theo lời Môi-se” (c. 28). Họ muốn phục vụ Đức Chúa Trời hơn là giữ tình cảm con người, nên Đức Chúa Trời chọn lựa họ làm các thầy tế lễ. Từ đó về sau, giữa vòng toàn thể người Israel, chỉ có những người thuộc chi phái Lê-vi được làm thầy tế lễ. Từ đó, toàn thể hội chúng Israel đến gần Đức Chúa Trời qua chi phái Lê-vi. Ban đầu, toàn thể dân Israel đều được lựa chọn để phục vụ Đức Chúa Trời, nhưng họ đã làm cho Ngài thất vọng; vì vậy, từ giữa vòng một hội chúng thất bại ấy, Đức Chúa Trời đã lựa chọn một nhóm người để đứng vào vị trí của họ. Nhóm người này là những người đắc thắng.

Chúng ta phải nhớ rằng người Lê-vi không vì chính mình mà hầu việc Đức Chúa Trời, họ cũng không phải là những người đắc thắng do tự mình lựa chọn. Nói họ cho mình là cao trọng hơn người khác thì lại càng không phải. Nếu điều ấy xảy ra, thì họ chẳng còn gì nữa. Người Lê-vi được Đức Chúa Trời chọn lựa để đại diện cho cả toàn thể hội chúng Israel. Điều mà con dân Israel lẽ ra phải dâng cho Đức Chúa Trời, thì con cái Lê-vi đã dâng thay cho họ. Sự phục vụ của người Lê-vi trước mặt Đức Chúa Trời được kể là sự phục vụ của toàn quốc gia Israel. Chỉ có người Lê-vi mới là thầy tế lễ, nhưng cả quốc gia Israel đều nhận được lợi ích từ chức vụ tế lễ của họ. Cũng vậy, công tác của những người đắc thắng là vì toàn thể hội thánh. Công tác thuộc về những người đắc thắng, nhưng hội thánh nhận được phước hạnh của công tác này. Đây là vinh quang của những người đắc thắng. Công việc là của họ nhưng thành tựu của họ đem vinh quang đến cho cả hội thánh; công tác là của họ, nhưng cả hội thánh nhận được phước hạnh.

Trong thời Các Quan Xét, dân Israel bị dân Ma-đi-an áp bức và ở trong tình trạng rất tuyệt vọng. Từ một trong các chi phái của họ, Đức Chúa Trời dấy Ghi-đê-ôn lên để lãnh đạo một đội quân và xua đuổi kẻ thù. Cả quốc gia được tự do nhờ đội quân này. Trách nhiệm ở trên cả một quốc gia nhưng vì có một số người sợ hãi và số khác thì biếng nhác; nên chỉ một số người ra trận và đem lại lợi ích cho toàn thể quốc gia.

Chúng ta cũng thấy nguyên tắc này khi dân Israel trở về sau khi bị lưu đày. Ban đầu Đức Chúa Trời hứa rằng sau bảy mươi năm lưu đày, dân Israel sẽ trở về và phục hồi lãnh thổ. Tuy nhiên, không phải tất cả đều trở về; chỉ có một số ít được Ê-xơ-ra, Nê-hê-mi, Xô-rô-ba-bên và Giô-sua dẫn dắt đã trở về để xây dựng lại đền thờ và thành Giê-ru-sa-lem. Nhưng những gì họ đã làm được kể cho cả quốc gia Israel. Điều ấy được kể như sự khôi phục và trở về của cả quốc gia.

Nguyên tắc của những người đắc thắng là: không phải một cá nhân thuộc linh cách đặt biệt sẽ được vương miện và vinh quang đang chờ đợi người ấy. Điều đó cũng không có nghĩa rằng các cá nhân sẽ không được ban thưởng vương miện và vinh quang trong ngày ấy. Họ có thể nhận được những điều đó, nhưng họ không theo đuổi chúng vì ấy không phải là mục đích chính của họ. Lý do những người đắc thắng trở nên những người đắc thắng không phải là để nhận được vương miện hay vinh quang cho mình, nhưng chỉ là để chiếm lấy địa vị mà cả hội thánh nên chiếm và thực hiện công tác thay cho hội thánh. Trước mặt Đức Chúa Trời, hội thánh nên ở trong tình trạng mà Ngài ao ước; hội thánh nên có trách nhiệm đối với Ngài, hoàn thành công tác đã được giao phó cho mình và đứng ở địa vị đúng đắn. Tuy nhiên, hội thánh đã thất bại và ngày nay vẫn còn thất bại. Hội thánh đã không trở thành điều mà từ ban đầu Chúa dự định hội thánh phải trở thành; hội thánh đã không thực hiện công tác của mình, gánh lấy trách nhiệm của mình, cũng không đứng ở địa vị đúng đắn của mình. Hội thánh đã không chiếm được nền tảng cho Đức Chúa Trời. Chỉ có một nhóm người ít oi còn lại thực hiện công tác thay cho hội thánh và gánh vác trách nhiệm của hội thánh. Nhóm người này là những người đắc thắng. Những gì họ làm được kể như công tác của cả hội thánh. Nếu có những người trở nên những người đắc thắng, Đức Chúa Trời sẽ đạt được mục đích, và sẽ thỏa lòng. Đây là nguyên tắc về người-con-trai.

Lý do chúng ta xem xét vấn đề người-con-trai là vì trong mục đích đời đời của Đức Chúa Trời, Ngài cần một nhóm người đắc thắng. Theo lịch sử, chúng ta phải thừa nhận rằng hội thánh đã thất bại. Vì vậy, Đức Chúa Trời đang kêu gọi những người đắc thắng đứng thay cho hội thánh. Người-con-trai được nói đến trong phân đoạn này của sách Khải thị đặc biệt chỉ về những người đắc thắng trong thời đại sau cùng. Một khi ra đời, người-con-trai sẽ được cất lên đến ngai Đức Chúa Trời. Sau đó các biến cố sẽ ngay lập tức xảy ra trên trời và Sa-tan sẽ bị ném xuống. Sự khó khăn của Đức Chúa Trời được loại bỏ khi người-con-trai được cất lên. Vấn đề của Ngài được giải quyết. Dường như một khi người-con-trai ra đời, mục đích của Đức Chúa Trời không còn bị ngăn trở nữa. Đây là điều Đức Chúa Trời đang kêu gọi cho ngày hôm nay; đây là điều Ngài quan tâm hiện nay. Đức Chúa Trời cần một nhóm người đạt đến mục tiêu nguyên thủy của Ngài.

NỀN TẢNG VÀ THÁI ĐỘ CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐẮC THẮNG

Trong Khải thị 3:21 Chúa Jesus phán: “Người nào đắc thắng, Ta sẽ cho ngồi với Ta trên ngai Ta”. Lý do người-con-trai có thể ở trên ngai là vì người ấy đã đắc thắng. Bây giờ chúng ta xem họ đắc thắng như thế nào và thái độ của họ ra sao.

Khải thị chương 12:11 nói: “Và họ đắc thắng hắn nhờ huyết Chiên Con, nhờ lời làm chứng của mình, và họ không yêu sự sống của hồn mình cho đến chết”. “Họ đắc thắng hắn”. Hắn ở đây chỉ về Sa-tan. Họ đắc thắng Sa-tan bằng cách làm cho hắn không thể thực hiện được bất cứ công việc nào của hắn trên đời sống họ. Họ đắc thắng hắn (1) nhờ huyết của Chiên Con, (2) nhờ lời làm chứng của mình, và (3) nhờ thái độ của họ là không yêu sự sống của hồn mình thậm chí cho đến chết.

Huyết của Chiên Con

Trước hết, “họ đắc thắng hắn nhờ huyết Chiên Con”. Sự chiến thắng trong cuộc chiến tranh thuộc linh dựa trên huyết Chiên Con. Huyết không chỉ vì sự tha thứ và cứu rỗi, mà còn là nền tảng nhờ đó chúng ta chiến thắng Sa-tan. Có lẽ một số người nghĩ rằng huyết không có giá trị bao nhiêu đối với những người đã tăng trưởng trong Chúa. Họ tưởng một số người có thể tăng trưởng đến mức không cần đến huyết. Chúng ta phải nhấn mạnh rằng không hề có điều đó! Không ai tăng trưởng đến mức không còn cần đến huyết nữa. Lời Đức Chúa Trời phán: “Họ đắc thắng hắn nhờ huyết của Chiên Con”.

Hoạt động chính yếu của Sa-tan để chống lại các Cơ Đốc nhân là buộc tội họ. Sa-tan có phải là kẻ giết người không? Phải. Hắn có phải là kẻ nói dối và kẻ cám dỗ không? Đúng vậy. Hắn có phải là kẻ tấn công chúng ta không? Phải. Nhưng chưa hết. Công tác chính yếu của hắn là buộc tội. Khải thị 12:10 nói: “Kẻ kiện cáo anh em chúng ta đã bị ném xuống, tức là kẻ ngày đêm kiện cáo họ trước mặt Đức Chúa Trời”. Ở đây, chúng ta thấy Sa-tan kiện cáo các anh em ngày đêm. Không những hắn là kẻ kiện cáo trước mặt Đức Chúa Trời mà còn là kẻ buộc tội trong lương tâm chúng ta nữa, sự buộc tội của hắn có thể làm cho chúng ta yếu đuối và hoàn toàn mất hết năng lực. Hắn thích buộc tội người ta đến độ làm cho họ nghĩ rằng mình vô dụng và như vậy họ hoàn toàn không còn nền tảng để chiến đấu chống lại hắn. Chúng tôi không nói chúng ta không cần xử lý tội lỗi. Chúng ta phải có một cảm nhận nhạy bén đối với tội lỗi, nhưng chúng ta không nên chấp nhận sự buộc tội của Sa-tan.

Một khi con cái của Đức Chúa Trời chấp nhận lời buộc tội của Sa-tan, họ sẽ cảm thấy mình sai lầm suốt ngày. Sáng sớm khi mới thức dậy, họ cảm thấy mình sai lầm. Khi quì gối xuống cầu nguyện, họ cũng cảm thấy mình sai lầm và thậm chí không dám tin rằng Đức Chúa Trời sẽ đáp lời cầu nguyện của mình. Khi họ muốn nói một lời trong buổi nhóm, họ cảm thấy lời ấy không ích lợi gì, vì mình không đúng đắn. Khi họ muốn dâng hiến một điều gì cho Chúa, họ lại tự hỏi tại sao mình dâng hiến khi Đức Chúa Trời chắn chắn sẽ không nhận một của dâng nào từ một người tệ như mình. Mối quan tâm chính yếu của những Cơ Đốc nhân này không phải là Chúa Jesus vinh hiển và đắc thắng dường nào, mà là mình xấu xa và vô giá trị biết bao. Từ sáng đến tối, cái suy nghĩ cho rằng mình là kẻ không ra gì làm cho họ héo hon. Cho dầu đang khi họ làm việc, nghỉ ngơi, đi dạo, đọc Kinh thánh, hay cầu nguyện, không một giây phút nào trôi qua mà họ không suy nghĩ rằng mình vô giá trị biết bao. Đây là sự buộc tội của Sa-tan. Nếu Sa-tan có thể giữ họ trong tình trạng ấy, thì hắn đã chiến thắng. Những người lâm vào tình trạng này không có năng lực gì cả trước mặt Sa-tan. Nếu chấp nhận những lời buộc tội này, không bao giờ chúng ta có thể làm người đắc thắng. Thông thường khi chúng ta mải mê quan tâm suy nghĩ về sự xấu xa riêng của mình, rất dễ cho chúng ta lầm tưởng đó là sự khiêm nhường của Cơ Đốc nhân, mà không biết mình đang chịu đựng kết quả tai hại của sự buộc tội đến từ Sa-tan. Khi phạm tội, chúng ta phải xưng tội và xử lý nó. Nhưng chúng ta phải học một bài học khác; chúng ta phải học đừng nhìn chính mình, mà chỉ nhìn Chúa Jesus. Ý thức về mình từ sáng đến tối là một tình trạng bệnh hoạn. Đây là hậu quả do chấp nhận lời buộc tội của Sa-tan.

Vài con cái Chúa có một lương tâm ít cảm nhận tội lỗi. Loại người này không hữu ích bao nhiêu về mặt thuộc linh. Tuy nhiên, nhiều con cái Chúa lại có lương tâm yếu đuối đến nỗi họ không thật sự nhận biết công tác của Chúa Jesus. Nếu chúng ta hỏi xem họ có cảm nhận về một tội lỗi cụ thể nào không thì họ không thể chỉ ra tội gì. Tuy nhiên họ luôn luôn cảm thấy mình sai lầm. Họ luôn luôn cảm thấy mình yếu đuối và vô giá trị. Mỗi khi nghĩ đến chính mình, họ mất hết bình an và niềm vui. Họ chấp nhận sự buộc tội của Sa-tan. Mỗi khi Sa-tan đem đến loại cảm xúc này, chúng ta bị yếu đuối và không thể chống lại hắn.

Vì vậy, chúng ta đừng xem nhẹ sự buộc tội của Sa-tan. Công tác chính yếu của hắn là buộc tội chúng ta và ngày đêm hắn liên tục làm điều đó. Hắn buộc tội trong lương tâm chúng ta cũng như trước mặt Đức Chúa Trời cho đến khi lương tâm chúng ta trở nên yếu đuối đến nỗi không thể làm cho mạnh mẽ hơn được.

Trong đời sống hằng ngày và trong công tác của Cơ Đốc nhân, lương tâm là điều rất quan trọng. Sứ đồ Phao-lô nói trong 1 Cô-rin-tô chương 8 rằng nếu lương tâm một người nào bị ô uế, thì người ấy bị hủy diệt. Bị hủy diệt không phải là bị diệt vong đời đời, nhưng là một người không còn gây dựng được nữa. Người ấy yếu đuối đến nỗi đã trở nên vô dụng. 1 Ti-mô-thê chương 1 nói rằng một người bỏ lương tâm mình thì đức tin họ bị đắm chìm. Một chiếc thuyền bị đắm không thể di chuyển được. Vì vậy, một Cơ Đốc nhân đứng được trước mặt Đức Chúa Trời hay không tùy thuộc vào lương tâm người ấy có bị cáo trách không. Một khi chấp nhận lời buộc tội của Sa-tan, lương tâm người ấy bị cáo trách và một khi lương tâm bị cáo trách thì người ấy không thể tiến tới trong sự hầu việc Chúa, cũng không thể chiến đấu cho Đức Chúa Trời được nữa. Vì vậy, chúng ta phải nhận biết rằng công tác chính yếu của Sa-tan là buộc tội chúng ta và chúng ta phải chiến thắng công tác này của hắn.

Làm thế nào chúng ta thắng hơn được sự buộc tội của Sa-tan? Tiếng nói từ trời cho chúng ta biết: “Họ đắc thắng chúng nó nhờ huyết Chiên Con”. Huyết là nền tảng của sự đắc thắng, và là khí cụ để thắng Sa-tan. Hắn có thể buộc tội chúng ta, nhưng chúng ta có thể đáp rằng huyết của Jesus Christ, Con Đức Chúa Trời, tẩy sạch mỗi một tội của chúng ta (1 Gi. 1:7). “Mỗi một tội” nghĩa là bất cứ tội nào, dầu lớn hay nhỏ. Huyết của Con Đức Chúa Trời tẩy sạch chúng ta khỏi mọi tội.

Sa-tan có thể nói chúng ta sai lầm, nhưng chúng ta có huyết của Chúa Jesus. Huyết của Chúa Jesus có thể tẩy sạch chúng ta khỏi nhiều tội lỗi của mình. Đây là Lời Đức Chúa Trời. Huyết của Jesus, Con Đức Chúa Trời, tẩy sạch mọi tội lỗi của chúng ta.

Không những chúng ta phải từ chối những lời buộc tội vô căn cứ mà còn phải từ chối những lời buộc tội có lý do nữa. Khi con cái Đức Chúa Trời làm một điều gì sai trật, chúng ta chỉ cần huyết của Jesus, Con Ngài chứ không cần lời buộc tội của Sa-tan. Tội lỗi cần huyết quí báu chứ không cần sự buộc tội. Lời Đức Chúa Trời không bao giờ nói về nhu cầu buộc tội sau khi chúng ta phạm tội. Nan đề duy nhất là chúng ta có xưng tội hay không. Nếu chúng ta xưng tội, khi ấy còn gì để nói nữa? Nếu chúng ta phạm tội mà không xưng tội, lúc ấy chúng ta đáng bị buộc tội. Nhưng ở đâu không có tội lỗi, thì không có lý do gì để buộc tội. Nếu phạm tội mà đã xưng tội, chúng ta không cần phải bị buộc tội.

Nếu phạm tội, anh em có thể cúi xuống mà xưng tội với Đức Chúa Trời. Ngay lập tức, huyết của Chúa Jesus sẽ tẩy sạch anh em. Đừng nghĩ rằng nếu xét xem mình tội lỗi đến mức nào, anh em sẽ thánh khiết hơn một chút, hoặc nếu mình có cảm xúc đối với tội lỗi nhiều hơn, anh em sẽ thánh khiết hơn. Không. Anh em chỉ cần hỏi chính mình một điều: Tôi đối xử với huyết của Chúa Jesus như thế nào? Chúng ta đã phạm tội, nhưng huyết Ngài tẩy sạch chúng ta khỏi mỗi một tội. “Mỗi một tội” nghĩa là tội lớn hay tội nhỏ, tội còn nhớ hay tội đã quên, tội thấy được hay không thấy được, tội mà chúng ta nghĩ có thể tha thứ được cũng như tội chúng ta cho rằng không thể tha thứ được, các loại tội này đều bao hàm trong “mỗi một tội”. Huyết của Chúa Jesus, Con Đức Chúa Trời không những tẩy sạch chúng ta khỏi một hay hai tội, hay thậm chí nhiều tội, nhưng có thể tẩy sạch chúng ta khỏi mỗi một tội.

Chúng ta nhìn nhận rằng chúng ta có tội. Chúng ta không nói mình không có tội. Nhưng dầu vậy, chúng ta không chấp nhận sự buộc tội của Sa-tan. Trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta tinh sạch vì chúng ta có huyết quí báu. Chúng ta không nên tin vào sự buộc tội nhiều hơn là tin vào huyết quí báu ấy. Khi phạm tội, chúng ta không làm vinh hiển Đức Chúa Trời, nhưng khi không tin vào huyết quí báu, chúng ta còn sỉ nhục Ngài nhiều hơn. Phạm tội là điều đáng hổ thẹn, nhưng không tin vào huyết quí báu lại càng đáng hổ thẹn hơn. Chúng ta phải học tin cậy vào huyết của Chiên Con.

La Mã 5:9 nói: “... bây giờ đã được xưng công chính nhờ huyết Ngài”. Khi nhiều người bước vào sự hiện diện của Chúa, họ không được bình an trong lòng. Họ cũng cảm thấy mình vô giá trị và sai trật ở bên trong. Lý do là vì họ nuôi một hi vọng giả dối. Họ mong rằng mình sẽ có một điều gì đó tích cực trong chính mình để dâng lên cho Đức Chúa Trời. Khi họ khám phá trong mình không có điều gì tích cực để dâng hiến thì sự buộc tội đến với họ. Một lời buộc tội tương tự như vầy: “Một người như ngươi sẽ không bao giờ có điều gì tốt lành để dâng lên cho Đức Chúa Trời”. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng mình vốn không có gì tốt lành, tích cực trước mặt Đức Chúa Trời. Trong chúng ta không có điều gì tốt để có thể dâng cho Đức Chúa Trời cả. Chúng ta chỉ có thể dâng cho Ngài một điều: ấy là huyết. Chúng ta chỉ được kể là công chính nhờ huyết. Chúng ta không có sự công chính tích cực nào trong mình. Chúng ta công chính chỉ nhờ sự công chính mà mình nhận được qua sự cứu chuộc. Mỗi khi đến ngai ân điển, chúng ta có thể nhìn xem Ngài để nhận được ân điển. Ấy là ngai ân điển, không phải ngai công chính. Mỗi khi chúng ta đến trước Đức Chúa Trời điều kiện duy nhất ấy là chúng ta đã được cứu chuộc chứ không phải chúng ta đã tiến bộ trong đời sống Cơ Đốc nhân. Không một Cơ Đốc nhân nào có thể đạt đến một giai đoạn để có thể nói: “Gần đây tôi khá tốt, nên bây giờ tôi có sự dạn dĩ để cầu nguyện”. Không. Mỗi khi chúng ta đến trước mặt Đức Chúa Trời, nền tảng duy nhất, vị trí duy nhất của chúng ta là dựa trên huyết. Chúng ta phải nhận thức rằng không một mức độ tăng trưởng thuộc linh nào có thể thay thế được sự hiệu quả của huyết. Không một kinh nghiệm thuộc linh nào có thể thay thế công tác của huyết. Cho dầu một người nào có trở nên thuộc linh như sứ đồ Phao-lô, sứ đồ Giăng, hay sứ đồ Phi-e-rơ chăng nữa, người ấy vẫn cần huyết để đứng trước mặt Đức Chúa Trời.

Thỉnh thoảng chúng ta phạm tội, Sa-tan đến buộc tội chúng ta, và có khi chúng ta không phạm tội, hắn vẫn đến để buộc tội chúng ta. Đôi lúc đây không phải là vấn đề có phạm tội hay không, mà nan đề là không có một sự công chính tích cực để dâng lên cho Đức Chúa Trời nên Sa-tan buộc tội chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta phải sáng tỏ: Chúng ta có thể vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời chỉ nhờ huyết, không nhờ một điều gì khác. Vì chúng ta đã được tẩy sạch nhờ huyết và được kể là công chính cũng nhờ huyết, dầu sao đi nữa, chúng ta không hề bị bắt buộc phải chấp nhận sự buộc tội của Sa-tan.

Huyết quí báu là nền tảng cho cuộc chiến tranh thuộc linh. Nếu không biết giá trị của huyết, chúng ta không thể chiến đấu. Một khi lương tâm bị yếu đuối, chúng ta đi đến chỗ bế tắc. Vì vậy, nếu không duy trì một lương tâm trong sạch và không bị kiện cáo, chúng ta không có cách nào xử lý Sa-tan. Trong những lời buộc tội của hắn, Sa-tan có thể dùng hàng ngàn lý do để chống lại chúng ta. Nếu chúng ta chấp nhận, chúng ta sẽ ngã dài. Nhưng khi Sa-tan nói, chúng ta có thể đối đáp với mọi lý lẽ của hắn bằng một câu trả lời là huyết. Chẳng một lý luận nào không thể trả lời bằng huyết. Chiến tranh thuộc linh đòi hỏi một lương tâm không bị cáo trách, và chỉ có huyết mới có thể ban cho chúng ta một lương tâm như vậy.

Hê-bơ-rơ 10:2 nói: “Vì những kẻ thờ phượng đã một lần được thanh tẩy rồi, không còn cảm thức về tội lỗi nữa...” Khi lương tâm một Cơ Đốc nhân không còn có cảm nhận về tội lỗi nữa, ấy là nhờ huyết. Một khi chúng ta đứng trên nền tảng của huyết, một khi chúng ta tin nơi huyết, Sa-tan không thể hành động trên chúng ta. Chúng ta thường thích lý luận rằng vì đã phạm tội, chúng ta không còn chiến đấu được nữa. Nhưng Chúa biết chúng ta tội lỗi, vì vậy, Ngài đã chuẩn bị huyết. Chúa có phương cách dành cho con người tội lỗi, vì Ngài có huyết. Nhưng Ngài không có phương cách nào dành cho người sẵn sàng chấp nhận sự buộc tội của Sa-tan. Những ai chấp nhận lời buộc tội của Sa-tan là từ chối quyền năng của huyết. Không ai tin vào huyết quí báu lại có thể đồng thời chấp nhận sự buộc tội của Sa-tan. Hoặc điều này hay điều kia phải ra đi. Nếu chúng ta chấp nhận sự buộc tội, huyết phải ra đi; nếu chúng ta chấp nhận huyết, sự buộc tội phải ra đi.

Chúa Jesus là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm và là Đấng Hòa Giải cho chúng ta (xin xem Hê. 2:17-18; 4:14-16; 7:20-28; 8:6; 9:15; 1 Gi. 2:1). Ngài luôn luôn phục vụ trong địa vị này, tức là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm và Đấng Hòa Giải. Mục tiêu phục vụ của Ngài là giữ chúng ta khỏi sự buộc tội của Sa-tan. Con người chỉ mất vài phút để tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa nhưng đương đầu với sự buộc tội của Sa-tan là một vấn đề kéo dài suốt đời. Từ ngữ Đấng Hòa Giải trong tiếng Hy-lạp có nghĩa là “luật sư được chỉ định”. Chúa là Đấng Hòa Giải của chúng ta, là Luật sư của chúng ta. Chúa nói để binh vực chúng ta. Nhưng chúng ta đứng về phía Luật sư, Đấng Hòa giải hay đứng về phía kẻ buộc tội? Thật buồn cười nếu chúng ta tin lời của kẻ buộc tội mình trong khi Đấng Hòa Giải hay Luật sư lại thật sự đang bênh vực chúng ta. Nếu một luật sư liên tục chứng minh bị cáo vô tội trong khi bị cáo lại nhất định tin lời của người tố cáo mình, thì như vậy có vô lý không? Ôi, nguyện chúng ta thấy Chúa Jesus là Đấng Hòa Giải của mình và Ngài đang bênh vực chúng ta. Nguyện chúng ta thấy huyết là nền tảng để xử lý Sa-tan. Chúng ta đừng bao giờ đáp lại lời kiện cáo của Sa-tan bằng phẩm hạnh tốt đẹp, chúng ta nên đáp lại bằng huyết. Nếu chúng ta nhận biết giá trị của huyết, các Cơ Đốc nhân trên đất ngày nay sẽ có sự bình an và vui mừng nhiều hơn biết bao.

“Họ đắc thắng hắn nhờ huyết của Chiên Con”. Những lời này quí báu biết bao! Các anh em đắc thắng hắn không nhờ công đức của mình, sự tiến bộ của mình, hay kinh nghiệm của mình. Họ thắng hắn nhờ huyết của Chiên Con. Mỗi khi có sự buộc tội đến từ Sa-tan, chúng ta cần đối phó bằng huyết. Một khi chúng ta chấp nhận huyết, quyền lực của Sa-tan sẽ bị vô hiệu hóa. Tất cả những gì chúng ta “là” đều tùy thuộc vào huyết và chúng ta cần huyết mỗi ngày. Vào ngày được cứu chúng ta đã dựa vào huyết và tin cậy huyết như thế nào, từ ngày ấy trở đi chúng ta phải tiếp tục dựa vào huyết và tin cậy huyết y như vậy. Huyết là nền tảng duy nhất của chúng ta. Đức Chúa Trời ao ước giải cứu chúng ta khỏi nhiều sự buộc tội vô nghĩa. Ngài muốn bẻ gãy những xiềng xích này. Chúng ta phải đừng bao giờ cảm thấy mình đang khiêm nhường bằng cách tiếp nhận những lời buộc tội ấy hằng ngày. Chúng ta phải học thắng hơn những lời buộc tội ấy. Nếu không đắc thắng những lời buộc tội, không bao giờ chúng ta có thể trở thành những người đắc thắng. Người đắc thắng phải biết giá trị của huyết. Mặc dầu không biết giá trị lớn lao của huyết, chúng ta vẫn có thể nói với Chúa: “Ôi Chúa, xin thay con áp dụng huyết theo sự đánh giá của Ngài về Huyết”. Chúng ta nên đối phó với quyền lực Sa-tan theo sự đánh giá của Ngài về huyết chứ không theo sự đánh giá của mình.

Lời Chứng của Họ   

Điều thứ hai là các anh em đã đắc thắng hắn nhờ “lời làm chứng của mình”. Khi lương tâm chúng ta không bị cáo trách, miệng chúng ta mới làm chứng được. Khi lương tâm chúng ta bị buộc tội, chúng ta không thể nói gì cả. Dường như càng nói, giọng chúng ta càng chùng xuống. Ý nghĩa của lời chứng ở đây là làm chứng cho người khác, không phải cho chính mình. Khi anh em có huyết trước mặt Đức Chúa Trời, anh em sẽ được dạn dĩ trước mặt Ngài, và anh em sẽ có một lời chứng trước mặt loài người. Không những anh em làm chứng rằng tội nhân được tha thứ và con người được chấp nhận nhờ Đấng Christ, nhưng anh em cũng sẽ làm chứng về vương quốc của Đức Chúa Trời. “Lời chứng” nghĩa là nói với người khác những gì có trong Đấng Christ, và lời chứng là điều gì đó phải được nói ra. Những người đắc thắng phải thường xuyên công bố sự chiến thắng của Đấng Christ. Sa-tan sợ nhất khi những sự thật này cứ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Nước trời sẽ đến là một sự thật; Chúa là Vua là một sự thật; Sa-tan bị đánh bại là một sự thật; người mạnh mẽ đã bị trói và bị định tội cách hợp pháp là một sự thật; Đấng Christ đã hủy diệt mọi công việc của Sa-tan trên thập tự giá là một sự thật. Khi công bố mọi sự thật này, chúng ta có lời chứng. Khi chúng ta công bố Đấng Christ là thế này và Ngài là thế kia, thì đó là lời chứng.

Lời chứng làm cho Sa-tan sợ hãi nhất. Sa-tan không sợ khi chúng ta cố gắng lý luận với hắn, nhưng hắn sợ hãi khi chúng ta công bố sự thật. Sa-tan không sợ khi chúng ta nói chuyện thần học hay khi giải thích Kinh thánh cách chi tiết, nhưng hắn thật sự sợ hãi khi chúng ta công bố những sự thật thuộc linh. “Jesus là Chúa” là một sự thật thuộc linh. Nhiều người nói về Jesus là Chúa và giải thích Ngài là Chúa như thế nào, nhưng Sa-tan không sợ chút nào. Tuy nhiên, khi một người nào đó công bố Jesus là Chúa trong đức tin, thì Sa-tan sợ. Hắn không sợ sự rao giảng hay thần học của chúng ta, nhưng hắn sợ lời chứng của chúng ta.

Danh Chúa Jesus vượt trên hết mọi danh là một sự thật thuộc linh. Chúng ta phải công bố điều này bằng đức tin, không phải chỉ với loài người mà cũng với Sa-tan. Chúng ta thường nói để Sa-tan nghe; chúng ta cố ý nói để hắn nghe. Chúng ta gọi đây là lời chứng. Ngay cả khi ở một mình trong phòng, chúng ta vẫn có thể công bố lớn tiếng: “Jesus là Chúa”. Chúng ta có thể nói: “Chúa Jesus mạnh hơn người mạnh mẽ”, hay “Con Đức Chúa Trời đã cột trói Sa-tan rồi”, v.v... Đây là lời chứng của chúng ta.

Cơ Đốc nhân phải dựa trên sự cầu nguyện trong mọi sự, nhưng đôi lúc lời chứng của chúng ta hiệu quả hơn lời cầu nguyện. Trong Mác 11:23 Chúa Jesus nói: “Hễ ai bảo núi này rằng: Hãy cất mình lên mà gieo xuống biển đi, nếu trong lòng chẳng nghi ngờ, nhưng tin điều mình nói xảy ra, thì người sẽ được điều đó”. Chúa Jesus không nói những gì người ấy cầu nguyện sẽ xảy ra, nhưng là những gì người ấy nói sẽ xảy ra. Người Trung Hoa có một câu châm ngôn nói rằng: “Xuất khẩu thành thi”. Nhưng các Cơ Đốc nhân có thể nói: “Xuất khẩu thành công”. Đức Chúa Trời tạo dựng trời và đất bằng một lời từ miệng Ngài. Sự việc xảy ra trong Mác chương 11 cho thấy chúng ta có thể nói với núi. Nếu chúng ta chỉ nói bằng đức tin thì một điều gì đó sẽ được thành tựu. Nhiều lúc quyền năng cầu nguyện không mạnh bằng quyền năng công bố. Lắm lúc chúng ta phải dùng lời chứng của mình để đối phó với Sa-tan.

Khi đọc sách Công vụ các Sứ đồ, chúng ta có thể thấy có nhiều lời chứng. Trong chương ba, Phi-e-rơ và Giăng thấy người què tại cửa đền thờ, và điều Phi-e-rơ làm là nói với người ấy rằng: “Bạc và vàng tôi không có, nhưng điều tôi có, tôi cho anh: Trong danh Jesus Christ người Na-xa-rét, hãy chỗi dậy và bước đi”. Điều này được gọi là lời chứng. Không phải là nài nỉ Đức Chúa Trời đối phó với tình huống, mà là xử lý trực tiếp trong danh Chúa. Trong Công vụ các Sứ đồ chương 16, khi Phao-lô đuổi quỉ, ông cũng dùng lời công bố: “Ta nhân danh Jesus Christ ra lệnh cho ngươi phải lìa khỏi cô này”. Ngay lập tức, quỉ liền ra khỏi.

Chúng ta hãy minh họa rõ hơn qua một sự kiện sau. Có hai chị em tham gia việc rao giảng Phúc âm. Một ngày kia họ đến một làng nọ và ở lại đó ít lâu. Có một người đàn bà bị quỉ ám trong làng ấy, và một thân nhân của bà này mời hai chị em đến nhà để đuổi quỉ. Sau khi cầu nguyện, họ cảm thấy mình nên đi đến đó. Khi đến nơi, họ thấy người đàn bà ăn mặc đàng hoàng và nhà cửa ngăn nắp. Họ tự hỏi không biết có phải bà này thật sự bị quỉ ám không. Sau đó họ rao giảng cho bà, và bà tỏ ra rất sáng suốt (thật ra quỉ không thể sáng suốt, nhưng chúng chỉ giả vờ). Hai chị em cảm thấy trường hợp này thật kỳ lạ. Họ hỏi bà: “Bà có tin Chúa Jesus không?” Bà đáp: “Tôi tin đã nhiều năm rồi”. Nghe bà trả lời như vậy, hai chị em thật bối rối; họ không biết phải đối phó làm sao. Sau đó họ hỏi: “Bà có biết Jesus là ai không?” Bà đáp: “Nếu các cô muốn biết Jesus là ai, hãy đến xem”. Sau đó bà dẫn họ từ căn phòng phía trước ra căn phòng phía sau nhà. Chỉ vào một hình tượng, bà nói: “Đây là Jesus mà tôi đã tin nhiều năm nay”. Khi ấy một trong hai chị em cảm thấy mình phải tuyên bố lời chứng. Xin lưu ý đây là loại lời chứng mà chúng tôi đang nói đến.

Chị chụp tay người đàn bà và nói (không phải nói với bà ta, mà là với quỉ): “Ngươi có nhớ rằng cách đây hơn một ngàn chín trăm năm, Con của Đức Chúa Trời đã từ trời đến để trở nên một con người trong ba mươi ba năm rưỡi không? Ngài đã đuổi các quỉ giống như ngươi nhiều lần. Ngươi có nhớ rằng các ngươi muốn tấn công và làm hại Ngài không? Ngươi và tất cả bọn ngươi đã chỗi dậy giết Ngài và đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Khi ấy ngươi rất vui mừng. Ngươi không biết rằng sau ba ngày, Ngài sống lại và bẻ gãy tất cả quyền lực của ngươi. Ngươi chỉ là một linh gian ác dưới tay của Sa-tan. Ngươi có nhớ rằng khi Con của Đức Chúa Trời ra khỏi âm phủ, Đức Chúa Trời từ trời công bố với mọi tạo vật sống và với mọi linh: ‘Từ nay trở đi, danh của Jesus vượt trên hết mọi danh. Mỗi khi danh Ngài được đề cập, mọi lưỡi phải xưng nhận và mọi đầu gối phải quì xuống’. Vậy, trong danh Chúa Jesus, ta truyền cho ngươi phải ra khỏi bà này!” Khi chị công bố như vậy, quỉ ném người đàn bà xuống sàn nhà và ra khỏi.

Câu hỏi “Ngươi có nhớ không?” của chị em ấy thật vô cùng quan trọng. Chị nhấn mạnh câu hỏi ấy nhiều lần, ấy là lời chứng của chị. Nếu chúng ta rao giảng cho Sa-tan, hắn cũng có thể giảng và hắn có thể giảng rất nhiều. Nếu chúng ta lý luận với hắn, hắn có đủ mọi loại lý luận. Nhưng nếu chúng ta nói ra những sự kiện, đặc biệt là những sự kiện thuộc linh, Sa-tan sẽ bất lực.

Chúng ta phải hiểu biết các sự kiện trong Kinh thánh và tin nhận các sự kiện ấy. Chúng ta phải được bao phủ bằng huyết để Đức Chúa Trời có thể bảo vệ chúng ta khỏi mọi sự tấn công của kẻ thù. Sau đó chúng ta có thể nói chuyện với Sa-tan. Sa-tan sợ khi chúng ta nói lời chứng với hắn. Trong kinh nghiệm Cơ Đốc nhân của mình, thỉnh thoảng chúng ta cảm thấy yếu đuối đến nỗi thậm chí không thể cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Vào những lúc ấy chúng ta phải nhớ các sự kiện thuộc linh, những sự kiện đắc thắng. Chúng ta phải công bố cho Sa-tan và các quỉ rằng Chúa Jesus đã chiến thắng và Jesus là Chúa. Một sự công bố như vậy là lời chứng, và lời chứng là sự công bố. Chúng ta công bố điều gì? Chúng ta công bố rằng Jesus là Chúa, rằng Chúa đắc thắng, và Sa-tan đã bị giày đạp dưới chân Ngài. Chúng ta phải công bố thêm rằng Chúa đã ban cho chúng ta uy quyền để giày đạp rắn và bọ cạp và đắc thắng mọi quyền lực của kẻ thù. Đây là lời chứng. Lời chứng làm cho Sa-tan mất chỗ đứng. Khi đưa ra lời chứng, chúng ta giáng cho Sa-tan một đòn nặng nề. Công tác của Chúa đã thực hiện không những ban cho chúng ta huyết để bảo vệ mình, mà còn ban cho lời chứng để nhờ đó chúng ta có thể đánh bại Sa-tan.

Không Yêu Sự Sống của Hồn Mình

Chúng ta đã nói đến nền tảng của sự đắc thắng, nhưng kinh nghiệm của chính những người đắc thắng là gì? Họ đối diện với thử thách và gặp nhiều nan đề, nhưng Khải thị 12:11 nói: “Họ không yêu sự sống của hồn mình cho đến chết”. Đây là thái độ của những người đắc thắng trong cuộc chiến tranh. Trong câu này chữ “sự sống” có hai ý nghĩa. Một nghĩa chỉ về sự sống thuộc thể, trong khi nghĩa kia chỉ về năng lực của hồn. (Chữ “sự sống” có thể được dịch là “sự sống của hồn"). Chúng ta hãy xem xét năng lực của hồn hay khả năng thiên nhiên.

Cách tốt nhất Sa-tan dùng để đối phó với chúng ta là xui khiến chúng ta hành động bằng năng lực của chính mình. Sa-tan muốn chúng ta chuyển động trong chính mình. Hắn muốn chúng ta vận dụng khả năng thiên nhiên và năng lực xác thịt trong công tác chúng ta làm cho Đức Chúa Trời.

Khả năng thiên nhiên là gì? Khả năng thiên nhiên là khả năng bẩm sinh chúng ta có và chưa bao giờ được thập tự giá xử lý. Khả năng này đi kèm với cá tính của chúng ta. Khả năng thiên nhiên của một người có thể là sự khéo léo của người ấy. Trong bất cứ điều gì người ấy làm, người ấy cũng đem sự khéo léo của mình ra. Khả năng thiên nhiên của người khác có thể là khẩu tài. Người ấy có thể nói rất giỏi không cần lệ thuộc quyền năng đặc biệt nào của Thánh Linh. Tuy nhiên, con người không thể hầu việc Đức Chúa Trời bằng năng lực thiên nhiên mà chưa được thập tự giá xử lý. Sự thất bại của hội thánh là do con người đem vào hội thánh khả năng thiên nhiên của mình. Ôi, tất cả chúng ta đều phải được Đức Chúa Trời đem đến chỗ run rẩy, sợ sệt để không dám làm gì mà không có Ngài. Chúng ta phải trở thành những con người như vậy, không phải chỉ nói suông những điều ấy mà thật sự là những con người như vậy. Khi ấy chúng ta sẽ hữu dụng trong tay Đức Chúa Trời.

Chúng tôi không khích lệ ai giả vờ thánh khiết. Điều đó chẳng ích lợi gì vì không đến từ Đấng Christ. Nhưng chúng tôi nói Đức Chúa Trời muốn phá vỡ mọi điều thiên nhiên trong một con người. Chỉ khi nào chúng ta được cắt bỏ mọi yếu tố bắt nguồn từ bản ngã của mình thì Đấng Christ mới được bày tỏ ra. Chúng ta phải để Đức Chúa Trời tiêu trừ bản ngã nhờ thập tự giá. Một ngày kia chúng ta phải để Đức Chúa Trời bẻ gãy xương sống của sự sống thiên nhiên trong mình. Chúng ta không nên cố gắng giải quyết vấn đề này từng phần một, từng điều một. Chỉ giải quyết những điều bên ngoài và rồi không đụng đến sự sống thiên nhiên bên trong thì không những vô ích mà trái lại còn làm cho chúng ta kiêu ngạo. Chúng ta sẽ tự mãn về chính mình, nhưng tình trạng bên trong sẽ lại càng khó bị xử lý hơn.

Phải đến một ngày năng lực làm lành và khả năng hầu việc Chúa của chúng ta bị phá vỡ. Khi ấy chúng ta sẽ nhìn nhận trước mặt Chúa và loài người là mình không thể làm gì cả. Từ đó về sau, Đấng Christ sẽ bày tỏ quyền năng Ngài trên chúng ta. Tất cả chúng ta phải được Đức Chúa Trời đem đến chỗ nhìn thấy mình không thể làm gì trong hội thánh với sức mạnh thiên nhiên của mình. Nhiều người nghĩ rằng nếu động cơ của họ đúng đắn là tốt rồi. Nhưng không phải như vậy. Khi anh em nói mình đang làm việc, Chúa sẽ hỏi: “Con đang làm việc bằng năng lực nào?” Nếu anh em nói mình rất nhiệt thành, Chúa sẽ hỏi: “Sự nhiệt thành của con đến từ đâu?”. Nếu anh em nói mình có năng lực, Chúa sẽ hỏi: “Nguồn gốc năng lực con là gì?”. Vấn đề không phải anh em đang làm gì, nhưng là anh em làm điều đó với năng lực nào. Nan đề không phải việc ấy có tốt hay không, mà là sự tốt lành ấy bắt nguồn từ đâu.

Chúng ta phải học tập kinh nghiệm thập tự giá. Mục đích của thập tự giá là xử lý chúng ta, để chúng ta không còn dám tự chuyển động. Chỉ nói về sứ điệp thập tự giá hay chỉ nghe giảng về thập tự giá là điều vô ích. Đức Chúa Trời cần có những con người đã trải qua thập tự giá và đã bị thập tự giá xử lý. Bài giảng của chúng ta đúng đắn vẫn chưa đủ. Chúng ta phải hỏi: “Còn chính con người mình thì sao? Chúng ta thuộc hạng người nào?” Sứ đồ Phao-lô nói: “Vì tôi đã quyết định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết điều gì khác ngoài Jesus Christ, và Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá. Tôi ở với anh em trong sự yếu đuối, sợ sệt và run rẩy lắm; lời tôi nói, và những gì tôi công bố không bằng những lời thuyết phục của sự khôn ngoan” (1 Cô. 2:2-4). Phần đầu của câu này nói đến bài giảng của Phao-lô, và phần cuối nói đến con người của ông. Chúng ta thường nghĩ khi một người như Phao-lô đứng lên nói, chắc hẳn ông phải cảm thấy phong phú và đầy dẫy nguồn năng lực riêng. Nhưng sứ điệp của ông là thập tự giá, và chính ông ở trong sự yếu đuối, sợ sệt, và rất run rẩy. Bất cứ khi nào chúng ta biết thập tự giá, chúng ta sẽ ở trong sự yếu đuối, sợ sệt và run rẩy lắm. Nếu đã được thập tự giá xử lý, chúng ta sẽ không còn tự tin, và sẽ không dám khoe khoang. Nếu chúng ta kiêu ngạo, nghĩ rằng mình rất tài năng là chúng ta không biết gì về thập tự giá.

Công tác chủ quan của thập tự giá trong chúng ta là cất bỏ những điều không bắt nguồn từ Đức Chúa Trời. Thập tự giá chỉ để lại những gì thuộc về Đức Chúa Trời. Thập tự giá không thể làm rúng động những gì đến từ Đức Chúa Trời, nhưng bất cứ điều nào của con người thì chẳng có năng lực gì trước thập tự giá. Một vài anh em nói trong quá khứ, họ có nhiều phương cách để giúp đỡ người ta được cứu, nhưng sau khi bắt đầu kinh nghiệm sự xử lý của thập tự giá, thập tự giá đã xử lý nhiều phương cách của họ, và dường như họ không thể làm gì được cả. Điều này chứng minh rằng những gì họ làm trước đây ra từ chính họ, vì tất cả những gì của Đức Chúa Trời không thể bị thập tự giá tiêu diệt. Những gì bị thập tự giá hủy diệt chắc chắn thuộc về con người. Những gì vượt qua thập tự giá và sống lại là thuộc về Đức Chúa Trời; còn điều gì không thể sống lại là thuộc về con người. Chúa Jesus thuộc về Đức Chúa Trời, vì sau khi vượt qua thập tự giá, Ngài có thể sống lại. Chúng ta không nên yêu điều gì thuộc về sự sống của hồn hay thuộc về sự sống của xác thịt, nhưng hãy để cho tất cả đi vào sự chết. Chúng ta không được để cho bất cứ điều gì thuộc về sự sống ấy tồn tại trong chúng ta. Nền tảng đắc thắng của chúng ta là huyết của Chiên Con và lời chứng của chúng ta. Hơn nữa, thái độ của chúng ta là chúng ta sẽ không sống bằng chính mình trong mọi phương diện; chúng ta sẽ không đánh giá cao khả năng riêng của mình hay có chút tự tin nào. Chúng ta phải sống như những con người đầy sợ sệt và run rẩy. Chúng ta cần phải nhận biết mình là những tạo vật yếu ớt.

Ý nghĩa thứ hai của việc không yêu mến sự sống thuộc hồn là chúng ta không yêu sự sống thuộc thể của mình. Chúng ta phải đứng cho Đức Chúa Trời ngay cả phải trả giá bằng mạng sống của mình. Trong sách Gióp, Sa-tan nói với Đức Chúa Trời: “Da đền da! Thật vậy, mọi vật một người có, người ấy sẽ cho đi vì mạng sống của mình” (Gióp 2:4). Sa-tan nhận biết rằng người ta đánh giá mạng sống của mình trên mọi điều khác. Nhưng Đức Chúa Trời nói những người đắc thắng không yêu mạng sống mình. Thái độ của những người đắc thắng là không quan tâm đến những gì Sa-tan có thể làm cho mình. Mặc dầu Sa-tan muốn cất mạng sống của họ, nhưng họ không bao giờ cúi xuống trước mặt Sa-tan, mà vẫn luôn giữ lòng trung thành với Đức Chúa Trời. Thái độ của người đắc thắng là sẵn sàng nói với Chúa rằng: “Vì cớ Ngài, không một điều nào con không từ bỏ, ngay cả đó là mạng sống của con”.