Thông tin sách

Hội Thánh Vinh Hiển

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Glorious Church
ISBN: 0-87083-745-1
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 3

Untitled Document

CHƯƠNG BA

THÂN THỂ ĐẤNG CHRIST VÀ CÔ DÂU CỦA ĐẤNG CHRIST

Chúng ta đã thấy Ê-va tượng trưng cho hội thánh trong kế hoạch của Đức Chúa Trời là thể nào. Theo kế hoạch của Đức Chúa Trời, tất cả những gì thuộc về hội thánh đều hoàn toàn ra từ Đấng Christ. Hội thánh không chứa đựng điều gì của con người và không liên hệ đến tội lỗi. Đức Chúa Trời của chúng ta quyết định có một hội thánh như vậy. Bất cứ điều gì kém hơn thế đều không làm cho Ngài thỏa lòng. Không những Ngài chỉ hoạch định có loại hội thánh này, mà Ngài sẽ đạt được điều Ngài hoạch định. Ha-lê-lu-gia! Đây là một sự thật. Chúng ta phải biết rằng Đức Chúa Trời của chúng ta không bao giờ bị cản trở hay nản lòng. Một khi Ngài đã có ý định về một điều gì, dầu ngay cả âm phủ hay toàn thể các lực lượng thọ tạo chỗi dậy chống cự Ngài, tất cả đều không thể chống cự Ngài được. Mặc dầu chúng ta vấp ngã và đầy dẫy thất bại, mặc dầu chúng ta xác thịt và thuộc hồn, xa cách Đức Chúa Trời và không vâng lời Ngài, Đức Chúa Trời vẫn đạt được mục đích của Ngài. Dầu con người có làm gì chăng nữa, họ vẫn không thể phá hỏng kế hoạch của Đức Chúa Trời; điều cao nhất mà họ có thể làm là trì hoãn chương trình ấy. Vì vậy, không những chúng ta phải nhận biết mục đích của Đức Chúa Trời, mà còn phải sáng tỏ rằng Đức Chúa Trời sẽ hoàn toàn đạt được những gì Ngài hoạch định. Từ cõi đời đời, Đức Chúa Trời đã có ý định có một hội thánh hoàn toàn ra từ Đấng Christ, một hội thánh không chứa đựng sự không thuần khiết của con người, không có yếu tố nào thuộc đất, cũng không có mùi vị tội lỗi. Mỗi một phần của hội thánh đều ra từ Đấng Christ, và Đấng Christ chính là sự sống của hội thánh.

Tuy nhiên, bắt đầu từ Sáng Thế Ký chương 3, con người đã sa ngã. Bây giờ không những chúng ta có sự kiện về mục đích sáng tạo của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo, nhưng cũng có sự kiện về sự sa ngã của con người. Do đó, chúng ta hãy xem xét cách Đức Chúa Trời đã dùng để sửa chữa tình huống này.

Ê-phê-sô 5:25-30 nói: “Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình thậm chí như Đấng Christ đã yêu hội thánh và đã phó chính mình Ngài vì hội thánh để Ngài có thể thánh hóa hội thánh, tẩy sạch hội thánh bằng sự rửa sạch của nước trong lời, để Ngài có thể trình diện cho chính Ngài hội thánh vinh hiển, không tì vết, không nếp nhăn hoặc không có bất cứ điều gì như vậy, nhưng thánh khiết không chỗ trách được. Cũng vậy, chồng phải yêu vợ mình như chính thân mình; ai yêu vợ mình là yêu chính mình. Vì không ai ghét chính xác thịt mình, nhưng nuôi dưỡng và chăm sóc nó như Đấng Christ đối với hội thánh, vì chúng ta là những chi thể của Thân Thể Ngài”.

Sáu câu Kinh thánh trên có thể được chia làm hai phần: các câu 25-27 cho chúng ta biết lý do thứ nhất người chồng nên yêu thương vợ mình; các câu 28-30 nói đến lý do thứ hai người chồng nên yêu thương vợ mình. Trong hai phần này, chúng ta thấy hai mạng lịnh và hai lý do. Nhưng có một sự khác biệt giữa hai phần này. Phần đầu nói rằng Đấng Christ “đã yêu” hội thánh và “đã phó chính mình Ngài vì hội thánh; hai động từ này đều ở thì quá khứ. Bắt đầu từ câu 28, các động từ đều ở trong thì hiện tại, chẳng hạn như “nuôi nấng” và “chăm sóc”. Vì vậy, hai phần Kinh thánh này liên quan đến những yếu tố thời gian khác nhau: một phần nói đến một điều gì đó trong quá khứ và điều kia chỉ về điều gì trong hiện tại.

Đề tài của hai phần này cũng khác nhau. Phần đầu đề cập đến hội thánh là cô dâu của Đấng Christ; phần thứ hai nói đến hội thánh là Thân Thể của Đấng Christ. Trong phần đầu, thì quá khứ được dùng khi hội thánh được đề cập đến là cô dâu của Đấng Christ. Vì như chúng ta đã được khải thị, toàn thể mục đích của Đấng Christ là muốn có một cô dâu. Ngay cả sự chết của Ngài cũng là để có một cô dâu. Mặc dầu Ngài sẽ có được một cô dâu trong tương lai, nhưng công tác đã hoàn thành trong quá khứ. Còn về hiện tại, hội thánh là Thân Thể của Đấng Christ, và hiện nay Chúa đang nuôi dưỡng và chăm sóc hội thánh.

MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂN THỂ VÀ CÔ DÂU

Dưới mắt của Chúa, hội thánh có hai địa vị: về sự sống, hội thánh là Thân Thể của Đấng Christ, nhưng về tương lai, hội thánh là cô dâu của Đấng Christ. Về mặt hiệp nhất giữa Đấng Christ với hội thánh, hội thánh là Thân Thể của Ngài; theo mối quan hệ thân thiết giữa Đấng Christ với hội thánh, hội thánh là cô dâu của Ngài.

Bất cứ khi nào Lời Đức Chúa Trời nói đến sự hiệp một giữa Đấng Christ và hội thánh, chúng ta thấy Đấng Christ là Đầu và hội thánh là Thân Thể của Ngài. Bất cứ khi nào Lời bày tỏ sự phân biệt giữa Đấng Christ và hội thánh, chúng ta thấy hội thánh là cô dâu của Đấng Christ. Kinh thánh nói rằng A-đam và Ê-va, hai người đã trở nên “một thịt”, nhưng họ vẫn là hai người; Đức Chúa Trời vẫn kể họ là hai. A-đam là A-đam và Ê-va là Ê-va. Họ được kết hợp làm một. Đây là mối quan hệ giữa hội thánh và Đấng Christ. Từ một họ thành ra hai, và từ hai họ trở nên một. Khi Đức Chúa Trời mới tạo dựng con người, Ngài dựng nên người nam và người nữ. Ê-va ra từ A-đam; như vậy, Ê-va và A-đam là một. Cũng vậy, hội thánh ra từ Đấng Christ; do đó, hội thánh và Đấng Christ cũng là một. Tuy nhiên, vì A-đam và Ê-va cả hai đồng hiện hữu, nên có sự phân biệt giữa họ. Cũng vậy, vì hội thánh và Đấng Christ đồng hiện hữu, nên cũng có sự phân biệt. Nói về sự hiệp nhất, họ là một, nhưng về vấn đề phân biệt, hai bên khác nhau.

Hai địa vị này liên quan đến sự khác biệt về thời gian. Ngày nay, hội thánh là Thân Thể của Đấng Christ, nhưng trong tương lai, hội thánh sẽ là cô dâu của Đấng Christ. Ngày nay, hội thánh là Thân Thể của Đấng Christ vì mục đích bày tỏ sự sống của Đấng Christ. Đến một ngày kia, khi hội thánh trưởng thành trong sự sống, Đức Chúa Trời sẽ đem hội thánh đến với Đấng Christ; ngày ấy hội thánh sẽ trở nên cô dâu của Đấng Christ. Vài người nghĩ rằng ngày nay hội thánh là cô dâu của Đấng Christ, nhưng nghĩ như vậy là sai. Không có điều nào như vậy cả. Vì Chúa Jesus chưa làm Chú Rể, làm thế nào hội thánh là cô dâu của Ngài được? Chỉ đến khi nào công tác của hội thánh là Thân Thể của Đấng Christ hoàn thành thì Đức Chúa Trời sẽ đem hội thánh đến với Đấng Christ như cô dâu của Ngài.

Khi nhìn vào biểu tượng trong Sáng Thế Ký chương 2, chúng ta cũng có thể thấy mối liên hệ giữa Thân Thể và cô dâu. Ê-va được làm bằng xương sườn của A-đam, cho nên Ê-va là thân thể của A-đam. Vì một phần thân thể của A-đam được dùng để dựng nên Ê-va nên vị trí của Ê-va là thân thể của A-đam. Nhưng sau khi Ê-va được dựng nên, Đức Chúa Trời đem đến cho A-đam và trở nên cô dâu của A-đam. Đây là mối quan hệ giữa Thân Thể và cô dâu. Khi chúng ta nói về Ê-va ra từ A-đam, nghĩa là Ê-va là thân thể của A-đam; nhưng khi Ê-va được đem đến cho A-đam để trở nên một người giúp đỡ tương xứng với A-đam thì Ê-va là cô dâu của A-đam. Điều gì ra từ A-đam là thân thể của A-đam và điều gì được đem đến cho A-đam là cô dâu của A-đam.

Chỉ có những gì ra từ A-đam mới có thể trở nên người giúp đỡ tương xứng với A-đam. Bất cứ điều gì không ra từ A-đam sẽ không bao giờ trở nên người giúp đỡ tương xứng với ông được. Do đó, khi mọi loài chim trên trời được đưa đến cho A-đam, ông không lấy một con nào làm người giúp đỡ cho mình vì chúng không từ ông mà ra. Khi tất cả các loài gia súc được đem đến, ông cũng không chọn con nào vì chúng cũng không ra từ ông. Tất cả các loài thú cũng vậy. Nguồn gốc của chúng không đúng đắn. Vì không ra từ A-đam, chúng không thể làm người giúp đỡ tương xứng với ông. Thế thì ai có thể làm người giúp đỡ tương xứng với A-đam? Ê-va! Ê-va được đưa đến cho A-đam cũng y như chim trời, gia súc ngoài đồng và các loài thú. Tuy nhiên, giữa Ê-va và chúng có một sự khác biệt cơ bản; chúng không ra từ A-đam. Vì Ê-va là người duy nhất ra từ A-đam, chỉ một mình Ê-va đủ điều kiện làm cô dâu của ông. Đã ra từ A-đam, Ê-va lại được đem trở về với ông. Bất cứ điều gì ra từ ông là thân thể của ông; bất cứ điều gì được đem trở về với ông là cô dâu của ông.

Chỉ có điều gì ra từ Đấng Christ mới có thể trở vế với Đấng Christ. Những gì không ra từ Ngài không thể trở về với Ngài. Chỉ có những gì ra từ trời mới có thể trở về trời. Nếu chúng ta không đến từ trời, chúng ta không thể trở về trời. Nhà là nơi ở gốc của chúng ta. Khi chúng ta nói mình đi về nhà có nghĩa là chúng ta trở về nơi mình đã từ đó mà đến. Chỉ có điều gì ra từ trời mới có thể trở về trời. Chỉ có điều gì ra từ A-đam mới có thể trở về với A-đam. A-đam chỉ nhận những gì ra từ chính ông. Đây là một biểu tượng bày tỏ rằng Đấng Christ chỉ tiếp nhận những gì ra từ chính Ngài. Chỉ có những ai ra từ Đấng Christ mới có thể trở về với Ngài. Chỉ có những ai nhận lãnh sự sống từ Ngài mới có thể được Ngài tiếp nhận.

Có nhiều người cảm thấy họ nên dâng tất cả những gì họ “là” và tất cả những gì họ “có” để Chúa sử dụng. Nhưng Đức Chúa Trời không chấp nhận bất cứ điều gì dâng hiến cho Ngài mà lại phát sinh từ nguồn gốc con người. Đức Chúa Trời không thể nhận hay dùng bất cứ điều gì ra từ chính con người. Giữa vòng các Cơ Đốc nhân, đặc biệt là những người thật nhiệt thành, thường mắc phải một lỗi lầm nghiêm trọng. Họ nghĩ rằng mọi sự đều tốt đẹp miễn là họ dâng chính mình, khả năng, tài năng và mọi điều họ có cho Chúa. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng Đấng Christ chỉ chấp nhận những gì ra từ chính Ngài; Ngài sẽ không chấp nhận bất cứ điều gì ra từ con người.

Anh em có thể nói: “Trong số các sứ đồ, không phải đã có một Phao-lô sao? Ông ấy không phải là một người học thức sao? Ông không phải là một người rất thông minh sao? Nhưng chúng ta phải nhớ những lời Phao-lô nói về chính mình: “Vì tôi đã quyết định rằng, ở giữa anh em tôi chẳng biết điều gì khác ngoài Jesus Christ, và Jesus Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá. Tôi ở giữa anh em trong sự yếu đuối, sợ sệt và run rẩy lắm; lời tôi nói và những gì tôi tuyên bố không phải bằng lời thuyết phục của sự khôn ngoan nhưng bằng sự chứng minh của Linh và quyền năng” (1 Cô-rin-tô 2:2-4). Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời vì những con người thông minh và có khẩu tài có thể vào trong hội thánh, nhưng sự thông minh thiên nhiên vốn có, và khẩu tài thiên nhiên nguyên thủy của họ không có ích lợi thuộc linh trong hội thánh. Trong hội thánh, chỉ có một điều được nhận biết, đó là những gì ra từ Đấng Christ. Chỉ có những gì ra từ Đấng Christ mới có thể trở về với Đấng Christ. Vật liệu để xây dựng một cô dâu như vậy là chính Đấng Christ.

Đây là điều chúng ta cần lưu ý: chỉ có những gì ra từ Đấng Christ mới có giá trị và công dụng thuộc linh trong hội thánh. Đức Chúa Trời không bao giờ dùng cõi sáng tạo cũ để xây dựng cõi sáng tạo mới. Ngài cũng chẳng dùng những gì của con người để xây dựng những gì thuộc về Đức Chúa Trời. Ngài không bao giờ, nhất định không bao giờ có thể dùng những điều thuộc xác thịt để sinh ra một điều thuộc linh. Chúa Jesus phán: “Điều gì do Linh sanh ra là linh” (Giăng 3:6b). Những gì do xác thịt sinh ra có thể trở thành linh được không? Không! “Điều gì do xác thịt sinh ra là xác thịt”. Tất cả mọi nan đề đều phát sinh từ vấn đề nguồn gốc. Nếu muốn biết kết quả có thuộc linh hay không, chúng ta chỉ cần hỏi nguồn gốc có thuộc linh không? Chúa Jesus phán: “Điều gì do Linh sinh ra là linh”. Chúng ta không thể dùng bất cứ điều gì của xác thịt để sinh ra một điều thuộc linh. Một bài giảng ra từ các tư tưởng thì chỉ sinh ra các tư tưởng. Công tác thực hiện bằng cách khuấy động cảm xúc thì chỉ tạo ra sự kích thích cảm xúc. Chỉ có công việc của Linh mới sinh ra linh. Vấn đề không phải là mục tiêu hay mục đích có đúng đắn không, mà là tiến hành như thế nào. Người ta nghĩ rằng nếu mục tiêu đúng đắn, mọi điều khác sẽ đúng đắn. Nhưng Đức Chúa Trời không chỉ hỏi mục tiêu có đúng đắn không, Ngài còn hỏi chúng ta thực hiện mục tiêu ấy như thế nào. Có lẽ sẽ có người nói: “Tôi là vì Chúa, và công tác tôi làm là vì hội thánh — ấy là công việc cứu hồn người, công việc thuộc linh, công tác mở mang nước trời. Tôi dâng tất cả khả năng và trí thông minh của tôi cho công tác này. Như vậy không tốt sao?” Dầu vậy, khả năng và trí thông minh thiên nhiên của con người một khi chưa được thập tự giá xử lý thì không hữu ích thuộc linh. Chúa phán: “Điều gì do xác thịt sinh ra là xác thịt” (c. 6a).

Như vậy, không những cần phải có mục đích thuộc linh, mà tiến trình cũng phải thuộc linh. Phương pháp phải là phương pháp của linh và chính con người cũng phải là con người thuộc linh. Chỉ có điều gì ra từ Thánh Linh mới có thể là thuộc linh. Chỉ có những gì ra từ A-đam mới có thể trở về với A-đam. Trước hết điều đó là thân thể của A-đam; và sau đó, sẽ là cô dâu của A-đam. Trước hết, chúng ta phải là Thân Thể của Đấng Christ, rồi sau đó, chúng ta có thể được đưa trở về để làm Cô Dâu của Đấng Christ. Chúng tôi hi vọng rằng chúng ta sẽ đụng chạm được ít nhiều thực tại thuộc linh của vấn đề này. Chúng ta cần phải thấy điều Đức Chúa Trời thật sự theo đuổi. Ngài đòi hỏi mọi sự đều ra từ Đấng Christ, mọi người đều do Linh sinh ra.

Vì thế, mỗi một Cơ Đốc nhân phải theo đuổi sự sống của Thân Thể. Nếu không tìm kiếm sự sống Thân Thể, chúng ta cũng không tìm kiếm sự sống của Cô Dâu. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng kinh nghiệm sự sống Thân Thể hay không cũng không quan trọng bao nhiêu. Chúng ta phải nhận biết rằng nếu chúng ta có sự sống Thân Thể hôm nay, chúng ta sẽ có sự sống của Cô Dâu trong tương lai. Nếu ngày nay chúng ta sống hững hờ và vô mục đích, chúng ta sẽ không bao giờ nhận biết sự sống của Cô Dâu. Mỗi một Cơ Đốc nhân phải nhận biết Thân Thể Đấng Christ. Theo cái nhìn của Đức Chúa Trời, chúng ta phải theo đuổi điều này. Chúng ta không thể cứ sống như những cá nhân; chúng ta phải bước đi với những con cái khác của Đức Chúa Trời. Một Cơ Đốc nhân phải thấy mình là một chi thể của cả Thân Thể. Người ấy không chỉ là một Cơ Đốc nhân ở giữa nhiều Cơ Đốc nhân khác, mà còn là một chi thể nữa. Người ấy phải sống như một chi thể với những Cơ Đốc nhân khác, có một mối quan hệ thân thể hỗ tương với họ. Nếu thật sự nhận biết sự sống của Thân Thể, chúng ta sẽ thấy một Cơ Đốc nhân không thể sống một ngày không có Chúa Jesus, cũng không thể sống một ngày thiếu các Cơ Đốc nhân khác. Không có Chúa Jesus, người ấy không thể tồn tại, và không có những Cơ Đốc nhân khác, người ấy cũng không thể tồn tại. Đức Chúa Trời tìm kiếm một Thân Thể, không phải nhiều Cơ Đốc nhân riêng lẻ, biệt lập. Đức Chúa Trời ao ước một Ê-va đầy đủ, không phải một cái tay ở đây và một cái chân ở đó. Ngài phải có được một Ê-va như một tổng thể; khi ấy Ê-va sẽ hữu dụng cho Ngài. Ngài không muốn một con người tật nguyền. Ngài muốn một con người mới, một con người tập thể.

Vì lý do này mọi sự chia rẽ và chủ nghĩa cá nhân phải bị loại trừ. Vấn đề chia rẽ không phải chỉ là điều gì đó ở bên ngoài, mà là một nan đề của tấm lòng. Mar tin Lu ther nói vị giáo hoàng lớn nhất không sống ở La Mã mà ở ngay trong lòng chúng ta. Chúng ta cần nhận biết rằng sự ngăn trở lớn lao nhất đối với Đức Chúa Trời không phải là những sự chia rẽ bên ngoài mà là chính chúng ta, tức những con người riêng lẻ, không biết sự sống của Thân Thể. Ở điểm này, chúng ta cần hai sự khải thị khác nhau: trước hết, nhìn thấy Thân Thể là một, và thứ hai, nhìn thấy chúng ta là một phần của Thân Thể ấy, là những chi thể của Thân Thể ấy. Khi thấy Thân Thể là một, chúng ta sẽ không bao giờ dám chia rẽ. Khi thấy mình là các chi thể, chúng ta chỉ là một phần của cả Thân Thể, thì chúng ta sẽ không bao giờ tự biện minh cho mình, hay cũng không dám nghĩ rằng: là những chi thể riêng lẻ, chúng ta là cả một đơn vị. Chỉ có toàn Thân Thể mới là một đơn vị. Chính chúng ta như những chi thể thì quá nhỏ bé và thật không đầy đủ. Ôi, nguyện Đức Chúa Trời cứu chúng ta khỏi tình trạng làm những người theo cá nhân chủ nghĩa. Khi ấy chúng ta mới có thể trở thành những con người ích lợi cho Ngài được.

ĐẤNG CHRIST YÊU HỘI THÁNH

Bây giờ chúng ta hãy đọc Ê-phê-sô 5:28-29: “Cũng vậy, chồng phải yêu vợ như chính thân mình; ai yêu vợ mình là yêu chính mình. Vì không ai ghét chính xác thịt mình, nhưng nuôi dưỡng và chăm sóc nó như Đấng Christ đối với hội thánh”. Chồng phải yêu vợ vì yêu vợ là yêu chính thân thể mình. Người ta luôn luôn nuôi dưỡng, chăm sóc thân thể mình, và Đấng Christ cũng nuôi dưỡng, chăm sóc hội thánh. Dưới mắt của Đấng Christ, hội thánh là Thân Thể của chính Ngài, xương của xương Ngài và thịt của thịt Ngài. Những câu này cho chúng ta thấy hội thánh là Thân Thể của Đấng Christ, và công tác của Ngài dành cho hội thánh ngày nay là nuôi dưỡng và chăm sóc, vì hội thánh là chính Ngài. Chắc chắn Ngài sẽ nuôi dưỡng và chăm sóc chúng ta vì tất cả chúng ta đều ra từ Đấng Christ. Chúng ta đều biết chúng ta nuôi dưỡng và chăm sóc thân thể mình chu đáo như thế nào. Đấng Christ sẽ nuôi dưỡng và chăm sóc chúng ta giống như vậy. “Không ai ghét chính xác thịt mình”, đó là một sự thật. Nếu một người bình thường làm đau tay mình, người ấy sẽ chăm sóc nó; nếu chân mình bị thương, người ấy sẽ nhẹ nhàng chăm sóc nó. Người ta luôn luôn bồi dưỡng và chăm sóc chính mình. Tương tự như vậy, Đấng Christ yêu hội thánh, vì hội thánh là chính mình Ngài.

Chúng ta hãy đọc Ê-phê-sô 5:25-27: “Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình thậm chí như Đấng Christ đã yêu hội thánh và đã phó chính mình Ngài vì hội thánh để Ngài có thể thánh hoá hội thánh, tẩy sạch hội thánh bằng sự rửa sạch của nước trong lời, để Ngài có thể trình diện cho chính mình Ngài hội thánh vinh hiển, không tì vết, không nếp nhăn, hoặc không có bất cứ điều gì như vậy, nhưng thánh khiết và không chỗ trách được”. Ba câu này nói về hội thánh là Cô Dâu của Đấng Christ. “Để Ngài có thể trình diện cho chính mình Ngài hội thánh” trình bày cảnh tượng Đức Chúa Trời đem Ê-va đến cho A-đam. Cũng vậy, Đấng Christ sẽ đem hội thánh đến và trình diện hội thánh cho chính Ngài. Tuy nhiên đây là điều sẽ xảy ra trong tương lai. Hội thánh ngày nay chưa đạt đến điều này. Đấng Christ đang hành động từng bước một trong hội thánh cho đến ngày Ngài trình diện hội thánh cho chính mình. Nói cách khác, Ê-phê-sô 5:25-27 nói về con đường từ sự cứu chuộc đến vương quốc. Từng bước một, hội thánh bây giờ đang được chuẩn bị để Đấng Christ có thể trình diện cho chính Ngài vào ngày ấy.

Vì sao ở đây lại nói hội thánh phải được tẩy sạch? Vì đây là Ê-phê-sô chương 5 chứ không phải Sáng Thế Ký chương 2. Sự khải thị cao nhất của hội thánh được tìm thấy trong sách Ê-phê-sô. Đặc điểm nổi bật của sách là này không bắt đầu với những tội nhân được cứu nhưng với sự việc chúng ta được lựa chọn từ cõi đời đời. La Mã chương 1 trước hết nói về tội lỗi, về thế nào chúng ta đã phạm tội và sau đó được cứu. Nhưng Ê-phê-sô chương 1 bắt đầu từ cõi đời đời và việc chúng ta được lựa chọn trước buổi sáng thế. Mãi cho đến chương 2 tội lỗi mới được đề cập. Sách Ê-phê-sô bày tỏ hai con đường: một là từ cõi đời đời đến cõi đời đời, hai là từ sự sa ngã đến sự cứu chuộc của con người. Trong sách Ê-phê-sô có một điều gì đó có tính cách vượt trỗi được khải thị cho chúng ta. Chúng ta thấy làm thế nào hội thánh ra từ Đấng Christ, được lựa chọn từ trước buổi sáng thế, và sẽ mãi mãi bày tỏ vinh quang của Đấng Christ trong cõi đời đời. Đồng thời, sách này cho chúng ta thấy sự sa ngã của con người là một sự thật, con người phạm tội là một sự thật, và sự tồn tại của sự sống thiên nhiên của chúng ta cũng là một sự thật. Vì vậy, chương 5 nói Đấng Christ sẽ tẩy sạch chúng ta bằng sự rửa sạch của nước trong lời, cho đến khi chúng ta được thánh hoá. Ngài muốn phục hồi chúng ta đến mức chúng ta hoàn toàn phù hợp với ý muốn đời đời của Ngài.

Một mặt, chúng ta cần có khải tượng để thấy rằng hội thánh chưa bao giờ thất bại, phạm tội hay sa ngã. Hội thánh chưa bao giờ đụng chạm đến tội lỗi; từ cõi đời đời đến cõi đời đời hội thánh ở trên một đường thẳng tắp. Mặt khác, chúng ta cần thấy chúng ta chỉ là một nhóm tội nhân được cứu nhờ ân điển; do đó, chúng ta cần sự rửa sạch của nước trong lời. Chúng ta cần sự sống của Ngài qua lời Ngài để thánh hoá chúng ta và phục hồi chúng ta đến điểm cao nhất. Nguyện Đức Chúa Trời ban cho chúng ta ân điển để có thể đạt đến điểm ấy.

TẨY SẠCH HỘI THÁNH NHỜ SỰ RỬA SẠCH
BẰNG NƯỚC TRONG LỜI

Chúng ta phải lưu ý đến nhóm chữ “dùng sự rửa sạch của nước trong lời”. Trong Tân Ước, có hai từ ngữ Hi Lạp được dùng để chỉ về lời. Một là logos, nói đến lời với một ý nghĩa tổng quát; từ ngữ kia là rhema, mặc dầu cũng được dịch là lời trong Kinh thánh, nhưng có một ý nghĩa khá khác biệt với logos. Logos vừa chỉ về những điều đã được quyết định vĩnh viễn, vừa chỉ về những điều được dùng cách khách quan. Đây là lời, như chúng ta dùng cách chung chung và là lời được biết cách tổng quát trong Cơ Đốc giáo. Nhưng rhema chỉ về những lời được nói ra. Rhema có tính chủ quan hơn logos. Chúng ta hãy xem một vài phân đoạn trong Tân Ước có sử dụng từ rhema.

Trong Ma-thi-ơ 4:4 Chúa Jesus phán: “Có lời chép: ‘Người ta sống không phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng nhờ mọi lời ra từ miệng Đức Chúa Trời’ ”. Trong câu này, chữ “lời” là rhema, không phải logos. Khi chúng ta nói Kinh thánh là Lời Đức Chúa Trời, chữ “lời” là logos, không phải rhema. Chúng ta có thể nào nói người ta sống không phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng nhờ Lời Đức Chúa Trời ghi lại trong Kinh thánh không? Không. Chúng tôi không có ý nói rằng Lời Đức Chúa Trời là không ích lợi gì, nhưng chúng tôi nói logos, tức là Lời Đức Chúa Trời được ghi lại trong Kinh thánh, tự nó không ích lợi gì cho chúng ta.

Một ngày kia có một người đến báo tin cho một người mẹ biết con bà bị xe đụng và sắp chết. Người mẹ mở Kinh thánh ra tình cờ lật nhằm Giăng 11:4: “Bệnh này không đến nỗi chết...” Nhờ câu này, bà cảm thấy bình an và thậm chí còn bắt đầu vui mừng, nhưng khi bà đến nơi xảy ra tai nạn, bà thấy con bà đã chết rồi. Như vậy có phải những gì được ghi lại trong Phúc âm Giăng chẳng phải là Lời Đức Chúa Trời sao? Đó là Lời Đức Chúa Trời, nhưng đó là logos, không phải rhema. Lời bà mẹ nắm lấy không phải là lời Đức Chúa Trời phán với bà trong trường hợp cụ thể ấy. Cả lời logos và lời rhema đều là lời Đức Chúa Trời, nhưng lời logos là lời được ghi lại trong Kinh thánh có tính cách khách quan, trong khi lời rhema là lời Đức Chúa Trời phán với chúng ta trong một tình huống cụ thể.

La mã 10:17 nói: “Cho nên đức tin đến do nghe, và nghe qua lời của Đấng Christ...” Trong câu này chữ rhema, chứ không phải logos, được dùng đến. Điều này có nghĩa là chúng ta có thể tin khi trước hết Đấng Christ phán trong chúng ta.

Giăng 3:16 là một câu nhiều người trong chúng ta có thể đọc thuộc lòng. Có lẽ chúng ta biết câu này cách đây mười hay hai mươi năm. Câu này có phải Lời Đức Chúa Trời không? Chắc chắn đó là Lời Đức Chúa Trời, nhưng đó là logos. Tuy nhiên, một ngày nào đó khi đọc câu này, chúng ta thấy câu này hoàn toàn khác hẳn đối với chúng ta hơn bao giờ hết. “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian...” Bây giờ, Đức Chúa Trời không chỉ yêu thương thế gian, mà Ngài còn yêu thương tôi. “... đến nỗi Ngài đã ban Con Một của Ngài...” Đức Chúa Trời không chỉ ban Con Ngài cho thế gian, mà Ngài còn ban Con ấy cho tôi. “... để rồi ai tin Con ấy...” Không phải một người nào đó tin Ngài, mà là tôi tin Ngài. “... không bị hư mất, nhưng được sự sống đời đời”. Ấy là tôi không bị hư mất, và ấy là bây giờ tôi có sự sống đời đời. Lời này bây giờ là rhema. Đức Chúa Trời phán lời này với chúng ta, và đồng thời chúng ta có đức tin. Vì vậy, chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời: “Đức Chúa Trời ơi, nếu Ngài đầy ân điển đối với con, con cầu xin Ngài luôn luôn ban cho con lời rhema. Nói như vậy không có nghĩa là lời lo gos không ích lợi gì. Logos có công dụng rõ rệt của logos, vì không có logos, chúng ta không bao giờ có được lời rhema. Tất cả những lời rhema của Đức Chúa Trời đều dựa trên lời logos. Chúng ta không thể phủ nhận rằng Giăng 3:16 là Lời Đức Chúa Trời. Nhưng khi logos trở nên rhema được Đức Chúa Trời phán với chúng ta, chúng ta liền có đức tin và toàn thể vấn đề được giải quyết.

Giăng 6:36 nói: “Những lời ta nói với các ngươi đều là linh và sự sống”. Người Do Thái không có logos của Đức Chúa Trời sao? Họ có chứ. Họ rất quen thuộc với logos và có thể đọc thuộc lòng các điều răn Cựu Ước rất giỏi, nhưng điều đó không ích lợi gì cho họ. Chỉ có những lời Chúa phán với họ mới là linh và sự sống. Chỉ có rhema mới là linh và sự sống.

Mác 14:72 ghi: “Và ngay lập tức gà gáy lần thứ hai. Phi-e-rơ nhớ lại lời Jesus đã phán với mình: Trước khi gà gáy lần thứ hai, ngươi sẽ chối ta ba lần. Khi suy nghĩ về điều ấy thì người khóc”. Phi-e-rơ nhớ lại rhema mà Jesus đã phán với mình. Điều ông nhớ lại là rhema. Lời rhema đã được ông hồi tưởng. Trong khi Phi-e-rơ đang nói dối, thình lình rhema đến. Chính câu Chúa nói đã đến với ông. Rhema là lời Chúa đã phán và bây giờ Ngài phán lời ấy một lần nữa.

Trong Lu-ca 1:38 Ma-ri nói: “Nầy, tôi đây là nô lệ của Chúa. Nguyện mọi việc xảy đến với tôi theo lời Ngài. Và thiên sứ lìa khỏi cô”. Trong câu này chữ rhema được dùng. Đây không phải là một lời tiên tri trong Ê-sai 7:14: “Nầy, một trinh nữ sẽ có thai và sẽ sanh một con trai”, nhưng là một lời thiên sứ phán cụ thể với Ma-ri: “Nầy, ngươi sẽ có thai và sinh một con trai” (Lu-ca 1:31). Vì Ma-ri nghe lời này, cô nhận được sức mạnh và điều ấy đã được thành tựu.

Trong Lu-ca 2:29, Si-mê-ôn nói: “Chúa ôi, bây giờ xin cho nô lệ của Chúa được qua đời bình an theo lời của Ngài”. “Lời” ở trong câu này là rhema. Trước khi Chúa Jesus đến, Đức Chúa Trời phán lời Ngài với Si-mê-ôn rằng ông sẽ không chết cho đến khi được thấy Đấng Christ của Chúa. Nhưng vào ngày Si-mê-ôn thấy Chúa Jesus, ông nói: “Chúa ôi, bây giờ xin cho nô lệ của Chúa được qua đời bình an theo lời Ngài”. Si-mê-ôn có rhema từ Chúa. Lời này không phải trích theo một chương hay một câu nào trong Kinh thánh, nhưng đó là lời Chúa đã nói với ông vào ngày ấy. Chỉ có lời từ một chương nào đó và một câu nào đó trong Kinh thánh thì không đủ. Chỉ có lời Chúa phán với chúng ta thì mới công hiệu. Rhema bày tỏ một điều nào đó cho chúng ta cách cá nhân và trực tiếp; lời này bày tỏ cho chúng ta những gì chúng ta cần giải quyết và những gì chúng ta cần được tẩy sạch. Chúng ta phải tìm kiếm chính điều này cách cụ thể, vì đời sống Cơ Đốc nhân chúng ta đặt nền tảng trên rhema này. Đức Chúa Trời đã thật sự phán lời nào cho chúng ta, và Ngài đã phán với chúng ta như thế nào? Chúng ta phải nhớ rằng đạo Đấng Christ ngày nay vẫn là đạo về sự khải thị cá nhân. Nếu Đức Chúa Trời không phán gì bên trong con người, thì đó không phải là đạo Đấng Christ, và cũng không phải là Tân Ước.

Lu-ca 3:2 ghi: “Vào thời An-ne và Cai-phe làm thầy tế lễ thượng phẩm, lời của Đức Chúa Trời đến với Giăng con trai Xa-cha-ri ở nơi đồng vắng”. “Lời” trong câu này cũng là rhema.

Lu-ca 5:5 ghi: “Si-môn đáp: ‘Thưa Thầy, chúng tôi đã lao khổ suốt đêm mà không bắt được gì cả; nhưng căn cứ theo lời Thầy tôi sẽ thả lưới xuống’ ”. Chữ “lời” trong câu này là một điều gì đó mà Chúa đã nói vào dịp ấy. Đây là điều Chúa đã nói riêng với Si-môn. Đây là rhema. Chúa không nói trong một chương nào đó, câu nào đó của Kinh thánh rằng Si-môn nên thả lưới. Nếu một người nào đó nỗ lực đi trên mặt biển vì lời chép trong Ma-thi-ơ 14:29, chắc chắn người ấy sẽ chìm. Đó không phải lời Chúa phán ngày nay, mặc dầu Ngài đã phán vào ngày ấy. Đúng là lời Đức Chúa Trời phán trong quá khứ và lời Ngài phán ngày nay có uy quyền như nhau, không bao giờ thay đổi. Nhưng điều quan trọng là Đức Chúa Trời có đang phán chính lời ấy cho chúng ta trong ngày hôm nay không?

Lu-ca 24:8 ghi: “Họ nhớ lại những lời Ngài (rhema)”. Tóm lại, rhema là gì? Rhema là một điều Chúa đã phán trước đây mà bây giờ Ngài lại đang phán. Nói cách khác, rhema là lời Chúa phán lần thứ hai. Đây là một điều sống động.

Trong Công-vụ 11:16 Phi-e-rơ nói: “Tôi nhớ lại lời của Chúa, thể nào Ngài đã phán: Giăng đã làm báp-tem bằng nước, nhưng các ngươi sẽ chịu báp-tem bằng Thánh Linh”. Trong khi Phi-e-rơ đang rao giảng tại nhà Cọt-nây, Linh của Chúa giáng trên họ, và lời của Chúa đến với Phi-e-rơ. Không phải Phi-e-rơ cố gắng dùng trí nhớ để gợi lại lời Chúa, nhưng ấy là Chúa phán với ông: “Giăng đã làm báp-tem bằng nước, nhưng các ngươi sẽ chịu báp-tem bằng Thánh Linh”.

Chúng ta sẽ luôn luôn quý trọng sự kiện Chúa vẫn còn phán ngày nay. Không những Ngài phán trong Kinh thánh, không những Ngài chỉ phán với Phao-lô và Giăng, Ngài cũng phán với chúng ta hôm nay. Lời Chúa không bao giờ ngưng phán. Bất cứ khi nào có một người công tác cho Chúa, đứng lên rao giảng cho Ngài, người ấy phải chờ đợi lời rhema. Nếu ngày nay Chúa không phán với chúng ta, chúng ta thật sự thất bại. Biết bao lần chúng ta rao giảng mà Chúa chẳng phán một lời? Không phải có điều gì sai lầm trong bài giảng, nhưng tất cả đều là những lời tổng quát của Chúa; không có rhema trong đó. Nan đề của hội thánh ngày nay là thiếu lời sống động của Chúa; thay vào đó, chỉ có giáo lý chết. Thật thiếu sự truyền thông trực tiếp từ Đức Chúa Trời. Chỉ có sự truyền đạt lời giảng dạy của con người. Thật đáng thương vì quá nhiều người đã chết bởi những giáo lý tốt! Nguyện Đức Chúa Trời thương xót chúng ta và ban rhema cho chúng ta. Nguyện Ngài phán cách riêng tư và trực tiếp với chúng ta hôm nay. Chỉ khi nào có rhema chúng ta mới thật sự tiến tới và có nước sống để cung ứng cho người khác. Điều chúng ta cần là rhema.

Trong kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời, hội thánh không có tội lỗi. Hội thánh không có lịch sử tội lỗi; hội thánh hoàn toàn thuộc linh và hoàn toàn ra từ Đấng Christ. Nhưng còn lịch sử thật sự của hội thánh thì sao? Chúng ta biết hội thánh không thật sự hoàn toàn ra từ Đấng Christ và có nhiều yếu tố thuộc đất. Bằng cách nào Đấng Christ đem hội thánh đến chỗ trọn vẹn? Ngài sẽ làm điều đó bằng cách tẩy sạch hội thánh với sự rửa sạch bằng nước trong lời, tức là rhema. Trước đây chúng ta đã đề cập nước chỉ về sự sống. Nước tượng trưng cho sự sống được tuôn đổ qua phương diện không phải vì sự cứu chuộc trong sự chết của Đấng Christ. Đấng Christ đang dùng sự sống của Ngài trong lời Ngài, là rhema của Ngài, để tẩy sạch chúng ta.

Đấng Christ tẩy sạch chúng ta bằng sự sống Ngài qua lời Ngài. Điều này có ý nghĩa gì? Trước hết, chúng ta phải thấy nan đề của hội thánh từ quan điểm của Đức Chúa Trời. Khuyết điểm của hội thánh không phải là Đấng Christ mà hội thánh nhận lãnh quá nhỏ bé, nhưng là hội thánh có quá nhiều điều khác hơn là Đấng Christ. Trong ý muốn của Đức Chúa Trời, hội thánh hoàn toàn ra từ Đấng Christ, không có một tội lỗi nào, không có xác thịt và không chứa đựng sự sống thiên nhiên. Nhưng còn tình trạng thật của chúng ta thì sao? Trong chúng ta, những ai thật sự thuộc về Đấng Christ đều có một phần chỉ là và hoàn toàn là Đấng Christ. Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời về phần này. Ngoài phần này ra, chúng ta vẫn có nhiều điều không thuộc về Đấng Christ. Chúng ta cần được tẩy sạch vì cớ tất cả những điều này. Sự tẩy sạch nghĩa là gì? Nghĩa là trừ ra, rút ra, không phải là cộng vào, thêm vào. Nếu sự tẩy sạch nghĩa là thêm một điều gì vào trong chúng ta thì đó là “nhuộm”. Ê-va trong Sáng Thế Ký chương 2 không cần được tẩy sạch, vì Ê-va tượng trưng cho hội thánh trong kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời. Nhưng nếu chúng ta cho rằng ngày hôm nay mình không cần được tẩy sạch, chúng ta tự lừa dối mình. Đức Chúa Trời dự định đem chúng ta đến chỗ không cần sự tẩy sạch, nhưng ngày nay chúng ta vẫn cần được tẩy sạch.

Đức Chúa Trời tẩy sạch chúng ta bằng cách nào? Ngài thực hiện điều này bằng sự sống của Ngài qua chính lời Ngài. Nhiều lúc chúng ta không biết mình cần được tẩy sạch về phương diện nào. Nhưng một ngày kia sự sống trong chúng ta không để chúng ta trốn thoát. Chẳng bao lâu rhema của Ngài đến trong chúng ta, chỉ ra điều gì chúng ta cần giải quyết. Một mặt, ấy là sự sống đụng chạm chúng ta, và mặt khác, ấy là lời đã nói với chúng ta. Đôi khi tham gia vào một điều nào đó tưởng chừng như rất tốt về mặt giáo lý, và lý do khiến chúng ta làm điều đó cũng thật là đúng đắn, nhưng bên trong có một điều gì luôn đụng chạm chúng ta và không để chúng ta yên. Cuối cùng, Chúa phán với chúng ta; rhema đến, lời quyền năng của Chúa đến. Lời ấy bảo chúng ta rằng một điều nào đó trong chúng ta cần phải giải quyết và tẩy sạch. Một mặt, đây là sự sống, và mặt khác, đây là lời Chúa. Qua đó chúng ta được tẩy sạch. Đôi khi thứ tự thay đổi. Lúc đầu chúng ta không cảm thấy gì cả khi tham gia vào một việc gì đó; thật ra, chúng ta cảm thấy mọi sự đều tốt đẹp. Nhưng khi rhema đến, trước hết lời Chúa phán với chúng ta, nói với chúng ta rằng điều ấy là sai trật, và sau đó sự sống bên trong đòi hỏi chúng ta giải quyết điều ấy. Đây là nếp sống hằng ngày của chúng ta. Hoặc sự sống của Chúa trước hết không cho phép chúng ta làm một điều gì đó, rồi lời Chúa đến; hoặc trước hết lời Chúa đến, rồi sự sống theo sau đòi hỏi chúng ta giải quyết điều đó. Nhưng luôn luôn là sự tẩy sạch của nước trong lời thánh hoá chúng ta.

Vì vậy, toàn bộ vấn đề tăng trưởng và tiến bộ của chúng ta tùy thuộc vào thái độ của mình đối với sự sống và rhema. Nếu có bất cứ một cảm giác nào của sự sống bên trong, chúng ta đừng bao giờ bỏ qua. Chúng ta phải cầu nguyện: “Chúa ôi, xin ban rhema cho con để con biết cách giải quyết tình trạng này”. Nếu trước hết, Chúa ban rhema cho chúng ta, phán với chúng ta, khi ấy chúng ta vẫn cần cầu xin Ngài cung ứng sự sống để chúng ta giải quyết vấn đề. Nếu chúng ta lưu tâm đến những vấn đề này và không xem nhẹ, Chúa sẽ tẩy sạch chúng ta bằng sự rửa sạch của nước trong lời để chúng ta được thánh hóa.

Trước mặt Chúa, ý nghĩa của việc hội thánh được tẩy sạch nhờ sự tẩy rửa bằng nước nghĩa là sự sống của Đấng Christ xử lý hay đối phó với phần nào không từ Đấng Christ mà ra. Sự sống thiên nhiên và mọi điều không ra từ Đấng Christ cần bị tiêu trừ. Sự thánh hóa chỉ có thể đến sau khi đã tẩy sạch, và nền tảng của sự tẩy sạch là lời Chúa, tức là rhema. Nếu không biết lời Chúa, chúng ta không có cách nào được tẩy sạch và thánh hóa. Kể từ ngày chúng ta trở thành những Cơ Đốc nhân, kiến thức của chúng ta đến từ đâu? Từ một nguồn bên ngoài hay từ nguồn bên trong? Chúng ta có hiểu ý muốn của Đức Chúa Trời từ bên trong, hay ý muốn của Ngài vẫn là một điều gì đó bên ngoài chúng ta? Nhiều nan đề đã bắt rễ từ chính điều này, tức là tình trạng thiếu lời Đức Chúa Trời. Lý do Thân Thể của Đấng Christ không được gây dựng là vì chúng ta chỉ có những điều bên ngoài mà không có những gì ở bên trong. Toàn bộ nền tảng của đức tin Cơ-đốc tùy thuộc vào lời phán của Chúa. Sự tăng trưởng của hội thánh cũng tùy thuộc vào lời Chúa phán. Do đó, điểm trọng yếu nhất trong lời cầu nguyện của chúng ta phải là nỗi ao ước mong mỏi được nghe Chúa phán. Ôi, nguyện Chúa phán với chúng ta! Lời Chúa phán với chúng ta sẽ làm cho chúng ta đạt được mục đích đời đời của Đức Chúa Trời. Hội thánh ngày nay không giống như Ê-va trong Sáng Thế Ký chương 2 vì hội thánh đã từng sa ngã. Cho nên Chúa phải tẩy rửa chúng ta nhờ sự tẩy sạch bằng nước trong lời.

Hội thánh theo ý muốn của Đức Chúa Trời và hội thánh trong kinh nghiệm thực tế là hai điều hoàn toàn khác biệt. Trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, hội thánh hoàn toàn không có tội lỗi; hội thánh không bao giờ biết đến tội lỗi, cũng không có lịch sử tội lỗi. Hội thánh vượt cao khỏi tội lỗi, không có một dấu vết nào của tội lỗi. Hội thánh hoàn toàn thuộc linh và hoàn toàn ra từ Đấng Christ. Tuy nhiên, hội thánh trong lịch sử đã thất bại và sa ngã. Ngày nay, Chúa đang hành động giữa những con người sa ngã để đem họ trở về với hội thánh theo ý muốn nguyên thủy của Ngài. Chúa đang muốn hành động giữa những con người sa ngã, bại hoại, cô độc, đầy tội lỗi và ô uế để Ngài có được một hội thánh từ trong họ. Ngài dự định phục hồi và khôi phục họ trở lại với những gì Ngài đã định trong cõi quá khứ vĩnh cửu, để trong cõi tương lai vĩnh cửu, lòng ao ước của Ngài sẽ được thỏa nguyện. Trong công tác kỳ diệu của Ngài, Chúa đang dùng lời phán của Ngài làm công cụ để đưa hội thánh trở về với mục đích nguyên thủy của Đức Chúa Trời. Ôi, nguyện chúng ta không xem nhẹ lời Chúa.

Chúng ta phải nhớ rằng kiến thức là một điều và tầm vóc thuộc linh là một điều hoàn toàn khác. Mọi giáo lý, sự dạy dỗ, thần học, và kiến thức không ích lợi bao nhiêu nếu chỉ được tuôn ra từ người này qua người khác. Sự tăng trưởng thật tùy thuộc vào lời chúng ta nhận trực tiếp từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đang dùng rhema của Ngài để thực hiện công tác của Ngài và Ngài đang ao ước phán với chúng ta. Vì vậy, nếu mục đích của chúng ta trong việc đọc Kinh thánh chỉ là tìm kiếm kiến thức thì chúng ta thật đáng thương. Nếu tình trạng của chúng ta như thế thì không còn gì để nói nữa. Giá trị thật của Kinh thánh là qua Kinh thánh Đức Chúa Trời có thể phán với con người. Nếu ao ước được hữu dụng trong tay Chúa, chúng ta phải được nghe Chúa phán. Sự gây dựng của chúng ta có thuộc linh hay không tùy thuộc vào việc Chúa có phán với chúng ta hay không. Kiến thức và giáo lý không lợi ích về mặt thuộc linh. Chỉ có lời Chúa phán với chúng ta mới có giá trị thuộc linh.

Làm sao chúng ta có thể thỏa mãn với kiến thức và giáo lý trong khi hội thánh đang ở trong tình trạng sa ngã, trong khi hội thánh không đạt đến ý muốn của Đức Chúa Trời và mù lòa đối với ý muốn ấy? Nguyện Đức Chúa Trời thương xót chúng ta và đầy ân điển đối với chúng ta! Ôi, nguyện chúng ta cầu nguyện như vầy: “Chúa ơi, chúng con cầu xin Ngài phán với chúng con”. Tất cả những lời ở bên ngoài, tất cả những lời người khác truyền đạt cho chúng ta, cho dầu họ có nói một ngàn lần hay mười ngàn lần, cũng chẳng ích lợi gì. Chỉ có rhema mới có giá trị. Nếu chúng ta làm một điều gì chỉ vì người khác bảo chúng ta làm thì chúng ta đang giữ luật pháp; chúng ta không ở trong Tân Ước. Những người có tâm trí sáng suốt có thể chia sách La Mã ra làm nhiều phần, chẳng hạn như “Cứu rỗi”, “Xưng công chính”, v.v... Nhưng trong họ có một sự thiếu hụt lớn lao, ấy là Đức Chúa Trời không phán với họ. Một người có thể có kiến thức, nhưng không có lời Đức Chúa Trời. Nhiều người nghĩ rằng thuộc linh nghĩa là có kiến thức Kinh thánh và hiểu biết giáo lý. Không có chuyện đó! Kiến thức Kinh thánh không bao giờ có thể thay thế cho tình trạng thuộc linh. Chỉ có lời Đức Chúa Trời phán với chúng ta cách cá nhân và trực tiếp thì mới có giá trị thật. Khi Đức Chúa Trời phán với chúng ta qua lời Ngài, chúng ta được soi sáng; nhờ lời Ngài chúng ta được thánh hóa; và nhờ lời Ngài chúng ta được tăng trưởng. Chúng ta cần biết điều gì là chết và điều gì là sống, điều gì chỉ là kiến thức suông và điều gì là thuộc linh. Tất cả những gì không sống động đều không có giá trị thuộc linh. Nếu chúng ta có rhema, là lời sống động của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể được tẩy sạch và thánh hóa.

“HỘI THÁNH... VINH HIỂN”

Mục đích của Đấng Christ trong công tác tẩy sạch và thánh hóa là gì? Ấy là để một ngày kia, “Ngài có thể trình diện cho chính Ngài hội thánh vinh hiển” (Êph. 5:27). Đấng Christ đang chờ đợi hội thánh được chuẩn bị và trình diện cho Ngài. “Hội thánh vinh hiển” trong nguyên văn có nghĩa là hội thánh được đem vào vinh quang. Ê-phê-sô chương 4 nói rằng hội thánh sẽ đạt đến sự hiệp một của đức tin và đến mức có tầm vóc trọn vẹn của Đấng Christ (c. 13). Sau đó, chương 5 nói hội thánh sẽ được mặc lấy vinh quang để được trình diện cho Đấng Christ. Đức Chúa Trời dự định đem cả hội thánh đến tình trạng này. Đây thật là một vấn đề lớn lao! Khi nhìn vào tình trạng hội thánh ngày nay, chúng ta nói: “Làm thế nào có điều đó được?” Ngay cả chúng ta có thể nghi ngờ ý định của Đức Chúa Trời, nhưng Chúa đang hành động. Một ngày kia hội thánh sẽ đạt đến sự hiệp một của đức tin; hội thánh sẽ đạt đến mức có tầm vóc trọn vẹn của Đấng Christ; hội thánh sẽ được mặc lấy vinh quang và trình diện cho Đấng Christ. Đây là điều Chúa mong muốn và Ngài sẽ đạt được. Đây cũng là điều chúng ta ao ước và sẽ đạt được.

Hội thánh vinh hiển sẽ không có tì vết, không có nếp nhăn hoặc bất cứ điều gì như vậy, nhưng sẽ thánh khiết và không chỗ trách được (5:27). Chúa sẽ tẩy sạch chúng ta đến nỗi dường như hội thánh không bao giờ có một vết bẩn, hay một sự ô uế nào. Dường như hội thánh không bao giờ phạm tội; cũng không có một dấu vết tội lỗi nào.

Không những hội thánh không có tì vết mà còn không có nếp nhăn. Chúng ta đều biết rằng trẻ em và các thanh niên không có nếp nhăn. Hễ khi nào nếp nhăn xuất hiện nơi một người, nghĩa là người ấy đang già đi. Chúa muốn đem hội thánh đến tình trạng không có gì già nua, không có gì của quá khứ.

Ngài muốn mọi sự trong hội thánh phải tươi mới. Khi hội thánh đứng trước mặt Chúa, dường như hội thánh không bao giờ phạm tội, dường như hội thánh không bao giờ có lịch sử tội lỗi. Hội thánh sẽ không có tì vết cũng không có nếp nhăn nào. Trong tương lai hội thánh sẽ là hội thánh theo mục đích của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo.

Hội thánh sẽ không có tì vết hoặc nếp nhăn nào, nhưng cũng sẽ không có “bất cứ điều gì như vậy”. Trong một bản dịch từ tiếng Hy-lạp, nhóm chữ này có thể đọc là: “Khuyết điểm loại này hay loại khác”. Không những hội thánh không có tì vết hoặc nếp nhăn, nhưng cũng không có bất cứ khuyết điểm nào; mọi khuyết điểm đều bị loại trừ. Sẽ đến một ngày khi công tác của Đức Chúa Trời trên hội thánh đến một giai đoạn như vậy thì hội thánh sẽ được vinh hiển trọn vẹn.

Hơn nữa, hội thánh sẽ thánh khiết và không chỗ trách được. Theo ý nghĩa trong Hi văn, nhóm chữ này có thể dịch là: “Hội thánh sẽ thánh khiết và không có điều gì đáng trách”. Đức Chúa Trời sẽ đem hội thánh đến tình trạng mà trong mọi khía cạnh, hội thánh không thể nào bị phê phán gì được. Thế gian không nói gì được; Sa-tan không nói gì được; mọi người và mọi sự sẽ không nói gì được; ngay cả chính Đức Chúa Trời cũng không nói gì cả. Vào ngày ấy, khi được vinh hiển như vậy, hội thánh sẽ trở nên Cô Dâu của Đấng Christ.

Chúng ta phải thấy hai vấn đề này một cách rất rõ ràng. Trước hết, ngày nay, chúng ta là Thân Thể của Đấng Christ. Là Thân Thể của Ngài, Đấng Christ đang thanh tẩy và chuẩn bị chúng ta để chúng ta có thể trở nên hội thánh mà Đức Chúa Trời dự định từ cõi đời đời. Thứ hai, đến thời điểm nào đó, Đấng Christ sẽ đến, và chúng ta sẽ được đưa vào sự hiện diện của Ngài để trình diện cho Ngài như một hội thánh vinh hiển, tức là cô dâu của Ngài. Như vậy, trước hết, chúng ta có lịch sử của Thân Thể Đấng Christ trên đất và sau đó là lịch sử của cô dâu trong vinh quang. Bây giờ chúng ta đang ở trong tiến trình được tẩy sạch. Đây là lúc chúng ta cần lời rhema. Những Cơ Đốc nhân chưa bao giờ nhận được sự khải thị trực tiếp từ Đức Chúa Trời đang làm chậm trễ Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta chưa bao giờ nghe Chúa phán với mình, chúng ta đang ngăn cản Chúa đổ ân điển của Ngài. Nguyện Đức Chúa Trời thương xót chúng ta để chúng ta không trở nên những người cản trở Ngài. Trái lại, nguyện chúng ta là những người lắng nghe Ngài và tiến tới để hội thánh được đưa đến giai đoạn làm Cô Dâu của Đấng Christ.

CÔNG TÁC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI THÁNH
TRƯỚC MẶT ĐỨC CHÚA TRỜI

Sách Ê-phê-sô bày tỏ hội thánh mà Đức Chúa Trời đã dự định trong cõi đời đời. Chương 5 nói rằng hội thánh sẽ là một hội thánh vinh hiển, không tì vết, không nếp nhăn, hay bất cứ điều gì như vậy, thánh khiết và không chỗ trách được. Sau đó chương 6 nói về công tác thực tế của hội thánh là chiến tranh thuộc linh.

Khi đọc Ê-phê-sô 6:10-12, chúng ta nhận thấy công tác và trách nhiệm của hội thánh là chiến tranh thuộc linh. Các đối thủ trong chiến tranh thuộc linh không phải là thịt và huyết, nhưng là các hữu thể thuộc linh ở trên không trung. Chúng ta hãy đọc câu 13 và 14. “Vì vậy, hãy mang lấy toàn bộ khí giáp của Đức Chúa Trời để trong ngày gian ác, anh em có thể chống nổi và sau khi làm xong mọi sự mà vẫn đứng vững. Vậy, hãy đứng”. Ở đây chúng ta được bảo rằng hãy đứng, chứ không phải hãy tấn công. Chiến tranh thuộc linh là phòng vệ, chứ không phải tấn công, vì Chúa Jesus đã đánh trận và giành được chiến thắng rồi. Công tác của hội thánh trên đất chỉ là duy trì sự chiến thắng của Chúa. Chúa đã thắng trận và hội thánh ở đây là để duy trì sự chiến thắng của Ngài. Công tác của hội thánh không phải là chiến thắng ma quỉ, nhưng là chống cự kẻ mà Chúa đã chiến thắng rồi. Công tác của hội thánh không phải là cột trói người mạnh mẽ vì người mạnh mẽ đã bị cột trói rồi. Công tác của hội thánh là đừng thả hắn ra. Không cần phải tấn công; chỉ cần canh giữ là đủ. Khởi điểm của chiến tranh thuộc linh là đứng trên sự chiến thắng của Đấng Christ; ấy là nhìn thấy Đấng Christ đã chiến thắng rồi. Không phải là đối phó với Sa-tan, mà là tin cậy Chúa. Không phải là hi vọng chúng ta sẽ chiến thắng, vì Chúa đã chiến thắng rồi. Ma quỉ không thể làm gì cả.

Công tác và trách nhiệm của hội thánh là chiến tranh thuộc linh. Đây là cuộc xung đột giữa uy quyền của Đức Chúa Trời và quyền lực của Sa-tan. Bây giờ chúng ta hãy xem mối quan hệ giữa hội thánh và vương quốc của Đức Chúa Trời.

Một vài người nghĩ rằng vương quốc của Đức Chúa Trời chỉ liên quan đến vấn đề phần thưởng. Đây là một sự đánh giá quá thấp kém về vương quốc của Đức Chúa Trời. Chúa Jesus từng giải thích ý nghĩa của vương quốc Đức Chúa Trời. Ngài phán: “Nhưng nếu ta nhờ Linh của Đức Chúa Trời mà đuổi quỉ, thì vương quốc Đức Chúa Trời đã đến cùng các ngươi” (Mat. 12:28). Vương quốc Đức Chúa Trời nghĩa là gì? Ấy là sự lật đổ quyền lực của Sa-tan nhờ uy quyền của Đức Chúa Trời. Khi ma quỉ không thể đứng ở một nơi nào đó, thì vương quốc đã đến nơi ấy rồi. Ở đâu ma quỉ bị đuổi ra, ở đâu công việc của kẻ thù được thay thế bằng quyền năng của Đức Chúa Trời, ở đó là vương quốc của Đức Chúa Trời.

Khải thị 12:9-10 nói: “Con rồng lớn bị ném xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma quỉ và Sa-tan, đứa lừa dối cả thiên hạ, nó bị ném xuống đất, các sứ giả của nó cũng bị ném xuống nữa. Tôi nghe trên trời có tiếng lớn nói rằng: Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, vương quốc của Đức Chúa Trời, và uy quyền của Đấng Christ của Ngài đã đến, vì kẻ kiện cáo anh em chúng ta đã bị ném xuống, tức là kẻ ngày đêm kiện cáo họ trước mặt Đức Chúa Trời”. Chúng ta phải chú ý đến chữ “vì” trong câu 10. Vương quốc Đức Chúa Trời đã đến “vì” Sa-tan đã bị ném xuống. Sa-tan mất chỗ đứng, nên không thể đứng đó được nữa. Khi ấy trên trời có một tiếng lớn nói rằng: “Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, vương quốc của Đức Chúa Trời, và uy quyền của Đấng Christ của Ngài đã đến”. Bất cứ nơi nào Sa-tan lìa khỏi ấy là vì nơi đó có vương quốc của Đức Chúa Trời. Ở đâu có vương quốc của Đức Chúa Trời, ở đó không thể có Sa-tan. Điều này bày tỏ rõ rằng trong Kinh thánh ý nghĩa thiết yếu, đầu tiên của vương quốc Đức Chúa Trời liên quan đến việc đối phó với Sa-tan.

Khi người Pha-ri-si hỏi khi nào vương quốc của Đức Chúa Trời đến, Chúa Jesus đáp: “Vương quốc Đức Chúa Trời không đến theo cách mắt thấy được; người ta sẽ không nói: Đây này! hay, đó kìa! Vì kìa, vương quốc Đức Chúa Trời ở giữa các ngươi” (Lu. 17:20-21). Chúa muốn nói gì khi Ngài bảo “vương quốc Đức Chúa Trời ở giữa các ngươi”? Ngài muốn nói: “Ta đang đứng đây”. Dĩ nhiên chúng ta đều biết vương quốc Đức Chúa Trời không thể ở trong người Pha-ri-si được. Vào ngày ấy vương quốc Đức Chúa Trời ở giữa họ vì Chúa Jesus đứng ở giữa họ. Khi Ngài ở đó, Sa-tan không thể ở đó được. Chúa Jesus phán: “Bá chủ của thế gian này sắp đến, hắn chẳng có gì nơi Ta cả” (Gi.14:30). Bất cứ nơi nào có Chúa Jesus, Sa-tan phải rời bỏ nơi ấy. Trong Lu-ca chương 4, có một người bị quỉ ám. Khi thấy Chúa, người này phản ứng ra sao? Trước khi Chúa lên tiếng đuổi nó ra, quỉ đã kêu lên: “Ồ! Jesus, người Na-xa-rét, chúng tôi với Ngài có liên quan gì? Có phải Ngài đến để hủy diệt chúng tôi không?” (c. 34). Nơi nào có Chúa, ở đó không thể có ma quỉ. Chính sự hiện diện của Chúa Jesus đại diện cho vương quốc của Đức Chúa Trời và Ngài là vương quốc của Đức Chúa Trời. Ngài ở đâu, vương quốc của Đức Chúa Trời cũng ở đó.

Điều này liên hệ gì với chúng ta? Khải Thị 1:5-6 nói: “Đấng thương yêu chúng ta, và đã lấy huyết Ngài giải thoát chúng ta khỏi các tội lỗi của mình và làm cho chúng ta trở thành một vương quốc, trở thành những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời là Cha của Ngài, nguyện vinh quang và quyền năng về nơi Ngài đời đời vô cùng. A-men”. Hãy lưu ý chữ “vương quốc” trong câu 6. Điều này cho chúng ta thấy không những nơi nào có Chúa Jesus mà nơi nào có hội thánh thì ở đó là vương quốc của Đức Chúa Trời. Không những Chúa Jesus đại diện cho vương quốc Đức Chúa Trời mà hội thánh cũng đại diện cho vương quốc Đức Chúa Trời nữa. Điểm quan trọng ở đây không phải là vấn đề phần thưởng tương lai hay địa vị trong vương quốc, lớn hay nhỏ, cao hay thấp. Mối quan tâm không phải là những điều ấy. Vấn đề thiết yếu là Đức Chúa Trời muốn hội thánh đại diện cho vương quốc của Ngài.

Công tác của hội thánh trên đất là đem vương quốc của Đức Chúa Trời đến. Toàn thể công tác của hội thánh đều được chỉ đạo bởi nguyên tắc vương quốc Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi các hồn người ta cũng ở dưới nguyên tắc này, việc đuổi quỉ và tất cả các công tác khác cũng vậy. Mọi sự đều phải ở dưới nguyên tắc vương quốc của Đức Chúa Trời. Vì sao chúng ta chinh phục các hồn người? Vì vương quốc Đức Chúa Trời, không phải chỉ vì con người cần được cứu rỗi. Chúng ta phải đứng ở vị trí của vương quốc Đức Chúa Trời mỗi khi chúng ta làm việc, và chúng ta phải áp dụng vương quốc của Đức Chúa Trời để đối phó với quyền lực của Sa-tan.

Chúa muốn chúng ta cầu nguyện: “Lạy Cha chúng con ở trên các từng trời, nguyện danh Cha được tôn thánh; vương quốc Cha được đến; ý muốn Cha sẽ được nên ở dưới đất như ở trên trời” (Mat. 6:9-10). Nếu vương quốc Đức Chúa Trời tự động đến, Chúa sẽ không bao giờ dạy chúng ta cầu nguyện như vậy. Nhưng vì Chúa dạy chúng ta cầu nguyện như vậy, Ngài đơn giản bày tỏ cho chúng ta biết rằng đây là công tác của hội thánh. Vâng, hội thánh phải rao giảng Phúc âm, nhưng còn hơn thế nhiều, hội thánh cần phải cầu nguyện để đem vương quốc của Đức Chúa Trời đến. Có người cho rằng dầu chúng ta có cầu nguyện hay không, vương quốc Đức Chúa Trời vẫn sẽ tự động đến. Nhưng nếu biết Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không bao giờ nói như vậy. Nguyên tắc của công tác Đức Chúa Trời là chờ đợi dân Ngài chuyển động. Khi ấy Ngài mới chuyển động.

Đức Chúa Trời nói với Áp-ra-ham rằng dân Israel sẽ ra khỏi quốc gia đã làm khổ họ. Tuy nhiên, mãi bốn trăm ba mươi năm sau điều này mới hoàn thành. Khi dân Israel kêu la với Đức Chúa Trời, Ngài nghe tiếng kêu của họ và đến giải cứu họ. Đừng bao giờ cho rằng dầu chúng ta có kêu la hay không, mọi sự vẫn xảy ra theo như cách của các sự việc ấy. Đức Chúa Trời cần con người hiệp tác với Ngài trong công việc Ngài. Khi dân Đức Chúa Trời chuyển động, Ngài cũng chuyển động. Khi dân Đức Chúa Trời thấy họ nên rời khỏi Ai Cập (mặc dầu không phải toàn dân Israel nhận biết điều này, nhưng một số người nhận biết), họ kêu la với Đức Chúa Trời và Ngài chuyển động để giải cứu họ.

Ngay cả sự ra đời của Chúa Jesus cũng là kết quả của sự hợp tác của một số người trong vòng dân của Đức Chúa Trời với Ngài. Tại Giê-ru-sa-lem có một số người liên tục tìm kiếm sự an ủi cho dân Israel. Đây là lý do vì sao Chúa ra đời. Mặc dầu mục đích của Đức Chúa Trời là đem vương quốc của Ngài đến, nhưng chỉ riêng phần Ngài thì không đủ. Ngài cần hội thánh cộng tác với Ngài. Qua sự cầu nguyện, hội thánh phải làm cho quyền năng của vương quốc Đức Chúa Trời tuôn đổ ra trên đất. Khi Chúa đến, vương quốc của thế gian sẽ trở nên vương quốc của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài (Khải. 11:15).

Vì công tác của hội thánh là đứng về phía Đức Chúa Trời và không nhường chỗ cho Sa-tan, chúng ta phải có lối sống như thế nào để hoàn thành công tác này? Tất cả tội lỗi và những sự bất chính của chúng ta cần được giải quyết, chúng ta phải dâng mình cho Chúa cách trọn vẹn, sự sống thuộc hồn phải bị giết chết, và con người thiên nhiên phải bị từ bỏ. Năng lực của xác thịt tuyệt đối vô dụng trong chiến tranh thuộc linh. “Cái tôi” không thể chống Sa-tan. “Cái tôi” phải ra đi! Khi nào “cái tôi” ra đi, Chúa Jesus sẽ bước vào. Khi nào “cái tôi” bước vào, khi ấy có sự thất bại. Ở đâu có Chúa Jesus, ở đó có sự đắc thắng. Sa-tan chỉ nhận biết một người: đó là Chúa Jesus. Chúng ta không thể chống Sa-tan. Những mũi tên lửa của Sa-tan có thể xuyên qua xác thịt chúng ta, nhưng ngợi khen Đức Chúa Trời, chúng ta có thể mặc lấy Đấng Christ là Đấng đã chiến thắng.

Chúng ta tin rằng Đấng Christ sắp trở lại. Nhưng đừng nghĩ rằng Chúa Jesus sẽ tự động đến nếu chúng ta cứ ngồi chờ Ngài một cách thụ động. Không, có một công tác hội thánh phải làm. Là Thân Thể của Đấng Christ, chúng ta phải học tập hợp tác với Đức Chúa Trời. Chúng ta không bao giờ nên nghĩ rằng được cứu là đủ rồi. Chúng ta phải quan tâm đến nhu cầu của Đức Chúa Trời. Sự sa ngã của con người để lại hai hậu quả: một là nan đề về trách nhiệm đạo đức của con người, hai là Sa-tan chiếm đoạt uy quyền trên trái đất này. Một mặt, con người chịu thiệt hại, nhưng mặt khác, Đức Chúa Trời cũng bị thiệt hại. Sự cứu chuộc giải quyết nan đề trách nhiệm đạo đức của con người và sự thiệt hại của con người, nhưng sự thiệt hại Đức Chúa Trời phải chịu chưa được giải quyết. Sự thiệt hại của Đức Chúa Trời không thể được phục hồi bằng sự cứu chuộc, mà chỉ được phục hồi bằng vương quốc. Trách nhiệm đạo đức của con người đã được giải quyết bằng thập tự giá, nhưng nan đề uy quyền của Sa-tan phải được giải quyết bằng vương quốc. Mục đích trực tiếp của sự cứu chuộc là vì con người, trong khi mục đích trực tiếp của vương quốc là đối phó với Sa-tan. Sự cứu chuộc giành lại được những gì con người đã đánh mất; vương quốc sẽ hủy diệt những gì Sa-tan đã giành được.

Từ ban đầu con người được giao trách nhiệm lật đổ uy quyền của Sa-tan, nhưng thay vào đó, con người đã sa ngã, giao uy quyền cho Sa-tan. Ngay cả chính con người đã trở nên phục tùng Sa-tan. Sa-tan trở nên kẻ mạnh mẽ và con người trở thành tài sản của hắn (Mat. 12:29). Tình trạng này cần vương quốc đối phó. Nếu không có vương quốc, công việc của Sa-tan không cách nào bị lật đổ vì con người đã sa ngã.

Trời mới và đất mới không xuất hiện ngay sau khi sự cứu chuộc đã hoàn thành vì nan đề Sa-tan chưa được giải quyết xong. Trước khi có trời mới, đất mới, cần phải có vương quốc. Khải Thị 11:15 nói: “Vương quốc của thế gian đã trở nên vương quốc của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài, và Ngài sẽ cai trị đời đời vô cùng”. Một khi vương quốc đến, cõi đời đời sẽ được đưa vào. Vương quốc nối kết với cõi đời đời. Chúng ta có thể nói vương quốc dẫn đến trời mới đất mới. Khải thị chương 21 và 22 cho chúng ta thấy trời mới, đất mới xuất hiện sau vương quốc. Thậm chí Ê-sai chương 65 còn mô tả vương quốc là trời mới, đất mới. Điều này có nghĩa là Ê-sai nhìn thấy vương quốc là phần dẫn đến của trời mới và đất mới. Như vậy, khi vương quốc bắt đầu, trời mới và đất mới cũng bắt đầu.

Nguyện Đức Chúa Trời mở mắt chúng ta để chúng ta không xem mình là trung tâm. Vì sao chúng ta được cứu? Có phải để chúng ta khỏi bị đi địa ngục không? Không. Đó không phải là trọng tâm vấn đề. Vì sao Đấng Christ muốn cứu chúng ta? Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này theo hai quan điểm khác nhau, tức là quan điểm của con người và quan điểm của Đức Chúa Trời. Khi nhìn cùng một điều theo hai góc cạnh, chúng ta sẽ thấy điều ấy với ánh sáng khác nhau. Chúng ta không nên chỉ nhìn vấn đề này theo quan điểm của con người. Chúng ta phải nhìn theo quan điểm của Đức Chúa Trời. Thật ra, phục hồi sự mất mát của con người cũng vì để phục hồi sự thiệt hại của Đức Chúa Trời. Sự thiệt hại của Đức Chúa Trời phải được phục hồi nhờ vương quốc. Ngày nay, Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta được dự phần vào sự chiến thắng của Chúa Jesus. Ở đâu bày tỏ sự chiến thắng của Chúa Jesus, ở đó Sa-tan phải bỏ chạy.

Chúng ta chỉ phải đứng vững, vì Chúa Jesus đã giành lấy chiến thắng rồi. Trong công tác cứu chuộc của Ngài, Chúa Jesus đã hủy diệt tất cả mọi nền tảng hợp pháp của ma quỉ. Qua sự cứu chuộc, toàn bộ quyền cai trị hợp pháp của Sa-tan đã chấm dứt. Sự cứu chuộc là bản án truất phế địa vị hợp pháp của Sa-tan. Bây giờ trách nhiệm thi hành bản án ấy ở trên vai hội thánh. Khi Đức Chúa Trời thấy hội thánh đã thi hành nhiệm vụ này cách đầy đủ, vương quốc sẽ đến và trời mới đất mới sẽ theo sau. Trời mới đất mới trong sách Ê-sai sẽ dẫn đến trời mới, đất mới trong sách Khải Thị.

Ngày nay chúng ta đang đứng giữa sự cứu chuộc và vương quốc. Khi nhìn lại đằng sau, chúng ta thấy sự cứu chuộc, nhìn tới phía trước, chúng ta thấy vương quốc. Trách nhiệm của chúng ta gồm hai mặt. Một mặt, chúng ta phải hướng dẫn con người trong thế gian đến chỗ được cứu, mặt khác, chúng ta phải đứng vững vì vương quốc. Ô, nguyện chúng ta có khải tượng này để chúng ta nhìn thấy trách nhiệm Chúa đã giao phó cho hội thánh.

Chúng ta hãy ôn lại xem vương quốc của Đức Chúa Trời là gì. Vương quốc của Đức Chúa Trời là lãnh vực Ngài thi hành uy quyền của Ngài. Chúng ta phải có một vương quốc như vậy giữa vòng chúng ta. Trong khi để cho Đức Chúa Trời thi hành uy quyền của Ngài trên các từng trời, chúng ta cũng phải đồng ý cho Ngài thi hành uy quyền của Ngài trên chúng ta. Đức Chúa Trời phải có uy quyền, quyền năng và vinh quang của Ngài giữa vòng chúng ta. Không những chúng ta phải tìm cách sống trước mặt Đức Chúa Trời theo Ê-phê-sô chương 5, nhưng chúng ta cũng phải theo đuổi trách nhiệm đã bày tỏ cho chúng ta trong Ê-phê-sô chương 6. Khi ấy, chúng ta không những là một hội thánh vinh hiển, thánh khiết, không chỗ trách được mà cũng sẽ là những người hợp tác với Đức Chúa Trời để đem vương quốc Ngài đến và làm cho Sa-tan phải bị thiệt hại trên trái đất này.