Thông tin sách

Đấng Christ Là Mọi Vấn Đề Và Mọi Điều Thuộc Linh

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Christ is All Spiritual Matters and Things
ISBN: 0-7363-0355-3
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 3

Untitled Document

CHƯƠNG BA

ĐẤNG CHRIST LÀ BÁNH SỰ SỐNG VÀ ÁNH SÁNG SỰ SỐNG

Kinh Thánh: Gi. 6:35; 8:12

Chúng ta đã thấy khái quát rằng tất cả mọi điều và mọi vấn đề thuộc linh đều là Đấng Christ. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta Đấng Christ để trở nên những điều và những vấn đề thuộc linh của mình. Đây là điểm trọng yếu trong sự sống thuộc linh. Kinh nghiệm của chúng ta có phải chỉ là một kinh nghiệm không? Hay kinh nghiệm của chúng ta là Đấng Christ? Sự công chính của chúng ta có phải chỉ là sự công chính không? Hay sự công chính của chúng ta là Đấng Christ? Sự thánh khiết của chúng ta có phải chỉ là sự thánh khiết không? Hay sự thánh khiết của chúng ta là Đấng Christ? Sự cứu chuộc của chúng ta có phải chỉ là sự cứu chuộc suông không? Hay sự cứu chuộc của chúng ta là Đấng Christ? Chúng ta thường nói đến đường đi, nhưng đường đi chúng ta nói đến có thể không phải là chính Đấng Christ. Chúng ta thường nói đến lẽ thật, nhưng chúng ta không nhận thức rằng chính Đấng Christ là lẽ thật. Chúng ta thường nói đến sự sống, nhưng có thể sự sống chúng ta nói đến không phải là chính Đấng Christ. Nói cách khác, chúng ta có nhiều điều khác hơn là Đấng Christ. Đây là nan đề thuộc linh lớn lao nhất giữa vòng con cái Đức Chúa Trời. Miệng chúng ta nói rằng Đấng Christ là trung tâm mọi sự, nhưng trong cuộc sống, chúng ta vẫn giữ lại nhiều điều khác hơn là Đấng Christ, như thể những điều ấy có thể giúp chúng ta sống cuộc sống Cơ Đốc của mình. Chúng ta phải thay đổi hoàn toàn quan niệm này. Chúng ta phải nhận thức rằng Đức Chúa Trời không có ý định để chúng ta giữ nhiều điều mệnh danh là thuộc linh mà không phải là Đấng Christ. Dưới sự sắp xếp có tính cách tể trị của Đức Chúa Trời, có những điều và những vấn đề, nhưng những điều và những vấn đề thuộc về Đức Chúa Trời chỉ là Đấng Christ. Đấng Christ là tất cả mọi điều thuộc linh. Ngài là sự công chính của chúng ta; Ngài không ban cho chúng ta một sự công chính tách rời khỏi chính Ngài. Ngài là sự thánh khiết của chúng ta; Ngài không ban cho chúng ta một quyền năng tách rời khỏi Ngài để làm cho chúng ta trở nên thánh khiết. Ngài là sự cứu chuộc của chúng ta; Ngài không ban cho chúng ta một sự cứu chuộc tách rời khỏi chính Ngài. Ngài là đường đi; Ngài không mở ra cho chúng ta một đường đi tách rời khỏi chính Ngài. Ngài là lẽ thật; Ngài không trình bày cho chúng ta một lẽ thật tách rời khỏi chính Ngài rồi truyền chúng ta phải hiểu điều đó. Ngài là sự sống; Ngài không ban cho chúng ta điều gì đó được gọi là sự sống tách rời khỏi chính Ngài. Anh chị em ơi, càng bước đi trên con đường của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ càng khám phá ra rằng chỉ có một ân điển giữa vòng mọi ân điển của Đức Chúa Trời. Chỉ có một ân tứ giữa vòng mọi ân tứ của Đức Chúa Trời. Ân điển là Đấng Christ, và ân tứ là Đấng Christ. Cảm tạ Đức Chúa Trời, hằng ngày Ngài cho chúng ta thấy rằng Đấng Christ bao hàm mọi sự. Trước kia, chúng ta nghĩ đến Chúa là Cứu Chúa của mình. Ngày nay, chúng ta có thể nói rằng Ngài không những là Cứu Chúa của chúng ta mà cũng là sự cứu rỗi của chúng ta nữa. Điều này thật lạ lùng, nhưng lại là một sự thật. Khi mới được cứu, chúng ta tin Chúa Jesus là Cứu Chúa của mình. Bây giờ, chúng ta có thể nói rằng Chúa Jesus cũng là sự cứu chuộc và sự cứu rỗi của chúng ta. Càng ngày chúng ta càng khám phá ra rằng Đấng Christ là những điều và những vấn đề thuộc Đức Chúa Trời.

Nếu chúng ta sai lầm cho rằng những gì Chúa Jesus ban cho thì khác với chính Chúa Jesus, ân điển và Đấng ban ân điển tách rời với nhau, sự lầm lẫn ấy sẽ gây cho chúng ta tổn hại nghiêm trọng về mặt thuộc linh. Điều đó sẽ cắt lìa chúng ta khỏi nguồn sự sống. Vì vậy, chúng ta cần xem xét thêm về việc Đấng Christ là những điều và những vấn đề của chúng ta. Trong Giăng 6:35 và 8:12, Chúa nói với chúng ta rằng Ngài là bánh sự sống và ánh sáng sự sống. Trước hết, chúng ta hãy xét xem làm thế nào Ngài là bánh sự sống.

ĐẤNG CHRIST LÀ BÁNH SỰ SỐNG

Chúa Jesus phán: “Ta là bánh sự sống”. Ngài phán điều đó cho những người tìm kiếm Ngài tại Ca-bê-na-um. Họ trông đợi Chúa ban cho mình thức ăn, và Chúa nói với họ: “Ta là bánh sự sống”. Điều này có nghĩa là Ngài không những là Đấng ban bánh sự sống mà còn là chính bánh sự sống. Đấng ban món quà và món quà là một, chứ không phải là hai. Cảm ơn Đức Chúa Trời, Đấng Christ không những là Đấng ban món quà, mà còn là món quà của Đức Chúa Trời.

Bánh trong Kinh Thánh có tầm quan trọng thế nào? Trong Kinh Thánh, bánh có nghĩa là sự thỏa lòng. Kinh Thánh dùng “sự đói” để bày tỏ sự không thỏa mãn. Để giải quyết sự không thỏa mãn của mình, con người phải có bánh. Con cái của Đức Chúa Trời có sức lực để tiến lên hay không tùy thuộc vào việc họ có được thỏa lòng ở bên trong không. Ngày nay, nếu cảm thấy thỏa lòng ở bên trong thì chúng ta có sức lực. Nếu chúng ta cảm thấy trống rỗng như một bánh xe bị xẹp thì không ai có thể lôi kéo chúng ta cả. Chúng ta không thể nói là mình không có sự sống, nhưng có thể nói là mình không có sức lực. Sự thỏa lòng ban cho chúng ta sức lực. Sự thỏa lòng ban cho chúng ta khả năng bước đi. Một sự thỏa lòng khôn tả như vậy làm cho chúng ta cảm thấy dễ chịu.

Chúng ta hãy xét xem bánh của con cái Đức Chúa Trời là gì. Chúa Jesus phán: “Ta là bánh sự sống”. Chúa Jesus ban cho sự sống, và Ngài cũng duy trì sự sống. Nhiều Cơ Đốc nhân nghĩ rằng bánh chỉ là một giờ cầu nguyện hay một giờ đọc Kinh Thánh; họ không nhận thức được bánh là chính Chúa Jesus. Chúng tôi không có ý nói cầu nguyện và đọc Kinh Thánh là vô dụng, nhưng chúng ta nên ghi nhớ Chúa Jesus phán rằng: “Ta là bánh sự sống”. Điều này có nghĩa bánh sự sống chỉ là chính Ngài. Nhiều khi con cái Đức Chúa Trời không thỏa lòng vì họ không nhận thức được Đấng Christ là bánh sự sống. Chúng ta thường gặp những người đói, tức những người không được thỏa mãn bằng những điều thuộc linh. Họ không thỏa mãn với điều này, và họ không thỏa mãn với điều kia. Hằng ngày họ bị bao vây bởi tình trạng không thỏa mãn. Chúng tôi không khuyến khích người ta trở nên kiêu ngạo và tự mãn. Sự kiêu ngạo và tự mãn là một chuyện, nhưng ăn no đủ và được thỏa lòng là một chuyện khác. Vài người đã được Đức Chúa Trời xử lý, họ sống trước mặt Đức Chúa Trời một cách kính sợ, và ở trong sự yếu đuối, run rẩy. Họ không kiêu ngạo, nhưng họ đã chạm đến Chúa và được ăn no đủ. Họ được thỏa lòng trước mặt Đức Chúa Trời, và sự thỏa lòng ấy là quyền năng của họ.

Thế thì làm thế nào chúng ta có thể được no đủ? Làm thế nào chúng ta có thể được thỏa lòng? Chúng ta cần nhận biết rằng mọi sự thỏa lòng đều liên quan đến Đấng Christ và mọi sự thỏa lòng đều ở trong sự sống. Đấng Christ là bánh sự sống. Mỗi khi chạm đến sự sống một cách thật sự, lập tức chúng ta được thỏa lòng. Mỗi khi xúc phạm sự sống, lập tức chúng ta cảm thấy bị suy sụp ở bên trong. Chúng ta cần bàn đến vài ví dụ cụ thể để nhận thấy làm thế nào con người có thể được thỏa lòng.

Vài anh em nói: “Hơn một năm nay, tôi bận rộn làm việc, chạy đây đó. Tôi quá bận rộn đến nỗi toàn thể con người của tôi bị kiệt quệ. Tôi đói quá, và hi vọng đến nơi nào đó để được bồi linh”. Nhưng khi đọc Giăng chương 4, chúng ta nhận thấy có điều gì sai trật trong những lời ấy. Chúa Jesus Christ mệt mỏi vì cuộc hành trình của Ngài và ngồi bên giếng nước của Gia-cốp. Các môn đồ đã vào làng để mua thức ăn, điều này cho thấy Chúa đang đói. Tại giếng nước, Ngài gặp người đàn bà Sa-ma-ri. Đức Chúa Trời muốn Chúa nói chuyện với bà và cứu bà, vì vậy, Chúa đã làm điều đó. Nhưng khi các môn đồ trở lại đem thức ăn họ đã mua về, và mời Chúa ăn, Ngài đáp: “Ta có thức ăn để ăn mà các ngươi không biết” (c. 32). Các môn đồ tưởng có người nào đó đã cho Ngài ăn rồi. Vì vậy, trong những câu tiếp theo, Chúa nói với các môn đồ rằng: “Thức ăn của Ta là làm theo ý chỉ của Đấng đã sai Ta, và làm xong công việc Ngài” (c. 34).

Từ điểm này, chúng ta nhận thấy rằng công việc chỉ nên làm cho chúng ta no đủ, chứ không nên làm cho chúng ta đói. Công tác thuộc linh nên làm cho chúng ta no đủ mỗi khi chúng ta tham gia vào đó. Nếu mỗi khi công tác chúng ta cảm thấy đói, thì phải có điều gì sai trật. Nếu chúng ta cảm thấy yếu đuối hoặc nản lòng sau khi công tác, hay nếu chúng ta cảm thấy mình đang suy sụp, thì điều đó cho thấy có điều gì sai trật trong công việc của chúng ta. Nếu công việc của chúng ta không tách rời khỏi ý muốn của Đức Chúa Trời, và nếu công việc của chúng ta không theo chính mình, mỗi khi công tác chúng ta sẽ không suy sụp, nhưng chúng ta sẽ gia tăng sức lực. Nhiều khi chưa chuẩn bị đầy đủ trước mặt Chúa, mà chúng ta lại bắt tay vào công tác vì có nhu cầu lớn lao từ bên ngoài hay vì những người khác thúc giục. Khi chúng ta công tác trong những tình huống như vậy, thì điều gì đó bên trong chúng ta sẽ suy sụp, và chúng ta sẽ không có đủ sức lực. Sau khi chúng ta hoàn thành một công việc như vậy thì không còn sức lực bên trong mình nữa, vì điều gì đó đã sai trật giữa chúng ta và Chúa. Càng tham gia vào công việc nào ở bên ngoài ý muốn của Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ càng đói. Để được thỏa lòng, chúng ta phải theo sát ý muốn của Đức Chúa Trời.

Chúng ta phải nhận thức Đấng Christ là bánh của mình; bánh của chúng ta không phải là những buổi nhóm bồi linh hay những giáo lý Kinh Thánh. Chúng ta không công tác cho đến khi trở nên trống rỗng, rồi đi xa để nghỉ ngơi; đó không phải là bánh của chúng ta. Đấng Christ là bánh của chúng ta. Chúng ta không rao giảng cho đến khi cạn kiệt mọi lời giảng dạy, rồi đi tìm vài giáo lý mới; đó không phải là bánh của chúng ta. Bánh của chúng ta là Đấng Christ. Nếu chúng ta có lời và sức lực ở bên trong, dầu có bận rộn hay không, mỗi khi chúng ta đứng lên nói cho Đấng Christ, không những người nghe được đổ đầy, mà chúng ta cũng sẽ được đầy dẫy nữa. Đó là kết quả của việc Chúa hành động trong chúng ta và trong cuộc sống của mình. Đó là lý do tại sao chúng ta chạm đến Chúa. Cuối cùng, sau khi hoàn thành, chúng ta sẽ không cảm thấy trống rỗng chút nào cả. Thay vào đó, chúng ta sẽ cảm thấy mình vừa dự một bữa ăn thịnh soạn và được no đủ. Thật sai lầm nếu chúng ta nghĩ rằng sự thỏa lòng tùy thuộc vào sự nghỉ ngơi, nghe những bài giảng hay tham dự các buổi bồi linh. Thức ăn đến với chúng ta khi chúng ta để Chúa làm những gì Ngài muốn làm bên trong mình. Chúa ở bên trong chúng ta. Hãy chạm đến sự sống của Ngài rồi chúng ta sẽ được thỏa lòng.

Trong những vấn đề thuộc linh, một người không được nuôi dưỡng khi thoải mái, mà được nuôi dưỡng khi người ấy bận rộn. Trong khi bận rộn, chúng ta được nuôi dưỡng. Trong những vấn đề thuộc linh, khi chúng ta bước đi theo ý muốn của Chúa, càng bận rộn thì chúng ta sẽ càng được ăn uống. Chúng ta sẽ không bị suy sụp bởi chương trình làm việc bận rộn của mình, và sẽ không trở nên trống rỗng bởi những hoạt động ấy. Tôi tin nhiều anh chị em có thể làm chứng về điều này. Giả sử, hôm nay anh em nói chuyện với một người, nhưng Đức Chúa Trời không chuyển động theo hướng ấy; Ngài chưa phán trong anh em. Mặc dầu anh em có thể nói một cách nhiệt thành, sau năm mười phút nói chuyện như vậy, anh em sẽ cảm thấy điều gì đó sai trật ở bên trong. Có thể anh em cố chuyển hướng cuộc đối thoại vì cảm thấy mình không thể tiếp tục được. Cuối cùng, khi ra về, anh em sẽ cảm thấy trống rỗng ở bên trong. Những lời nói của anh em không có gì sai trật cả; lời nói thật đúng đắn, thái độ cũng đúng đắn, và anh em hết sức cố gắng giúp đỡ người ấy. Nhưng điều kỳ lạ là càng nói thì anh em càng trống rỗng, và càng cảm thấy điều gì đó suy sụp ở bên trong. Khi ra về, anh em cảm thấy như thể mình vừa phạm một tội lớn. Đôi khi anh em có thể nhìn thấy vài kết quả bên ngoài và cảm thấy như mình vừa thực hiện xong một công tác tốt. Nhưng khi những cảm giác ấy qua đi, anh em chỉ cảm thấy trống rỗng và đói ở bên trong. Mỗi khi tự mình làm điều gì đó, dầu bên ngoài anh em có thành công thế nào đi nữa, bên trong anh em vẫn cảm thấy nản lòng. Anh chị em ơi, anh chị em từng có loại cảm giác nản lòng này chưa? Nếu công việc của anh em không được thực hiện trước mặt Chúa, và nếu không kính sợ bước theo Chúa mà tự mình bước đi, dầu có động cơ và ý định tốt nhất đi nữa, anh em sẽ vẫn cảm thấy nản lòng và cạn kiệt mọi sức mạnh thuộc linh. Anh em sẽ cảm thấy như thể càng công tác thì những điều ấy càng trở nên vô nghĩa và càng cảm thấy trống rỗng. Trong những tình trạng như vậy, những người khác càng nói về sự thành công của anh em, anh em sẽ cảm thấy tệ hơn ở bên trong. Những người khác càng khen anh em và nói đến sự giúp đỡ họ đã nhận được từ anh em, anh em sẽ càng ghét chính mình. Điều này cho thấy công tác của anh em không phải là một loại bánh, vì nó không làm cho anh em thỏa lòng. Anh chị em ơi, những người biết đến bánh là những người tìm thấy sự thỏa lòng trong Chúa. Chỉ Đấng Christ mới là bánh sự sống; chỉ Đấng Christ mới có thể làm cho anh em thỏa lòng. Nếu một công việc không đưa anh em đến tiếp xúc với Chúa thì anh em sẽ cảm thấy đói khi thực hiện bất cứ công việc nào. Nếu anh em chạm đến Chúa, nếu anh em chạm đến sự sống, và nếu anh em chạm đến thực tại thuộc linh, thì dầu có bận rộn hay không, anh em vẫn có thể nói: “Cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Trời. Con có bánh. Chúa là bánh của con”. Anh chị em đã nhìn thấy điều này chưa? Đây hoàn toàn không phải là điều gì ở bên ngoài. Vấn đề không phải là anh em đã đến đâu, đã làm gì, đã giảng bài gì, hay đã dành bao nhiêu thời giờ trong sự thờ phượng thuộc linh. Vấn đề là anh em đã chạm đến Chúa ở bên trong hay chưa. Bất cứ ai chạm đến Chúa đều được thỏa lòng.

Vài anh chị em có thể nói: “Tôi nên làm gì? Chúa chưa kêu gọi chúng tôi rao giảng hay công tác ở bất cứ nơi nào. Những người rao giảng và công tác đều có cơ hội để được nuôi dưỡng. Nhưng chúng tôi không phải là những người truyền giảng và công nhân chuyên nghiệp của hội thánh. Chúng tôi phải chịu đói sao?” Anh chị em ơi, cảm tạ Đức Chúa Trời, chúng ta không cần phải chịu đói. Chúng ta có thể làm những điều nhỏ nhặt nhất; chúng ta có thể nói chỉ mười hay hai mươi câu với những người khác. Nhưng hễ đó là điều ra từ Chúa, và hễ chúng ta làm những việc ấy theo sự hành động của Chúa bên trong mình, chúng ta sẽ cảm thấy nhẹ nhõm và thỏa lòng sau khi thực hiện xong việc ấy. Chúa là Đấng ban cho chúng ta gánh nặng, và một khi chúng ta giải tỏa gánh nặng, chúng ta sẽ được thỏa lòng và nuôi dưỡng. Vì vậy, các anh chị em ơi, những công nhân hội thánh không chiếm độc quyền ăn uống; mỗi người đều có cơ hội để ăn. Hằng ngày chúng ta đều có cơ hội để ăn, và mỗi ngày chúng ta cũng có cơ hội để được thỏa lòng. Đấng Christ là bánh của chúng ta. Khi chạm đến Ngài, chúng ta có bánh.

Tôi xin đề cập đến một ví dụ sâu xa hơn. Chúng ta thường nghĩ rằng điều gì đó là tốt đẹp hay thuộc linh, nhưng điều đó không phải là ý muốn của Chúa. Khi thực hiện điều đó, chúng ta cảm thấy trống rỗng bên trong. Chúng ta chỉ có thể được thỏa lòng khi bước theo Chúa. Lần kia, một anh em nhận thấy người anh em khác đang bước đi theo con đường sai lầm. Đã hơn một lần anh cảm thấy cần phải vạch rõ cho anh em ấy thấy rằng con đường anh ấy đang bước đi không phải là con đường xây dựng, mà là một con đường hư hoại. Tuy nhiên, anh muốn làm một Cơ Đốc nhân hòa nhã. Anh nghĩ cách tốt nhất là mỉm cười và nói một vài lời dễ nghe để thuyết phục anh em ấy. Nhưng mỗi lần nói theo cách ấy, anh đều cảm thấy mình giống như một cái ly thủng đáy tất cả đều chảy đi mất. Theo cái nhìn của con người, anh đã làm khá tốt; anh thật hòa nhã, và không muốn làm tổn thương ai cả. Theo cái nhìn của con người, anh đã thành công. Nhưng anh cảm thấy đói và không thỏa mãn. Sau hai ba tháng, anh cảm thấy mình sai trật và đến với Chúa cầu xin ánh sáng. Anh xin Chúa chỉ ra chỗ mình đã sai lầm. Một ngày kia, anh nói với Chúa: “Chúa ơi, con sẽ làm bất cứ điều gì Ngài muốn con làm”. Chúa nghe lời cầu nguyện của anh và cho anh thấy cần phải làm gì. Sau đó, anh em kia lại đến, và anh khiển trách anh ấy một cách nghiêm khắc. Theo bản chất của anh, mỗi khi thốt ra một lời khắc nghiệt với người khác, anh sẽ rất đau khổ đến vài ngày. Nhưng điều kỳ lạ là lần này càng nói một cách nghiêm khắc, anh càng cảm thấy mình chạm đến Chúa. Anh cũng không cần phải xưng tội, tức điều anh luôn luôn làm sau khi khiển trách người khác. Thay vào đó, anh có thể ngợi khen Chúa. Sau khi khiển trách anh em kia, anh cảm thấy như thể mình vừa ăn xong một bữa thịnh soạn. Điều này không có nghĩa là chúng ta có thể khiển trách những người khác tùy thích. Khiển trách một người nào đó theo ý muốn của chúng ta là điều sai trật. Tuy nhiên, điều ấy có nghĩa là khi chúng ta làm bất cứ điều gì phù hợp với ý muốn Chúa, chúng ta được nuôi dưỡng ở bên trong, và trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Điều này cho chúng ta thấy một sự thật: điều lành tự chúng ta thực hiện không phải là thức ăn của mình. Có thể chúng ta nghĩ rằng hễ mình có thể hòa nhã thì mọi sự đều sẽ tốt đẹp. Nhưng kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng dầu chúng ta cư xử một cách hòa nhã, đó chỉ là con người bề ngoài của mình thực hiện điều ấy. Đó là một sự biểu diễn bởi con người bề ngoài, và điều ấy không thể trở nên thức ăn của chúng ta. Chỉ khi Chúa chuyển động trong chúng ta, và chúng ta chuyển động theo ý muốn của Ngài, chúng ta mới có thể nhận được thức ăn. Mỗi khi chạm đến sự sống, chúng ta có thức ăn, và mỗi khi chạm đến Chúa, chúng ta có sự thỏa lòng.

ĐẤNG CHRIST LÀ ÁNH SÁNG SỰ SỐNG

Chúa không những phán Ngài là bánh sự sống, mà còn phán Ngài là ánh sáng sự sống. Thức ăn là để thỏa lòng, trong khi ánh sáng là để nhìn thấy. Khi được thỏa lòng, một người có sức lực, và khi nhìn thấy, một người có thể bước đi. Chúng ta đã nhìn thấy thế nào Đấng Christ là bánh sự sống. Bây giờ chúng ta hãy xét xem thế nào Đấng Christ là ánh sáng sự sống.

Trước hết, chúng ta phải nêu rõ rằng ánh sáng sự sống không phải là kiến thức Kinh Thánh. Ai cũng biết rằng là Cơ Đốc nhân, chúng ta nên đọc Kinh Thánh một cách đúng đắn. Nhưng nếu đọc Kinh Thánh như một quyển sách về kiến thức, một quyển sách giáo khoa về thần học, chúng ta sẽ chỉ nhận được kiến thức suông. Nếu đọc Kinh Thánh như vậy, chúng ta có thể nhận được vài giáo lý Kinh Thánh, là điều thật sự đúng với Kinh Thánh. Tuy nhiên, đó chỉ là chữ nghĩa suông. Lúc Chúa được sinh ra tại Bết-lê-hem, nhiều thầy tế lễ và thầy thông giáo có thể thuộc làu các sách tiên tri, nhưng họ lại không biết Đấng Christ. Ngày nay, tuy chúng ta có hơn họ một quyển sách, tức Tân Ước, nhưng vẫn có thể người ta chỉ biết chữ nghĩa của Kinh Thánh mà không biết đến Đấng Christ. Chúng tôi không nói rằng không nên đọc Kinh Thánh. Nhưng chúng ta cần nhận thức rằng khi đọc Kinh Thánh, có thể chúng ta sẽ chỉ nhận được kiến thức suông thay vì nhận biết Đấng Christ. Nhiều thầy tế lễ và thầy thông giáo chỉ có kiến thức chết; họ không biết Chúa sống động. Nhiều người nghĩ rằng ánh sáng sự sống chỉ là kiến thức, các giáo lý, thần học hay giáo điều. Vài người nói rằng họ đã nhận được ánh sáng nào đó, nhưng ánh sáng họ nói đến không nhất thiết là ánh sáng sự sống. Ánh sáng họ nói đến có thể chỉ là những sự diễn giải các câu Kinh Thánh hay sự dạy dỗ nào đó. Cùng lắm là họ có thể trao cho những người khác thêm một ít kiến thức Kinh Thánh. Ánh sáng sự sống không phải là kiến thức hay bất cứ điều gì khác hơn là chính Chúa. Chúa phán chính Ngài là ánh sáng sự sống. Ánh sáng sự sống là chính Chúa.

Anh chị em ơi, nhiều người có thể nói với chúng ta từ kinh nghiệm bản thân rằng những gì họ nhìn thấy trong ánh sáng sự sống thường khó diễn đạt. Thật thú vị, những người nhìn thấy thì nhìn thấy, nhưng họ không thể bày tỏ những gì họ đã thật sự nhìn thấy. Lần kia, một người nói chuyện với một chị em để tìm hiểu chị đã được cứu chưa. Người ấy hỏi chị một vài câu hỏi. Chị đáp: “Khi mới được cứu, tôi không biết đó là gì, nhưng tôi biết mình đã được cứu. Nếu anh tin tôi được cứu, thì tôi được cứu, và nếu anh không tin tôi được cứu, tôi vẫn được cứu”. Điều chị nói thật đúng. Chị thật sự đã được cứu, nhưng lại không thể giải thích được thế nào mình đã được cứu. Chị biết điều ấy, nhưng không thể giải thích điều ấy. Vì vậy, khi ánh sáng đến, có thể chúng ta không có khả năng nói cho những người khác biết nhiều giáo lý; có lẽ hai ba năm sau chúng ta mới có thể trình bày vài giáo lý hay sự dạy dỗ. Ánh sáng này là chính Chúa. Khi nhìn thấy Chúa, chúng ta nhìn thấy ánh sáng.

Thế thì, nhìn thấy ánh sáng hay không thì khác biệt như thế nào đối với chúng ta? Nếu chúng ta nhìn thấy ánh sáng thì sẽ có sự thay đổi thế nào? Sự khác biệt ấy rất lớn lao. Nếu thật sự nhìn thấy ánh sáng, chúng ta sẽ ngã xuống đất. Ánh sáng không những chiếu sáng chúng ta mà còn giết chết chúng ta. Trước khi Phao-lô nhận được sự soi sáng, không dễ gì mà hạ ông xuống đất được. Nhưng một khi nhận được sự soi sáng, ông ngã xuống. Một vài người luôn luôn muốn trở nên khiêm nhường. Họ cố gắng hết sức để trở nên khiêm nhường; họ làm ra vẻ khiêm nhường trong cách nói chuyện và hành động. Nhưng loại khiêm nhường này rất mệt nhọc; thậm chí những người khác còn cảm thấy mệt nhọc cho họ. Điều này cũng như một đứa nhỏ nâng một quyển tự điển to lớn; có lẽ quyển tự điển không nặng lắm, nhưng vác quyển sách ấy đối với nó thật mệt nhọc. Một người kiêu ngạo không dễ gì trở nên khiêm nhường. Chúng ta không dễ gì ngã xuống từ ngai kiêu ngạo. Nhưng một khi ánh sáng của Chúa chiếu trên chúng ta, lập tức chúng ta sẽ ngã xuống. Chúng ta không thể giải thích điều này, nhưng hễ ánh sáng chiếu rọi thì chúng ta sẽ ngã xuống.

Những sự dạy dỗ không thể làm cho một người ngã xuống. Một người có thể nghe tám hay mười lời dạy dỗ, và thậm chí có khả năng lặp lại những điều ấy một cách rõ ràng và hợp lý, nhưng người đó vẫn như cũ. Một bài giảng lẽ ra phải làm cho một người phải khóc, hay chạm đến cuộc sống xác thịt của ai đó và làm cho người kia phải quì xuống, lại có thể bị chuyển thành một đề tài nghiên cứu, và một người nào đó có thể nghĩ rằng mình đã nhận được điều gì thuộc linh rồi. Khi giáo lý trở nên một điều gì, sự dạy dỗ trở nên một điều gì, và những lời trở nên một điều gì, thì kết quả sẽ là sự chết; đó không phải là ánh sáng. Một anh em kia rất vui mừng sau khi nghe những sự dạy dỗ trong La Mã chương 6 đến nỗi anh nghĩ rằng mình đã nhìn thấy La Mã chương 6. Nhưng một vài ngày sau, anh và vợ bị cuốn vào một cuộc tranh cãi lớn. La Mã chương 6 mà anh nhìn thấy chỉ là một điều, là chữ nghĩa trong một quyển sách, không phải là ánh sáng. Nếu điều anh nhìn thấy là ánh sáng, anh đã không như cũ. Anh đã ngã xuống trong ánh sáng. Ánh sáng xuyên thấu, và có thể làm những gì một người không thể làm. Sự dạy dỗ sẽ không làm được điều đó, các anh chị em không thể giúp đỡ, và nỗ lực riêng của chúng ta cũng không hoàn thành được điều đó. Nhưng ngay giây phút ánh sáng chiếu soi, mọi sự đều được giải quyết. Chúng ta có thể nói là mình rất bướng bỉnh, nhưng một khi ánh sáng chiếu soi, chúng ta sẽ trở nên mềm mại. Khi Giăng nhìn thấy ánh sáng, ông trở nên như chết (Khải. 1:16-17). Khi Đa-ni-ên nhìn thấy ánh sáng, ông ngã xuống đất như chết (Đa. 10:5-9). Không ai có thể nhìn thấy mặt Chúa mà không ngã xuống, và không ai có thể nhìn thấy Chúa mà không trở nên như chết. Thật khó mà tự làm cho mình chết hay trở nên khiêm nhường. Nhưng một khi ánh sáng chiếu soi, mọi sự đều sẽ đến sau đó. Ánh sáng của Chúa giết chết. Khi một người nhận được ánh sáng của Chúa, người ấy sẽ ngã xuống.

Chính Chúa Jesus là ánh sáng. Thế nên, khi gặp Chúa, một người có thể nhìn thấy. Khi gặp Chúa, một người ngã xuống và trở nên yếu đuối như thể đã chết. Đối với nhiều người, cá tính cũ kỹ của họ thật bướng bỉnh và chưa từng bị phá vỡ. Những người khác cố gắng đối phó với cá tính của họ thật vô ích. Ngay cả họ cố gắng đối phó với cá tính của mình cũng vô ích. Tuy nhiên, một khi ánh sáng của Chúa chiếu soi trên họ, họ thấy được và trở nên những người bị phá vỡ. Mỗi khi nhìn thấy Chúa, một người trở nên yếu đuối. Mỗi khi nhìn thấy Chúa, một người bị phá vỡ và không thể sống sót. Đó là ý nghĩa của sự sáng. Anh chị em ơi, chúng ta đừng bao giờ thay thế ánh sáng bằng bất cứ điều gì khác. Điều chúng ta thường nói là ánh sáng không nhất thiết là chính ánh sáng. Hầu hết chỉ là các sự dạy dỗ và những điều được mệnh danh là lẽ thật. Chúng không có giá trị thuộc linh nào đối với chúng ta. Ngày kia, một anh em rất yêu mến Chúa gặp một người nói với anh rằng: “Tôi rất vui mừng vì đã tìm thấy giáo lý về tội trong sách La Mã”. Khi nghe điều ấy, anh nói: “Bạn ơi, bạn chỉ mới tìm thấy giáo lý về tội trong sách La Mã ngày hôm nay sao? Tôi nghĩ lẽ ra anh phải nhận thấy thực tại về tội trong chính mình từ lâu rồi”. Nhiều người tìm kiếm những giáo lý, nhưng chưa tìm ra thực tại. Giáo lý chỉ là những từ ngữ suông, và chúng thật chết chóc. Chúng không phải là ánh sáng, không phải là sự sống, và không  phải  là Đấng Christ.

Khi ánh sáng đến, điều đầu tiên ánh sáng thực hiện là giết chết. Chúng ta không nên nghĩ rằng ánh sáng chỉ ban cho chúng ta thị lực. Ngược lại, khi ánh sáng đến, điều đầu tiên ánh sáng thực hiện là lấy đi thị lực của chúng ta. Ánh sáng làm cho chúng ta nhìn thấy, nhưng đó là một kết quả theo sau. Trước hết, ánh sáng làm cho chúng ta đui mù và ngã xuống; về sau chúng ta mới nhìn thấy. Bất cứ điều gì không thể làm cho chúng ta ngã xuống đất thì không phải là ánh sáng. Bất cứ điều gì không thể làm cho chúng ta khiêm nhường thì không phải là ánh sáng. Phao-lô nhìn thấy ánh sáng và ngã xuống đất, và mắt của ông không thể thấy gì cả trong ba ngày (Công. 9:8-9). Khi mới đối diện với ánh sáng, chúng ta trở nên bối rối. Lần đầu tiên một người ở trong sự tối tăm nhìn thấy ánh sáng, người ấy không thể phân biệt gì cả; đối với người ấy, mọi sự có vẻ như rối loạn. Người nào quả quyết và nghĩ rằng mình biết mọi sự đều cần sự thương xót của Đức Chúa Trời, vì một người như vậy chưa từng thấy ánh sáng. Điều duy nhất người ấy biết chỉ là những giáo lý và kiến thức. Một khi nhìn thấy ánh sáng thật, anh sẽ nói: “Chúa ơi, con biết những gì? Con không biết gì cả”. Khải thị càng lớn lao, một người càng bị đui mù, và “cú đấm” người ấy phải chịu càng khốc liệt hơn. Ánh sáng làm cho một người khiêm nhường, làm cho một người ngã xuống. Chỉ nhờ vậy một người mới nhìn thấy. Nếu chúng ta chưa từng chịu một “cú đấm” nào và chưa từng bị hạ xuống, và nếu chúng ta chưa từng bị bối rối và chưa từng cảm thấy là mình không biết gì cả, ấy là chúng ta chưa bao giờ đối diện với ánh sáng, và vẫn còn ở trong sự tối tăm. Nguyện Chúa thương xót chúng ta để ánh sáng Ngài có thể cất đi tính quả quyết của chúng ta, và để chúng ta sẽ không còn tự tin là mình đúng đắn, không sai lầm và hiểu biết rất nhiều. Nguyện chúng ta nói trước mặt Chúa: “Chúa ơi, Ngài là ánh sáng. Bây giờ, con mới biết những gì trước kia con nhìn thấy không là gì cả mà chỉ là những điều này điều kia”.

Ánh sáng không phải là điều gì trừu tượng, mà rất cụ thể. Chúa Jesus là ánh sáng. Khi ở giữa chúng ta, Chúa Jesus là ánh sáng giữa vòng chúng ta, là chính ánh sáng bước đi ở giữa chúng ta. Thật đáng tiếc đối với một vài Cơ Đốc nhân, rất nhiều điều còn trừu tượng. Họ nghe giáo lý này và giáo lý kia, nhưng mọi sự đều trừu tượng đối với họ. Họ chỉ biết đến một vài giáo lý trừu tượng, nhưng chưa nhận được sự giúp đỡ thực tiễn nào cả.

Một anh em kia khi còn trẻ đã học tại một ngôi trường thuộc giáo khu. Nhiều lần, anh đến nhà thờ và nghe dạy dỗ về sự cứu rỗi. Nhưng anh chưa từng gặp người nào được cứu, mà chính anh cũng chưa được cứu. Ngày kia, anh gặp một người rao giảng Phúc âm. Khi nghe Phúc âm người ấy rao giảng, anh được cứu. Trước đó anh chưa được cứu vì anh chỉ nghe những giáo lý trừu tượng. Ngày hôm ấy, anh gặp một người thật sự được cứu; anh gặp được một điều cụ thể, và đã được cứu.

Có lần kia, một anh em kể lại kinh nghiệm của mình trong việc nghiên cứu Kinh Thánh. Anh nói: “Tôi từng nghe nhiều anh chị em nói về sự thánh hóa, và tôi bắt đầu nghiên cứu về sự thánh hóa. Tôi tìm thấy hơn hai trăm câu về sự thánh khiết trong Tân Ước. Tôi học thuộc tất cả những câu ấy và sắp xếp chúng theo một thứ tự thích hợp. Nhưng tôi vẫn không biết sự thánh hóa là gì; điều ấy vô nghĩa đối với tôi. Rồi một ngày kia, tôi gặp một chị em cao tuổi, thật sự là một người đã được thánh hóa. Ngày ấy, mắt tôi mở ra, và nhìn thấy sự thánh hóa là gì. Tôi gặp một người là sự thánh hóa. Ánh sáng quá chói lòa đến nỗi nó làm cho tôi đau đớn; khi ánh sáng đến, tôi không có cách nào trốn thoát cả. Ánh sáng cho tôi thấy ý nghĩa của sự thánh hóa”.

Từ những kinh nghiệm ấy, chúng ta có thể nhận thấy ánh sáng là điều gì cụ thể, sống động và hiệu nghiệm. Nếu anh em chỉ truyền đạt giáo lý cho những người khác, kết quả sẽ là những giáo lý suông trong họ. Điều đó thật chết chóc, và không phải là ánh sáng sự sống. Ánh sáng sự sống sẽ chiếu soi trên cuộc sống của họ, và sẽ chiếu ra từ họ. Chúng ta phải ghi nhớ rằng đối với Chúa Jesus, ánh sáng là điều gì cụ thể. Đối với chúng ta, đó cũng là điều gì cụ thể. Ánh sáng ấy là một thân vị sống động. Khi ánh sáng ấy xuất hiện, đó cũng là điều gì sống động bên trong chúng ta nữa.

Anh chị em ơi, tại sao trong những ngày này dường như Lời Đức Chúa Trời mất đi quyền năng? Tại sao Lời Đức Chúa Trời có vẻ yếu ớt và trừu tượng vậy? Lý do duy nhất là vì có quá nhiều giáo lý! Có quá nhiều “lẽ thật” và quá nhiều kiến thức về thần học! Chúng ta phải nhận thức rằng chỉ Chúa sống động mới có thể tạo ra những con người sống động. Khi những ngày tháng trôi qua, nguyện Chúa thật sự thương xót chúng ta để bày tỏ cho chúng ta thấy rằng mọi sự đều chết chóc và chỉ Chúa mới sống động. Trong Cơ Đốc giáo, những điều có vẻ tốt đẹp nhất, những điều nghe như ngọt dịu nhất, và những điều người ta xem là thuộc linh nhất đều thật chết chóc nếu chúng ở ngoài Đấng Christ. Chính Chúa cần phải là mọi sự trong chúng ta. Chính Ngài là mọi sự. Chỉ Ngài mới sống động. Ngài đang sống trong chúng ta, và khi Ngài được truyền sang những người khác, Ngài cũng sẽ sống động trong họ nữa. Nguyện Chúa thương xót chúng ta để chúng ta sẽ sấp mình xuống trước mặt Ngài. Khi làm như vậy, chúng ta sẽ biết Chúa một cách khác hẳn so với cách chúng ta biết Ngài trước kia.