Thông tin sách

Huyền Nhiệm Của Đấng Christ

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Mystery of Christ
ISBN: 1-57593-954-1
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 9

Untitled Document

CHƯƠNG CHÍN

NGUYÊN TẮC CỦA THÂN THỂ

Kinh Thánh: Công. 6:6; 8:4-5, 12, 14-17; 9:3-6, 10-12, 17; 19:6; Gia. 5:14-16; Mat. 18:15-16, 19-20; 1 Ti. 4:14; 5:22; 2 Ti.1:6

SỰ ĐẶT TAY CỦA CÁC SỨ ĐỒ

Trong Công vụ các Sứ đồ chương 8, có một ví dụ cho chúng ta thấy nguyên tắc của Thân Thể. Khi ấy, hội thánh tại Giê-ru-sa-lem chịu sự bắt bớ lớn, và ngoại trừ các sứ đồ, tất cả các môn đồ đều phân tán. Phi-líp không phải là một sứ đồ; ông chỉ trông nom việc phân phát thức ăn. Nhưng vì có sự sống, ông đi xuống vùng Sa-ma-ri giảng phúc âm. Nhiều người tin và được báp-têm, và “thành phố ấy có sự vui mừng lớn” (c. 8). Nhưng giữa những người được cứu ấy và các tín đồ tại Giê-ru-sa-lem có một sự khác biệt. Những người được cứu ấy chưa có Linh đến trên họ. Vì vậy, các sứ đồ sai Phi-e-rơ và Giăng đến với tư cách là những người đại diện để bổ túc chỗ thiếu sót. Họ đặt tay trên những người mới được cứu, và những người mới được cứu ấy nhận được Thánh Linh.

Tầm quan trọng của việc đặt tay là gì? Theo Phục Truyền Luật Lệ Ký, khi một người dâng sinh tế, người dâng phải đặt tay mình lên của lễ. Điều này có nghĩa sự đặt tay là dấu hiệu của sự đồng nhất. Nhiều chỗ trong Tân Ước nói đến việc đặt tay. 1 Ti-mô-thê 5:22 nói: “Đừng vội vàng đặt tay trên ai”, như Phao-lô giải thích, vì sợ rằng chúng ta “tham dự vào tội lỗi người khác”. Một lần nữa điều này cho thấy rằng sự đặt tay chỉ về sự đồng nhất. Chúng ta phải cẩn thận kẻo chúng ta “thông đồng với tội lỗi người khác”. Trong Cựu Ước, khi các vị vua hay thầy tế lễ được bổ nhiệm, thì vừa có sự đặt tay vừa có sự xức dầu trên đầu. Vậy, có hai ý nghĩa chính về sự đặt tay: Hành động ấy đặt các tín đồ ở dưới sự xức dầu của Đầu, và đem các tín đồ vào trong sự tương giao của Thân Thể.

Các sứ đồ là những người đại diện cho Đức Chúa Trời. Họ cũng là các chi thể đại diện trong Thân Thể Đấng Christ. Khi Phi-e-rơ và Giăng đặt tay trên các tín đồ tại Sa-ma-ri thì hành động ấy của họ đem những người họ đặt tay đến dưới uy quyền của Đầu và đem họ vào sự tương giao của Thân Thể. Điều này có nghĩa là họ được công nhận là một phần của Thân Thể. Một khi họ được mang vào Thân Thể và đến dưới Đấng xức dầu, lập tức Thánh Linh đổ trên họ. Nếu những người được cứu tại Sa-ma-ri đã nhận được Thánh Linh trước khi các sứ đồ đến, Phi-líp đã có thể khoe khoang rằng Phi-e-rơ và Giăng có công tác của họ tại Giê-ru-sa-lem trong khi ông có công tác của mình tại Sa-ma-ri. Nếu như vậy thì những người được cứu tại Sa-ma-ri đã tách rời khỏi những người được cứu tại Giê-ru-sa-lem. Nếu vài người tuyên bố Phi-e-rơ thuộc về Giê-ru-sa-lem và những người khác tuyên bố Phi-líp thuộc về Sa-ma-ri, thì nguyên tắc của Thân Thể đã bị phá vỡ. Các sự kiện tại Sa-ma-ri cho chúng ta thấy rằng trừ phi một người thuận phục Thân Thể, người ấy không thể nhận được sự xức dầu. Nếu không nhận biết Thân Thể, chúng ta không thể có sự xức dầu. Thánh Linh không được ban cho các cá nhân mà cho các chi thể của Thân Thể. Sự đặt tay của các sứ đồ đem các tín đồ vào sự tương giao của Thân Thể. Vậy, sự đặt tay thừa nhận rằng có sự liên hiệp, sự tương giao và một Thân Thể. Thân Thể là một; vì vậy, các chi thể cần nhận thức rằng họ không những tùy thuộc vào Đầu mà còn tùy thuộc lẫn nhau.

Hê-bơ-rơ 6:1-2 nói đến sáu điều là “điều sơ học”. Đặt tay là một trong sáu vấn đề căn bản của cuộc sống Cơ Đốc. Sáu điều ấy có thể được chia thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất bao gồm sự ăn năn công việc chết và đức tin nơi Đức Chúa Trời. Đó là một thái độ hay hành động ở bên trong mà một người nhận lấy cho chính mình và đối với Đức Chúa Trời. Nhóm thứ ba bao gồm sự sống lại của người chết và sự phán xét đời đời. Đó là những sự dạy dỗ liên quan đến những điều trong tương lai. Nhóm thứ hai bao gồm báp-têm và sự đặt tay. Hai điều ấy là các chứng cớ ở bên ngoài. Báp-têm và sự đặt tay là hai chứng cớ của hội thánh rất cần thiết cho những người cần phải “được giúp tiến đến chỗ trưởng thành”. Chúng ta không bỏ qua năm điều ấy, mà đã bỏ qua điều thứ sáu, là sự đặt tay. Tuy Kinh Thánh không nói một cách rõ ràng rằng chúng ta phải thực hành sự đặt tay, nhưng Kinh Thánh cho chúng ta thấy rằng vào thời các sứ đồ, ngay khi một người được cứu và chịu báp-têm thì người ấy nhận được sự đặt tay. Nhờ báp-têm, chúng ta vào trong Đấng Christ. Nhờ sự đặt tay, chúng ta vào trong Thân Thể. Các tín đồ không những được đặt vào trong Đấng Christ, mà cũng được đặt vào trong Thân Thể Đấng Christ. Đó là vị trí đúng đắn của chúng ta. Chúng ta biết rằng mỗi tín đồ nên bẻ bánh vào Chúa Nhật. Bẻ bánh gợi nhớ lại ý nghĩa của báp-têm và sự đặt tay. Bởi báp-têm, chúng ta làm chứng về sự kiện mình đã cởi bỏ chính mình cùng thế gian và vào trong Đấng Christ. Bởi sự đặt tay, chúng ta làm chứng về sự kiện mình đã rời bỏ lập trường cá nhân và nhận lấy thế đứng trên lập trường Thân Thể. Từ nay trở đi, dầu hoàn cảnh đem chúng ta đến một nơi cô lập về mặt địa lý, chúng ta vẫn không ở một mình, vì toàn Thân Thể sẽ ở cùng chúng ta. Nếu chúng ta chịu khổ, tất cả các chi thể khác sẽ cùng chịu khổ với chúng ta, và chúng ta có thể trông cậy họ liên tục đến giúp đỡ chúng ta.

Vào lúc đặt tay, nếu Thánh Linh ban lời cầu nguyện có tính tiên tri cho người được đem đến dưới sự xức dầu, thì nét đặc trưng được nêu lên trong lời tiên tri sẽ tiêu biểu cho cuộc sống và chức vụ tương lai của người ấy. Chúng ta có một hình ảnh minh họa về điều này trong trường hợp của Ti-mô-thê. Khi Phao-lô và các trưởng lão đặt tay trên ông, lời phát ngôn có tính cách tiên tri đã được ban ra, và về sau Phao-lô khuyên giục Ti-mô-thê đừng quên ân ban được truyền cho ông, nhưng hãy làm bùng cháy ân ban ấy (1 Ti. 1:18; 4:14; 2 Ti. 1:6). Nếu thật sự có khải thị về Thân Thể, chúng ta phải có sự đặt tay. Đó là chứng cớ của chúng ta về thực tại của Thân Thể và là sự phó thác của chúng ta cho nếp sống Thân Thể. Nhờ đó, chúng ta tuyên bố rằng mọi điều vì Thân Thể và không có điều gì vì cá nhân cả. Nếu Chúa muốn dùng chúng ta, ngợi khen Ngài; nếu Ngài muốn dùng một người khác, vẫn ngợi khen Ngài. Trong Thân Thể Đấng Christ không có chỗ cho sự ganh tị.

SỰ XỨC DẦU VÀ SỰ CẦU NGUYỆN CỦA CÁC TRƯỞNG LÃO

Trong Gia-cơ 5:14-16, chúng ta nhìn thấy sự đặt tay trong mối liên hệ đến bệnh tật. Trong trường hợp bị bệnh, Gia-cơ chỉ dẫn chúng ta mời các trưởng lão của hội thánh đến. Các trưởng lão, chứ không phải các chi thể của hội thánh có ân tứ chữa bệnh, cần được mời đến vì trong trường hợp này, người bệnh cần được đem đến dưới sự xức dầu; trường hợp của họ phải được các đại diện của hội thánh giải quyết. Tội lỗi được nói đến trong câu 15 là những tội lỗi đặc biệt; đó là những tội lỗi xúc phạm Thân Thể. Làm thế nào chúng ta biết bệnh tật ở đây là một loại đau yếu đặc biệt chứ không phải là sự đau yếu bình thường? Nếu biết phương thuốc vị bác sĩ kê đơn, thì chúng ta có thể suy ra bệnh nhân đang mắc bịnh gì. Vì bệnh nhân được đem đến dưới sự xức dầu, chúng ta có thể kết luận cách chắc chắn rằng sự đau yếu của bệnh nhân là do rời bỏ sự xức dầu. Lời Đức Chúa Trời rõ ràng tuyên bố rằng nhiều người suy nhược và đau yếu, thậm chí nhiều người bị chết vì không chịu biện biệt Thân Thể của Chúa (1 Cô. 11:29-30). Gia-cơ chương 5 trình bày một trường hợp như vậy. Nếu sống trong lãnh vực của Thân Thể, thì chúng ta luôn luôn ở dưới sự xức dầu của Đầu. Tuy nhiên, hễ đi theo đường lối cá nhân, thì chúng ta lìa bỏ sự xức dầu và phơi mình ra cho bệnh tật và sự chết. Tội lỗi của người trong Gia-cơ chương 5 chắc phải là tội tự tách mình khỏi Thân Thể. Nếu tội của người ấy chỉ là một tội có tính cách cá nhân, người ấy đã có thể được tha thứ bằng cách tin cậy vào huyết và bằng cách xưng nhận với những người khác, và đã không cần yêu cầu các trưởng lão xức dầu cho mình. Dầu của các trưởng lão không thể cất bỏ tội; chỉ huyết mới có thể cất bỏ tội. Câu 15 nói rằng người ấy sẽ được tha nếu đã phạm tội; tuy nhiên, sự tha thứ là do lời cầu nguyện của các trưởng lão. Vì vậy, tội ấy không phải là một tội tầm thường; đó là tội do hành động trái ngược với Thân Thể. Do đó, cần yêu cầu các trưởng lão của hội thánh cầu nguyện cho người ấy và xức dầu người ấy với dầu trong danh Chúa để người ấy có thể được đem trở lại dưới Đầu và vào trong Thân Thể.

Câu 16 nói: “Vậy, hãy xưng tội ra với nhau và cầu nguyện cho nhau, để anh em được chữa lành”. Câu này bảo chúng ta hãy xưng tội ra với nhau. Chúng ta phải xưng tội ra với nhau vì điều gì đó sai trật trong Thân Thể Đấng Christ. Phạm vi xưng tội tương ứng với phạm vi phạm tội. Nếu tôi chỉ phạm tội đối với Đức Chúa Trời, tôi phải xưng tội với một mình Ngài. Tội trong các câu này là tội đối với Thân Thể. Vì điều gì đó đã sai trật trong Thân Thể Đấng Christ, cả người bệnh và các trưởng lão đều phải có trách nhiệm về điều đó. Người bệnh đã xúc phạm Thân Thể, và các trưởng lão đại diện cho Thân Thể. Vì vậy, người bệnh phải xưng tội, và các trưởng lão cũng phải xưng tội. Xin lưu ý sự xưng tội là điều hỗ tương. Người bệnh xưng tội, và các trưởng lão cũng xưng tội. Người bệnh thừa nhận rằng sự đau yếu là hậu quả của việc đứng ở vị trí cá nhân, và các trưởng lão thừa nhận rằng họ đã thất bại trong vấn đề yêu thương và cảnh giác; nếu không thì người bệnh đã không rời khỏi lập trường của Thân Thể.

Sau khi xưng tội với nhau thì cầu nguyện: “Cầu nguyện cho nhau”. Điều này có nghĩa là các trưởng lão cầu nguyện cho người bệnh, và người bệnh cầu nguyện cho các trưởng lão. Kết quả là tội được tha, và sự đau yếu được chữa lành. Tính hỗ tương là đặc điểm của Thân Thể. Anh em có nhìn thấy thế nào Thân Thể được làm cho nổi bật trong sự xức dầu, xưng tội và cầu nguyện không? Trong Thân Thể, mỗi chi thể cần phải có tình yêu thương và tính khiêm nhường. Ở ngoài Thân Thể không những đem đến sự đau yếu thuộc thể mà cũng đem đến sự đau yếu thuộc linh. Những người ở ngoài Thân Thể cần phải thấy tầm quan trọng của việc quay về với sự xức dầu và quay về với Thân Thể. Nhờ quay lại như vậy mà họ nhận được sự giúp đỡ của các chi thể khác.

KHẢI THỊ PHAO-LÔ NHẬN ĐƯỢC KHI HOÁN CẢI

Trong trường hợp hoán cải của Phao-lô, chúng ta có thêm một hình ảnh minh họa nữa về việc đặt tay. Công vụ các Sứ đồ chương 9 cho chúng ta thấy hai đặc điểm của khải thị mà Phao-lô đã nhận khi được hoán cải. Khi Chúa xuất hiện với Phao-lô trên đường đến Đa-mách, Ngài cho ông thấy rằng bắt bớ các tín đồ là cũng như bắt bớ Ngài (cc. 3-5). Chúa hỏi: “Sao ngươi bắt bớ Ta?” chứ Ngài không hỏi: “Sao ngươi bắt bớ những người tin Ta?” Phao-lô hỏi: “Thưa Chúa, Chúa là ai?” Ngài đáp: “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ”. Chúa cho Phao-lô thấy rằng ông đang bắt bớ Đầu khi ông bắt bớ các chi thể của Thân Thể. Khi làm tổn hại bất cứ chi thể nào của Thân Thể, anh em làm tổn hại Đầu. Mỗi một tội lỗi xúc phạm đến Thân Thể là xúc phạm đến Đầu. Mỗi tín đồ của Chúa đều là một với Chúa. Đó là sự hiệp một của Đầu với Thân Thể. Phao-lô là người đầu tiên nhìn thấy Thân Thể Đấng Christ. Ngày Chúa bày tỏ chính mình là ngày Phao-lô nhìn thấy Thân Thể.

Sau khải thị cao sâu này, Chúa truyền bảo ông vào thành, và ở đó ông sẽ được cho biết phải làm gì (c. 6). Điều này cũng là một khải thị về Thân Thể. Sau một khải thị cao sâu như vậy, Chúa đã không trực tiếp nói với ông, mà Ngài phó thác ông cho Thân Thể. Vào ngày Phao-lô được cứu, Chúa cho ông thấy nguyên tắc của Thân Thể. Ba ngày sau, Chúa sai một tín đồ nhỏ bé tên là A-na-nia đến đặt tay trên ông, và A-na-nia nói với ông: “Anh Sau-lơ ơi, Chúa là Giê-su, Đấng đã hiện ra cùng anh trên con đường anh đi tới đây, sai tôi đến để anh được sáng mắt lại và đầy dẫy Thánh Linh” (c. 17). A-na-nia chỉ là một anh em tầm thường. Chúng ta không biết gì về lai lịch của anh trước hay sau sự kiện này. Khi anh được Chúa sai đến với Sau-lơ, anh nói: “Anh Sau-lơ ơi”. Điều này đem Sau-lơ vào trong Thân Thể Đấng Christ, làm ông đầy dẫy Thánh Linh, và đem ông đến dưới sự xức dầu.

SỰ PHÁN ĐOÁN CỦA HAI BA ANH EM

Ma-thi-ơ 18:15-16 không cốt ý nói liệu một người đúng hay sai, thậm chí cũng không phải cốt ý nói một người cảm thấy mình đúng hay sai. Phân đoạn ấy nói về chứng cớ của hai ba anh em. Nếu họ nói anh em sai thì anh em sai. Vì vậy, khi các anh em khác nói anh em sai, và anh em không cảm thấy mình sai, thì anh em nên nhận lấy sự phán đoán của họ và tin họ hơn là tin chính mình. Nếu hai ba anh em đứng trong danh Chúa và nói với anh em điều gì đó, anh em nên nghe họ.

Trong hội thánh có bốn nhóm người đại diện cho Thân Thể. Họ là: (1) các sứ đồ, (2) các trưởng lão, (3) những người Chúa đã đặc biệt tuyển chọn, và (4) hai ba tín đồ từ bỏ chính mình và đến dưới danh Chúa. Bốn nhóm người ấy đại diện cho hội thánh. Nếu chúng ta sai, Chúa sẽ sai một tín đồ đến nói với chúng ta về điều đó. Nếu chúng ta không nghe lời của một tín đồ, người ấy sẽ cho hai ba tín đồ khác biết. Nếu chúng ta vẫn không nghe lời của họ, chúng ta nên tiếp nhận sự giúp đỡ từ các trưởng lão. Chúng ta không thể có bất cứ hành động độc lập nào. Đối với những nan đề không thể giải quyết, chúng ta nên hỏi ý kiến các sứ đồ. Họ được Chúa bổ nhiệm để đại diện cho Thân Thể. Chúng ta không thể bỏ qua Thân Thể, và chúng ta không thể bỏ qua các đại diện của Thân Thể. Nguyện Chúa ban cho chúng ta khải thị về Thân Thể để chúng ta có thể thuận phục Đấng Christ là Đầu cũng như thuận phục các đại diện của Thân Thể.