Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 3

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 3
ISBN: 0-7363-0978-0
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 47

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG BỐN MƯƠI BẢY

YÊU THƯƠNG ANH EM

Kinh Thánh: Gi. 5:24; 1 Gi. 3:14

Phúc âm theo Giăng là Phúc âm được viết ra sau cùng, và các Thư tín của Giăng cũng được viết ra sau cùng. Trước Phúc âm của Giăng, có ba Phúc âm, đó là Phúc âm theo Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca, bao gồm nhiều việc làm và sự dạy dỗ của Chúa Jesus. Phúc âm theo Giăng cho thấy những điều cao cả nhất và thuộc linh nhất liên quan đến việc Con Đức Chúa Trời đến trên đất. Phúc âm này nói rõ loại người nào nhận được sự sống đời đời. Nhiều lần Phúc âm này nói ai tin thì có sự sống đời đời. Phúc âm theo Giăng nói rất nhiều về vấn đề tin. Một người nhận được sự sống đời đời khi người ấy tin. Đó là điểm nhấn mạnh của Phúc âm theo Giăng. Phúc âm theo Giăng đặc biệt chú ý đến những điều các Phúc âm khác không bàn đến. Giăng 5:24 nói: “Thật vậy, thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời Ta và tin Đấng đã sai Ta thì có sự sống đời đời, không vào sự phán xét, nhưng qua khỏi sự chết mà vào sự sống”. Nói cách khác, những ai nghe và tin đã vượt khỏi sự chết mà vào sự sống. Tại đây, cửa của Phúc âm mở rất rộng.

Khi chúng ta đến với các Thư tín, Phao-lô, Phi-e-rơ và các sứ đồ khác cũng giải thích đức tin một cách rất minh bạch. Họ bày tỏ rằng mỗi một tín đồ đều có thể nhận được ân điển. Nhưng khi đọc đến các Thư tín cuối cùng, là các Thư tín do Giăng viết, chúng ta thấy ông chuyển sự nhấn mạnh đến những điều khác. Trong khi các Thư tín khác chú ý nhiều đến đức tin của người ta nơi Đức Chúa Trời, Giăng nhấn mạnh đến phương diện hành vi thực tiễn trước mặt Đức Chúa Trời. Các Thư tín ông viết nói về tình yêu thương. Các Thư tín khác nói rằng những người tin được xưng công chính, được tha thứ và tẩy sạch. Nhưng các Thư tín của Giăng nói rằng đức tin của một người phải được minh chứng bằng tình yêu thương của người ấy.

Nếu chúng ta hỏi một người: “Làm thế nào anh biết anh có sự sống đời đời?” Có thể người ấy sẽ trả lời: “Lời Đức Chúa Trời nói như vậy”. Nhưng câu trả lời này chưa thật sự đầy đủ. Người ấy có thể trả lời do sự hiểu biết của tâm trí, nhưng có thể người ấy không thật sự tin Lời Đức Chúa Trời. Vì vậy, Giăng bày tỏ trong các Thư tín của ông rằng nếu một người nói mình có sự sống đời đời, người ấy phải chứng minh điều đó. Nếu một người nói mình thuộc về Đức Chúa Trời, những người khác phải chứng kiến một sự biểu lộ hay một chứng cớ nào đó trong người ấy.

Một người có thể nói: “Tôi tin, vì vậy tôi có sự sống đời đời”. Người ấy có thể nói như vậy dựa trên kiến thức của mình. Người ấy có thể xem tiến trình tin và có sự sống đời đời như một công thức: Trước hết, một người nghe Phúc âm; thứ hai, người ấy hiểu; thứ ba, người ấy tin; và thứ tư người ấy biết mình có sự sống đời đời. Nhưng loại “cứu rỗi” theo công thức này không đáng tin cậy. Kinh Thánh nói rằng vào thời Phao-lô có những anh em giả (2 Cô. 11:26; Ga. 2:4). Những anh em giả là những người tự xưng mình là anh em nhưng không thật sự là anh em. Một số công bố mình thuộc về Đức Chúa Trời nhưng thật ra họ không có sự sống. Họ vào Hội thánh qua con đường giáo lý, kiến thức, và một số điều lệ nào đó. Làm thế nào chúng ta biết đức tin của một người là thật hay không? Làm thế nào chúng ta biết đức tin của một người trước mặt Đức Chúa Trời là đức tin sống động hay chỉ là một công thức? Có cách nào chứng minh ai thuộc về Đức Chúa Trời và ai không thuộc về Ngài không? Các Thư tín của Giăng giải quyết nan đề này. Giăng cho chúng ta một phương cách để phân biệt giữa những anh em thật và những anh em giả, giữa những người sanh bởi Đức Chúa Trời và những người không sanh bởi Ngài. Chúng ta hãy xem cách phân biệt của Giăng.

I. SỰ SỐNG YÊU THƯƠNG

Chỉ có hai phân đoạn trong Kinh Thánh chứa đựng nhóm chữ ra khỏi sự chết mà vào sự sống. Một nhóm chữ trong Giăng 5:24, và nhóm chữ kia trong 1 Giăng 3:14. Chúng ta hãy so sánh hai phần này.

Giăng 5:24 chép: “Thật vậy, thật vậy, Ta nói với các ngươi, ai nghe lời Ta và tin Đấng đã sai Ta thì người ấy có sự sống đời đời, không vào sự phán xét, nhưng qua khỏi sự chết mà vào sự sống”. Ở đây nói rằng ai tin thì đã ra khỏi sự chết mà vào sự sống.

1 Giăng 3:14 chép: “Chúng ta biết mình đã ra khỏi sự chết mà vào sự sống vì chúng ta yêu thương anh em mình”. Câu này nói về bằng cớ một người đã ra khỏi sự chết mà vào sự sống. Bằng cớ ấy là tình yêu thương anh em mình.

Giả sử anh em có nhiều bạn và anh em rất ưa thích họ, hay anh em ngưỡng mộ nhiều người và rất quí trọng họ. Vẫn có một sự khác biệt giữa cảm xúc của anh em đối với họ và cảm xúc của anh em đối với các anh chị em trong chính gia đình mình. Dầu sao cũng có một sự khác biệt. Nếu một người do mẹ anh em sinh ra, nếu người ấy là anh ruột của anh em, tự khắc anh em sẽ có một cảm xúc đặc biệt, không thể giải thích được đối với người ấy. Đó là cảm xúc của tình yêu thương theo bản năng. Cảm xúc này chứng tỏ rằng anh em và người ấy cùng thuộc về một gia đình.

Điều này cũng đúng đối với gia đình thuộc linh của chúng ta. Giả sử có một người hoàn toàn khác với anh em về diện mạo, bối cảnh gia đình, giáo dục, tính khí, và sở thích. Nhưng người ấy tin Chúa Jesus. Tự phát anh em sẽ có một cảm xúc không thể giải thích được đối với người ấy. Anh em sẽ cảm thấy người ấy là anh em mình. Người ấy sẽ thân thiết đối với anh em hơn anh em ruột thịt. Cảm xúc này chứng minh anh em đã ra khỏi sự chết mà vào sự sống.

1 Giăng 5:1 chép: “Ai tin Jesus là Đấng Christ thì sanh bởi Đức Chúa Trời, ai yêu thương Đấng đã sanh, thì cũng yêu thương người do Ngài sanh ra”. Đây là một lời rất quí báu. Nếu anh em yêu thương Đức Chúa Trời là Đấng đã sanh mình, thì lẽ tự nhiên, anh em sẽ yêu thương những người do Đức Chúa Trời sanh ra. Anh em không thể nói mình yêu thương Đức Chúa Trời nhưng lại không có cảm xúc gì đối với các anh em của mình.

Tình yêu thương này chứng tỏ đức tin chúng ta có được là đức tin thật. Tình yêu thương không thể nói ra ấy chỉ có thể phát xuất từ đức tin thật. Tình yêu thương dành cho anh em là một điều rất đặc biệt. Chúng ta thương yêu không vì lý do nào khác hơn sự kiện người kia là anh em mình. Chúng ta không yêu thương vì sở thích giống nhau. Chúng ta yêu thương chỉ vì người kia là anh em mình. Hai người có bối cảnh giáo dục khác nhau, tính khí khác nhau, hoàn cảnh gia đình, ý kiến và quan điểm khác nhau mà lại yêu thương nhau chỉ vì họ là tín đồ là điều vẫn có thể xảy ra. Cả hai là anh em và tự phát họ có mối tương giao với nhau. Có một cảm xúc và cảm tình không thể nói ra được đối với nhau. Cảm xúc và cảm tình này là bằng cớ họ đã ra khỏi sự chết mà vào sự sống. Chúng ta biết mình đã vượt khỏi sự chết và vào sự sống nếu chúng ta thương yêu anh em.

Thật đúng là đức tin đem chúng ta đến với Đức Chúa Trời. Nhờ đức tin, chúng ta vượt khỏi sự chết mà vào sự sống, nhờ đức tin chúng ta được làm nên những thành viên của gia đình Đức Chúa Trời và được tái sinh. Nhưng đức tin không những đem chúng ta đến với Cha mà còn đến với các anh em. Khi có đức tin này, chúng ta sẽ có cảm xúc [yêu thương] đối với nhiều người khắp nơi trên thế giới là những người cũng có sự sống này. Tự phát sự sống này sẽ kéo chúng ta đến với những người có cùng một sự sống với mình. Sự sống này vui thích khi gặp gỡ những người ấy, muốn được tương giao với họ và có một tình yêu thương tự phát đối với họ.

Phúc âm theo Giăng và các Thư tín của Giăng bày tỏ cho chúng ta trật tự mà Đức Chúa Trời đã chỉ định: Trước hết, đức tin đem chúng ta vượt khỏi sự chết mà vào sự sống, sau đó những ai vượt khỏi sự chết mà vào sự sống có tình yêu thương này. Bởi yêu thương các anh em, chúng ta biết mình đã vượt khỏi sự chết và vào sự sống. Đó là phương cách đáng tin cậy để khẳng định số con cái Đức Chúa Trời trên đất. Chỉ có những ai yêu thương nhau mới là anh em, những ai không yêu thương nhau không phải là anh em.

Anh chị em ơi, chúng ta phải nhận biết rằng theo mắt Đức Chúa Trời, tình yêu thương của chúng ta dành cho anh em là sự thử nghiệm tính chân thật của đức tin chúng ta. Chúng ta không có cách nào tốt hơn để phân biệt một người có đức tin thật hay giả. Thiếu sự phân biệt này, Phúc âm càng được rao giảng cách hoàn hảo bao nhiêu, hiểm họa giả mạo càng lớn lao bấy nhiêu. Phúc âm càng được rao giảng cách thấu suốt chừng nào, những người giả mạo càng dễ bước vào chừng nấy. Phúc âm càng được rao giảng cùng với ân điển, số người không quan tâm lẻn vào càng nhiều. Phải có cách phân biệt và nhận biết đức tin thật với đức tin giả mạo. Các Thư tín của Giăng bày tỏ rõ cách phân biệt đức tin thật với đức tin giả không phải bằng chính đức tin, nhưng bằng tình yêu thương. Chúng ta không cần hỏi đức tin một người lớn bao nhiêu, nhưng cần hỏi tình yêu thương của người ấy lớn đến đâu. Nơi nào có đức tin thật, sẽ có tình yêu thương. Nơi nào không có đức tin thật, sẽ không có tình yêu thương. Tình trạng thiếu yêu thương chứng minh sự vắng mặt của đức tin. Sự có mặt của tình yêu thương chứng minh sự hiện diện của đức tin. Khi chúng ta đến gần đức tin bằng cửa yêu thương, mọi sự sẽ sáng tỏ đối với mình.

Một người có phải là Cơ Đốc nhân thật hay không tùy thuộc vào sự việc người ấy có đặc biệt yêu thích và được thu hút đến với các con cái khác của Đức Chúa Trời hay không. Sự sống Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta không phải là sự sống độc lập. Đó là sự sống tự phát kéo chúng ta đến với những người có cùng một sự sống ấy. Sự sống này yêu thương và ao ước tình thân có tính cách hỗ tương. Những ai có những cảm xúc như vậy là những người đã vượt khỏi sự chết và vào sự sống.

II. MẠNG LỊNH YÊU THƯƠNG

1 Giăng 3:11 chép: “Vì đây là sứ điệp anh em đã nghe từ ban đầu, ấy là chúng ta phải yêu thương nhau”.

Câu 23 chép: “Đây là mạng lịnh của Ngài, ấy là chúng ta tin danh Jesus Christ, Con Ngài và yêu thương nhau, thậm chí như Ngài đã ban mạng lịnh cho chúng ta”.

Yêu thương nhau là một mạng lịnh từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ra lệnh cho chúng ta phải làm hai điều: tin danh Jesus Christ, Con Ngài, và yêu thương nhau. Chúng ta đã tin. Bây giờ chúng ta cũng phải yêu thương. Đức Chúa Trời đã ban tình yêu thương này cho chúng ta và Ngài cũng ban mạng lịnh chúng ta phải yêu thương. Trước hết Đức Chúa Trời ban cho chúng ta tình yêu thương này và sau đó Ngài ban cho chúng ta mạng lịnh phải yêu thương nhau. Ngày nay chúng ta phải yêu thương nhau theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng phải yêu thương nhau bằng tình yêu thương mà Ngài ban cho chúng ta. Chúng ta phải sử dụng tình yêu thương mà Đức Chúa Trời đã đặt vào trong chúng ta. Chúng ta phải áp dụng tình yêu thương ấy theo bản chất của tình yêu thương ấy. Chúng ta đừng bao giờ dập tắt hay làm tổn thương tình yêu thương ấy.

1 Giăng 4:7-8 chép: “Hỡi những người yêu dấu, chúng ta hãy yêu thương lẫn nhau, vì tình yêu thương thuộc về Đức Chúa Trời, ai yêu thương là người sanh bởi Đức Chúa Trời và biết Đức Chúa Trời. Ai không yêu thương thì không biết Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời là tình yêu thương”.

Chúng ta phải yêu thương lẫn nhau vì tình yêu thương thuộc về Đức Chúa Trời. Những ai có tình yêu thương là những người được Đức Chúa Trời sinh ra. Những ai không yêu thương thì không biết Đức Chúa Trời vì chính Đức Chúa Trời là tình yêu thương. Khi Đức Chúa Trời sinh chúng ta, Ngài cũng sinh tình yêu thương trong chúng ta. Trước đây chúng ta không có tình yêu thương, nhưng bây giờ chúng ta có tình yêu thương. Ngày nay tình yêu thương chúng ta sở hữu đến từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã sinh tình yêu thương trong tất cả những ai do Ngài sinh ra. Đức Chúa Trời đã ban tình yêu thương cho cả anh em lẫn những người khác. Đó là lý do vì sao chúng ta có thể yêu thương lẫn nhau.

Những ai đã được Đức Chúa Trời sinh ra đều nhận lãnh một sự sống, sự sống ấy là chính Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là tình yêu thương, vì vậy, những ai được Đức Chúa Trời sinh ra đều có tình yêu thương ấy sinh ra trong họ. Sự sống chúng ta đã nhận lãnh từ Đức Chúa Trời là sự sống yêu thương. Mọi người do Đức Chúa Trời sinh ra đều có tình yêu thương trong mình, và ai có tình yêu thương trong mình đều tự phát yêu thương các anh em. Nếu chúng ta không yêu thương nhau thì đó là một điều kỳ lạ. Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi Cơ Đốc nhân một sự sống yêu thương. Ngài cũng ban cho mỗi Cơ Đốc nhân mạng lịnh yêu thương dựa trên sự sống yêu thương này: “Chúng ta hãy yêu thương lẫn nhau”. Trước hết Đức Chúa Trời ban cho chúng ta tình yêu thương, và sau đó Ngài bảo chúng ta hãy yêu thương. Trước hết Ngài ban cho chúng ta một sự sống yêu thương, và sau đó Ngài ban mạng lịnh yêu thương. Chúng ta nên cúi đầu thưa rằng: “Cảm tạ Đức Chúa Trời! Các con cái Ngài bây giờ có thể yêu thương nhau”.

III. NẾU AI KHÔNG YÊU THƯƠNG ANH EM MÌNH

Bây giờ chúng ta hãy xem xét tất cả những câu Kinh Thánh thuộc loại này trong Thư Giăng thứ nhất.

1 Giăng 2:9-11 chép: “Ai nói mình ở trong sự sáng nhưng ghét anh em mình thì người ấy ở trong sự tối tăm cho đến nay. Ai yêu thương anh em mình thì cứ ở trong sự sáng và không có cớ gây vấp ngã trong người ấy; nhưng ai ghét anh em mình thì ở trong sự tối tăm, đi trong sự tối tăm và không biết mình đang đi đâu vì sự tối tăm đã làm mù mắt người ấy”. Anh em có thấy rõ không? Một người là anh em hay không, có bước đi trong sự sáng và quay khỏi sự tối tăm hay không là điều được xác định do sự việc người ấy có yêu thương anh em mình hay không.

Nếu một người biết anh là một anh em nhưng trong lòng người ấy ghét anh, điều đó chứng minh người ấy không phải là Cơ Đốc nhân. Nếu người ấy gặp năm anh em và nói: “Tôi yêu thương bốn người trong số ấy, nhưng lòng tôi ghét một người”, điều này chứng tỏ người ấy không phải là một anh em. Chúng ta phải nhận thức rằng mình không yêu thương một anh em vì anh ấy đáng yêu, nhưng vì anh ấy là một anh em. Đó là lý do duy nhất để chúng ta yêu thương. Nếu một người biết anh là một anh em và thuộc về Chúa, nhưng vẫn ghét anh, điều đó chứng tỏ người ấy không có sự sống trong mình. Ở đây Lời Chúa nói: “Ai ghét anh em mình thì ở trong sự tối tăm và bước đi trong sự tối tăm”. Người ấy ở trong sự tối tăm và bước đi trong sự tối tăm. Nói cách khác, Kinh Thánh phủ nhận việc một người có thể ghét anh em mình, Kinh Thánh hoàn toàn không chấp nhận đó là điều có thể xảy ra. Nếu anh em biết một người là anh em nhưng lại ghét người ấy, anh em phải nói: “Chúa ôi, con không đang bước đi trong sự sáng. Con đang ở trong tối tăm và đang bước đi trong tối tăm”.

1 Giăng 3:10 chép: “Nhờ điều này, con cái của Đức Chúa Trời... được biểu lộ. Ai không thực hành sự công chính thì không thuộc về Đức Chúa Trời, người không yêu thương anh em mình cũng vậy”. Ai không thực hành sự công chính ở bên ngoài là người không thuộc về Đức Chúa Trời. Cũng vậy, ai không có tình yêu thương bên trong đối với anh em mình cũng không thuộc về Đức Chúa Trời. Ai không yêu thương anh em mình thì không thuộc về Đức Chúa Trời vì tình yêu thương và cảm xúc này không ở trong người ấy. Qua điều này, con cái Đức Chúa Trời được biểu lộ ra.

Câu 14 chép: “Ai không yêu thương thì cứ ở trong sự chết”. Tình yêu thương này không nói về tình yêu thương bình thường nhưng nói về tình yêu thương mà với tình yêu thương ấy một người yêu thương anh em mình. Nếu một người không có tình yêu thương dành cho anh em mình như vậy trong lòng, Kinh Thánh nói người ấy “ở trong sự chết”. Chúng ta có thể hiểu vì sao một người không có cảm xúc hay sự thu hút đối với những tín đồ khác trước khi người ấy tin. Nhưng thật là điều rất kỳ lạ nếu sau khi tin, người ấy vẫn không có cảm xúc hay được thu hút đối với những tín đồ khác. Đức tin của người ấy có thể không thật. “Ai không yêu thương thì ở trong sự chết”. Trước đây, một người như vậy là chết. Tôi e rằng người ấy vẫn chết vì đức tin thì dựa trên tình yêu thương. Đức tin của một người có thật hay không tùy thuộc vào việc người ấy có tình yêu thương hay không. Những ai tin nơi Đức Chúa Trời thì có tình yêu thương dành cho anh em. Nếu tình yêu thương vắng mặt thì chứng tỏ rằng người ấy vẫn ở trong sự chết.

Câu 15 chép: “Ai ghét anh em mình là kẻ giết người, và anh em biết không kẻ giết người nào có sự sống đời đời ở trong mình”. Chúng ta không thể tưởng tượng có người vẫn giết người khác sau khi trở thành tín đồ. Kinh Thánh cho chúng ta biết ghét anh em là giết người. Một người có sự sống đời đời không bao giờ nên ghét anh em mình. Ghét anh em chứng tỏ không có tình yêu thương trong người ấy. Điều này có nghĩa là không có sự sống đời đời trong người ấy.

Con cái Đức Chúa Trời có thể ở trong nhiều tâm trạng khác nhau, nhưng họ không bao giờ có thể ghét ai. Nếu có một anh em khó thương về những phương diện nào đó, có thể lòng chúng ta không thích người ấy. Nếu có một anh em phạm một tội đáng bị dứt thông công, chúng ta có thể xử lý vấn đề cách tức giận. Nếu có một anh em đã làm một điều cực kỳ xấu xa, chúng ta có thể yêu cầu người ấy đến gặp mình và quở trách người ấy cách nặng nề trước mặt Chúa. Nhưng chúng ta không bao giờ có thể ghét anh em mình. Nếu ai ghét anh em nào, thì không có sự sống đời đời trong người ấy.

Mỗi người con của Đức Chúa Trời đều có một sự sống phong phú đủ để yêu thương tất cả các anh chị em. Hễ một người thuộc về Chúa, người ấy xứng đáng được các tín đồ yêu thương. Tình yêu thương chúng ta dành cho một anh em phải giống như tình yêu thương chúng ta dành cho tất cả các anh em. Tình yêu thương anh em áp dụng cho một anh em nên được áp dụng tương tự cho tất cả các anh em. Loại tình yêu thương dành cho các anh em thì không phân biệt. Hễ một người là anh em, người ấy xứng đáng với tình yêu thương ấy. Nếu ai ghét một anh em, điều đó chứng tỏ người ấy không có sự sống đời đời trong mình. Người ấy không cần phải ghét tất cả các anh em. Hễ khi nào người ấy ghét một anh em, điều đó đủ chứng minh người ấy không có tình yêu thương anh em trong mình. Tình yêu thương anh em chúng tôi đang nói đến là loại tình yêu thương yêu tất cả các anh em.

Đây là một ý tưởng rất nghiêm trọng. Nếu một tín đồ không yêu thương nhưng thay vào đó lại ghét anh em mình, hay nếu người ấy đe dọa hoặc tấn công anh em mình, chúng ta chỉ có thể nói: “Nguyện Đức Chúa Trời thương xót người ấy! Đây là một người nghĩ rằng mình là một tín đồ nhưng người ấy chưa được cứu gì cả!” Hễ người ấy ghét một anh em, điều đó chứng minh người ấy không thuộc về Chúa. Đó là một vấn đề nghiêm trọng!

Trong những hoàn cảnh bình thường, nếu một anh em làm những điều gây bực mình cho anh em, anh em có thể khuyên lơn và quở trách người ấy, nhưng anh em không được ghét người ấy. Nếu người ấy làm một điều gì khiêu khích anh em, anh em có thể giận người ấy và quở trách người ấy cách gay gắt, nhưng không thể để lòng căm ghét. Thậm chí nếu anh em “nói với Hội thánh” theo Ma-thi-ơ chương 18, anh em vẫn nên có ý định được lại người ấy và phục hồi người ấy. Nếu anh em không có ý định phục hồi người ấy và nếu mục tiêu của anh em chỉ để tấn công và phá đổ người ấy, điều đó chứng tỏ anh em không xứng đáng là một anh em. Người anh em được nói đến trong Ma-thi-ơ “nói với Hội thánh” vì người ấy muốn được lại anh em mình. Toàn bộ vấn đề là mục tiêu của anh em là phá đổ anh em mình hay được lại anh em mình. Đây thật là một vấn đề nghiêm trọng. Chúng ta không được xem nhẹ!

Về người gian dâm trong 1 Cô-rin-tô 5:13, Phao-lô nói: “Hãy loại bỏ người gian ác khỏi giữa vòng anh em”. Ban đầu, trong danh Chúa Jesus và với quyền năng của Chúa Jesus, Phao-lô phó một người như vậy cho Sa-tan để xác thịt người ấy bị hủy diệt vì người Cô-rin-tô không làm gì cả để loại người ấy ra. Việc xử lý này có quá nghiêm khắc không? Thật là cực kỳ nghiêm khắc. Nhưng Phao-lô làm như vậy để linh người ấy được cứu trong ngày của Chúa (c. 5). Mục đích của việc xác thịt người ấy bị hủy hoại trong hiện tại là để người ấy không bị hư mất đời đời. Mục đích của việc “nói với Hội thánh” trong Ma-thi-ơ chương 18 là để phục hồi, và sự loại bỏ trong 1 Cô-rin-tô chương 5 cũng là để phục hồi.

Khi Giô-suê phán xét A-can, ông nói: “Hỡi con ta, hãy dâng vinh quang cho Đức Giê-hô-va” (Giô. 7:19). Dầu A-can đã phạm tội nặng, ông vẫn nói với A-can bằng một linh và một tình yêu thương anh em như vậy.

Đa-vít nắm y phục mình xé ra khi một sứ giả trẻ tuổi báo tin Sau-lơ chết. Ông than khóc và kiêng ăn cho đến tối (2 Sa. 1:11-12). Khi một người báo cho Đa-vít về cái chết của Áp-sa-lôm, ông rất xúc động. Ông khóc và nói: “Ô Áp-sa-lôm con trai ta! Áp-sa-lôm con trai ta, con trai ta! Ước gì ta chết thế cho con!” (18:33). Sau-lơ là vị vua ghét Đa-vít, và Áp-sa-lôm là đứa con phản loạn của ông. Nhưng Đa-vít khóc khi họ chết. Ông phải đánh trận và ông phải phán xét, nhưng ông không thể cầm nước mắt. Ông phải phán xét, ông phải định tội, nhưng ông không thể không khóc.

Anh chị em ơi, nếu một người chỉ phán xét và định tội nhưng không có nước mắt hay buồn rầu, điều đó chứng tỏ người ấy không biết gì về tình yêu thương anh em. Nếu ai quở trách một anh em chỉ vì mục đích phá đổ anh em ấy, thì người đó không có tình yêu thương trong mình, mà chỉ có sự căm ghét. Ghét anh em là giết họ! Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng!

Có lần một anh em viết thư cho J. N. Darby về vấn đề dứt thông công. Đây là những lời đầu tiên Darby đã viết: “Tôi nghĩ điều kinh khủng hơn hết là một tội nhân được tha thứ tội mình lại dứt thông công một tội nhân khác”. Không có gì kinh khủng hơn một tội nhân được tha tội lại dứt thông công một tội nhân khác. Phản ứng của Darby là một điều gì phát xuất từ sự sống yêu thương. Dĩ nhiên có nhiều điều cần giảng dạy. Chúng ta có thể dứt thông công một anh chị em khỏi Hội thánh nếu cần phải làm như vậy. Nhưng chúng ta đừng bao giờ chất chứa một sự ghét bỏ nào khi đối xử với họ.

1 Giăng 4:20-21 chép: “Nếu ai nói tôi yêu thương Đức Chúa Trời và ghét anh em mình, đó là người nói dối, vì ai không yêu thương anh em mình thấy được, thì không thể yêu thương Đức Chúa Trời là Đấng mình không thấy. Chúng ta đã nhận mạng lịnh này nơi Ngài, ấy là ai yêu thương Đức Chúa Trời thì cũng phải yêu thương anh em mình”. Ở đây Giăng cho chúng ta thấy yêu thương anh em tương đương với yêu thương Đức Chúa Trời. Ai không yêu thương anh em mình là người mình thấy, cũng không thể yêu Đức Chúa Trời là Đấng mình không thấy. Chúng ta nên yêu thương anh em mình nếu muốn yêu thương Đức Chúa Trời. Đó là mạng lịnh chúng ta đã nhận nơi Đức Chúa Trời.

Chúng ta phải cẩn thận, đừng làm gì gây tổn hại cho tình yêu thương. Chúng ta không nên khinh suất mà xúc phạm anh em mình. Chúng ta phải yêu thương nhau và quí trọng tình yêu thương anh em đã được đặt trong lòng mình. Chúng ta không nên xem thường tấm lòng yêu thương. Đức Chúa Trời đã đặt tấm lòng này trong chúng ta để chúng ta có thể sử dụng nó phục vụ và giúp đỡ các anh em. Chúng ta nên để cho tình yêu thương anh em gia tăng, trở nên mạnh mẽ và được đầy quyền năng.

1 Giăng 3:17 chép: “Nhưng ai có của cải thế gian, thấy anh em mình thiếu thốn mà khép lòng yêu thương đối với người ấy, làm thế nào tình yêu thương của Đức Chúa Trời ở trong người ấy được?” Giăng không nói: “Làm thế nào tình yêu thương anh em ở trong người ấy được?” mà nói: “Làm thế nào tình yêu thương của Đức Chúa Trời ở trong người ấy được?” vì tình yêu thương của Đức Chúa Trời là tình yêu thương anh em, và tình yêu thương anh em là tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời không ở trong một người khép lòng yêu thương của mình đối với anh em. Người ấy không thể lừa dối chính mình bằng cách nói: “Dầu tôi không yêu thương anh em tôi, nhưng tôi yêu thương Đức Chúa Trời”. Mối liên hệ giữa chúng ta với các anh em đến từ mối liên hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta không liên hệ với anh em, có nghĩa là chúng ta không liên hệ với Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta từ chối anh em mình, tình yêu thương của Đức Chúa Trời không ở trong chúng ta.

IV. LÀM THẾ NÀO ĐỂ YÊU THƯƠNG ANH EM

1 Giăng 3:16 chép: “Qua điều này chúng ta biết tình yêu thương, ấy là Ngài đã vì chúng ta bỏ sự sống mình”. Yêu thương các anh em có nghĩa là gì? Giăng tiếp tục giải thích. Chúng ta không biết tình yêu thương là gì cho đến khi chúng ta thấy Chúa bỏ sự sống Ngài vì chúng ta. Giăng nói tiếp: “Chúng ta cũng phải bỏ sự sống mình vì anh em”. Tình yêu thương dành cho anh em là lòng sẵn sàng để chính mình qua một bên để phục vụ họ. Đó là muốn từ chối chính mình để làm cho những người khác trở nên hoàn hảo, và thậm chí lòng muốn phó chính sự sống mình cho các anh em.

Câu 18 chép: “Hỡi các con bé mọn, chúng ta đừng yêu thương bằng lời nói hay miệng lưỡi, nhưng bằng việc làm và sự chân thật”. Tình yêu thương anh em không chỉ là những lời trống rỗng, tình yêu thương ấy được bày tỏ bằng việc làm và sự chân thật.

1 Giăng 4:10-12 chép: “Tình yêu thương là ở điều này, không phải chúng ta yêu Đức Chúa Trời nhưng Ngài yêu chúng ta và sai Con Ngài làm tế lễ vãn hồi cho tội lỗi chúng ta. Hỡi những người yêu dấu, nếu Đức Chúa Trời đã yêu thương chúng ta như vậy, chúng ta cũng phải yêu thương nhau. Chưa từng ai thấy Đức Chúa Trời; nếu chúng ta yêu thương nhau thì Đức Chúa Trời cứ ở trong chúng ta, và tình yêu thương Ngài được làm cho hoàn hảo trong chúng ta”. Điều này cho thấy tình yêu thương chúng ta đối với Đức Chúa Trời và tình yêu thương đối với nhau là hai điều không thể phân rẽ. Tình yêu thương dành cho Đức Chúa Trời được làm cho hoàn hảo trong chúng ta nếu chúng ta yêu thương nhau. Ngày nay, Đức Chúa Trời đặt nhiều anh em trước mặt chúng ta để chúng ta thực tập yêu thương Đức Chúa Trời. Tình yêu thương dành cho Đức Chúa Trời được làm cho hoàn hảo trong chúng ta nếu chúng ta yêu thương lẫn nhau. Chúng ta không nên nói cách vô nghĩa rằng mình yêu Đức Chúa Trời. Chúng ta phải học tập yêu thương các anh em cách thực tế. Chỉ nói suông về tình yêu thương là điều hư không. Tình yêu thương chúng ta dành cho Đức Chúa Trời phải được bày tỏ trong tình yêu thương chúng ta dành cho anh em.

1 Giăng 5:2-3 chép: “Khi chúng ta yêu thương Đức Chúa Trời và làm theo mạng lịnh Ngài, thì nhờ điều này chúng ta biết mình yêu thương con cái của Đức Chúa Trời. Vì đây là tình yêu thương của Đức Chúa Trời, ấy là chúng ta giữ các mạng lịnh của Ngài”. Nếu chúng ta yêu thương Đức Chúa Trời, chúng ta phải giữ các mạng lịnh của Ngài. Cũng vậy, nếu chúng ta yêu thương con cái Đức Chúa Trời, chúng ta phải giữ các mạng lịnh của Ngài. Chẳng hạn như mạng lịnh của Đức Chúa Trời nói rằng chúng ta nên chịu báp-têm bằng cách dìm xuống nước. Nhưng nhiều con cái Đức Chúa Trời giữ những ý kiến khác nhau. Họ nói: “Tôi không đồng ý với báp-têm dìm xuống nước. Nếu các anh yêu thương chúng tôi, các anh không nên chịu báp-têm bằng cách dìm xuống nước. Điều đó làm tổn thương tôi”. Chúng ta nên làm gì? Đức Chúa Trời truyền dạy chúng ta phải lìa khỏi các giáo phái và không ở lại trong một hệ phái nào cả, tuy nhiên, nhiều con cái Đức Chúa Trời đẩy mạnh các giáo phái. Họ nói: “Các anh không nên lìa khỏi các giáo phái. Các anh sẽ làm tổn thương chúng tôi khi các anh lìa khỏi các giáo phái”. Chúng ta nên làm gì? Chúng ta phải lìa khỏi các giáo phái nếu muốn yêu Đức Chúa Trời, và chúng ta nên ở lại trong các giáo phái nếu muốn yêu các anh em. Điều này đặt chúng ta trong một tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Nhưng câu 2 nói: “Khi chúng ta yêu thương Đức Chúa Trời và làm theo các mạng lịnh Ngài, thì nhờ điều này chúng ta biết mình yêu con cái Đức Chúa Trời”. Nói cách khác, chúng ta không thể nói mình yêu thương con cái Đức Chúa Trời nếu chúng ta không giữ mạng lịnh Ngài. Giả sử một anh em được Đức Chúa Trời chạm đến về việc chịu báp-têm bằng cách dìm xuống nước. Người ấy nên chịu báp-têm nếu anh yêu thương các con cái Đức Chúa Trời. Nếu anh không chịu báp-têm, anh sẽ ảnh hưởng đến các con cái khác của Ngài, vì có thể họ cũng chọn con đường không chịu báp-têm. Điều này sẽ cản trở họ trong việc vâng lời Đức Chúa Trời. Đó không phải là cách yêu thương họ. Nếu giữ tất cả các mạng lịnh của Đức Chúa Trời, chúng ta biết mình yêu thương các con cái Ngài. Chúng ta sẽ chọn con đường vâng phục. Khi ấy, các con cái khác của Ngài cũng sẽ chọn giống như chúng ta. Nếu chọn không vâng lời chỉ vì sợ rằng sự vâng lời của mình sẽ làm tổn thương họ, chúng ta sẽ không có cách nào tiến tới, và họ cũng không có cách nào tiến tới. Chúng ta phải học yêu thương Đức Chúa Trời và phải học giữ tất cả những mạng lịnh của Ngài. Bằng cách yêu thương Ngài và giữ các điều răn Ngài, chúng ta biết mình yêu thương con cái Ngài. Chúng ta phải giữ tất cả các mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Đó là cách duy nhất dẫn dắt các con cái Đức Chúa Trời đến con đường vâng lời. Chúng ta hãy xem xét một thí dụ minh họa khác: Giả sử cha mẹ anh em không cho phép anh em tin Chúa. Anh em nên làm gì? Anh em sẽ từ chối Chúa vì yêu họ ư? Nếu anh em nghe lời họ và từ chối Chúa, anh em không thực hành tình yêu thương chút nào! Nếu anh em không nghe lời họ, mà trái lại, anh em tin Chúa, họ có thể giận anh em một thời gian, nhưng anh em mở một con đường cho họ để họ tin Chúa. Đó là tình yêu thương!

Tuy nhiên chúng ta không được xúc phạm đến cha mẹ mình trong thái độ hoặc trong lời nói. Chúng ta vâng lời và làm theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời là đúng, nhưng chúng ta không được gây cho cha mẹ tổn thương bằng thái độ và lời nói của mình. Chúng ta cần phải bám chặt lẽ thật của Đức Chúa Trời, và đồng thời cũng phải duy trì tình yêu thương. Chúng ta phải học sống công chính ngay từ bước đầu của đời sống Cơ Đốc. Đồng thời, chúng ta không được từ bỏ tình yêu thương. Đừng nhấn mạnh đến tính thánh khiết của sự sống Đức Chúa Trời để rồi hi sinh tình yêu thương được tìm thấy trong sự sống của Ngài. Chúng ta cần phải quân bình về hai phương diện này. Chúng ta muốn vâng lời Đức Chúa Trời, nhưng phải vâng lời với thái độ khiêm nhường. Về mọi phương diện, đừng làm tổn thương tình yêu thương. Nếu cần phải làm điều gì, hãy làm điều đó, nhưng đừng bao giờ làm điều gì xúc phạm đến tình yêu thương. Chúng ta phải có thái độ hòa nhã. Thậm chí khi có sự khác ý giữa vòng các anh em, chúng ta vẫn phải giữ thái độ hiền hòa. Chúng ta phải đầy dẫy tình yêu thương khi nói với anh em: “Anh ơi, tôi ao ước thấy điều anh thấy. Nhưng Đức Chúa Trời bày tỏ cho tôi cách khác, tôi không thể lựa chọn điều gì khác hơn là vâng lời Ngài”. Đừng hạ thấp tiêu chuẩn của Lời Đức Chúa Trời, cũng đừng xúc phạm đến tình yêu thương. Một mặt, hãy vâng lời Đức Chúa Trời, mặt khác, hãy yêu thương. Chúng ta phải bày tỏ cho anh em thấy chúng ta không làm điều gì cho chính mình, chúng ta làm một điều nào đó vì Đức Chúa Trời bảo như vậy. Chúng ta phải có thái độ đúng đắn và đầy dẫy sự nhu mì. Điều này sẽ chinh phục nhiều anh chị em.

V. KẾT QUẢ CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG

1 Giăng 4:16 chép: “Đức Chúa Trời là tình yêu thương, ai cứ ở trong tình yêu thương thì cứ ở trong Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời cứ ở trong người ấy”. Đây là lần thứ hai nhóm chữ Đức Chúa Trời là tình yêu thương xuất hiện trong Thư này. Vì Đức Chúa Trời là tình yêu thương, Ngài muốn chúng ta yêu thương các anh em và ở trong tình yêu thương. Hễ chúng ta ở trong tình yêu thương, chúng ta ở trong Đức Chúa Trời.

Câu 17 và 18 chép: “Nhờ đó tình yêu thương được làm cho hoàn hảo trong chúng ta, để chúng ta được dạn dĩ trong ngày phán xét... Không có sự sợ hãi trong tình yêu thương, nhưng tình yêu thương hoàn hảo thì vất bỏ sự sợ hãi”. 1 Giăng chương 4 là phần duy nhất trong cả Kinh Thánh cho chúng ta biết làm thế nào để đứng cách dạn dĩ trước ngai phán xét. Câu này cho chúng ta biết bí quyết: Hãy ở trong tình yêu thương. Ở trong tình yêu thương là ở trong Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ dạn dĩ trong ngày phán xét khi tình yêu thương này được làm cho hoàn hảo trong chúng ta.

Chúng ta phải có một tư tưởng duy nhất về các anh chị em mình, đó là yêu thương. Chúng ta phải chinh phục họ và tìm kiếm lợi ích cao nhất cho họ. Không có sự ghét bỏ, chỉ có tình yêu thương mà thôi. Thực hành điều này là một bài tập cho chúng ta. Một ngày kia, toàn cả bản thể chúng ta sẽ ở trong tình yêu thương, và tình yêu thương cũng ở trong chúng ta. Khi ấy, cuộc đời chúng ta trên đất này không còn sợ hãi nữa. Không có sự sợ hãi khi chúng ta yêu thương. Khi đứng trước ngai phán xét, chúng ta sẽ không sợ hãi gì cả. Sự sống yêu thương này sẽ hành động trong chúng ta cho đến khi sự sợ hãi ra đi. Trái của Thánh Linh, là tình yêu thương, sẽ cho chúng ta sự dạn dĩ để đứng trước ngai phán xét.

Chúng ta đã thấy yêu thương anh em là yêu thương Đức Chúa Trời. Tình yêu thương chúng ta dành cho các anh em sẽ khiến cho tình yêu thương của Đức Chúa Trời được làm cho hoàn hảo trong chúng ta. Chúng ta có thể yêu thương anh em đến nỗi không còn sợ hãi anh em. Yêu thương Đức Chúa Trời và yêu thương anh em luôn luôn đi chung với nhau. Chúng ta phải yêu thương các anh em trên đất nếu muốn yêu thương Đức Chúa Trời. Có như vậy, tình yêu thương mới được hoàn hảo trong chúng ta và chúng ta sẽ được dạn dĩ trong ngày phán xét. Đó là một điều kỳ diệu.

Nguyện chúng ta hết lòng học tập yêu thương anh em ngay từ bước đầu của đời sống Cơ Đốc. Nguyện sự sống yêu thương tìm được lối tuôn tràn ra qua chúng ta.