Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 3

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 3
ISBN: 0-7363-0978-0
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 45

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG BỐN MƯƠI LĂM

ĐƯỜNG LỐI CỦA HỘI THÁNH

Kinh Thánh: Khải. 2—3

I. KHẢI THỊ VỀ ĐƯỜNG LỐI CỦA HỘI THÁNH

Trong Khải Thị chương 2 và 3 có bảy Hội thánh. Các Hội thánh ấy là bảy Hội thánh thật sự tại Tiểu Á vào thời Giăng viết sách Khải Thị. Khi ấy, tại Tiểu Á có nhiều Hội thánh, nhưng Đức Chúa Trời chỉ chọn bảy Hội thánh tiêu biểu để trình bày lời tiên tri. Khải Thị 1:3 cho biết sách này là một lời tiên tri. Vì vậy, Đức Chúa Trời đã chọn bảy Hội thánh ấy làm lời tiên tri để nói trước đường lối mà Hội thánh phải nhận lấy ở trên đất.

Tại sao chúng ta phải dành thời giờ nghiên cứu Khải Thị chương 2 và 3? Một lý do trọng đại và sâu xa khiến chúng ta phải nghiên cứu là vì hai chương ấy mặc khải lịch sử Hội thánh trong hai ngàn năm sau đó. Các chương ấy cũng cho thấy loại Hội thánh nào Đức Chúa Trời kết án và loại Hội thánh nào Đức Chúa Trời tán thành. Đó là lý do tại sao đọc Khải Thị chương 2 và 3 là điều thiết yếu. Chỉ nhờ nghiên cứu hai chương này mà chúng ta có thể hiểu đường lối của Hội thánh, có thể biết chúng ta nên gia nhập Hội thánh nào, và chúng ta phải trở nên loại người như thế nào để làm vui lòng Chúa. Chủ đề của Khải Thị chương 2 và 3 là đường lối của Hội thánh. Các chương ấy đặc biệt cho chúng ta biết Hội thánh cần phải làm gì để làm vui lòng Chúa. Nếu không hiểu Khải Thị chương 2 và 3, chúng ta không thể làm Cơ Đốc nhân tốt và đúng đắn.

A. Hội Thánh Thứ Nhất — Ê-phê-sô

Có bảy Hội thánh. Hội thánh thứ nhất là Ê-phê-sô. Hội thánh tại Ê-phê-sô chỉ về thời kỳ lịch sử Hội thánh vào cuối thế kỷ thứ nhất, là khi sách Khải Thị được viết. Khi Giăng viết sách Khải Thị, tình trạng của Hội thánh giống như tình trạng của Hội thánh thứ nhất — Ê-phê-sô.

B. Hội Thánh Thứ Hai — Si-miệc-nơ

Hội thánh thứ hai là Si-miệc-nơ. Hội thánh tại Si-miệc-nơ là bức tranh mô tả tình trạng của Hội thánh trải qua mười thời kỳ bắt bớ trong Đế Quốc La Mã, tức từ thế kỷ thứ hai, tức sau khi Giăng qua đời, đến đầu thế kỷ thứ tư. Si-miệc-nơ mô tả Hội thánh trải qua sự bắt bớ từ sau thời các sứ đồ đến thời Con-xtan-tin chấp nhận Cơ Đốc giáo. Trong thời kỳ này, Hội thánh đã bị bắt bớ dữ dội. Hội thánh tại Si-miệc-nơ là lời mô tả có tính cách tiên tri về lịch sử Hội thánh trong thời kỳ ấy.

C. Hội Thánh Thứ Ba — Bẹt-găm

Hội thánh thứ ba là Hội thánh tại Bẹt-găm. Hội thánh này bắt đầu với việc Con-xtan-tin chấp nhận Cơ Đốc giáo làm quốc giáo vào đầu thế kỷ thứ tư năm 313 S.C. Gốc từ gamos có nghĩa là “kết hôn”. Ví dụ, chữ polygamy trong tiếng Anh ra từ gốc từ gamos trong tiếng Hi Lạp, có nghĩa cuộc hôn nhân một chồng nhiều vợ. Pergamos (Bẹt-găm) có nghĩa là “Xin lưu ý! Hiện nay có một cuộc hôn nhân”.

1. Ba Hội Thánh Đầu Tiên Đã Qua Đi

Ba Hội thánh đầu tiên đã qua đi. Hội thánh thứ tư và các Hội thánh tiếp theo thì vẫn hiện hữu. Ngày nay, Hội thánh thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy đều ở với chúng ta! Sự khác biệt giữa ba Hội thánh đầu tiên và bốn Hội thánh sau cùng là mỗi Hội thánh trong ba Hội thánh đầu tiên chỉ xuất hiện sau khi Hội thánh đi trước không còn nữa. Vậy, Hội thánh thứ hai xuất hiện sau khi Hội thánh thứ nhất không còn nữa, và Hội thánh thứ ba xuất hiện sau khi Hội thánh thứ hai không còn nữa. Sau Hội thánh thứ ba, chúng ta có Hội thánh thứ tư. Nhưng Hội thánh thứ tư không biến mất trước khi có Hội thánh thứ năm; Hội thánh thứ tư và thứ năm hiện hữu cùng một lúc. Hội thánh thứ năm ra từ Hội thánh thứ tư, nhưng Hội thánh thứ tư không biến mất. Cũng vậy, Hội thánh thứ sáu ra từ Hội thánh thứ năm, nhưng Hội thánh thứ tư, thứ năm và thứ sáu đều hiện hữu cùng một lúc. Đến khi Hội thánh thứ sáu sinh ra Hội thánh thứ bảy, thì tất cả bốn Hội thánh, là Hội thánh thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy, đều hiện hữu cùng một lúc.

2. Bốn Hội Thánh Sau Cùng Tiếp Tục Cho Đến Khi Chúa Tái Lâm

Bảy Hội thánh trong Khải Thị chương 2 và 3 được chia thành hai nhóm. Ba Hội thánh đầu tiên không còn tồn tại nữa, nhưng bốn Hội thánh sau cùng vẫn ở với chúng ta ngày nay. Các Hội thánh ấy sẽ tiếp tục cho đến khi Chúa Jesus tái lâm.

Lời tiên tri về Thi-a-thi-rơ là: “Cho tới khi Ta đến”. Khải Thị 2:25 nói: “Tuy nhiên, những gì các ngươi có, hãy giữ vững cho tới khi Ta đến”. Điều này cho chúng ta thấy rằng Hội thánh tại Thi-a-thi-rơ sẽ tiếp tục cho tới khi Chúa đến. Hội thánh tại Sạt-đe cũng sẽ tiếp tục cho tới khi Chúa đến. Khải Thị 3:3 nói: “Vậy, hãy nhớ lại thể nào ngươi đã nhận và nghe, cũng hãy giữ theo đó mà ăn năn. Nếu ngươi không thức canh, Ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không có cách nào biết giờ Ta đến trên ngươi”. Điều này cho thấy Hội thánh tại Sạt-đe sẽ tiếp tục cho tới khi Chúa Jesus đến lần thứ hai. Hội thánh tại Phi-la-đen-phi sẽ tiếp tục cho tới khi Chúa đến lần thứ hai vì câu 11 nói rằng: “Ta đến mau chóng; hãy giữ vững những gì ngươi có để không ai lấy đi mão miện của ngươi”. Hội thánh tại Lao-đi-xê là Hội thánh cuối cùng ở trên đất. Câu 21 nói: “Người nào đắc thắng, Ta sẽ ban cho người ấy cùng ngồi với Ta trên Ngai Ta, cũng như Ta đã đắc thắng và cùng ngồi với Cha Ta ở trên ngai Ngài”. Đây là Hội thánh cuối cùng và tự nhiên là sẽ tồn tại cho đến khi Chúa Jesus đến lần thứ hai. Ba Hội thánh đầu tiên đã không nhận được lời hứa nào về sự đến của Chúa, nhưng tất cả bốn Hội thánh cuối cùng đều nhận được lời hứa về sự đến của Chúa. Bốn Hội thánh ấy chắc chắn sẽ tồn tại cho đến khi Chúa Jesus trở lại.

3. Chọn Hội Thánh Đúng Đắn Trong Bốn Hội Thánh Sau Cùng

Hôm nay, chúng ta sẽ xem xét kỹ bốn Hội thánh ấy trước mặt Chúa. Việc ấy sẽ bày tỏ cho chúng ta thấy con đường chúng ta cần phải đi với tư cách là con cái Đức Chúa Trời. Nếu ngày nay có bốn loại Hội thánh khác nhau trên đất và nếu tất cả các Hội thánh ấy đều tiếp tục cho đến khi Chúa trở lại, thì con cái Đức Chúa Trời phải có thái độ nào đối với các Hội thánh ấy? Chúng ta phải cẩn thận chọn một trong bốn Hội thánh ấy. Nếu chúng ta chọn một Hội thánh không làm đẹp lòng Chúa và bị Ngài kết án thì chúng ta sẽ chịu một mất mát lớn trước mặt Chúa. Đó là tại sao chúng ta phải dành ít thời giờ xem xét bốn Hội thánh sau cùng.

D. Hội Thánh Thứ Tư — Thi-a-ti-rơ

Hội thánh thứ tư là Thi-a-ti-rơ. Sau khi hoàng đế La Mã chấp nhận Cơ Đốc giáo làm quốc giáo, ông đã nâng đỡ và yểm trợ Cơ Đốc giáo bằng quyền lực chính trị của mình. Trước đó, Đế Quốc La Mã đã dùng quyền lực chính trị để đàn áp Cơ Đốc giáo. Sau đó, Đế Quốc La Mã bắt đầu vận dụng quyền lực chính trị của nó để nâng đỡ Cơ Đốc giáo. Kết quả, Cơ Đốc giáo không những kết hôn với thế gian mà còn được tôn cao hơn thế gian. Một ý nghĩa của chữ Thi-a-ti-rơ là “cái tháp cao”. Bấy giờ Hội thánh trở thành một cái tháp cao trong thế gian, một cái tháp được ngắm nhìn, tôn trọng và thờ lạy.

1. Thi-a-ti-rơ Là Công Giáo La Mã

Tất cả những người đọc Kinh Thánh đều đồng ý rằng Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ chỉ về Giáo hội Công giáo La Mã. Giáo hội Công giáo La Mã là một sự kết hiệp giữa Hội thánh và thế gian. Kết quả là Hội thánh được tôn cao trong thế gian. Nan đề nội tại của điều này là một nữ tiên tri được sinh ra từ sự kết hiệp ấy. Người đàn bà ấy được gọi là Giê-sa-bên, tức người cho mình là một giáo sư giữa vòng các đầy tớ của Đức Chúa Trời. Hội thánh được giao cho bà cai trị và điều khiển. Nan đề của Giáo hội Công giáo La Mã là nan đề đã được mô tả trong ẩn dụ thứ tư của Ma-thi-ơ chương 13, tại đó có một người đàn bà lấy men giấu trong ba đấu bột. Trong Kinh Thánh, người đàn bà ấy chỉ về Giáo hội Công giáo La Mã.

a. Hai Tội Căn Bản — Gian Dâm Và Ăn Của Cúng Hình Tượng

Người đàn bà ấy làm gì? Khải Thị 2:20 chép: “Nhưng có [điều] Ta trách ngươi, ấy là ngươi dung nhượng cho người đàn bà Giê-sa-bên kia, tức người tự xưng là nữ tiên tri, giảng dạy và dẫn dụ các nô lệ của Ta phạm tội gian dâm và ăn của cúng hình tượng”. Giê-sa-bên có hai tội chính yếu: Một tội là gian dâm, còn tội kia là ăn của cúng hình tượng. Đó là hai tội đáng bị dứt thông công. Chúa khiển trách các giáo lý của Giê-sa-bên.

Các câu từ 21 đến 23 chép rằng: “Ta đã cho nó thời giờ để có thể ăn năn, mà nó không muốn ăn năn về sự gian dâm của mình. Này, Ta quăng nó trên giường, và những kẻ thông dâm với nó vào cơn hoạn nạn, trừ phi chúng nó ăn năn những công việc của nó; Ta sẽ giết chết con cái của nó bằng sự chết; mọi Hội thánh sẽ biết Ta là Đấng dò xét lòng dạ; và Ta sẽ ban cho mỗi người trong các ngươi tùy theo những công việc của các ngươi”. Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ và những sự dạy dỗ của Giê-sa-bên có hai đặc điểm: Một là gian dâm, còn đặc điểm kia là thờ hình tượng. Trong Kinh Thánh, gian dâm có nghĩa là trộn lẫn. Một người ở trong tình trạng trộn lẫn có nghĩa là người ấy dính dấp đến tội gian dâm. Tại đây, chúng ta nhận thấy Giáo hội Công giáo La Mã trộn lẫn với thế gian.

b. Ma-ri Thế Chỗ Nữ Thần Của Hi Lạp

Mọi tôn giáo trên thế giới đều có nữ thần của nó. Phật giáo có Phật Bà Quan Âm, và người Hi Lạp thờ nữ thần Venus. Người La Mã nhận lấy sự thực hành này từ người Hi Lạp và thờ các nữ thần. Vì không thể tìm thấy một nữ thần nào trong Cơ Đốc giáo, nên họ lấy trinh nữ Ma-ri làm nữ thần của mình. Trên danh nghĩa họ gọi bà là Ma-ri, nhưng thật ra bà bị xem như một nữ thần Hi Lạp. Đó là tà dâm và trộn lẫn.

c. Ngày Lễ Hội Mặt Trời Trở Thành Lễ Giáng Sinh

Nhiều người La Mã thờ mặt trời và hằng năm ăn mừng sinh nhật của mặt trời vào ngày 25 tháng 12. Ngày 22 tháng 12 là ngày ngắn nhất trong năm. Sau ngày 22 tháng 12, ngày bắt đầu dài hơn và đêm bắt đầu ngắn hơn. Những người thờ mặt trời xem ngày 25 tháng 12 là ngày sinh của mặt trời, và họ tổ chức một ngày hội lớn. Sau khi nhiều người trong họ được hoán cải, họ nảy ra một sáng kiến khi nhìn thấy bạn bè vô tín của mình tưng bừng vui vẻ ăn mừng ngày hội ấy, trong khi họ thì không ăn mừng lễ nào cả. Họ tuyên bố rằng Chúa Jesus là mặt trời chân chính và ngày 25 tháng 12 phải là ngày sinh của Chúa. Kết quả là họ lập ngày ấy làm ngày lễ Giáng Sinh. Điều duy nhất trong lễ giáng sinh có tính chất Cơ Đốc là việc dùng tên của Đấng Christ làm tên của ngày lễ. Thật ra, lễ Giáng Sinh thuộc về đạo thờ thần mặt trời. Xin nhớ rằng đó là tà dâm trước mặt Đức Chúa Trời; đó là một sự trộn lẫn. Sự thờ lạy mặt trời được trộn lẫn với Cơ Đốc giáo.

d. Đền Thờ Ngoại Giáo Trở Nên Đền Thờ Của Đức Chúa Trời

Hội thánh là đền thờ của Đức Chúa Trời. Trong Cựu Ước, đền thờ của Đức Chúa Trời một phần được xây dựng bằng gỗ còn hầu hết được xây dựng bằng đá. Trong thời đại Tân Ước, Đức Chúa Trời cho phép đền thờ bị hủy diệt, không chừa một tảng đá nào nằm trên một tảng đá nào. Ngày nay, đền thờ ở đâu? Ngày nay, tất cả những người tin nhận Chúa là đền thờ của Đức Chúa Trời. Thân thể chúng ta là đền thờ của Thánh Linh. Vậy mà ngày nay Giáo hội Công giáo La Mã đã xây những tòa nhà cao ngất và đồ sộ. Người Hi Lạp vốn tài giỏi [trong việc xây dựng] những công trình kiến trúc tinh xảo. Người La Mã tiếp tục truyền thống Hi Lạp và dành nhiều thời giờ nghiên cứu khoa kiến trúc. Họ cũng rất tài ba [trong việc xây dựng] các dinh thự có mỹ thuật. Họ cảm thấy tất cả các vị thần đều có đền thờ riêng, còn Cơ Đốc giáo thì không có gì để ngắm nhìn cả. Họ từ bỏ sự dạy dỗ của các sứ đồ và xây những tòa nhà đồ sộ và lộng lẫy. Không tòa nhà nào khác trên thế giới có thể sánh với những vương cung thánh đường của Cơ Đốc giáo. Người ta gọi các thánh đường ấy là đền thờ của Đức Chúa Trời. Các vương cung thánh đường tại Mi lan, Vương cung Thánh đường Thánh Phao-lô tại La Mã, và Vương cung Thánh đường No tre Dame tại Pa-ri đều là những tòa nhà cao mà người ta gọi là đền thờ của Đức Chúa Trời. Xin nhớ rằng ý tưởng này bắt nguồn từ ngoại giáo. Người ta biến đền thờ ngoại giáo thành đền thờ của Cơ Đốc giáo. Họ cho các tòa nhà ấy là tòa nhà Cơ Đốc, nhưng thật ra đó là những dinh thự ngoại giáo. Cơ Đốc giáo đã phạm tội tà dâm và bước theo những người thuộc ngoại giáo.

e. Chức Vụ Tế Lễ Trong Do Thái Giáo Được Chuyển Đổi Thành Chức Vụ Tế Lễ Trong Công Giáo

Mỗi người con của Đức Chúa Trời trong Tân Ước đều là thầy tế lễ. Hễ người nào làm con cái [của Đức Chúa Trời] thì người ấy là thầy tế lễ. Theo cái nhìn của Đức Chúa Trời, tất cả những người tin nhận Chúa Jesus đều là thầy tế lễ, và đều phải phục vụ Ngài. Nhưng nhận thấy các thầy tế lễ trong Do Thái giáo đã phục vụ hiệu quả với tư cách là giai cấp trung gian của dân chúng, nên Giáo hội Công giáo La Mã đã chia các tín đồ theo Công giáo La Mã thành hai giai cấp và đưa khái niệm Cựu Ước của Do Thái giáo về chức vụ tế lễ vào Hội thánh Tân Ước. Một giai cấp thì mặc lấy y phục tế lễ và đội mũ tế lễ. Mọi điều Kinh Thánh mô tả về chức vụ tế lễ đều được Giáo hội Công giáo La Mã áp dụng cho các thầy tế lễ của họ. Họ ăn mặc giống như các thầy tế lễ Cựu Ước. Họ còn thêm vào nhiều chi tiết nhỏ nhặt khác. Họ không những vay mượn từ Do Thái giáo mà cũng đem nhiều điều từ tôn giáo Hi Lạp và từ các đền thờ La Mã vào Cơ Đốc giáo. Họ đã thay đổi đường lối Đức Chúa Trời chỉ định. Đó là tà dâm. Trong Kinh Thánh, tà dâm có nghĩa là trộn lẫn.

f. Các Yếu Tố Mê Tín Từ Ngoại Giáo

Những điều ấy vẫn chưa hết. Giáo hội Công giáo La Mã còn đưa vào những thứ như nến, chân đèn, trầm hương, v.v..., là những thứ thuộc về Cựu Ước. Thậm chí vật dụng [thờ phượng] thuộc ngoại giáo cũng được đem vào. Đó hoàn toàn là tà dâm. Ngoại giáo, sự thờ hình tượng, mê tín và các điều thần bí của La Mã đều được Cơ Đốc giáo hóa. Đó không phải là Đạo Đấng Christ, mà là một tình trạng vô cùng hỗn loạn.

g. Đầy Dẫy Các Hình Tượng

Đức Chúa Trời khiển trách Thi-a-ti-rơ không những vì tình trạng pha trộn mà còn vì tình trạng thờ hình tượng của Hội thánh ấy. Đức Chúa Trời phải khiển trách Hội thánh của chính Ngài về sự thờ hình tượng là điều lạ lùng biết bao! Hội thánh thật sự đã liên hệ đến việc thờ hình tượng. Trong Cựu Ước, người ta thờ con rắn bằng đồng. Trong Giáo hội Công giáo La Mã, người ta thờ thập tự giá của Chúa Jesus. Công giáo La Mã công bố là đã tìm thấy thập tự giá thật, và từ gỗ của thập tự giá ấy họ làm ra nhiều thập tự giá nhỏ. Người ta thờ những thứ ấy. Chúa Jesus là Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời không có hình ảnh. Vậy mà những người ấy tạo ra ảnh tượng của Đức Chúa Trời để thờ. Họ cũng tạo ra ảnh tượng của Ma-ri, Phi-e-rơ và Mác. Rốt cuộc, khắp đất đầy dẫy những ảnh tượng của họ! Vì sự khác biệt về văn hóa, một số hình tượng rất tinh xảo, trong khi những cái khác thì thô sơ. Những người sống trong nền văn minh tiến bộ thì tạo ra các ảnh tượng lộng lẫy, trong khi những người sống trong nền văn minh lạc hậu chỉ có các ảnh tượng thô sơ. Nhưng tất cả đều là hình tượng. Các thánh đường của họ đều đầy dẫy hình tượng! Khi người Công giáo cầu nguyện, họ không cầu nguyện Đức Chúa Trời ở trên trời. Thay vào đó, họ thắp nến trước các hình tượng và làm dấu thánh giá trước các hình tượng. Họ có ảnh tượng của Đức Chúa Cha, Chúa Jesus, Ma-ri, Phao-lô và Phi-e-rơ. Họ có ảnh tượng của tất cả các thánh chịu khổ và những người tuận đạo trong suốt các thời đại. Trải qua các thời đại, và thậm chí ngày nay, khi những cá nhân lỗi lạc trong Hội thánh chết, Giáo hội Công giáo La Mã phong thánh cho họ và tạo ra các ảnh tượng của họ. Rồi họ sản xuất các hình tượng và mọi người thờ các hình tượng ấy.

h. Thờ Xương Của Những Người Tuận Đạo

Những điều trên chưa phải là tất cả. Ngay cả xương của những người tuận đạo cũng trở thành đối tượng để thờ phượng. Nếu người nào đào được một cái chân hay một khúc xương của một người tuận đạo, Giáo hội Công giáo La Mã sẽ tụ tập quanh đó và thờ lạy. Trừ khi được thông tin đầy đủ về tôn giáo ấy, một người không thể nào đoán được có bao nhiêu hình tượng trong Công giáo. Những người quen thuộc với Công giáo La Mã đều biết rằng giáo hội ấy thật sự đầy dẫy các hình tượng.

Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ chỉ về Giáo hội Công giáo La Mã. Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ có hai tội căn bản. Một là tà dâm, tức đưa những thứ thuộc ngoại giáo vào Hội thánh. Tội kia là thờ hình tượng, tức tạo ra các hình tượng từ nhiều điều trong Hội thánh.

2. Thi-a-ti-rơ Là Hội Thánh Bị Đức Chúa Trời Kết Án

Hội thánh này bị Đức Chúa Trời kết án. Chúa nói với những người trong Giáo hội Công giáo La Mã rằng: “Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi không dự phần trong những tội lỗi của nó và khỏi chuốc lấy tai họa của nó” (Khải. 18:4). Đức Chúa Trời không hài lòng với những người ở lại trong Công giáo La Mã.

Theo Khải Thị chương 2 và 3, Thi-a-ti-rơ là Hội thánh thứ tư. Hội thánh ấy theo sau Bẹt-găm. Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ và Bẹt-găm đều đã qua đi. Thi-a-ti-rơ xuất hiện sau các Hội thánh ấy và vẫn tồn tại. Hội thánh ấy sẽ ở với chúng ta cho đến khi Chúa Jesus trở lại. Đó là Hội thánh thứ tư, nhưng sẽ tiếp tục cho đến khi Chúa Jesus trở lại. Là tín đồ và là con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta không được đụng đến bất cứ điều gì liên quan đến Công giáo. Đừng bao giờ đụng đến những điều bất khiết ấy. Một khi chạm đến những điều ấy thì anh em sẽ bị chúng ảnh hưởng. Tôi nhớ có lần D. M. Pan ton nói rằng: “Có quá nhiều sai lầm trong các sách vở của họ đến nỗi người ta khó nhận ra chúng có gì sai lầm”. Một người khó phân biệt đúng sai vì có quá nhiều điều sai trật, tức là trong hết điều này đến điều kia người ấy chỉ thấy toàn là lỗi lầm. Tình trạng ấy làm rối trí người ta! Vậy, chúng ta không bao giờ có thể đi con đường của Công giáo La Mã!

E. Hội thánh Thứ Năm — Sạt-đe

Hội thánh thứ năm là Sạt-đe. Sạt-đe là Hội thánh được phục hồi hay Hội thánh còn lại. Chúng ta cũng có thể nói rằng đó là Hội thánh bị bỏ lại. Hội thánh ấy theo sau Thi-a-ti-rơ, nhưng Thi-a-ti-rơ không biến đi. Sạt-đe theo sau Thi-a-ti-rơ, nhưng không thay thế Thi-a-ti-rơ.

1. Có Tiếng Là Sống Nhưng Lại Chết

Tình trạng của Sạt-đe có thể được nhận thấy từ phân đoạn Kinh Thánh: “Ta biết các công việc của ngươi, ngươi có tiếng là sống, nhưng lại chết. Hãy thức canh và vững lập những điều còn lại, đó là những điều sắp chết; vì Ta không thấy công việc nào của ngươi hoàn tất trước [mặt] Đức Chúa Trời Ta... Nhưng ngươi có một vài tên tại Sạt-đe chưa làm ô uế áo xống của mình” (3:1-2, 4). Đặc điểm của Sạt-đe là có tiếng là sống nhưng lại chết.

2. Sự Cải Chánh Tôn Giáo Và Sự Cải Chánh Chính Trị

Giáo hội Tin Lành theo sau Giáo hội Công giáo La Mã. Sạt-đe chỉ về toàn bộ Giáo hội Tin Lành. Mặc dầu Sạt-đe bao gồm sự cải chánh, Hội thánh ấy không phải là một bức tranh về sự cải chánh mà là một bức tranh về toàn thể Giáo hội Tin Lành.

Vào thời kỳ quyền lực của mình lên đến tột đỉnh, Công giáo La Mã trở thành một chế độ chuyên quyền và gian ác. Phong trào cải chánh đã diễn ra vào thời mà các quốc gia tại Âu Châu không còn có thể chịu nổi sự đàn áp của Công giáo. Tuy nhiên, vào thời phong trào cải chánh, có hai loại ảnh hưởng đã tác động: Một là từ Đức Chúa Trời, còn một là từ con người.

Về phía Đức Chúa Trời thì có Martin Luther. Một mình ông chống lại các linh mục, giám mục, đức giáo hoàng và toàn thể Giáo hội Công giáo La Mã. Vào thời ấy, Đức Chúa Trời ban cho con người quyển Kinh Thánh mở ra và mặc khải cho họ lẽ thật về sự xưng công chính bởi đức tin. Những người yêu mến Đấng Christ đã dấy lên khắp nơi và đưa đến phong trào cải chánh. Họ đã hi sinh mạng sống vì Chúa để đóng ấn cho lời chứng của mình. Họ tiếp tục trong đức tin của mình trong công tác khôi phục của Chúa mặc dầu bị Giáo hội Công giáo bắt bớ. Họ đã hi sinh mọi sự để duy trì phong trào cải chánh. Thánh Linh đã chuyển động một cách thắng thế và sản sinh nhiều đầy tớ trung tín. Kinh Thánh được mở ra và người ta bắt đầu nhìn thấy ánh sáng; mọi người ở khắp nơi được khai sáng về sự cứu rỗi của mình. Họ tuyên bố rằng họ không còn trông cậy nơi việc làm hay các linh mục để được cứu rỗi, nhưng chỉ trông cậy một mình Đức Chúa Trời. Đó thật sự là một công tác lớn lao của Thánh Linh!

Trong khi Luther tranh đấu cho phong trào Cải Chánh, nhiều thế lực chính trị vốn có ý chỉ trích Giáo hội Công giáo La Mã đã cố gắng lợi dụng phong trào Cải Chánh để đạt được mục tiêu chính trị của chính họ. Phong trào Cải Chánh trở thành sự cải cách chính trị cũng như sự cải cách tôn giáo. Lý do một phần là vì Công giáo La Mã không những được trang bị bằng quyền lực tôn giáo mà còn được trang bị bằng quyền lực chính trị. Nên vào thời ấy, Giáo hội Công giáo La Mã cai trị toàn bộ Âu Châu. Vì vậy, tuy phong trào Cải Chánh nguyên là một phong trào tôn giáo, nhưng các vua chúa, bậc cầm quyền và chính khách tại nhiều quốc gia đã nắm lấy cơ hội ấy để tự giải thoát khỏi sự chuyên chế của La Mã và tuyên bố độc lập khỏi La Mã. Đó là lý do ẩn sau sự cải cách chính trị. Vì vậy, trước kia cả sự quản trị Hội thánh lẫn chính quyền dân sự đều ở dưới [quyền của] La Mã, nhưng nay cả Hội thánh lẫn các quốc gia đều thoát khỏi [quyền lực của] La Mã.

3. Sự Hình Thành Các Hội Thánh Quốc Gia

Cuối cùng, phong trào Cải Chánh trở thành một mặt trận liên kết của Hội thánh và thế gian chống lại Công giáo La Mã. Không những Hội thánh chống lại Thi-a-ti-rơ, mà các thế lực chính trị cũng chống lại Thi-a-ti-rơ nữa. Hai bên cùng nắm lấy cơ hội và đồng thời tiến hành một cuộc cách mạng chống lại Giáo hội Công giáo. Kết quả là các Hội thánh quốc gia đã được hình thành. Tại Đức và Thụy Điển đều có Hội thánh Luther. Tại Anh có Hội thánh Anh Quốc, còn tại Hà Lan thì có Hội thánh Cải Chánh Hà Lan v.v... Tất cả các Hội thánh ấy đều là những Hội thánh quốc gia.

a. Tôn Giáo Bị Pha Trộn Với Chính Trị

Vào giai đoạn đầu của phong trào Cải Chánh, nhiều con dân của Đức Chúa Trời đã ra khỏi Công giáo vì họ muốn thoát khỏi tội tà dâm và sự thờ hình tượng của giáo hội ấy. Tuy nhiên, sự cải cách đã bị thế lực chính trị kích thích thêm. Vì thiếu hiểu biết nên họ đã nhận lấy sự giúp đỡ từ thế lực bên ngoài. Họ lặp lại lỗi lầm của Giáo hội Công giáo La Mã qua việc thiết lập các Hội thánh mới ấy. Trong Công giáo, chúng ta thấy một Hội thánh kết hiệp chính trị và tôn giáo. Khi thiết lập các Hội thánh riêng của mình, Giáo hội Tin Lành cũng liên kết chính trị với tôn giáo.

b. Hội Thánh Chấp Nhận Quốc Gia Làm Ranh Giới

Nếu các tín đồ lìa bỏ Giáo hội Công giáo La Mã trở về với Tân Ước, thì họ sẽ nhận thấy rằng Hội thánh là dân của Đức Chúa Trời và là một đoàn thể không nhận sự trợ giúp từ bất cứ người nào. Nhưng ánh sáng của họ đã không đủ mạnh. Nhiều thế lực chung quanh cố gắng lợi dụng họ. Kết quả, họ thành lập cái mệnh danh là các Hội thánh quốc gia. Các tín đồ tại Đức hình thành Hội thánh Đức Quốc, và tất cả các công dân Đức đều trở nên thành viên của Hội thánh ấy. Tại Anh thì có Hội thánh Anh Quốc. Bất cứ người nào sinh tại Anh đều đủ điều kiện để được linh mục Anh quốc giáo báp-têm. Theo định nghĩa về Hội thánh quốc gia, ranh giới của Hội thánh là ranh giới của quốc gia. Không những các tín đồ được bao gồm trong Hội thánh, mà tất cả các công dân bản xứ đều đủ điều kiện được báp-têm trong Hội thánh. Trên danh nghĩa thì Hội thánh quốc gia sống động, nhưng thật sự lại chết chóc. Các Hội thánh quốc gia đã được hình thành như vậy.

c. Tín Đồ Lẫn Lộn Với Người Vô Tín

Giáo hội Tin Lành có đặc điểm là sự pha trộn thế gian với Hội thánh. Trước đó, tình trạng pha trộn có tính cách rộng khắp, nhưng về sau, tình trạng ấy được giới hạn theo từng quốc gia. Giáo hội Công giáo La Mã nguyên cai trị toàn thể thế giới. Về sau, các Hội thánh độc lập dấy lên tại mỗi quốc gia, và mỗi quốc gia đều có Hội thánh riêng của nó. Hội thánh được đồng nhất với con dân của Đức Chúa Trời cũng như đồng nhất với những người không phải là con dân Ngài; Hội thánh lâm vào tình trạng lẫn lộn. Hội thánh có tiếng là sống nhưng lại chết! Đó là tình trạng của Giáo hội Tin Lành.

d. Những Cá Nhân Xuất Chúng Về Mặt Thuộc Linh

Tất nhiên, tình trạng ấy không ngăn trở Giáo hội Tin Lành sản sinh ra nhiều người vĩ đại. Trong Giáo hội Tin Lành có nhiều người thuộc linh thật sự vĩ đại được Đức Chúa Trời đại dụng. Đó là tại sao Chúa nói: “Nhưng ngươi có một vài tên tại Sạt-đe chưa làm ô uế áo xống của mình, và họ sẽ mặc áo trắng mà cùng bước đi với Ta vì họ xứng đáng” (3:4). Đó là lịch sử và đặc tính của Giáo hội Tin Lành. Một mặt, Hội thánh ấy sống nhưng lại chết. Mặt khác, Hội thánh ấy sản sinh nhiều người thuộc linh vĩ đại. Tuy nhiên, tất cả những người ấy đều là các cá nhân, chứ không phải là một con người tập thể. Sạt-đe có “một vài tên”. Luôn luôn có một vài người rải rác đó đây. Ấy là đặc tính của Giáo hội Tin Lành.

e. Sự Dấy Lên Các Hội Thánh Độc Lập

Lịch sử của Giáo hội Tin Lành bắt đầu với các Hội thánh quốc gia. Về sau, chúng ta thấy những Hội thánh độc lập phát triển qua những người mệnh danh là những người biệt giáo (tức những người có quan điểm khác với các Hội thánh quốc gia). Họ bắt đầu nhận thấy rằng nhiều người gia nhập Hội thánh quốc gia nhờ thủ tục gọi là “báp-têm” chứ không phải nhờ đức tin. Một người trở nên tín đồ không phải nhờ đức tin mà nhờ sự báp-têm. Các tín đồ được tạo ra không phải bởi đức tin mà bởi sự báp-têm. Nhiều người thức tỉnh trước sự sai lầm ấy trong các Hội thánh quốc gia. Họ tin rằng chỉ sau khi tin nhận Đức Chúa Trời, một người mới trở nên con cái Ngài.

f. Sự Chia Rẽ Do Các Lẽ Thật

Một số người trong vòng họ bắt đầu đặc biệt chú ý đến những lẽ thật mới mẻ mà họ khám phá ra được. Các Hội thánh quốc gia không có ý định nghiêm túc làm điều gì ngoại trừ duy trì các tổ chức quốc gia của họ; họ không có ý định nghiêm túc trong việc phục vụ Chúa. Đức Chúa Trời bắt đầu dấy lên nhiều người, vài người ở đây hay một nhóm người ở đó. Họ bắt đầu khám phá ra những lẽ thật nào đó và lên án một số cách hành đạo. Họ khởi xướng cái gọi là Hội thánh độc lập hay Hội thánh biệt giáo, tức Hội thánh có những quan điểm khác biệt. Họ đã chịu bắt bớ và chống đối nhiều. Câu chuyện về John Bunyan là một thí dụ về sự bắt bớ ấy. Tại Xcốt-len cũng có sự bắt bớ Giáo hội Trưởng lão. Do bị bắt bớ mà những người theo Thanh giáo đã vượt biển qua Mỹ. Giữa vòng những người ấy có John Wesley, George Whitefield và các nhóm của họ. Đó đây Đức Chúa Trời dấy lên một người và bày tỏ cho người ấy thấy một số lẽ thật đặc biệt. Người ấy chỗi dậy lên án những cách hành đạo nào đó và tự tách mình khỏi những tội lỗi ấy. Kết quả là một số người tự tách ra khỏi các Hội thánh quốc gia.

g. Sự Hiệp Một Dựa Trên Sự Xử Lý Tội Lỗi

Ban đầu, khi những người biệt giáo tự tách ra khỏi Hội thánh quốc gia, họ bị tố cáo là chia rẽ. Vì có những ý kiến khác biệt nên họ bị gán cho là bọn người chia rẽ. Thật ra, họ không phải là những người gây chia rẽ. Các Hội thánh quốc gia đã trở nên quá rộng rãi; quá nhiều loại người được bao gồm [trong đó]. Để con cái Đức Chúa Trời bước theo Ngài, họ không có sự lựa chọn nào khác hơn là phải tự tách ra khỏi các Hội thánh quốc gia ấy.

Chúng ta phải nhận thấy rằng sự hiệp một không phải dựa trên việc dung chịu tội lỗi mà dựa trên sự xử lý tội lỗi. Ngày nay, sự hiệp một được vài người đề cập dựa trên sự dung chịu một tội nào đó. Một tội được tìm thấy, và một người dung chịu tội ấy rồi một người khác nữa cũng dung chịu tội ấy. Tất cả những người dung chịu tội lỗi ấy tạo ra một sự hiệp một dựa trên sự dung chịu. Khi mọi người đều dung chịu tội lỗi, thì không ai có nan đề đối với ai. Có nhiều điều bên trong các Hội thánh quốc gia vốn không thuộc về Đức Chúa Trời. Một người có thể được Linh chạm đến lương tâm mình để từ bỏ tội ấy, còn những người khác thì không từ bỏ tội ấy. Thế thì, người từ bỏ tội ấy mang tiếng là người gây chia rẽ. Thật ra, nan đề không nằm nơi người nhìn thấy điều gì đó, mà nằm nơi những người chưa thấy gì cả.

Nếu tất cả con cái của Đức Chúa Trời đều chỗi dậy thi hành sự xử lý, thì họ sẽ là một. Sự hiệp một giữa vòng con cái Đức Chúa Trời không được dựa trên việc họ bỏ qua [tội lỗi]. Trước hết chúng ta phải hiệp một với Chúa. Nếu con cái Đức Chúa Trời bất cẩn trong việc xử lý tội lỗi, thì họ có thể có sự hiệp một giữa vòng mình, nhưng chắc chắn đã đánh mất sự hiệp một với Chúa.

Lịch sử của Giáo hội Tin Lành cho thấy rằng đó đây Đức Chúa Trời liên tục dấy lên những người theo đuổi lòng Ngài và xử lý tội lỗi. Những người khác có thể không nhìn thấy, hay có thể không chịu nhìn thấy những gì họ nhìn thấy. Kết quả là những người nhìn thấy điều gì đó bị gán cho là chia rẽ vì họ vâng phục Đức Chúa Trời. Nếu ngày nay mỗi người con của Đức Chúa Trời đều đoán xét tội lỗi và xử lý mọi sự không ra từ Đức Chúa Trời, thì họ sẽ hiệp một với nhau và với Chúa. Xin nhớ rằng xử lý tội lỗi là nền tảng hiệp một của chúng ta.

h. Thế Hệ Thứ Nhất Được Phước, Thế Hệ Thứ Hai Tổ Chức, Và Thế Hệ Thứ Ba Suy Thoái

Một hiện tượng khác giữa vòng những người theo Tin Lành là chu kỳ sau đây: Một người được dấy lên trong một thế hệ nào đó. Người ấy nhận được nhiều ân điển và ơn phước từ Chúa; nhiều ơn phước được tỏ ra trong thế hệ của người ấy. Sau khi thế hệ của người ấy qua đi, thế hệ thứ hai vẫn còn phần nào tốt. Nhưng đến cuối thế hệ thứ hai, người ta bắt đầu chú ý đến những điều khác. Họ bắt đầu nói: “Chúng ta đã nhận được quá nhiều ân điển từ Chúa; chúng ta phải nghĩ ra cách giữ lại ân điển ấy. Chúng ta cần phải thành lập một tổ chức để thi hành và giữ gìn ân điển ấy”. Đến thế hệ thứ hai hay thứ ba, tổ chức bắt đầu xuất hiện. Đôi khi, đến cuối thế hệ thứ nhất tổ chức đã xuất hiện rồi.

Họ tin Đức Chúa Trời là Đấng ban cho ân điển, nhưng họ không tin Đức Chúa Trời cũng là Đấng gìn giữ ân điển. Họ tin nơi ơn phước của Đức Chúa Trời, nhưng họ không tin nơi ơn phước liên tục của Đức Chúa Trời. Do đó, các tín điều, luật lệ, phương cách và cách thức thuộc con người được nỗ lực đưa vào để duy trì ơn phước ấy. Khi đầu nguồn bị đóng, thì sớm muộn gì nước trong hồ cũng sẽ cạn; mực nước không còn dâng lên nữa. Đến thế hệ thứ ba, tình trạng trở nên rất chết chóc, và mọi sự trở về tình trạng giống như trước kia, tức tình trạng lúc họ mới bước ra. Khi ấy, Đức Chúa Trời phải đến với một người hay một vài người khác đang tìm kiếm sự thăm viếng mới, ơn phước mới, sự biệt riêng mới và ân điển mới. Điều đó sẽ đem đến một giai đoạn phục hưng khác. Chu kỳ này cứ lặp đi lặp lại: ơn phước trong thế hệ đầu tiên, tổ chức trong thế hệ thứ hai, và tình trạng suy thoái trong thế hệ thứ ba.

i. Dao Động Giữa Sự Sống Và Sự Chết

Ban đầu, một số người lìa bỏ Hội thánh quốc gia. Về sau, những người lìa bỏ lại bị những người khác lìa bỏ. Những người lìa bỏ Hội thánh quốc gia nguyên là vì Hội thánh quốc gia chết chóc. Sau đó, chính những người đã lìa bỏ trở nên chết chóc và lại bị những người khác lìa bỏ. Toàn bộ lịch sử Giáo hội Tin Lành là một lịch sử có tiếng là sống nhưng trên thực tế lại chết. Đó là một lịch sử dao động giữa sự sống và sự chết. Một số người trở nên sống động, và một số người thì trở nên chết chóc. Không phải tất cả đều chết chóc, vì luôn luôn có một vài người không làm ô uế chính mình, là những người lỗi lạc được Đức Chúa Trời tuyển chọn và sử dụng. Đó là những người xuất chúng trong Giáo hội Tin Lành. Họ xứng đáng mặc áo trắng cùng bước đi với Chúa. Đó là toàn bộ lịch sử của Giáo hội Tin Lành.

Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ bị khiển trách. Sạt-đe cũng bị khiển trách. Đâu là con đường để các tín đồ tiến lên?

F. Hội Thánh Thứ Sáu — Phi-la-đen-phi

Kế đến là Hội thánh thứ sáu; Hội thánh ấy có tên là Phi-la-đen-phi. Phila có nghĩa là “tình yêu” và delphia có nghĩa là “các anh em”. Phi-la-đen-phi có nghĩa là “tình yêu anh em”.

1. Trở Về Với Tình Yêu Anh Em

Trong bảy Hội thánh, đây là Hội thánh duy nhất không bị Đức Chúa Trời khiển trách gì cả. Giáo hội Công giáo La Mã bị khiển trách, và Giáo hội Tin Lành cũng vậy. Chỉ Phi-la-đen-phi là không bị khiển trách. Người ta chỉ thấy có lời khen cho Phi-la-đen-phi.

Những đặc điểm của Phi-la-đen-phi là gì? Khải Thị 3:8 nói: “Ta biết những công việc của ngươi; này, Ta đã để trước mặt ngươi một cánh cửa mở không ai có thể đóng được, vì ngươi có ít năng lực mà đã giữ lời Ta và đã không chối danh Ta”. Đó là đặc điểm của Phi-la-đen-phi. Đặc điểm của Thi-a-ti-rơ là sự dạy dỗ của một người đàn bà. Đặc điểm của Sạt-đe là sự liên kết giữa Hội thánh và thế gian, và luôn luôn có nhu cầu phải phân rẽ; đó là một tranh đấu không ngừng giữa sự sống và sự chết. Nhưng đặc tính của Phi-la-đen-phi là tình yêu anh em. Đây là sự trở về với tình yêu anh em. Tại đây không có tính chất thế gian vì tất cả đều là anh em. Không cần tranh đấu cách ly mình khỏi sự chết. Đó là trở về với tình trạng nguyên thủy của tình anh em. Tại đây, chúng ta tìm thấy tình yêu anh em.

Cũng như Sạt-đe ra từ Thi-a-ti-rơ, Phi-la-đen-phi ra từ Sạt-đe. Giáo hội Tin Lành ra từ Giáo hội Công giáo La Mã, và Phi-la-đen-phi ra từ Giáo hội Tin Lành. Đây rõ ràng là một sự chuyển động mới của Thánh Linh. Sự chuyển động mới này thu hút người ta ra từ Sạt-đe chết chóc và đặt họ trên nền tảng của tình yêu anh em. Nói cách khác, họ đứng trên nền tảng Thân Thể. Họ không thừa nhận bất cứ mối quan hệ nào khác ngoại trừ quan hệ anh em. Họ không nhìn nhận bất cứ mối tương giao nào khác ngoại trừ mối tương giao trong tình yêu. Đó là Phi-la-đen-phi.

2. Giữ Lời Chúa

Phi-la-đen-phi có hai đặc điểm: Họ giữ lời Chúa, và không chối danh Chúa. Đây là một nhóm người được Đức Chúa Trời dẫn dắt giữ lời Ngài. Đức Chúa Trời mở Lời ra cho họ, và những người khác có thể hiểu Lời Ngài qua họ. Họ không có tín điều, giáo lý hay truyền thống, mà chỉ có Lời Đức Chúa Trời. Vào thời Phi-la-đen-phi, chúng ta thấy có một nhóm người hoàn toàn trở về với Lời Chúa, và họ không nhìn nhận bất cứ thẩm quyền, giáo lý hay tín điều nào khác.

Một người có thể hiểu và giảng dạy một giáo lý, nhưng không có nghĩa là người ấy hiểu Kinh Thánh. Người ấy có thể thuộc lòng các tín điều và công bố là mình có đức tin nơi các tín điều, nhưng không có nghĩa là người ấy hiểu Kinh Thánh. Nếu Hội thánh cần các tín điều thì Chúa đã ban cho chúng ta các tín điều từ lâu rồi. Ngày nay, người ta phân tích Kinh Thánh và cô đọng các giáo lý của mình thành những tín điều. Các tín điều có giới hạn, trong khi Kinh Thánh thì không có giới hạn. Các tín điều vốn đơn giản, trong khi Kinh Thánh thì phức tạp. Nếu chịu nghiên cứu các tín điều, một người khờ dại cũng có thể hiểu được. Nhưng một người khờ dại không thể hiểu Kinh Thánh. Chỉ một loại người nào đó mới có thể hiểu Kinh Thánh. Chỉ với những điều kiện nhất định nào đó, một người mới có thể hiểu Lời Đức Chúa Trời. Các tín điều mở ra một cánh cửa rộng và ai cũng có thể bước vào. Nhưng cánh cửa cho Lời Chúa thì không rộng như vậy, và chỉ những người có sự sống mới có thể vào đó. Cánh cửa của các tín điều quá rộng đến nỗi người ta chỉ cần có một tâm trí minh mẩn là có thể bước vào. Nhưng Lời Đức Chúa Trời không đơn giản như vậy. Nếu ai không có sự sống và đơn thuần trước mặt Chúa, thì sẽ không nhìn thấy hay hiểu biết Lời Ngài.

Nhiều người nghĩ Lời Đức Chúa Trời quá hạn hẹp. Họ muốn mở rộng lời [Chúa] ra để có thể đem thêm người vào trong đó. Nhưng các anh em trong Phi-la-đen-phi thì khước từ tất cả những tín điều và giáo lý. Họ trở về với Lời Chúa. Chúa nói: “Ngươi... đã giữ lời Ta”. Trong lịch sử Hội thánh, chưa có thời nào mà người ta hiểu biết Lời Đức Chúa Trời hơn những người tại Phi-la-đen-phi. Tại Phi-la-đen-phi, Lời Đức Chúa Trời được đặt vào đúng chỗ. Vào những thời khác, người ta nhận lấy các tín điều và truyền thống. Nhưng Phi-la-đen-phi không nhận lấy gì khác hơn là Lời Đức Chúa Trời. Hội thánh ấy trở về với Lời Ngài và bước đi trong đó. Trong lịch sử Hội thánh, chưa có thời nào mà chức vụ lời phong phú bằng chức vụ chúng ta tìm thấy tại Phi-la-đen-phi.

3. Không Chối Danh Chúa

Chúa nói: “Ngươi... đã không chối danh Ta” (c. 8). Đây là một đặc điểm khác về Phi-la-đen-phi. Trong suốt quá trình lịch sử của Hội thánh trải qua các thời đại, danh Chúa Jesus luôn luôn là điều kém quan trọng nhất. Người ta lưu ý đến tên của các thánh như Phi-e-rơ và các sứ đồ khác. Họ lưu ý đến các tên họ ưa chuộng hoặc tên của các giáo lý hay các quốc gia. Nhiều người hãnh diện nói rằng: “Tôi là một người theo giáo phái Lu­ther” hay “tôi là một người theo phái Wesley”. Ôi, danh của loài người! Nhiều người hãnh diện tuyên bố: “Tôi là người Cốp” (tên của một địa điểm), hoặc “tôi là người theo Anh giáo” (có nghĩa là người Anh). Đó là tên của các quốc gia. Các danh hiệu ấy đã chia rẽ con cái Đức Chúa Trời thành các phe nhóm! Làm như vậy như thể nói lên rằng danh Đấng Christ vẫn chưa đủ để phân rẽ chúng ta khỏi thế gian.

Nếu có người hỏi: “Anh là ai?” và anh em đáp: “Tôi là một Cơ Đốc nhân”, thì người ấy sẽ không thỏa mãn. Người ấy sẽ lại hỏi rằng: “Anh là Cơ Đốc nhân loại gì?” Lần kia khi ở ngoại quốc, tôi nhớ có một người hỏi tôi rằng: “Anh thực sự là gì?” Tôi đáp: “Tôi là một Cơ Đốc nhân”. Người ấy nói: “Câu trả lời đó vô nghĩa!”

a. Danh Chúa Là Đủ

Đối với Chúa, danh Ngài là đủ cho con cái Ngài. Nhưng phải đợi đến thời Phi-la-đen-phi, chúng ta mới thấy người ta chỉ thỏa lòng với một mình danh Chúa. Không cần phải có quá nhiều danh chia rẽ. Chỉ một mình danh Ngài là đủ! Chúa để ý thấy họ “đã không chối danh Ngài”. Đó là điều Ngài quan tâm.

Trong lịch sử Hội thánh, so với những người tại Phi-la-đen-phi, người ta chưa bao giờ ghét các danh khác thậm tệ như vậy. Khi một người trở về với Phi-la-đen-phi, tất cả các danh khác đều được từ bỏ! Phi-la-đen-phi đã hủy bỏ tất cả các danh khác, và chỉ tôn cao danh Đấng Christ. Xin nhớ rằng Chúa chỉ quan tâm đến điều ấy. Điều duy nhất ấy là nền tảng để Ngài khen ngợi. Đó là điều làm vui lòng Ngài. Đừng xem nhẹ và đừng khinh suất đối với điều ấy. Chúa dành thời giờ để chỉ ra rằng họ đã xưng danh Ngài và đã không chối danh Ngài. Ngài lưu ý đến điều đó và khen ngợi việc làm ấy!

b. Vấn Đề Đắc Thắng

Vài anh em đã hỏi rằng: “Những người đắc thắng tại Phi-la-đen-phi đắc thắng điều gì?” Anh em có nhận thấy nan đề câu hỏi này nêu lên không? Những người đắc thắng tại Ê-phê-sô đắc thắng việc lìa bỏ tình yêu ban đầu. Những người đắc thắng tại Si-miệc-nơ đắc thắng mối đe dọa bên ngoài của cái chết. Những người đắc thắng tại Bẹt-găm đắc thắng sự ràng buộc và cám dỗ của thế gian. Những người đắc thắng tại Thi-a-ti-rơ đắc thắng sự dạy dỗ của người đàn bà. Những người đắc thắng tại Sạt-đe đắc thắng sự chết thuộc linh — tình trạng có tiếng là sống nhưng trên thực tế lại chết. Những người đắc thắng tại Lao-đi-xê đắc thắng tình trạng hâm hẩm và hư vinh. Còn những người đắc thắng tại Phi-la-đen-phi thì đắc thắng điều gì? Toàn bộ bức thư gửi cho họ chỉ cho thấy sự thỏa lòng của Chúa đối với những điều họ đã làm. Trong bảy bức thư, Phi-la-đen-phi là Hội thánh duy nhất Chúa hoàn toàn vừa lòng. Nếu Chúa hoàn toàn vui lòng thì còn gì để đắc thắng nữa? Đó là một Hội thánh hoàn toàn được chấp nhận và được đánh giá là tốt nhất; Hội thánh hoàn toàn phù hợp với lòng mong muốn của Chúa. Nhưng Chúa có một lời hứa dành cho những người đắc thắng trong Hội thánh tại Phi-la-đen-phi. Họ phải đắc thắng điều gì? Không có gì để đắc thắng vì không có nan đề gì trong Hội thánh ấy.

c. Hãy Giữ Vững Những Gì Ngươi Có

Nhưng tại đây Chúa có một lời cảnh cáo. Câu 11 chép: “Ta đến mau chóng; hãy giữ vững những gì ngươi có để không ai lấy đi mão miện của ngươi”. Đó là lời cảnh cáo duy nhất trong cả bức thư. Những người tại Phi-la-đen-phi được nhắc là phải giữ vững những gì họ có. Nói cách khác, những gì họ có là đúng, và họ không được đánh mất những điều ấy. Họ không nên mệt mỏi mà phải cứ làm những điều ấy về lâu về dài, và không cần phải cầu xin một sự thay đổi gì. Họ không nên nghĩ ra điều gì mới mẻ sau những năm tháng cứ làm những điều ấy. Họ phải giữ vững những gì mình có và đừng buông ra! Đó là lời cảnh cáo duy nhất cho Phi-la-đen-phi. Chúa chỉ truyền bảo Phi-la-đen-phi một điều — hãy giữ vững những gì họ có. Những gì họ đã làm là đúng và được Chúa ban phước; vậy, họ phải tiếp tục trong việc làm ấy.

Nếu Phi-la-đen-phi không giữ vững những gì họ có, Đức Chúa Trời sẽ dấy lên những người khác lấy đi mão miện của họ. Mão miện đã được ban cho Phi-la-đen-phi rồi. Nhưng nếu Phi-la-đen-phi không giữ vững mão miện ấy, những người khác sẽ đến lấy đi mão miện của họ. Đó là lời cảnh cáo duy nhất cho Phi-la-đen-phi. Phi-la-đen-phi đắc thắng bằng cách không đánh mất những gì mình có. Điều này khác với sáu Hội thánh kia. Chúng ta phải lưu ý đến Lời Chúa. Chỉ có một Hội thánh đáp ứng tiêu chuẩn của Chúa — Phi-la-đen-phi. Đặc tính của Hội thánh ấy là giữ lời Chúa và không chối danh Ngài. Chúng ta không được bỏ sót hai vấn đề này.

G. Hội Thánh Thứ Bảy — Lao-đi-xê

Năm trong bảy Hội thánh bị khiển trách. Một Hội thánh không bị khiển trách, và một Hội thánh chỉ được khen. Hội thánh chỉ được khen là Phi-la-đen-phi. Công giáo, Giáo hội Tin Lành và Phi-la-đen-phi đều sẽ còn lại cho đến khi Chúa Jesus tái lâm. Hội thánh cuối cùng, tức Hội thánh thứ bảy là Lao-đi-xê, cũng sẽ tiếp tục tồn tại cho đến khi Chúa Jesus trở lại. Vì Sạt-đe ra từ Thi-a-ti-rơ và Phi-la-đen-phi ra từ Sạt-đe, nên Lao-đi-xê tự nhiên ra từ Phi-la-đen-phi. Hội thánh này sinh ra Hội thánh kia.

1. Lao-đi-xê Là Hậu Quả Sự Suy Thoái Của Phi-la-đen-phi

Ngày nay, vấn đề nằm tại chỗ này. Một khi Phi-la-đen-phi thất bại, Hội thánh ấy trở thành Lao-đi-xê. Đừng nghĩ rằng Giáo hội Tin Lành là Lao-đi-xê. Nghĩ như vậy hoàn toàn là sai trật. Giáo hội Tin Lành là Sạt-đe, chứ không phải là Lao-đi-xê. Ngày nay, Giáo hội Tin Lành chỉ có thể làm Sạt-đe, chứ không thể làm Lao-đi-xê. Không người nào đọc Kinh Thánh lại dại dột đến nỗi nghĩ Giáo hội Tin Lành là Lao-đi-xê. Không, Giáo hội Tin Lành là Sạt-đe. Sau khi sa ngã, Phi-la-đen-phi trở thành Lao-đi-xê. Sạt-đe ra từ Thi-a-ti-rơ, và tiến bộ hơn Thi-a-ti-rơ một bậc. Phi-la-đen-phi ra từ Sạt-đe, tiến bộ hơn Sạt-đe một bậc. Tuy nhiên, Lao-đi-xê ra từ Phi-la-đen-phi, nhưng lại kém hơn Phi-la-đen-phi một bậc. Bốn Hội thánh ấy sẽ còn lại cho đến khi Chúa Jesus tái lâm.

Lao-đi-xê là một Phi-la-đen-phi biến chất. Khi tình yêu anh em không còn nữa, Phi-la-đen-phi liền biến thành những ý kiến của nhiều người. Đó là ý nghĩa của chữ Laodicea. Lao-đi-xê là một thành phố được hoàng tử Entichus người La Mã đặt tên. Vị hoàng tử ấy có một người vợ tên Laodios. Ông lấy tên vợ mình, bỏ os đi và thêm sea hay cea vào để trở thành Laodisea hay Laodicea. Trong tiếng Hi Lạp, lao có nghĩa là “nhiều người” và sea hay cea có nghĩa là “ý kiến”.

Ngay khi Phi-la-đen-phi trở nên suy thoái, “các anh em” trở thành “nhiều người”, và “tình yêu anh em” trở thành “ý kiến của nhiều người”. Tình yêu đã thoái hóa thành ý kiến. Tình yêu anh em là điều gì đó sống động, nhưng ý kiến của nhiều người là điều gì đó chết chóc. Khi tình yêu anh em không còn nữa, thì mối quan hệ Thân Thể cũng mất. Mối tương giao của sự sống cũng bị chấm dứt, chỉ để lại ý kiến của con người. Ý kiến của Chúa đã mất, và những điều còn lại chỉ là sự biểu quyết của số đông, lá phiếu và số tay giơ lên. Một khi sa ngã thì Phi-la-đen-phi trở thành Lao-đi-xê.

2. Tình Trạng Hâm Hẩm Và Sự Kiêu Ngạo Về Mặt Thuộc Linh

Khải Thị 3:15 chép: “Ta biết những công việc của ngươi, ngươi không lạnh cũng không nóng; Ta mong ngươi hoặc lạnh hoặc nóng”. Đó là đặc tính của Lao-đi-xê. Câu 17 chép: “Vì ngươi nói rằng: Ta giàu rồi, đã được giàu có rồi và không cần gì hết, song ngươi không biết mình là kẻ cùng khổ, đáng thương, nghèo nàn, đui mù và trần truồng”. Đó là những đặc tính của Lao-đi-xê. Theo mắt của Chúa, các đặc tính của Lao-đi-xê là tình trạng hâm hẩm và sự kiêu ngạo về mặt thuộc linh. Nói rằng: “Ta giàu” cũng đủ tệ hại rồi, nhưng Lao-đi-xê còn nói tiếp: “đã được giàu có”. Hai lời tuyên bố ấy cũng xấu xa lắm rồi, nhưng Lao-đi-xê lại còn nói tiếp là mình “không cần gì hết”. Theo mắt của Chúa, tình trạng như vậy là “cùng khổ, đáng thương, nghèo nàn, đui mù và trần truồng”. Sự kiêu ngạo về mặt thuộc linh phát xuất từ đâu? Sự kiêu ngạo ấy đến từ lịch sử. Một số người từng giàu có, và họ tưởng mình vẫn giàu có. Chúa từng thương xót họ, và họ nhớ lại lịch sử của mình. Nhưng giờ thì họ đã đánh mất thực tại ấy.

3. Sự Sống Từng Hiện Diện Nay Không Còn Nữa

Ngày nay, khó thấy người nào trong Giáo hội Tin Lành khoe khoang về sự giàu có thuộc linh của mình. Tôi từng gặp nhiều nhà lãnh đạo Tin Lành ở nước ngoài cũng như các mục sư Tin Lành tại Trung Quốc. Tất cả đều nói rằng: “Chúng tôi nghèo! Chúng tôi nghèo!” Khó tìm thấy một người kiêu ngạo trong Sạt-đe. Chỉ có một nhóm người kiêu ngạo — những người ở tại Phi-la-đen-phi, đã từng giữ lời Đức Chúa Trời và không chối danh Ngài. Nhưng sự sống họ từng sở hữu lại không còn nữa. Họ vẫn nhớ lịch sử của mình, nhưng đã đánh mất sự sống trước kia của họ! Họ nhớ rằng mình đã từng giàu có, trở nên giàu có và không cần gì cả. Nhưng bây giờ thì họ nghèo nàn và đui mù! Chỉ có một nhóm người có thể khoe khoang về sự giàu có của mình — đó là Phi-la-đen-phi sa ngã, là Phi-la-đen-phi đã đánh mất quyền năng và sự sống của mình.

4. Học Tập Hạ Mình Trước Mặt Đức Chúa Trời

Thưa các anh chị em, nếu anh chị em muốn tiếp tục trên con đường Phi-la-đen-phi, thì hãy nhớ hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời. Đôi khi tôi nghe vài anh em nói rằng: “Ơn phước của Đức Chúa Trời ở với chúng ta”. Ơn phước của Đức Chúa Trời ở với chúng ta, nhưng chúng ta phải thận trọng khi nói điều ấy. Hễ thiếu thận trọng thì chúng ta sẽ có hương vị của Lao-đi-xê: “Ta giàu rồi, đã được giàu có rồi và không cần gì hết”. Tôi xin nói rằng ngày chúng ta có thái độ ấy là ngày chúng ta trở nên Lao-đi-xê.

Xin nhớ rằng không gì chúng ta có là không đã nhận lãnh. Những người quanh chúng ta có thể đầy dẫy chết chóc, nhưng chúng ta không cần ý thức sự kiện chúng ta đầy dẫy sự sống. Những người quanh chúng ta có thể nghèo nàn, nhưng chúng ta không cần ý thức sự kiện là mình giàu có. Những người sống trước mặt Chúa sẽ không ý thức về sự giàu có của chính mình. Nguyện Chúa thương xót chúng ta để chúng ta có thể học tập sống trước mặt Ngài. Nguyện chúng ta giàu có nhưng không biết là mình giàu có. Tốt hơn là Môi-se không biết mặt mình chiếu sáng, mặc dầu mặt ông thật sự chiếu sáng! Ngay khi một người biết chính mình thì người ấy trở thành Lao-đi-xê, và hậu quả sẽ là hâm hẩm. Lao-đi-xê có nghĩa là biết mọi sự, nhưng trên thực tế không sốt sắng về điều gì cả. Trên danh nghĩa thì có mọi sự, nhưng không thể hi sinh mạng sống cho bất cứ điều gì. Hội thánh ấy nhớ vinh quang trước kia nhưng quên tình trạng hiện tại trước mặt Đức Chúa Trời. Trước kia, Hội thánh ấy là Phi-la-đen-phi, nhưng ngày nay là Lao-đi-xê.

II. HÃY TỰ CHỌN LẤY ĐƯỜNG LỐI CỦA HỘI THÁNH

Hôm nay, tôi trình bày bốn Hội thánh ấy cho tất cả chúng ta. Ba Hội thánh sau cùng ra từ Công giáo La Mã, và tất cả bốn Hội thánh đều sẽ còn lại cho đến khi Chúa Jesus tái lâm. Ngày nay, mỗi con cái Đức Chúa Trời phải chọn con đường liên quan đến Hội thánh mà mình nên theo. Anh em có muốn làm một người Công giáo La Mã không? Hay muốn làm một người Tin Lành? Phải chăng anh em muốn theo sự hiệp nhất của Công giáo La Mã? Anh em có muốn theo nhiều giáo phái Tin Lành không? Hay anh em muốn theo đường lối Phi-la-đen-phi? Hay anh em đã từng là Phi-la-đen-phi nhưng hiện đang sống dưới bóng của lịch sử và khoe khoang về vinh quang trước kia của mình rồi trở nên Lao-đi-xê? Khi một người trở nên kiêu ngạo, lìa khỏi con đường sự sống và bỏ lơ thực tại, trong khi cứ hồi tưởng lịch sử và sự phong phú của chính mình, thì điều duy nhất còn lại sẽ là ý kiến của nhiều người. Giữa vòng những người như vậy chỉ có thể còn sự thảo luận và ý kiến tập thể. Tình trạng ấy xem ra có vẻ như một đoàn thể dân chủ, nhưng không có gì là giống mối quan hệ trong Thân Thể. Nếu không biết sự liên kết, uy quyền và sự sống của Thân Thể, thì anh em không biết tình yêu anh em.

Bốn Hội thánh ấy sẽ tồn tại với chúng ta. Chúng ta phải trung tín tiếp tục ở trong Phi-la-đen-phi. Đừng tò mò về Công giáo La Mã. Những người tò mò đều sẽ chịu thiệt thòi. Đừng chạm đến các giáo phái trong Giáo hội Tin Lành. Đó không phải là đường lối của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh cho chúng ta thấy rõ rằng nói chung phong trào Tin Lành có được ơn phước của Đức Chúa Trời, nhưng cũng có nhiều điều trong đó bị Chúa kết án và khiển trách. Chúng ta không cần tìm tòi và thắc mắc về những điều ấy.

Chúng ta phải học tập đứng trên lập trường của Phi-la-đen-phi. Luôn giữ lời Chúa và đừng bao giờ chối danh Ngài. Hãy giữ vững tình anh em và đừng bao giờ kiêu ngạo! Đừng kiêu ngạo trước mặt Công giáo, Giáo hội Tin Lành hay các giáo phái. Một khi kiêu ngạo thì chúng ta trở thành Lao-đi-xê và không còn là Phi-la-đen-phi nữa! Ngay khi anh em tỏ ra kiêu ngạo trước mặt họ, thì anh em không còn là Phi-la-đen-phi nữa mà là Lao-đi-xê. Anh em muốn theo con đường nào? Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho con cái Ngài và nguyện các anh em nhận lấy con đường ngay thẳng liên quan đến Hội thánh.

Đường lối Đức Chúa Trời đã chỉ định cho Hội thánh là đường lối Phi-la-đen-phi. Có thể tôi không có hàng vạn trường hợp để chứng minh rằng những người con tốt nhất của Đức Chúa Trời đã nói cùng một điều và nhận lấy cùng một con đường ấy. Nhưng tôi có hàng trăm trường hợp để chứng minh điều mình đang nói. Một khi vấn đề chung về Giáo hội Tin Lành được giải quyết, thì chúng ta không cần soi mói các vấn đề phụ. Cũng vậy, một khi vấn đề chung về Công giáo La Mã được giải quyết, chúng ta không phải quan tâm thái quá về những vấn đề phụ. Giáo hội Công giáo La Mã có hai mươi mốt tổ chức khác nhau tại Trung Quốc. Chúng ta không cần dính dáng đến Công giáo La Mã, và không cần tìm hiểu các tổ chức con đẻ của giáo hội ấy. Một khi vấn đề chung về Công giáo La Mã được giải quyết, thì hai mươi mốt tổ chức ấy không còn là nan đề nữa. Cũng vậy, một khi vấn đề chung về Giáo hội Tin Lành được giải quyết, thì chúng ta không cần lần lượt xử lý một ngàn năm trăm giáo phái Tin Lành.

Đường lối của Chúa là độc nhất. Đó là đường lối Phi-la-đen-phi. Hãy bước đi trên con đường này, nhưng phải thận trọng đừng trở nên kiêu ngạo. Một khi chúng ta nhận lấy đường lối Phi-la-đen-phi, cám dỗ lớn nhất là trở nên kiêu ngạo và nói rằng: “Chúng tôi trổi hơn các anh. Hay so với các anh, lẽ thật của chúng tôi sáng tỏ hơn, và chúng tôi hiểu rõ các lẽ thật ấy hơn! Chúng tôi chỉ có danh Chúa và chúng tôi khác biệt!” Một khi trở nên kiêu ngạo thì chúng ta sa vào Lao-đi-xê. Những người bước theo Chúa đều không kiêu ngạo. Chúa sẽ nhổ những người kiêu ngạo ra khỏi miệng Ngài. Nguyện Chúa thương xót chúng ta! Đây là một lời cảnh cáo cho tất cả chúng ta: Chúng ta không được kiêu ngạo trong lời nói của mình! Một người phải liên tục sống trước mặt Chúa trước khi có thể tự kiềm chế không thốt ra những lời lẽ kiêu ngạo. Chỉ những người liên tục sống trước mặt Chúa mới không xem mình là giàu có. Chỉ những người như vậy mới không kiêu ngạo!

PHỤ LỤC: TÀ THUYẾT VỀ SỰ PHA TRỘN

Kinh Thánh: Mat. 13:31-33; Khải. 17—18

Trong bài này là phụ lục cho phần nói về Thi-a-ti-rơ, chúng tôi nêu lên một chủ đề mà chúng tôi gọi là tà thuyết về tình trạng pha trộn. Mọi người đọc lời tiên tri đều biết rằng Công giáo La Mã sẽ ngày càng trở nên có thế lực, trong khi Giáo hội Tin Lành sẽ trở nên yếu dần. Khải Thị chương 17 nói rằng đại kỵ nữ tượng trưng cho Công giáo La Mã sẽ cưỡi trên con thú và sau đó bị con thú giết chết. Vì vậy, tất cả những người con chân chính của Đức Chúa Trời phải hoàn toàn chuẩn bị cho biến cố này trong những ngày sau cùng. Chúng ta không biết khi nào Công giáo La Mã sẽ gây rắc rối cho chúng ta. Có thể là năm, mười hay hai mươi năm sau. Có lẽ [khi ấy] chúng ta vẫn còn sống, hay đã qua đời. Chúng ta phải sáng tỏ về tà thuyết này và phải huấn luyện các anh chị em. Đợi đến khi tà thuyết này trở thành nan đề đối với chúng ta rồi mới lo đối phó thì đã quá trễ. Chúng ta là những người canh của Hội thánh phải lưu ý đến vấn đề này và lo đối phó trước khi nó trở thành nan đề.

A. Một Hạt Cải Mọc Lên Thành Cây Lớn

1. Bảy Ẩn Dụ Về Vương Quốc Các Từng Trời

Chúa Jesus nói về bảy ẩn dụ trong Ma-thi-ơ chương 13. Bảy ẩn dụ ấy cho thấy lịch sử của vương quốc thiên thượng ở trên đất. Các ẩn dụ ấy bày tỏ những giai đoạn mà vương quốc thiên thượng trải qua ở trên đất, bắt đầu từ lúc Chúa Jesus gieo hạt giống cho đến khi Ngài trở lại. Bảy ẩn dụ ấy bao gồm khoảng thời gian từ lúc Ngài đến lần đầu tiên, tức là khi Con Loài Người xuống trần để gieo giống, cho đến khi Ngài đến lần thứ hai, tức là lúc Ngài đến để phán xét và gom lúa mì vào kho. Nhiều sự kiện xảy ra giữa hai lần đến ấy. Chúa dùng bảy ẩn dụ để giải thích và nói tiên tri về những việc ấy.

Hai trong các ẩn dụ ấy cho chúng ta biết rằng vương quốc thiên thượng ở trên đất sẽ bị bại hoại. Trong Ma-thi-ơ 13:31-32, ẩn dụ đầu tiên nói rằng vương quốc thiên thượng giống như một hạt cải: “Ngài đưa ra một ẩn dụ khác mà nói với họ: Vương quốc thiên thượng giống như một hạt cải mà người kia lấy và gieo trong ruộng mình; hạt ấy nhỏ hơn tất cả các hạt khác, nhưng khi đã lớn lên thì to hơn các thứ rau cỏ, và trở thành cây cối, đến nỗi chim trời tới đậu trên cành nó được”. Chúng ta phải đặc biệt lưu ý đến nhóm chữ vương quốc thiên thượng giống như. Nhóm chữ này chỉ về toàn bộ ẩn dụ ấy, chứ không phải chỉ về những từ ngữ theo ngay sau nhóm chữ ấy. Trong câu 33, ẩn dụ thứ hai nói rằng: “Vương quốc thiên thượng giống như men mà người đàn bà kia đã lấy và giấu trong ba đấu bột cho đến khi cả đống bột đều dậy men”. Trọn câu này mô tả “vương quốc thiên thượng giống như” điều gì. Nói cách khác, nhóm chữ vương quốc thiên thượng giống như không phải chỉ về những từ ngữ theo ngay sau nhóm chữ ấy, mà chỉ về toàn bộ ẩn dụ ấy.

2. Vương Quốc Thiên Thượng Là Một Hạt Cải

a. Lời Đức Chúa Trời Được Gieo Trong Thế Gian

Chúa Jesus nói: “Vương quốc thiên thượng giống như một hạt cải”. Hạt cải là lời Ngài, cũng như hạt giống trong phần trước là lời Ngài. Đó là điều hoàn toàn ra từ Đức Chúa Trời. Sự sống của hạt giống ấy và mọi sự về hạt giống ấy vốn ra từ Đức Chúa Trời. Câu 31 nói về hạt giống rằng: “Mà người kia lấy và gieo trong ruộng mình”. Các câu trước cho thấy ruộng là thế gian. Các câu ấy cũng chỉ ra cho chúng ta thấy rằng người ấy là chính Chúa. Sự kiện ấy có nghĩa là Chúa gieo lời Đức Chúa Trời vào trong thế gian.

b. Trông Đợi Hạt Giống Mọc Lên Thành Cây Cải

Theo ý định của Đức Chúa Trời, hạt ấy “nhỏ hơn tất cả các hạt khác” (c. 32). Hạt cải vốn rất nhỏ; nó nhỏ hơn tất cả các hạt khác. Khi Đức Chúa Trời gieo lời Ngài vào trong thế gian, ý định của Ngài là hạt cải ấy khi lớn lên vẫn là một cây cải. Qui luật Đức Chúa Trời ấn định ngay từ đầu cuộc sáng tạo của Ngài là hạt cải phải lớn lên theo loại của nó — tức là thành một cây cải. Mọi thứ đều phải lớn lên theo loại của nó. Một hạt cải nhỏ lớn lên thành cây cải là đúng. Đó là ý định nguyên thủy của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến thế gian để gieo lời Ngài vào trong thế gian. Kết quả là Hội thánh mọc lên từ trái đất này. Đức Chúa Trời mong Hội thánh ở trên đất phải đầy dẫy sự sống, kết trái và có thể ăn được. Hội thánh phải cứ là một cây cải, có tính chất tạm thời, nhỏ bé, không ai để ý và không to lớn đến mức những người khác ẩn núp trong đó được.

Ý định của Đức Chúa Trời là gieo, làm cho lớn lên và gặt hái nhiều lần. Điều này cũng giống như gieo và gặt hết vụ lúa này đến vụ lúa khác. Một khi hạt giống mọc lên thành cây cải thì nó được nhổ đi, và mảnh đất ấy được dọn sạch cho lần gieo sau. Đất phải được dọn sạch để những người khác bước vào tin nhận, được sinh ra, lớn lên và được thu hoạch. Những người khác phải tin, lớn lên và được Đức Chúa Trời thu hoạch. Một mặt, Hội thánh luôn luôn tiếp tục ở trên đất. Mặt khác, ý định của Đức Chúa Trời là thu hoạch hết nhóm người này đến nhóm người khác cho chính Ngài. Hội thánh có thể làm thức ăn cho người ta, và có thể nuôi dưỡng người ta, nhưng Hội thánh phải được thu hoạch hết bó này đến bó khác, giống như những vụ rau cải.

Rau cải không phải để trưng bày, và đúng ra là không được trở nên quá to lớn. Rau cải dùng làm thức ăn cho con người. Sau khi con người phạm tội trong Sáng-thế Ký, trước hết Đức Chúa Trời ban cho con người rau cải làm thức ăn. Đức Chúa Trời ban rau cải cho con người làm thức ăn. Rau cải không phải là một đóa hoa để trưng bày, cũng không phải là cây cối có kích thước to lớn. Là rau cải, Hội thánh cần phải ở trong tình trạng yếu đuối, bất lực và mỏng manh theo cái nhìn của con người.

c. Lớn Lên Thành Cây Cối

Tuy nhiên, Chúa đã tiên tri là điều gì đó khác thường sẽ xảy ra. Khi Chúa gieo hạt cải trong ruộng, hạt ấy nhỏ hơn tất cả các hạt khác, “nhưng khi đã lớn lên thì to hơn các thứ rau cỏ, và trở thành cây cối” (c. 32). Chúa không có ý định là Hội thánh trở nên cây cối và đâm rễ sâu trong lòng đất. Bây giờ Hội thánh không còn lớn lên và được thu hoạch từng bó nữa. Thay vào đó, Hội thánh đã trở thành điều gì đó bền vững và tồn tại lâu dài, điều gì đó cao ngất và rộng lớn. Hội thánh gây được sự chú ý, được người khác nhìn thấy và tôn trọng, và trở thành nơi ẩn núp cho những người khác.

B. Khởi Đầu Của Công Giáo La Mã

Con đường Đức Chúa Trời chỉ định cho Hội thánh là con đường phù hợp với bước chân của Jesus người Na-xa-rét, là Đấng vốn ẩn mình, cô đơn và khiêm nhường. Hội thánh cần phải đi theo bước chân của Chúa chúng ta là Đấng từng bước đi trên đất trong tình trạng thấp hèn và khiêm nhường. Vào thời ban đầu của lịch sử Hội thánh ở trên đất, Hội thánh đã chịu bắt bớ và bị chống đối kịch liệt. Nhưng một ngày kia, Hội thánh đâm rễ sâu trong lòng đất và bắt đầu lớn lên. Các hoàng đế La Mã, tức những người từng cai trị thế giới và điều khiển vận mạng của các quốc gia, đột nhiên trở thành người cộng sự và anh em trong Hội thánh. Cơ Đốc giáo trở nên một tôn giáo bao gồm vua chúa, các bậc cai trị và những nhà lãnh đạo. Rau cải trở thành cây cối. Theo mắt của thế gian, Hội thánh đã đạt được một địa vị nào đó. Hội thánh đã trở nên to lớn. Đó là khởi đầu của Công giáo La Mã.

1. Một Hội Thánh Thống Nhất

Hội thánh trong Tân Ước vốn có tính chất địa phương. Hội thánh phân tán rãi rác tại mỗi địa phương, và hoàn toàn không được thống nhất hay tổ chức lại. Tuy có những trung tâm cho công tác, nhưng các Hội thánh chưa bao giờ được liên kết thành những tổ chức thống nhất. Nhưng đến khi các sứ đồ qua đời, các Hội thánh bắt đầu dần dần liên kết với nhau trên đất. Các Hội thánh tại những thành phố lớn thiết lập các Hội thánh tại những thành phố phụ cận nhỏ hơn, và các Hội thánh tại những thành phố lớn hơn tự nhiên giành lấy vai trò lãnh đạo.

2. Hệ Thống Giám Mục

Ban đầu, các giám mục là các trưởng lão, và luôn luôn là số nhiều. Về sau, một giám mục giữa vòng các trưởng lão được bổ nhiệm. Về sau nữa, các giám mục không những trông nom Hội thánh tại địa phương của họ, mà còn bắt đầu trông nom các Hội thánh tại vài địa phương. Tuy nhiên, các trưởng lão thì tiếp tục trông nom một Hội thánh địa phương. Kết quả là các trưởng lão và giám mục trở nên hai giai cấp riêng biệt! Các giám mục và trưởng lão nguyên là một và là cùng một nhóm người, nhưng về sau một trưởng lão được tuyển chọn giữa vòng tất cả các trưởng lão để làm giám mục. Một trưởng lão mang tước hiệu giám mục, trong khi những người kia thì vẫn là trưởng lão nhưng không còn được gọi là giám mục nữa. Giám mục được xem là một trưởng lão của các trưởng lão, đứng đầu các trưởng lão khác và quản trị Hội thánh tại địa phương ấy. Về sau nữa, các giám mục ấy mở rộng quyền hạn của mình và bắt đầu bao trùm những địa phương khác. Dần dần, tình trạng của Hội thánh thay đổi. Giám mục tại thủ phủ của một địa phận cai quản cả địa phận, và giám mục tại thủ đô của một quốc gia cai quản các Hội thánh của cả quốc gia ấy. Giám mục tại La Mã tự nhiên cai quản tất cả các Hội thánh trên toàn Đế quốc La Mã. Kết quả là Hội thánh trở nên rất to lớn!

Hội thánh nguyên là một hạt cải, tức một điều gì đó rất nhỏ. Nhưng về sau Hội thánh trở thành một cây lớn. Bây giờ, chúng ta thấy một điều kỳ lạ ở trên đất, ấy là các Hội thánh liên hiệp. Đó là những thể chế được con người thiết lập. Kinh Thánh cho chúng ta thấy rằng sự liên hiệp các Hội thánh ở trên đất theo ý định của Đức Chúa Trời là một sự liên hiệp của Thân Thể. Sự tương giao của các Hội thánh ở trên đất là sự tương giao của Thân Thể. Nhưng ngày nay chúng ta thấy gì? Người ta từ bỏ sự tương giao thuộc linh và sự liên hiệp thuộc linh. Sự tương giao của Thân Thể vốn thuộc linh, và sự liên hiệp của Thân Thể cũng thuộc linh. Tuy nhiên, ngày nay người ta thay thế sự liên hiệp thuộc linh ấy bằng sự liên hiệp tổ chức. Bắt đầu từ thế kỷ thứ hai, Hội thánh dần dần thoái hóa thành một liên đoàn các Hội thánh.

Khi Con-xtan-tin chấp nhận Cơ Đốc giáo, ông nhìn thấy một Hội thánh mà bấy giờ đã trở thành Giáo hội Công giáo La Mã, tức một Hội thánh được người ta đón nhận. Hội thánh ấy đã trưởng thành; đó là cây cối. Hội thánh ấy không phải được tạo nên bởi những Hội thánh riêng nữa, mà đã trở nên một cái cây liên hiệp. Khi Đế quốc La Mã chấp nhận Cơ Đốc giáo, nhiều chim chóc đến làm tổ trên nhánh của nó!

3. Sa-tan Đem Sự Ô Uế Vào Trong Hội Thánh

Những con chim trong ẩn dụ thứ hai chỉ về những bậc chấp chánh trong không trung. Trong ẩn dụ thứ nhất, Chúa Jesus nói rằng những hạt giống bị lũ chim đớp mất, rồi Ngài giải thích rằng kẻ đến cướp lấy những hạt giống vừa được gieo là kẻ ác. Lũ chim trong chương này chỉ về Sa-tan và những bậc chấp chánh gian ác của hắn. Điều này có nghĩa là Sa-tan chịu trách nhiệm về việc đem những điều ô uế vào trong Hội thánh.

Bây giờ, Hội thánh đã trở thành một tổ chức to lớn. Tuy nhiên, sự to lớn ấy là một sự to lớn giả tạo; đó là một sự to lớn dị dạng. Hội thánh nguyên bị người ta khinh thường, nhưng nay thì trở thành tài sản chính trị trong bàn tay của những người đầy tham vọng. Hội thánh có nhiều người, và trong lãnh vực chính trị, càng có nhiều người thì càng có lợi thế. Bấy giờ, mọi thứ ô uế len lỏi vào trong Hội thánh. Các chim trời đến làm tổ trên nhánh của nó. Tình trạng ấy giống như tình trạng tại Bẹt-găm là Hội thánh liên hiệp và kết hôn với thế gian. Ngày nay, Hội thánh đã trở thành một tổ chức to lớn và có tính chất thế gian, và mọi loại người đã vào trong đó.

4. Thân Thể Đấng Christ Trở Thành Rộng Lớn

Cây ấy bao gồm Hội thánh thật, nhưng cũng bao gồm nhiều điều đúng ra không được ở trong đó. Hạt giống ấy vẫn là một hạt cải. Điều rắc rối là hạt giống ấy lớn lên trở thành quá to lớn. Sự to lớn quá đáng ấy là nhân tạo. Hạt giống được Chúa gieo vẫn còn đó. Một mặt, Hội thánh đã lệch đường. Mặt khác, chúng ta phải nhìn nhận rằng Hội thánh của Chúa vẫn ẩn giấu bên trong Hội thánh ấy. Điều rắc rối duy nhất là điều gì đó đã được thêm vào Hội thánh ấy. Hội ấy không còn đơn giản là Hội thánh của Chúa, mà là điều gì đó lớn hơn. Thế gian đã len lỏi vào khắp mọi nơi, và Hội thánh trở thành to lớn. Hạt cải mọc lên thành một cây lớn.

5. Người Đàn Bà Hành Quyền

Người gieo giống là chính Chúa. Người đàn bà tượng trưng cho Hội thánh. Trong Kinh Thánh, người đàn bà luôn luôn tượng trưng cho Hội thánh. Trong Kinh Thánh, vị trí của Hội thánh là vị trí của người vợ Đấng Christ. Đấng Christ yêu thương Hội thánh cũng như người chồng yêu thương vợ mình. Như Đức Chúa Trời tạo ra Ê-va từ xương sườn của A-đam, Đấng Christ sinh ra Hội thánh bằng sự sống Ngài. Trong Kinh Thánh, Hội thánh luôn luôn được tượng trưng bởi người đàn bà. Trong tương lai, Hội thánh sẽ là vợ của Chiên Con. Một người nam, chứ không phải người nữ, gieo giống. Nói cách khác, chỉ Đấng Christ mới có thể gieo giống; Hội thánh không thể làm công việc ấy. Hội thánh không thể tự quyết định bất cứ điều gì, và không có thẩm quyền riêng.

Vậy mà một ngày kia Hội thánh trên đất trở thành như một cái cây, có rễ đâm sâu và cành lá sum suê. Hội thánh trở nên thế gian và có quyền thế lớn. Mọi loại quyền lực gian ác vào trong Hội thánh và cư trú tại đó. Vì Hoàng đế La Mã ở trong Hội thánh, nên người đàn bà trở thành vĩ đại và nắm lấy nhiều quyền hành.

6. Người Đàn Bà Bắt Đầu Giảng Dạy

Ma-thi-ơ 13:33 chép: “Vương quốc thiên thượng giống như men mà người đàn bà kia đã lấy và giấu trong ba đấu bột”. Người đàn bà ấy là Công giáo La Mã, tức Hội thánh suy thoái. Bà ta bắt đầu thi hành thẩm quyền mà bà tự khoác lên mình. Nhiều chị em không thể hiểu tại sao Kinh Thánh cấm một người phụ nữ giảng dạy. Đó là vì Kinh Thánh cấm Hội thánh giảng dạy. Trong biểu tượng học, Hội thánh không có quyền giảng dạy. Nguyên tắc cấm người phụ nữ giảng dạy cho chúng ta thấy Hội thánh không có quyền giảng dạy. Tại đây, người đàn bà bắt đầu để men vào trong bột. Điều đó có nghĩa là người đàn bà bắt đầu hành quyền. Nói cách khác, Hội thánh bắt đầu giảng dạy.

Giáo hội Công giáo La Mã nói với người ta rằng Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời, nhưng cũng nói rằng Hội thánh có thể phát ngôn cho Đức Chúa Trời. Tất nhiên, Hội thánh được nói đến là Giáo hội Công giáo La Mã. Giáo hội Công giáo La Mã đã trở nên rất có thế lực, và đem nhiều thứ vào trong Hội thánh. Nếu anh em tranh luận rằng Kinh Thánh không nói gì về những sự thực hành của Hội thánh ấy, thì Giáo hội Công giáo La Mã sẽ nói với anh em rằng Hội thánh quyết định đường lối thực hành mọi sự. Nếu anh em nói rằng hình tượng không phù hợp với Kinh Thánh, thì Hội thánh sẽ nói rằng giáo hoàng đã phê chuẩn [việc thờ] hình tượng. Anh em có thể nói rằng việc thờ bà Ma-ri vốn không có trong Kinh Thánh, thì hội ấy sẽ nói rằng Hội thánh tin là bà Ma-ri phải được thờ lạy. Người đàn bà tự đảm nhiệm vai trò giáo sư.

Thi-a-ti-rơ, theo mắt của Đức Chúa Trời là Công giáo La Mã, dung nhượng nữ tiên tri Giê-sa-bên. Người đàn bà ấy đem sự ngoại tình và thờ hình tượng vào trong Hội thánh. Biểu tượng về người đàn bà ấy có nghĩa là Hội thánh thay vì Chúa đã quyết định mọi sự. Đó là nữ tiên tri Giê-sa-bên giảng dạy, chứ không phải là Chúa. Lẽ ra tốt hơn là Hội thánh nhận sự dạy dỗ đến từ Đầu thay vì tự cho là mình có vai trò giáo sư. Khi Hội thánh tự đảm nhiệm vai trò ấy, hậu quả sẽ là mọi loại tà thuyết bị đưa vào Hội thánh. Đó là ý của Chúa khi Ngài nói rằng vương quốc thiên thượng giống như men mà người đàn bà kia đã lấy và giấu trong ba đấu bột.

C. Men Trong Ba Đấu Bột

1. Men Là Các Giáo Lý Sai Trật Vốn Dễ Chấp Nhận

Men chỉ về các giáo lý sai trật. Chúa Jesus nói về men của người Pha-ri-si và của người Sa-đu-sê. Trong Mác 8:15 có men của Hê-rốt. Vậy, men trong Kinh Thánh chỉ về các giáo lý sai trật. Trong Lê-vi Ký, bột mịn rõ ràng chỉ về thức ăn của dân Đức Chúa Trời. Bột mịn đặc biệt chỉ về Chúa Jesus. Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy rằng Chúa Jesus là bột mịn, là thức ăn Đức Chúa Trời ban cho dân Ngài. Men không được phép để vào thức ăn ấy. Khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, Đức Chúa Trời truyền họ ăn bánh không men. Nói cách khác, việc để men vào bột mịn làm hư thức ăn của chúng ta là Chúa Jesus! Nguyên thủy có bột mịn, nhưng nay men đã được thêm vào đó.

Khi men được thêm vào bột mịn thì điều gì sẽ xảy ra? Không có men thì bánh sẽ thô, vô vị, cứng, nặng và khó tiêu. Có men thì bánh sẽ trở thành nhẹ và dễ tiêu. Men làm cho bột thơm ngon và dễ tiêu. Nhiều người cảm thấy khó tiếp nhận Chúa Jesus và những lời dạy của Ngài; họ cảm thấy khó tiêu hóa những điều ấy. Những người nghiên cứu các biểu tượng của Cựu Ước đều biết rõ rằng bột mịn chỉ về cuộc sống của Chúa Jesus. Một số người cảm thấy cuộc sống ấy quá nặng nề, khó khăn và cứng rắn; họ không thể chấp nhận một cuộc sống như vậy. Người đàn bà trong ẩn dụ ấy đưa nhiều tà thuyết vào trong Hội thánh. Bà làm dậy men đống bột mịn, làm cho nhiều người tiếp nhận Chúa dễ dàng hơn! Khi thế gian, mọi thứ tà thuyết và giáo lý được đưa vào Hội thánh, thì người ta dễ chấp nhận Chúa Jesus và các lời dạy của Ngài hơn! Đó là điều Công giáo La Mã đã thực hiện.

2. Tà Thuyết Về Sự Pha Trộn

Theo lẽ thật về Hội thánh, các công việc được nêu trên tạo nên một tình trạng vô cùng pha trộn. Thế gian pha trộn với Hội thánh, ân điển pha trộn với luật pháp, và các tín đồ pha trộn với những người vô tín. Hậu quả là tình trạng pha trộn. Lại thêm, sự công chính pha trộn với sự thương xót, ngoại giáo với Cơ Đốc giáo, và tôn giáo với chính trị. Không tình trạng pha trộn và tà dâm nào lớn hơn tình trạng được chứng kiến trong Công giáo La Mã! Giáo hội ấy pha trộn Cơ Đốc giáo với Do Thái giáo, và nghệ thuật Hi Lạp với sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Giáo hội ấy đem vào mọi thứ có thể tưởng tượng ra được từ thế gian! Các chim trời đã bay vào. Men được trộn vào bột, và bột đã bị dậy men. Bây giờ nó nhẹ và phồng lên, và mọi người có thể tiếp nhận nó. Hễ chịu phép thanh tẩy thì một người có thể làm người Công giáo. Nếu phạm tội thì người ấy có thể mua phiếu xá tội để được giải cứu khỏi những tội lỗi trong cuộc sống hiện tại cũng như được giải cứu khỏi ngục luyện tội mai sau.

Mọi loại tà thuyết đã xâm nhập vào! Hậu quả là bột bây giờ bị dậy men, và người ta có thể dễ dàng tiếp nhận nó. Công giáo La Mã không đòi hỏi người ta nhận lấy men, mà chỉ đòi hỏi người ta nhận lấy bộn mịn có men. Công giáo La Mã vừa cho chúng ta các tà thuyết vừa cho chúng ta những lẽ thật. Công giáo tin rằng Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời và Chúa Jesus đã chết trên thập tự giá để hoàn thành sự cứu chuộc. Hai nguyên lý căn bản ấy về đức tin có tại đó, nhưng bột mịn đã bị dậy men.

a. Ba Đấu Là Một Đơn Vị Thuận Tiện

Tại sao ở đây Kinh Thánh nói đến ba đấu [bột]? Số ba thường được dùng trong Kinh Thánh. Áp-ra-ham đã lấy ba đấu bột làm bánh cho các thiên sứ. Dường như tay chúng ta dễ cầm lấy ba đấu. Đó là hệ đo lường thông thường, một đơn vị thông thường. Đó cũng giống như lường bột hay gạo bằng [lon], gói hay bao. Khi xưa, đơn vị thuận tiện nhất là ba đấu.

b. Làm Rối Loạn Lời Đức Chúa Trời

Nan đề là người đàn bà đã pha trộn vào thức ăn của dân Đức Chúa Trời! Bà đã làm hư thức ăn của họ! Bà đã đưa mọi loại tà thuyết vào trong Hội thánh. Do đưa những tà thuyết vào trong Hội thánh, Công giáo đã làm rối loạn Lời Đức Chúa Trời.

Việc làm ấy của Giáo hội Công giáo La Mã gây nên hậu quả là thế gian lẻn vào trong Hội thánh. Bây giờ người đàn bà ấy lên nắm lấy quyền hành lớn. Bà điều khiển các công việc thế tục cũng như các công việc thuộc linh. Bà ta không những thiết lập một Hội thánh lớn trên đất, mà còn mở rộng quyền cai trị của mình trên các quốc gia trên đất. Nói cách khác, Hội thánh đã chiếm lấy quyền lực chính trị cũng như quyền lực tôn giáo. Hội ấy đã thật sự trở nên một cây lớn. Đồng thời, hội ấy cũng thật sự trộn lẫn men với bột mịn.

3. Cả Đống Bột Đều Dậy Men

Lời Đức Chúa Trời ở đây khá nghiêm trọng. Phần thứ hai trong Ma-thi-ơ 13:33 nói rằng: “Cho đến khi cả đống bột đều dậy men”. Xin nhớ rằng ngày nay đống bột chưa hoàn toàn bị dậy men. Tất cả những học giả chính thống về lời tiên tri đều đồng ý rằng quyền lực của Công giáo La Mã chưa bị suy giảm. Chúa nói rằng tình trạng ấy sẽ tiếp tục cho đến khi cả đống bột đều dậy men. Ngày nay, Công giáo La Mã đã bị dậy men đến một mức độ rất nghiêm trọng. Nó đã bị dậy men trong hơn một ngàn năm! Nhưng chúng ta chưa có thể nói rằng đống bột ấy hoàn toàn bị dậy men. Chúa nói rằng một ngày kia cả đống bột sẽ bị dậy men. Quyền lực của Công giáo sẽ tiếp tục mở rộng. Sự mở rộng ấy sẽ không dừng lại cho đến khi nó tận chung, là khi nó bị lửa thiêu trụi hoàn toàn. Lời Chúa tại đây khá nghiêm trọng: “Cho đến khi cả đống bột đều dậy men”. Ở đây Chúa nói với chúng ta rằng quyền lực của Công giáo La Mã sẽ tiếp tục mở rộng.

Giáo hội Công giáo La Mã đã trở nên vĩ đại biết bao! Vô số tà thuyết được tìm thấy trong đó! Men càng ngày càng lan tràn. Bữa ăn tối của Chúa đã trở thành lễ mixa, và bánh trở thành thịt của Đấng Christ. Biến thể thuyết đã và đang thịnh hành, là giáo lý nói rằng ngay khi một người chạm đến bánh thì bánh ấy biến thành thịt thật của Đấng Christ. Lại có trầm hương, thánh giá và nghi lễ. Người ta trông cậy nơi nhiều tổ chức và danh xưng. Giáo hội Công giáo được kiểm soát chặt chẽ hơn bất cứ quốc gia hay nhà nước nào trên thế giới. Có đủ mọi loại tổ chức trong đó, và dầu có bỏ ra vài năm để nghiên cứu các tổ chức ấy, một người vẫn không thể hiểu tất cả. Một mặt, hội ấy làm rối loạn giáo lý về Đấng Christ. Mặt khác, cây ấy đã trở nên rất lớn.

4. Giáo Hoàng Trở Thành Giám Mục Toàn Cầu

Đến đây tôi sẽ trích dẫn đôi lời của vài giáo hoàng. Các giáo hoàng tự xưng là Giám Mục Toàn Cầu. Giám mục nguyên là trưởng lão của một địa phương, và các trưởng lão của các Hội thánh địa phương được gọi là những giám mục. Về sau, một trong những người ấy trở thành giám mục và thống trị các trưởng lão khác của Hội thánh. Về sau nữa, các giám mục bắt đầu điều hành các Hội thánh khác, và cuối cùng điều khiển cả thế giới. Do đó, giáo hoàng tự xưng là Giám Mục Toàn Cầu. Một trong các giáo hoàng đã nói rằng: “Tôi, Đức Giáo Hoàng, là vua của các vua, và luật lệ của tôi vượt trên mọi luật lệ”. Đó là lời tuyên bố thành văn của một giáo hoàng về uy quyền giáo hoàng của mình. Lời tuyên bố này nghe có giống như lời ra từ miệng của một người bước theo Jesus người Na-xa-rét thấp hèn không? Hoàn toàn không.

5. Sự Vô Ngộ Của Giáo Hoàng

Tại Công đồng Vatican năm 1870, một sắc luật tuyên bố rằng: “Giáo hoàng của La Mã không thể thay đổi hay sửa đổi những lời nói của chính mình”. Hãy tưởng tượng xem quyền uy của Công giáo La Mã trở nên lớn lao biết bao! Bất cứ điều gì cũng có thể sửa đổi ngoại trừ những lời của giáo hoàng La Mã! Những lời nói của ông là lệnh tối thượng và không thể được thay đổi. Loại linh ở đằng sau những lời lẽ ấy là gì? Rõ ràng là thẩm quyền của con người đã chiếm đoạt uy quyền của Đức Chúa Trời! Lời tuyên bố trên áp dụng cho tất cả những lời tuyên bố của bất cứ giáo hoàng nào. Chúng ta có thể tìm thấy vô số những lời tuyên bố tương tự như vậy.

Một giáo hoàng tại La Mã ấn hành một sứ điệp có tên là “Kế Hoạch”. Ban đầu, Công giáo La Mã tin rằng chỉ Hội thánh là không thể sai lầm. Nhưng sứ điệp ấy mở rộng lời tuyên bố đó bằng cách nói với mọi người rằng không những Hội thánh không thể sai lầm, mà giáo hoàng cũng không thể sai lầm. Chính mình giáo hoàng không thể sai trật. Nhóm chữ không thể sai lầm trong tiếng Hoa là bu-neng-tzo-wu nghe không mạnh mấy, nhưng trong tiếng Hi Lạp, tiếng La tinh và tiếng Anh, chữ không thể sai lầm là một từ ngữ rất mạnh. Chỉ Đức Chúa Trời là không thể sai lầm, nhưng Công giáo nói rằng giáo hoàng cũng không thể sai lầm. Đó là tà thuyết và men.

6. Đức Chúa Trời Đánh Giá Công Giáo Thế Nào

Đức Chúa Trời có thái độ thế nào đối với Công giáo? Khải Thị chương 17 đề cập đến một đại kỵ nữ. Bà không những là người phạm tội ngoại tình mà còn là một kỵ nữ. Sau khi đã lập gia đình mà phạm tội vô luân, đồi bại là tội ngoại tình, nhưng chưa từng lập gia đình mà phạm tội vô luân, đồi bại là làm điếm. Tại đây, Kinh Thánh gọi Công giáo La Mã là một kỵ nữ.

a. La Mã Là Một Đại Kỵ Nữ

Khải Thị 17:18 chép: “Người đàn bà mà ngươi thấy là thành lớn, có vương quyền trên các vua trên đất”. Câu 9 chép: “Đây là tâm trí khôn ngoan. Bảy đầu là bảy ngọn núi, tức chỗ người đàn bà ngồi”. Người đàn bà ấy là ai? Qua Giăng, Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy rằng người đàn bà ấy là thành lớn thống trị các vua trên đất. Thành ấy được xây trên bảy ngọn núi. Người đàn bà ngồi trên bảy ngọn núi ấy. Trên thế giới, chỉ có một thành phố mang tên là Thành Phố Của Bảy Ngọn Núi; đó là La Mã. Những thành phố lớn trên đất thường có nhiều tên. Chẳng hạn, Quảng Đông còn có tên là “Sui”, và Thượng Hải còn có tên là “Hu”. Thành phố La Mã có một tên khác là Thành Phố Của Bảy Ngọn Núi. Trải qua các thời đại luôn luôn có nhiều cuộc thi đấu thể thao tại thành phố La Mã. Tất cả các huy chương mà những nhà vô địch giành được, dầu bằng vàng hay bạc, đều có khắc hình bảy ngọn núi. Các đồng tiền được Hoàng đế La Mã phát hành đều khắc giống như vậy. Đồng tiền, một mặt thì có hình Hoàng đế La Mã, còn mặt kia thì có hình bảy ngọn núi. Xin nhớ rằng Thành Phố Của Bảy Ngọn Núi là một tên khác của thành phố La Mã. Khải Thị chương 17 cho chúng ta thấy rằng người đàn bà ấy ngồi trên bảy ngọn núi. Bà ta là một thành lớn thống trị các vua trên đất và được xây trên bảy ngọn núi. Điểm này cho thấy rõ rằng người đàn bà ấy là La Mã.

b. La Mã Tôn Giáo Và La Mã Chính Trị

Điểm bàn về người đàn bà ấy là La Mã đã được sáng tỏ. Nhưng vấn đề là bà ta là La Mã nào. Bà là La Mã chính trị hay La Mã tôn giáo? Có hai La Mã khác nhau. Người đàn bà ấy là Công giáo La Mã hay Đế quốc La Mã? Sau khi xem xét những lời giải thích sau đây, chúng ta sẽ tìm ra câu trả lời.

Khải Thị 17:3-4 chép: “Vị ấy đem tôi đi trong linh vào trong đồng vắng; và tôi thấy một người đàn bà ngồi trên con thú đỏ sậm có bảy đầu và mười sừng, [mình] đầy danh hiệu phạm thượng. Người đàn bà ấy mặc sắc tía và đỏ sậm, trau giồi bằng vàng, các đá quí và ngọc trai, cầm trong tay một cái chén bằng vàng đựng đầy những thứ ghê tởm và những vật ô uế của sự dâm loạn của nó”.

Tại đây có hai hình ảnh trước mắt chúng ta: Thứ nhất là người đàn bà còn hình ảnh kia là con thú. Người đàn bà ngồi trên con thú có bảy đầu và mười sừng. Bảy sừng trên con thú là bảy vị vua, và mười sừng là mười vị vua. Bảy vị vua là những vị vua lớn, trong khi mười vị vua là những vị vua nhỏ. Trong Hi văn, hai loại vua ấy khác nhau. Một loại là vua lớn, còn loại kia là vua nhỏ. Hầu hết những người đọc Kinh Thánh đều biết rằng con thú là La Mã của Đế quốc La Mã. Nếu con thú Đế quốc La Mã gồm có bảy vị vua và mười vị vua, thì người đàn bà phải là La Mã tôn giáo. Chỉ có hai La Mã — Đế quốc La Mã và Công giáo La Mã. Một đằng là La Mã chính trị, còn đằng kia là La Mã tôn giáo. Người đàn bà cưỡi trên con thú có nghĩa là Hội thánh cưỡi trên Đế quốc. Nếu con thú là Đế quốc La Mã, thì người đàn bà rõ ràng là Công giáo La Mã.

Trong khi Linh Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy quá khứ của La Mã, hiện tại và tương lai bà ta sẽ ra sao? Lời Đức Chúa Trời có một câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi ấy.

c. Sắc Tía Và Đỏ Sậm

Khải Thị 17:4 chép: “Người đàn bà ấy mặc sắc tía và đỏ sậm”. Sắc tía là màu của hoàng gia. Giáo hoàng luôn luôn xưng là vua. Đồng thời, mọi người từng viếng thăm La Mã đều nhận biết rằng đỏ sậm là màu của La Mã. Các hồng y giáo chủ được gọi là gì? Trong tiếng Hoa, họ được gọi là các giáo chủ “Áo Đỏ Sậm”. Áo ngoài, áo trong và thậm chí vớ của họ đều đỏ sậm. Xe ngựa của giáo hoàng cũng đỏ sậm. Ba phần tư lính canh của ông mặc áo đỏ sậm. Thảm của ông màu đỏ sậm. Giáo hoàng đi đâu thì thảm đỏ sậm cũng được trải ra dọc đường. La Mã đầy dẫy màu đỏ sậm. Một mặt, y phục có sắc tía. Mặt khác, không quốc gia nào khác có nhiều màu đỏ sậm bằng La Mã.

d. Trang Sức Bằng Vàng, Đá Quí Và Ngọc Trai

“Trang sức bằng vàng, đá quí và ngọc trai”. Khó tìm thấy một nơi nào trên đất có nhiều vàng, đá quí và ngọc trai như vậy. Các giáo đường tại La Mã, các hình tượng trong giáo đường và tất cả những đồ trang sức và vương miện của giáo hoàng đều làm bằng vàng, đá quí và ngọc trai. Chẳng hạn, giáo hoàng có một viên kim cương, tên là Kim cương Kruger, trị giá 833.000 bảng Anh.

1) Giáo Hoàng Có Hai Vương Miện

Giáo hoàng phải đội hai vương miện khi đăng quang, một vương miện cho thấy ông là vua của Hội thánh còn vương miện kia cho thấy ông là vua của thế gian. Một vương miện là mũ Miter cho thấy giáo hoàng là vua của Hội thánh. Khi nhận lấy mũ Miter, giáo hoàng nhận lấy quyền làm đầu trên Hội thánh. Sau đó, một mão miện khác là mũ Tiara được trao cho giáo hoàng. Mũ Tiara là một vương miện gồm có bảy tầng và được làm bằng vàng ròng. Mũ ấy cho thấy ông là vua của cả thế giới. Chúa Jesus chưa thiết lập vương quốc Ngài trên đất. Nhưng ở đây có những người đã xưng vương hơn một ngàn năm trước. Vương quốc chưa thiết lập, nhưng một số người đã xưng vương rồi. Mũ Tiara có gắn 146 viên đá quí và 540 viên ngọc trai. Tất cả các đá quí và ngọc trai ấy đều to lớn và quí giá.

2) Vương Cung Thánh Đường Của Thánh Phê-rô Và Vatican

Vương cung Thánh đường của thánh Phê-rô, nơi giáo hoàng thường xuất hiện, được xây dựng với phí tổn là chín trăm triệu bảng Anh. Công trình kiến trúc ấy được dựng lên để gọi là tưởng nhớ Phi-e-rơ, một người đánh cá bên bờ biển Ga-li-lê.

Tôi đã viếng thăm Vatican. Khó mà ước tính thành phố ấy trị giá bao nhiêu, vì mọi thứ ở đó đều quí báu. Toàn bộ trần nhà Giáo đường của thánh Phê-rô được sơn bằng vàng mười tám. Khắp nơi trong thành phố đều lấp lánh vàng. Cung điện của bất cứ vị vua hay hoàng đế nào trên đất cũng trở nên mờ nhạt khi so với các tòa nhà nơi giáo hoàng cư ngụ! Người ta khó có thể tìm ra một nơi nào khác trổi hơn La Mã về sự xa hoa quá độ. Vậy mà giáo hoàng xưng mình là người đại diện trên đất cho Jesus người Na-xa-rét.

Vậy, mọi lời của Kinh Thánh đều được ứng nghiệm!

e. Đầy Dẫy Những Thứ Ghê Tởm

“Trang sức bằng vàng, các đá quí và ngọc trai, cầm trong tay một cái chén bằng vàng đựng đầy những thứ ghê tởm”. Trong Kinh Thánh, những thứ ghê tởm luôn luôn chỉ về các hình tượng. Ví dụ, những thứ ghê tởm trong 2 Sử Ký chương 33, Ê-xê-chi-ên chương 20, Đa-ni-ên chương 9 và Phục Truyền Luật Lệ Ký chương 7 đều chỉ về các hình tượng. Những thứ ghê tởm trong Kinh Thánh chỉ mang một ý nghĩa là hình tượng.

f. Những Vật Ô Uế Của Sự Dâm Loạn

“Cái chén... đựng đầy... những vật ô uế của sự dâm loạn của nó”. Đây có nghĩa là những điều của các tôn giáo khác được đem vào Đạo Đấng Christ. Điều này thật là một sự ô uế.

g. Quyền Lực Của Nó Vươn Tới Tất Cả Các Quốc Gia

“Các vua trên đất đều hành dâm cùng nó, và những người ở trên đất đều say sưa vì rượu dâm loạn của nó” (c. 2). Quyền lực của Công giáo La Mã thật sự là có tầm cỡ quốc tế!

h. Mọi Sự Đều Rối Loạn

Những người ở trên đất đều say sưa rượu dâm loạn của nó. Khắp nơi, người ta hoán cải để theo Công giáo La Mã. Nó thực sự là Ba-by-lôn. Ba-by-lôn có nghĩa là rối loạn và tà dâm, và nó chính là như vậy! Tôi đã nói rằng nó pha trộn thế gian với Hội thánh, ngoại giáo với Đạo Đấng Christ, các tín đồ với những người vô tín, ân điển với luật pháp, Tân Ước với Cựu Ước, và Đức Chúa Trời với các hình tượng. Mọi sự đều ở trong tình trạng lẫn lộn, và khắp nơi đều có sự gian dâm. Đó là điều Công giáo La Mã đã làm.

7. Say Huyết Của Các Thánh Đồ

Khải Thị 17:6 chép: “Tôi thấy người đàn bà ấy say huyết của các thánh đồ và huyết của những chứng nhân của Jesus”. Nó say huyết của các thánh đồ! Tất cả những người đọc Kinh Thánh đều biết rằng sự bắt bớ của Đế quốc La Mã chấm dứt vào năm 313 S.C. Nhưng sự bắt bớ của Giáo hội Công giáo La Mã thì không bao giờ chấm dứt. Sự bắt bớ ấy vẫn tiếp tục đến ngày hôm nay (1948). Chúng ta không phải đọc nhiều sách vở để khám phá ra điều này. Quyển Sách Của Foxe Về Những Người Tuận Đạo (Foxe’s Book of Martyrs) kể cho chúng ta biết về những người bị Giáo hội Công giáo và Đế quốc La Mã giết chết. Thật ra, số người bị Giáo hội Công giáo giết chết còn nhiều hơn số người bị Đế Quốc La Mã giết chết.

a. Những Sự Bắt Bớ Tại Tây Ban Nha

Những người tìm hiểu lịch sử đều biết về những sự bắt bớ tại Tây Ban Nha, về Tòa án dị giáo Tây Ban Nha. Các tín đồ bị tố cáo là theo tà giáo, và trong vòng mười hai tháng có 10.220 người bị thiêu đến chết. Ngay khi một người xưng nhận đức tin của mình nơi Chúa thì người ấy bị giết chết. Tất cả các thẩm phán tại những quốc gia Công giáo đều vâng theo lệnh giáo hội. Hiếm khi nào giáo hội trực tiếp hành hình người ta. Khi muốn giết người nào, giáo hội yêu cầu tòa án xử tử người ấy. Giáo hội không trực tiếp giết, nhưng yêu cầu chính quyền địa phương làm công việc ấy.

b. Bản Nguyền Rủa Gồm Hai Mươi Bảy Điểm Của Giáo Hoàng

Mỗi thứ năm, giáo hoàng tuyên bố bản nguyền rủa gồm hai mươi bảy điểm hướng về tất cả những người bị xem là theo tà giáo. Tất nhiên, khi một người cộng lại những chi tiết của bản nguyền rủa ấy thì có hơn hai mươi bảy điểm. Giáo hoàng nguyền rủa tất cả những người tin nơi cái gọi là các tà thuyết. Sau khi tuyên bố xong, giáo hoàng thắp một ngọn đuốc, quăng nó xuống đất và dập tắt nó. Hành động ấy có nghĩa là tất cả những người tin các tà thuyết ấy đều phải chịu sự hư mất đời đời. Xin nhớ rằng những tà thuyết mà Giáo hội Công giáo La Mã đề cập đều là những gì anh em và tôi tin.

c. Thề Phải Bắt Bớ Các Tín Đồ

Từ thời Martin Luther, tất cả các giám mục của Giáo hội Công giáo La Mã đều phải long trọng thề là sẽ bắt bớ những người theo tà giáo. Nói cách khác, Giáo hội Công giáo La Mã nhất quyết bắt bớ những người có cùng một đức tin như chúng ta. Thánh Thomas Aquinas, một nhân vật nổi tiếng trong Công giáo, từng nói rằng: “Người nào tin nơi các tà thuyết đều phải bị nộp cho các viên chức thế tục để bị thủ tiêu đi sau khi được khuyên bảo hai lần”. Giáo hội Công giáo không chịu tự thi hành bản án, mà nộp vụ án cho các viên chức địa phương thi hành. Giáo hội Công giáo La Mã công nhận rằng những lời của Thomas Aquinas là sự cảm thúc trực tiếp của Thánh Linh.

Đừng nghĩ rằng sự bắt bớ ấy đã qua rồi. Không, nó vẫn còn tiếp diễn. Mọi người có mắt đều nhìn thấy rằng Công giáo La Mã sẽ tiếp tục quay lại [đường cũ].

d. Những Luật Lệ Và Sắc Lệnh Sát Nhân

Trong các sắc lệnh được La Mã ban bố, có một đoạn nói rằng các vị vua thế tục phải tiêu diệt tất cả những người theo tà giáo trong lãnh thổ của mình, bằng không sẽ bị dứt phép thông công hay bị mất ngai vàng.

Một vài giáo hoàng tại La Mã như Honorius III, Innocent III, Innocent IV và Alexander III đã thông qua những sắc lệnh truyền tất cả những người Công giáo phải tận diệt những người theo tà giáo. Gregory VIII nói với Charles IX rằng nếu muốn giữ đất nước của ông trong sự tin kính và mộ đạo thì ông phải kết án tất cả những người theo tà giáo trên toàn cầu và phải tận diệt họ. Trong một tờ báo tiếng Anh, Times (Thời Báo), ấn hành vào ngày 13 tháng 7 năm 1895, giáo hoàng nói rằng: “Nếu ám sát một người theo Tin Lành, thì ngươi sẽ được xóa tội ám sát một người theo Công giáo La Mã”. Đó là lời của một giáo hoàng! Một giáo hoàng khác nói rằng: “Ám sát một người nào đó theo lệnh của linh mục thì không bị xem là ám sát”. Đó là luật lệ và sắc chỉ của Công giáo La Mã.

e. Lời Chứng Của Huyết Các Thánh Đồ
1) Tại Madrid

Đến tận năm 1809 vẫn còn những người chứng kiến người theo Tin Lành, bị gọi là bọn theo tà giáo, bị giết tại Madrid là thủ đô của Tây Ban Nha. Một số người vừa bị giết chết, trong khi những người khác thì bị để cho thối rửa. Có một số người ở trong tình trạng nửa sống nửa chết, còn những khác, cả nam lẫn nữ, già lẫn trẻ, ngay cả có những người bảy mươi mấy tuổi, thì đều là nạn nhân. Một số người bị lột trần truồng và tống vào ngục. Các hình cụ dùng để tra tấn chỉ có thể được nghĩ ra do Sa-tan cộng tác với con người. Đến tận năm 1809, tình trạng tại Madrid vẫn còn như vậy.

2) Tại La Mã

Vào năm 1848, trong thời có cuộc cách mạng Ý, những đống xương được tìm thấy trong các tòa nhà lớn tại La Mã. Trong các tòa nhà ấy [người ta] tìm thấy hai lò lửa có những khúc xương chưa cháy hết.

Một cách đối xử với những người theo Tin Lành là như vầy: “Treo chân một người lên cái puli và lấy dây thừng buộc người ấy lại. Xiết chặt dây thừng lại bằng bánh cóc đến mức dây thừng ăn vào thịt. Rồi đổ nước từ trần nhà vào trong miệng người ấy. Bịt miệng người ấy lại để người ấy bị ngộp hay không thở được”.

Vào năm 1540, tăng đoàn Dòng Tên được Giáo hội Công giáo La Mã thành lập để chống lại người Tin Lành, và chỉ riêng tại La Mã đến nay đã có hơn 1,9 triệu tín đồ bị giết chết.

f. Sự Bắt Bớ Vẫn Tiếp Tục Đến Ngày Nay

Vào năm 1901, Giáo hoàng Leo XIII đã cho ấn hành một bài báo tại La Mã, bài ấy nói rằng: “Hội thánh, tức Giáo hội Công giáo La Mã, có thẩm quyền từ Thiên Chúa để tịch thu tài sản của những người theo tà giáo, và có quyền tống giam và thiêu họ”.

Xin nhớ rằng trải qua các thời đại, Công giáo La Mã hằng bắt bớ con cái Đức Chúa Trời. Tôi từng đọc nhiều mẩu chuyện như vậy. Nhiều người tuận đạo đã chịu sự bắt bớ ác nghiệt tại Mỹ, Đức, Tây Ban Nha và những nơi khác. Giáo hội Công giáo gọi người đặt đức tin của mình nơi Đấng Christ là người theo tà giáo. Có đức tin nơi Đấng Christ là tà giáo; đó là một tội ác đáng chịu tử hình. Kinh Thánh thực sự được ứng nghiệm rằng: “Tôi thấy người đàn bà ấy say huyết các thánh đồ và huyết những chứng nhân của Jesus”. Đó là sự bắt bớ của Công giáo La Mã. Ngày nay sự bắt bớ ấy vẫn còn với chúng ta.

8. Công Giáo La Mã Bao Trùm Toàn Thể Địa Cầu

Khải Thị 17:1 chép: “Một trong bảy thiên sứ cầm bảy bát đến nói với tôi rằng: Hãy đến đây; Ta sẽ chỉ cho ngươi thấy sự phán xét của con đại kỵ nữ, là kẻ đang ngồi trên nhiều dòng nước”. Câu 15 chép: “Thiên sứ ấy nói với tôi rằng: Các dòng nước mà ngươi thấy kỵ nữ ấy ngồi trên đó là các dân, quần chúng, các nước và các tiếng”. Kinh Thánh cho chúng ta thấy kỵ nữ ấy ngồi trên nhiều dòng nước, có nghĩa là Công giáo La Mã sẽ bành trướng cách kinh khủng. Câu 16 tuyên bố sự phán xét trên Công giáo La Mã. Câu 15 cho chúng ta thấy rằng Công giáo La Mã sẽ bao trùm toàn thể địa cầu trước khi bị phán xét. Đó là lời tiên tri của Chúa, và chúng ta không thể thay đổi lời này! Bà ta sẽ ngồi trên các dân, quần chúng, các nước và các tiếng. Bà ta sẽ lan tràn khắp nơi và bành trướng cách kinh khủng.

Công giáo La Mã không những cường thịnh tại Trung Quốc, mà cũng cường thịnh trên khắp thế giới. Tôi luôn luôn lưu ý đến những bản thống kê. Tại Mỹ, cứ mỗi một người Tin Lành thì có bảy người Công giáo. Công giáo nhiều hơn Tin Lành gấp bảy lần. Từ năm 1920, sau khi Mussolini thỏa thuận với giáo hoàng là thừa nhận Vatican làm một nhà nước độc lập, Công giáo La Mã đã mở rộng nhanh chóng. Năm 1913, mười bốn quốc gia phái đại sứ đến Vatican. Năm phái viên của La Mã có trụ sở ở hải ngoại. Đến năm 1922, có hai mươi lăm quốc gia phái đại sứ đến Vatican, và La Mã có hai mươi lăm phái viên ở hải ngoại. Ngày nay, năm 1948, có bảy mươi quốc gia phái đại sứ đến Vatican, kể cả Trung Quốc. Quyền lực của Công giáo La Mã liên tục mở rộng.

Ngày nay, người đàn bà ấy vẫn còn với chúng ta. Một ngày kia, bà sẽ kết hôn với Anti-christ. Người đàn bà ấy cưỡi trên con thú. Trong câu 3, bà cưỡi trên con thú, có nghĩa là Công giáo La Mã sẽ chỉ đạo Anti-Christ. Về sau, Anti-christ sẽ diệt trừ người đàn bà ấy; mười vị vua sẽ dấy lên làm cho bà tiêu điều và trần truồng, ăn thịt bà, và lấy lửa thiêu trụi bà (c. 16). Đó là kết cuộc của bà, là điều sẽ xảy ra vào cuối cơn đại nạn.

9. Mạng Lịnh Của Đức Chúa Trời Cho Dân Ngài

a. Hãy Ra Khỏi Công Giáo La Mã

Xin nhớ rằng trong Công giáo La Mã có những người đã được cứu. Đừng nghĩ rằng Công giáo La Mã không có những người đã được cứu. Có hai điều Công giáo vẫn duy trì — [ấy là niềm tin] Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời và sự chết của Ngài vì nhân loại. Đức Chúa Trời hiện kêu gọi chúng ta: “Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi không dự phần trong những tội lỗi của nó” (Khải. 18:4).

b. Đừng Tò Mò

Tôi nói những điều này để cho anh em thấy những gì sẽ xảy ra trên đất. Sớm muộn gì quyền lực của Công giáo La Mã cũng sẽ bành trướng mạnh mẽ! Hãy cảnh giác và đừng tò mò. Đừng thử chạm đến giáo hội ấy. Một mặt, chúng ta cần phải biết về giáo hội ấy. Mặt khác, chúng ta không được chạm đến giáo hội ấy. Thái độ của chúng ta cần phải là như vậy.

Đức Chúa Trời cấm bất cứ con cái nào của Ngài chạm đến những điều thuộc Công giáo La Mã. Ngài không nói bà ta là một người ngoại tình, mà nói bà ta là một kỵ nữ. Người phạm tội trong hôn nhân bị gọi là người ngoại tình. Nhưng những người chưa từng kết hôn thì không đủ điều kiện làm người ngoại tình; họ là những kỵ nữ. Công giáo La Mã không liên quan gì đến Đức Chúa Trời. Ngày nay, một người đàn bà đã bước vào, dạy dỗ Hội thánh, bỏ men vào trong ba đấu bột, và cưỡi trên Anti-christ là Đế quốc La Mã. Đức Chúa Trời gọi người ấy là đại kỵ nữ! Một tín đồ mới đừng để bị lừa gạt. Người ấy không được nghĩ rằng vì chúng ta và Công giáo đều tin nơi Jesus, nên chúng ta cũng như nhau. Chúng ta phải rất sáng tỏ là mình dứt khoát không được liên lạc với Công giáo La Mã. Chúng ta phải đóng cửa lại và đừng bước vào! Đừng để tính tò mò dẫn chúng ta lạc đường!