Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 2

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 2
ISBN: 0-7363-0972-2
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 28

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG HAI MƯƠI TÁM

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

Kinh Thánh: Lu. 6:38; 1 Ti. 6:7-10, 17-19; 2 Cô. 9:6; Mal. 3:10; Châm. 11:24; Phil. 4:15-19

I. QUẢN LÝ THEO NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Trong chương này, chúng ta sẽ bàn về sự dâng hiến và biếu tặng tiền bạc. Sau khi đã bán đi tất cả, một người vẫn tiếp tục có các khoản thu nhập; tiền bạc vẫn tìm cách trở về tay người ấy. Người ấy nên quản lý tiền bạc của mình thế nào? Thậm chí sau khi một người đã dâng tất cả tiền bạc của mình, chúng ta không nên nghĩ rằng tiền bạc không còn ảnh hưởng trên người ấy nữa. Một số người có thể đem cho hết tiền bạc của mình ngay một lần, nhưng tiền bạc có thể dần dần phục hồi quyền lực của nó trên người ấy. Cuối cùng, họ sẽ lại xem tiền bạc họ có là của riêng mình. Vì vậy, một tín đồ phải học tập liên tục buông bỏ tiền bạc của mình.

Cách Cơ Đốc nhân quản lý tài sản hoàn toàn khác với cách của một người vô tín. Cách Cơ Đốc nhân quản lý tiền bạc là đem cho. Cách của người vô tín là tích chứa. Ngày nay chúng ta quan tâm đến việc một Cơ Đốc nhân phải sống thế nào để thoát khỏi tình trạng túng thiếu. Đức Chúa Trời đã hứa với chúng ta rằng chúng ta sẽ không thiếu thốn ở trên đất. Chim trên trời không thiếu thức ăn, và hoa ngoài đồng không thiếu áo mặc. Cũng vậy, con cái Đức Chúa Trời không thể thiếu áo mặc và thức ăn. Nếu họ thiếu thốn điều gì thì phải có một lý do hay nguyên nhân đưa đến tình trạng ấy. Nếu một anh em bị túng bấn, ấy là người ấy không quản lý tài sản của mình phù hợp với nguyên tắc của Đức Chúa Trời.

Sau khi đã từ bỏ tất cả của cải của mình để theo Chúa, anh em cần phải bước đi theo nguyên tắc của Đức Chúa Trời. Nếu không theo nguyên tắc của Đức Chúa Trời, thì rốt cuộc anh em sẽ lâm vào tình trạng nghèo túng. Nhiều con cái Đức Chúa Trời có một nhu cầu lớn, đó là học tập quản lý tài sản của mình. Nếu không học tập quản lý tài sản của mình, họ chắc chắn gặp khó khăn trong bước đường tương lai. Hôm nay, chúng tôi muốn xem xét phương cách để đạt được sự thịnh vượng của Đức Chúa Trời.

II. SỰ CHU CẤP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ ĐIỀU KIỆN

Là tín đồ, chúng ta phải ngưỡng trông Chúa để có được thực phẩm, áo quần và những nhu cầu khác trong khi chúng ta sống trên đất ngày nay. Không có sự thương xót của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể trải qua những ngày tháng ở trên đất. Ngay cả đối với những người giàu có cũng đúng như vậy; họ cũng phải ngưỡng trông Chúa. Trong Thế Chiến thứ hai, chúng ta thấy nhiều người giàu có bị tước đoạt hết áo quần và thực phẩm. Một ngày kia, nhiều người sẽ hối tiếc về tài sản của mình. Phao-lô cảnh cáo chúng ta đừng nương cậy nơi sự giàu có vô định. Một người tham lam luôn luôn là người lo âu. Những người tin cậy nơi Đức Chúa Trời có thể không dành dụm được nhiều, nhưng Chúa sẽ không để họ lâm vào những tình cảnh khó khăn. Ngài có thể cung ứng cho tất cả nhu cầu của họ. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhận thức rằng sự cung ứng của Đức Chúa Trời có kèm theo những điều kiện.

Nếu Đức Chúa Trời có thể nuôi chim trời, thì Ngài cũng có thể giữ gìn sự sống của chúng ta. Trên thực tế, không ai có thể nuôi tất cả chim chóc hay cung cấp đủ phân bón để trồng tất cả những hoa huệ ngoài đồng. Nhưng Đức Chúa Trời giàu có đủ để giữ cho chim trời và hoa đồng huệ ngoài đồng sống động. Ngài cũng giàu có đủ để giữ gìn sự sống của con cái Ngài. Đức Chúa Trời không muốn thấy chúng ta thiếu thốn gì cả. Ngài không muốn cuộc sống của chúng ta túng thiếu về bất cứ mặt nào. Một người lâm vào tình cảnh túng thiếu sa ngã vì người ấy có nan đề trong chính mình; người ấy đã không quản lý tài sản mình theo phương cách của Đức Chúa Trời. Nếu quản lý tiền bạc của mình phù hợp với luật của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không nghèo túng.

Chúng ta hãy đọc Lu-ca 6:38. Phân đoạn này trong Lời [Chúa] mô tả loại người Đức Chúa Trời sẽ cung ứng. Đức Chúa Trời luôn luôn sẵn sàng cung ứng. Khi Ngài cung ứng cho chúng ta, sự cung ứng ấy có thể dồi dào đến nỗi tràn ra nơi miệng chúng ta và thậm chí trở nên gớm ghê đối với chúng ta, như đã được mô tả trong Xuất Ai Cập Ký. Thực hiện một điều như vậy đối với Đức Chúa Trời thì không phải là vấn đề. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng Đức Chúa Trời nghèo nàn. Đàn bò trên ngàn đồi núi là của Ngài, và đàn dê trên vạn đồi núi là của Ngài. Nếu mọi sự đều thuộc về Đức Chúa Trời, tại sao con cái Ngài lại nghèo túng như vậy? Tại sao con cái Ngài lâm vào tình trạng thiếu thốn? Đó không phải là vì Đức Chúa Trời không thể cung ứng. Trái lại, chúng ta cần đáp ứng những đòi hỏi của Ngài trước khi có thể nhận được sự cung ứng của Ngài. Chúng ta cần đáp ứng những điều kiện nhất định nào đó trước khi lời cầu nguyện của chúng ta được nhậm. Thậm chí sự cứu rỗi của chúng ta cũng có những đòi hỏi nhất định — đó là chúng ta phải tin. Mọi lời hứa đều có điều kiện, và chúng ta phải thỏa đáp những điều kiện ấy trước khi có thể nhận được lời hứa. Cũng vậy, chúng ta cần thỏa đáp những đòi hỏi của Đức Chúa Trời trước khi có thể nhận được sự cung ứng của Ngài. Đòi hỏi của Ngài là phải ban cho. Chúa nói: “Hãy cho, thì các ngươi sẽ được cho lại”.

III. HÃY CHO, THÌ SẼ ĐƯỢC CHO LẠI

Tôi từng thấy một vài anh chị em lâm vào tình cảnh vô cùng thiếu thốn vì họ không trung tín trong vấn đề dâng hiến. Thật ra thu nhập của họ không phải là thiếu. Kinh Thánh cho chúng ta thấy một nguyên tắc căn bản — một người phải phân phát để trở nên giàu có và một người trở nên nghèo túng vì tích chứa của cải. Người nào chỉ quan tâm đến chính mình đều bị định phận là sẽ lâm vào tình cảnh nghèo túng. Người nào học tập phân phát đều được định phận là sẽ giàu có. Lời Đức Chúa Trời nói thế, và đúng là như vậy. Nếu muốn thoát khỏi tình cảnh nghèo túng, chúng ta phải liên tục phân phát. Chúng ta càng cho, Đức Chúa Trời sẽ càng ban cho chúng ta. Vì chúng ta sẵn lòng chia sẻ phần dư dật của mình với người khác, nên những người khác cũng sẽ vui lòng chia sẻ phần dư dật của họ với chúng ta trong tương lai. Nếu chúng ta cho người khác một phần hai mươi, thì những người khác cũng sẽ cho chúng ta một phần hai mươi. Nếu chúng ta cho người khác một phần ngàn, thì những người khác cũng cho lại chúng ta một phần ngàn.

Chúng ta lường cho người khác mực nào, thì người khác cũng lường lại cho chúng ta mực ấy. Chúng ta đối đãi với anh chị em mình theo mức lượng nào, thì Đức Chúa Trời cũng đối đãi với chúng ta theo mức lượng đó. Nếu chúng ta sẵn lòng hi sinh khoản thu nhập của mình, những người khác cũng sẽ hi sinh khoản thu nhập của họ cho chúng ta. Nếu chúng ta chỉ cho người khác những gì hoàn toàn vô dụng, những thứ chúng ta không bao giờ dùng tới, thì người khác chắc chắn cũng sẽ cho chúng ta những thứ hoàn toàn vô dụng và không thể dùng được. Nhiều người thu nhập khó khăn vì họ phân phát khó khăn. Nếu một người không có nan đề trong việc phân phát, thì khó mà tưởng tượng rằng người ấy sẽ có nan đề trong việc thu nhập của mình. Lời Đức Chúa Trời rất rõ ràng. Nếu chúng ta cho người khác, Chúa sẽ ban cho chúng ta. Nếu chúng ta không cho người khác, Chúa cũng sẽ không ban cho chúng ta. Hầu hết mọi người chỉ vận dụng đức tin khi xin Đức Chúa Trời [ban cho] tiền bạc; họ không vận dụng đức tin trong việc phân phát tiền bạc. Không lạ gì khi họ không có đức tin nhận lãnh bất cứ điều gì từ Đức Chúa Trời.

Hỡi các anh em, ngay khi trở nên Cơ Đốc nhân, chúng ta phải học tập bài học cơ bản về việc quản lý tiền bạc. Cơ Đốc nhân có một phương cách độc đáo để quản lý tài sản của mình: Những gì chúng ta nhận được tùy thuộc vào những gì chúng ta phân phát. Nói cách khác, cách quản lý tài chính của Cơ Đốc nhân là nhận được theo những gì chúng ta ban cho. Người thế gian ban cho theo những gì họ đã nhận được, nhưng chúng ta nhận được theo những gì chúng ta ban cho. Sự chảy vào của chúng ta tùy thuộc vào sự tuôn ra của chúng ta. Những người khao khát và bám chặt lấy tiền bạc thì không bao giờ có thể nhận được tiền bạc từ Đức Chúa Trời; họ sẽ không bao giờ nhận được sự cung ứng nào từ Đức Chúa Trời.

Tất cả chúng ta đều cần phải ngưỡng trông Chúa [đáp ứng] những nhu cầu của mình, nhưng Đức Chúa Trời chỉ sẽ cung ứng cho các nhu cầu của một loại người: những người phân phát. Nhóm chữ lường lớn mà Chúa dùng trong Lu-ca 6:38 là những chữ tuyệt diệu. Khi Đức Chúa Trời ban cho con người, Ngài không bao giờ bủn xỉn. Ngài luôn rộng rãi và đầy tràn. Đức Chúa Trời chúng ta luôn luôn rộng rãi. Chén của Đức Chúa Trời chúng ta luôn luôn đầy tràn. Đức Chúa Trời không bao giờ bần tiện. Khi Ngài ban cho, Ngài nói đó sẽ là một lường lớn, được nén xuống và lắc chặt. Hãy xem xét cách chúng ta mua gạo. Hầu hết những người bán gạo sẽ không để chúng ta lắc cái lít đong gạo. Họ không chịu để gạo đằm xuống rồi mới đổ ra. Nhưng Chúa nói: “Nén xuống, lắc chặt”. Không những vậy mà còn “đầy tràn”. Đức Chúa Trời chúng ta là một Đức Chúa Trời rộng rãi như vậy. Ngài ban cho bằng cách nén xuống, lắc chặt, vun lên và đầy tràn. Tuy nhiên, Ngài cũng nói rằng chúng ta lường cho người khác mực nào, thì chúng ta cũng sẽ được lường lại mực ấy. Nếu chúng ta tính toán quá kỹ trong khi cho người khác, thì Đức Chúa Trời sẽ chỉ cảm động người khác cho chúng ta cách tính toán chính xác.

Trước hết chúng ta phải cho người khác, rồi người khác sẽ cho chúng ta. Hầu hết mọi người đều chưa bao giờ học tập ban phát. Họ luôn luôn muốn Đức Chúa Trời nhậm những lời cầu nguyện của mình. Trước hết chúng ta phải ban cho rồi mới có thể tiếp nhận. Nếu gần đây chúng ta không nhận được gì cả, thì sự kiện ấy có nghĩa là chúng ta đang có nan đề trong việc ban cho. Tôi đã làm một Cơ Đốc nhân hơn hai mươi năm, và tôi có thể làm chứng một cách quả quyết về nguyên tắc này. Mỗi khi một người có nan đề trong việc ban cho, thì người ấy sẽ kinh nghiệm sự thiếu thốn.

IV. HAI LỜI CHỨNG VỀ SỰ QUẢN LÝ TIỀN BẠC

A. Câu Chuyện Của Handley Moule

Handley C. G. Moule tại Anh Quốc từng là chủ bút tạp chí Sự Sống Và Đức Tin. Trong nhiều phương diện, ông là một người vĩ đại trước mặt Chúa. Một trong những thành đạt nổi bật của ông là sự hiểu biết Kinh Thánh. Ông tin cậy Chúa [chu cấp] cho cuộc sống của mình. Suốt cuộc đời mình, nhiều lần ông đã kinh nghiệm cảnh thiếu thốn và thử thách, nhưng vì biết Lu-ca 6:38 nên ông nói với vợ mình mỗi khi túng thiếu rằng: “Gần đây phải có một điều gì đó sai trật đối với việc chúng ta cho [người khác]”. Ông đã không nói về nhu cầu trong nhà mình. Thay vào đó, ý nghĩ của ông là về việc ông cho [người khác].

Lần kia, nhà ông gần như không còn gì cả. Thậm chí ông không có bột là lương thực chủ yếu cho bữa ăn hằng ngày của người Anh. Ông đợi hai ngày, nhưng không ai đem gì cho ông cả. Khi ấy, ông bảo vợ mình rằng: “Trong nhà chúng ta phải có một thứ gì đó mà chúng ta không cần”. Ông không cầu xin Chúa cho ông bột. Thay vào đó, ông nói: “Trong nhà chúng ta phải có một thứ gì đó dư thừa. Đó là lý do Chúa không ban cho”. Họ quỳ xuống cầu nguyện và xin Chúa chỉ cho họ thấy thứ mà họ có quá nhiều trong nhà mình. Sau khi cầu nguyện, họ xem qua mọi thứ. Họ bắt đầu từ gác mái, xét xem có món đồ nào không cần thiết hay không. Thậm chí họ cũng xem qua những vật dụng của con cái mình và nhận thấy họ chỉ có đủ những gì cần thiết. Sau đó, ông Moule nói với Chúa rằng: “Trong nhà này thật sự không có gì dư thừa cả. Thưa Chúa, Ngài đã lầm lỗi trong việc không cung ứng cho chúng con điều chúng con đang cần”. Dừng lại một khoảnh khắc, ông bảo vợ mình rằng: “Chúa không bao giờ lầm lỗi. Trong nhà chúng ta phải có thứ gì đó dư thừa”. Họ lại xem xét một lần nữa. Khi xuống dưới từng hầm, họ thấy một thùng bơ mà người khác cho nhiều ngày trước. Khi thấy thùng bơ, ông Moule liền vui mừng bảo vợ mình rằng: “Đó tất là thứ dư thừa”.

Cả hai đều khá lớn tuổi. Trong nhiều năm, họ đã học bài học ban cho. Họ biết lời Chúa nói: “Hãy cho, thì các ngươi sẽ được cho lại”. Họ nóng lòng đem cho thùng bơ ấy. Nhưng họ nên cho ai đây? Ông Moule là một anh em trách nhiệm trong Hội thánh. Sau khi xem qua danh sách các anh chị em nghèo, ông quyết định tặng mỗi người một thỏi. Cặp vợ chồng già cắt thùng bơ thành từng thỏi nhỏ, gói lại và đem tặng các anh chị em ấy. Sau khi phân phát hết các gói [bơ], ông bảo vợ mình rằng: “Bây giờ, chúng ta đã giải quyết vấn đề ấy rồi”. Sau đó, họ quỳ xuống cầu nguyện: “Thưa Chúa, chúng con xin phép nhắc Ngài về điều Ngài đã nói: ‘Hãy cho, thì các ngươi sẽ được cho lại’. Xin nhớ rằng chúng con không còn bột nữa”.

Có lẽ hôm ấy là thứ bảy. Giữa vòng những người nhận được bơ có một chị em rất nghèo nằm liệt giường trong nhiều năm. Đã nhiều ngày chị ăn bánh mì mà không có bơ nên cầu nguyện rằng: “Thưa Chúa, xin thương xót con. Xin ban cho con một ít bơ”. Không lâu sau lời cầu nguyện ấy, ông Moule đem bơ tới. Chị lập tức cảm tạ Chúa về điều ấy. Một lúc sau, chị ngẩng đầu lên và lại cầu nguyện rằng: “Thưa Chúa, dầu anh Moule không thiếu thốn gì và đã cho con thỏi bơ này, xin nghe lời cầu nguyện của anh nếu anh thiếu bất cứ điều gì”. Anh Moule không cho ai biết về sự thiếu thốn của mình, và không ai biết về tình trạng ấy. Thậm chí có người còn đồn rằng anh Moule là một anh em rất giàu có, luôn luôn cho [người khác] nhiều thứ, và đã cố ý mua một lượng bơ lớn như vậy để phân phát cho những người khác. Nhưng chị em ấy cầu nguyện rằng: “Nếu anh có thiếu thốn gì, xin đáp lời cầu nguyện của anh”. Ngay ngày hôm ấy, có lẽ trong một hai giờ đồng hồ sau đó, ông Moule nhận được hai bao bột. Nan đề của ông đã được giải quyết.

Chúng ta phải tin mọi lời của Chúa. Hầu hết mọi người đều thấy khó tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời là lời Đức Chúa Trời. Ông Moule tin Lời Đức Chúa Trời là lời Đức Chúa Trời. Nếu không ban cho thì chắc chắn anh em sẽ không nhận được. Nếu anh em cho người khác, thì chắc chắn người khác sẽ cho lại anh em. Đó là tại sao chúng ta cần học tập ban cho. Ban cho không phải là cùng đích; việc làm ấy khiến Đức Chúa Trời có thể ban cho chúng ta. Đó là nguyên tắc Cơ Đốc nhân quản lý tài chính. Đừng mong đợi Đức Chúa Trời cung ứng cho anh em nếu trong nhà anh em có thứ gì dư thừa.

Có lần, một anh em đồng công nói với tôi rằng: “Trong hai mươi năm qua, mỗi lần tay tôi giữ lại tiền thì luôn luôn có nan đề”. Nếu có nan đề trong việc ban cho, thì cũng sẽ có nan đề trong việc nhận lãnh. Càng muốn giữ lại thì anh em sẽ càng có ít. Càng cho thì anh em sẽ càng có thêm. Hầu hết mọi người đều bám chặt lấy tất cả những gì mình có, và vì vậy Đức Chúa Trời để họ bám lấy số lượng nhỏ nhoi ấy. Họ chưa học tập ban cho. Nếu ân điển ban cho chưa ở trong anh em, thì ân điển của Đức Chúa Trời sẽ không ở trên anh em. Nếu anh em không có ân huệ dành cho người khác, thì anh em sẽ có ít ân điển của Đức Chúa Trời dành cho chính mình.

B. Học Tập Bài Học Ban Cho Đầu Tiên

Tôi có thể nêu lên cho anh em nhiều lời làm chứng về việc ban cho. Nhưng tôi không muốn làm như vậy. Tôi sẽ chỉ nói về bài học đầu tiên của mình trong vấn đề này. Năm 1923, anh Weigh Kwang-shi mời tôi đến địa phương của anh là Kiến Âu, cách Phúc Châu khoảng hai trăm bốn mươi kílômét. Khi ấy tôi là một sinh viên, còn anh Weigh là bạn cùng lớp của tôi. Khi sắp khởi hành đi Kiến Âu, tôi hỏi anh Weigh: “Tiền vé là bao nhiêu?” Anh đáp: “Tiền vé đi thuyền là vài chục đồng”. Khi ấy tôi nói: “Xin để tôi cầu nguyện về chuyến đi này. Nếu Chúa muốn tôi đi, tôi sẽ đi”.

Lúc ấy, trong tay tôi không có một đồng nào. Tôi cầu nguyện rằng: “Nếu Ngài muốn con đi, Ngài phải cung cấp tiền cho con”. Sau khi cầu nguyện như vậy, Chúa ban cho tôi mười mấy đồng. Thêm vào đó, tôi có hơn một trăm hào. Nhưng tổng số tiền vẫn chưa đủ phân nửa tiền vé. Không lâu sau đó, anh Weigh viết cho tôi một bức thư và bảo rằng mọi sự đều sẵn sàng. Tôi đánh điện cho anh biết là tôi sẽ đi. Tôi quyết định đi ngày thứ sáu. Vào thứ năm, tôi dậy sớm, và lời đến với tôi là: “Hãy cho, thì các ngươi sẽ được cho lại”. Tôi phân vân trong lòng. Nếu đem cho người khác tiền của tôi mà Chúa không trả lại thì tôi sẽ không thể đi được. Tôi hơi bối rối.

Tuy nhiên, cảm giác bên trong tôi càng trở nên mạnh hơn. Tôi cảm thấy là mình phải cho những đồng bạc ấy đi và giữ lại những hào lẻ. Vì vậy, tôi suy nghĩ xem mình nên cho ai số tiền ấy. Sau cùng, tôi có ý nghĩ là cho một anh em có gia đình những đồng bạc ấy. Tôi không dám nói với Chúa là mình sẽ vâng phục, và tôi cũng không dám nói với Chúa là mình sẽ không vâng phục. Tôi chỉ nói rằng: “Thưa Chúa, con đây. Nếu Ngài muốn con đem cho anh ấy, xin khiến con gặp anh ấy trên đường”. Tôi đứng dậy và bước ra khỏi nhà. Trên đường, tôi gặp anh ấy. Ngay khi nhìn thấy anh, lòng tôi chùng xuống. Nhưng tôi đã chuẩn bị sẵn. Tôi đến bên anh và nói: “Anh ơi, Chúa bảo tôi giao số tiền này cho anh”. Sau khi nói như vậy, tôi quay lại và rời khỏi đó. Khi mới đi được hai bước, tôi bắt đầu rơi nước mắt. Tôi nói: “Tôi đã đánh điện cho anh Weigh biết là tôi sẽ đi. Bây giờ, số tiền ấy không còn nữa. Làm sao tôi đi được?” Nhưng bên trong tôi cũng cảm thấy rất vui vì Chúa nói: “Hãy cho, thì các ngươi sẽ được cho lại”.

Trên đường về, tôi nói với Chúa: “Thưa Chúa, Ngài cần ban cho con. Thời gian chẳng còn bao nhiêu, mà ngày mai thuyền sẽ rời khỏi đây”. Thứ năm ấy tiền không đến. Vào ngày thứ sáu khi tôi sắp đi, mà vẫn chưa có tiền. Một anh em đến đưa tiễn tôi nhưng tôi vẫn chưa có tiền. Anh ấy đưa tôi lên thuyền. Ngay khi bước lên thuyền, tôi tự nhủ: “Tôi chắc không thể đi được. Tôi chắc sẽ không bao giờ tới nơi. Trước đây tôi chưa bao giờ rời Phúc Châu, và tôi chưa bao giờ [đi sâu] vào vùng nội địa. Tôi không biết một người nào ở phía tây Phúc Châu cả”. Từ khi rời nhà hôm ấy, tôi liên tục cầu nguyện. Khi lên thuyền rồi, tôi vẫn cầu nguyện. Tôi cầu nguyện cho đến khi anh ấy rời khỏi, và thậm chí cho đến khi tôi nằm xuống ngủ. Tôi nói: “Thưa Chúa, con đã cho người khác. Nhưng Ngài chưa cho lại con. Bây giờ là công việc của Ngài”. Hôm ấy, thuyền đưa tôi đến cầu Hung-Shan, là nơi tôi đổi thuyền để đến Shui-Kou. Khi ở trên thuyền, tôi đi tới đi lui từ boong trên đến boong dưới một vài lần, tự nhủ rằng: “Để Đức Chúa Trời chu cấp cho tôi, tôi phải tạo điều kiện thuận lợi cho Ngài bằng cách đi quanh quẩn một vài lần xem biết đâu Ngài sắp đặt tôi gặp một người nào đó”. Nhưng việc làm ấy không có kết quả gì, và tôi không gặp ai quen biết trên thuyền. Dầu vậy, tôi nói đi nói lại với chính mình: “Hãy cho, thì các ngươi sẽ được cho lại”.

Tình trạng ấy tiếp tục đến ngày hôm sau. Vào khoảng bốn năm giờ thì thuyền sắp tới Shui-Kou. Sau khi đến Shui-Kou, tôi lại phải đổi phương tiện vận chuyển một lần nữa để sang một chiếc tàu đắt tiền hơn. Sau khi trả tiền vé đi thuyền, tôi thấy mình chỉ còn bảy mươi mấy hào. Tôi cảm thấy không yên, và cầu nguyện: “Thưa Chúa, con hiện ở tại Shui-Kou. Con có nên mua vé để trở lại Phúc Châu không?” Ngay khi ấy, tôi quyết định trong tâm trí mình là hãy cứ đến Kiến Âu và giao phần còn lại cho Chúa lo. Tôi nói: “Thưa Chúa, con sẽ không xin tiền miễn là Ngài đưa con đến Kiến Âu”. Sau khi cầu nguyện như vậy, tôi cảm thấy bình an.

Tôi đứng tại mũi thuyền, và trước khi thuyền tới Shui-Kou, một chiếc thuyền nhỏ đến gần và người chủ thuyền hỏi tôi rằng: “Thưa ông, ông sẽ đi Nan-Ping hay Kiến Âu?” Tôi đáp: “Kiến Âu”. Người ấy nói: “Tôi sẽ đưa ông đến đó”. Tôi hỏi giá cả bao nhiêu, thì người ấy đáp: “Bảy mươi hào”. Khi nghe vậy, tôi biết Chúa đã mở đường cho mình. Tôi đồng ý đi với người ấy. Người ấy khiêng hành lý của tôi sang thuyền mình. Thông thường giá vé đến Kiến Âu là bảy mươi hoặc tám mươi đồng. Tôi hỏi người ấy: “Tại sao anh cho tôi đi với giá rẻ như vậy?” Người ấy trả lời: “Giá rẻ như vậy vì chiếc thuyền này đã được một viên chức của quận thuê bao. Vị ấy ở trong ca-bin phía trước của thuyền, và đã cho phép tôi chở một hành khách nữa để tôi có thể kiếm thêm một ít tiền ăn [dọc đường]”. Tôi nhớ rõ ngày ấy; tôi dùng số tiền ít ỏi còn lại mua một ít rau cải và thịt, và tôi đã đến Kiến Âu an toàn.

Khi gần đến lúc phải rời Kiến Âu trở về, một lần nữa tôi lại lâm vào tình cảnh rắc rối khó xử. Tôi chỉ còn lại mười hai hào. Sau khi dùng một đồng để mua sắm, tôi chỉ còn hai hào. Khi kỳ hội đồng sắp chấm dứt, tôi liên tục cầu nguyện. Một ngày kia, ông Philips, một trong bảy người nổi tiếng của Cambridge, mời tôi đến dùng bữa. Ông nói: “Anh Nee ơi, chúng tôi đã được giúp đỡ rất nhiều qua chuyến thăm viếng này của anh. Tôi xin lo phần lộ phí cho chuyến trở về của anh được không?” Khi nghe như vậy, tôi vô cùng vui mừng. Nhưng tôi cảm thấy mình không nên chấp nhận lời đề nghị ấy. Tôi đáp: “Có người đã lo việc ấy rồi”. Khi nghe như vậy, ông nói: “Tôi rất lấy làm tiếc khi nghe điều ấy”, và không nhắc đến vấn đề ấy nữa. Khi về nhà, tôi rất hối tiếc là đã khước từ lời đề nghị ấy. Nhưng khi cầu nguyện, bên trong tôi cảm thấy bình an.

Tôi đợi thêm một ngày nữa. Vào ngày thứ ba, khi chuẩn bị rời [nơi ấy], tôi chỉ có hai mươi xu trong túi. Số tiền ấy không đủ để mua vé. Tôi thật sự lâm vào một tình cảnh khó xử. Thân phụ của anh Weigh và gia đình đều đến tiễn tôi đi. Hành lý của tôi đã được người khuân vác mang đi rồi, và anh Weigh cùng đi với tôi. Tôi cầu nguyện: “Thưa Chúa, Ngài đã đem con đến Kiến Âu. Ngài phải đưa con trở về nhà. Đó là trách nhiệm của Ngài và Ngài không thể để mặc việc đó cho người khác. Nếu con đã phạm lỗi lầm gì, thì con sẵn sàng thừa nhận lỗi lầm ấy. Nhưng con không tin rằng mình đã làm gì sai trật”. Tôi cứ thưa rằng: “Đó là trách nhiệm của Ngài vì Ngài đã nói: ‘Hãy cho, thì các ngươi sẽ được cho lại’ ”. Giữa đường đến bến tàu, ông Philips sai một người đến đưa cho tôi một bức thư. Tôi mở bức thư ra, và bức thư ấy nói rằng: “Tôi biết đã có người lo lộ phí cho anh. Nhưng Đức Chúa Trời đã cho tôi biết rõ là tôi phải chia sẻ những chi phí của anh. Xin cho phép người anh em lớn tuổi này dự phần ít ỏi trong việc ấy và xin nhận lấy số tiền nhỏ nhoi này”. Tôi nhận lấy số tiền ấy và thưa với Chúa: “Đức Chúa Trời ơi, thật số tiền này đã đến đúng lúc”. Tôi dùng số tiền ấy trả tiền vé, và khi trở về, tôi vẫn nhớ là còn đủ tiền để in một số báo tạp chí Chứng Cớ Hiện Tại.

Khi trở về, tôi tìm đến người anh em đồng công của mình. Ngay khi tôi bước vào nhà anh thì vợ anh nói: “Anh Nee ơi, khi anh rời khỏi Phúc Châu, tại sao anh đưa cho chồng tôi hai mươi đồng? Tại sao anh lại rời ngay lập tức sau khi đưa tiền cho anh ấy?” Tôi đáp: “Chỉ có một lý do: Tôi đã cầu nguyện cả ngày, và Chúa bảo tôi đưa số tiền ấy cho anh. Khi tôi rời nhà và gặp anh trên đường, tôi cứ thế mà đưa cho anh ấy tiền”. Chị nói: “Tối hôm đó, chúng tôi chỉ có đủ cho một bữa ăn cuối cùng. Khi tiền của anh đến, chúng tôi mua được cả một bao gạo và mấy ký củi. Chúa đã không cung cấp thêm tiền bạc gì cho chúng tôi mãi đến mấy ngày trước. Kỳ ấy, chúng tôi đã cầu nguyện và chờ đợi trong ba ngày”. Tôi rời khỏi [nhà ấy] mà không kể cho chị câu chuyện của tôi. Khi đi xuống đồi, tôi tự nhủ: “Thật là tốt, tôi đã không giữ lại hai mươi đồng ấy cho chính mình. Nếu tôi giữ lại số tiền ấy trong túi mình thì số tiền ấy đã chết rồi. Nhưng bây giờ, số tiền ấy đã được đem cho, và trở thành hữu ích”. Tôi ngước mắt lên thưa với Chúa rằng: “Đây là lần đầu tiên con hiểu Lu-ca 6:38”. Tôi dâng chính mình cho Chúa một lần nữa và thưa rằng: “Từ nay trở đi, con sẽ cho [người khác]. Con sẽ không để một đồng xu nào vô dụng trong tay con”.

Tôi chỉ ước gì mình có thể phân phát thêm tiền bạc để việc làm ấy thực hiện thêm phép lạ cho Chúa. Tôi đem cho tiền bạc để những lời cầu nguyện của người khác có thể được trả lời. Tôi không muốn cứ nhất định giữ lại tiền bạc của mình khiến nó vô hiệu quả và vô dụng. Tôi không dám khoe khoang về kinh nghiệm ban cho của mình. Có lẽ so với những người khác tôi đã cho nhiều hơn một ít. Có lẽ so với họ tôi cũng đã nhận được nhiều hơn một chút. Nhưng điều tôi có thể nói rằng khắp Trung Quốc, khó tìm thấy một người nào khác đã nhận lãnh nhiều và cho ra cũng nhiều như tôi. Anh em có thể xem đây là lời nói của “một kẻ ngu dại” (2 Cô. 11:23). Tôi thà để tiền bạc của mình làm phép lạ và để nó đáp ứng cho nhiều lời cầu nguyện, còn hơn là thấy nó không kết quả và trở nên vô dụng. Nếu tôi không dùng tiền bạc ngày hôm nay thì tôi sẽ đem cho nó đi. Khi tôi có nhu cầu, nó sẽ trở về, và khi trở về, nó sẽ nhiều hơn số mà tôi đã cho.

Ngay từ đầu, một tín đồ mới phải học tập quản lý tài chính của mình. Tôi không thích kể lể nhiều về chính mình. Tuy nhiên, tôi phải làm chứng rằng từ năm 1923, tôi không thua một người nào tại Trung Quốc về việc sử dụng đồng bạc cuối cùng của mình. Chúa đã nói: “Hãy cho, thì các ngươi sẽ được cho lại”. Tôi liên tục học tập điều này. Khi tôi cho người khác, thì Chúa đáp ứng nhu cầu của tôi. Tôi được thuyết phục rằng một người chỉ nhận được khi nào người ấy cho. Không biết bao nhiêu lần, tôi nhận thấy rằng khi tôi cho cách rộng rãi, Chúa mới ban lại cho tôi cách rộng rãi. Tôi không ngại có tiếng là giàu có. Đúng vậy; tôi giàu có, vì tôi luôn luôn cho. Tôi luôn luôn buông bỏ tiền bạc của mình. Tiền bạc không bao giờ dừng lại, và khi trở về với tôi, tiền bạc luôn luôn gia tăng gấp bội. Đức Chúa Trời chúng ta không bao giờ bủn xỉn.

V. CÁCH CƠ ĐỐC NHÂN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

Cách Cơ Đốc nhân quản lý tiền bạc là không giữ lại tiền bạc. Anh em càng giữ chặt tiền bạc của mình, thì nó càng chết. Anh em càng nắm giữ, nó càng biến đi; nó sẽ bốc lên như hơi nước. Nhưng càng đem cho, anh em sẽ càng có thêm. Nếu con cái Đức Chúa Trời học tập ban cho nhiều hơn nữa, Đức Chúa Trời sẽ có nhiều cách thực hiện những phép lạ của Ngài. Giữ tiền bạc lại chỉ làm cho con cái Đức Chúa Trời nghèo nàn. Đức Chúa Trời sẽ không phó thác chính Ngài cho những người giữ lại tiền bạc của mình mà không chịu đem cho. Anh em càng cho, Đức Chúa Trời sẽ càng ban cho anh em.

A. Gieo Tiền Bạc

Xin đọc 2 Cô-rin-tô 9:6, câu ấy nói: “Ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo rời rộng thì gặt rời rộng”. Đó cũng là nguyên tắc thuộc linh về việc quản lý tài chính. Khi Cơ Đốc nhân ban cho, thì không phải là họ quăng tiền đi, mà là gieo. Lời [Chúa] không nói rằng: “Ai quăng tiền bạc đi ít thì gặt ít, ai quăng tiền bạc đi cách rời rộng thì gặt rời rộng”, mà nói rằng: “Ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo rời rộng thì gặt rời rộng”. Khi anh em ban cho tức là anh em gieo. Anh em có muốn tiền bạc của mình “mọc lên” không? Nếu muốn thì anh em cần gieo. Khi anh em cho tiền bạc của mình đi, thì nó “mọc lên”. Khi anh em không cho tiền bạc đi, thì nó không “mọc lên”.

Anh chị em ơi, ai có thể ngu dại đến nỗi mong được thu hoạch mà lại chẳng gieo không? Bao nhiêu lần Đức Chúa Trời không đáp lời cầu nguyện của anh em về các nhu cầu của anh em? Anh em là một “người chặt dạ”, cố gắng gặt chỗ không gieo và lượm chỗ không rải. Điều ấy không thể xảy ra được. Tại sao anh em không gieo một số tiền của mình? Có nhiều anh chị em ở trong tình cảnh khó khăn. Tại sao anh em không gieo trên họ để anh em có thể gặt khi mùa gặt đến? Một người càng giữ chặt tiền bạc của mình, thì người ấy càng có ít. Trong phân đoạn Kinh Thánh trên, chúng ta thấy một bức tranh rất đẹp. Người Cô-rin-tô tặng cho những người tại Giê-ru-sa-lem, nhớ đến các nhu cầu của họ, và Phao-lô nói đó là một loại gieo chứ không phải là một loại quăng đi. Xin ghi nhớ rằng tiền bạc có thể là hạt giống của chúng ta. Nếu anh em thấy một anh em hay một chị em gặp khó khăn, và anh em nhớ đến anh em hay chị em ấy, thì Đức Chúa Trời sẽ khiến số tiền ấy “tăng trưởng” và gặt được gấp ba mươi, gấp sáu mươi và thậm chí gấp một trăm lần. Tôi hi vọng rằng anh em sẽ gieo thêm tiền bạc của mình.

Một tín đồ mới cần phải học tập gieo, để khi có nhu cầu, người ấy có thể gặt điều mình đã gieo. Anh em không thể gặt điều mình không gieo. Có nhiều anh em ngày càng trở nên nghèo túng. Nếu anh em ăn hết những gì mình có thì tất nhiên là không gì còn lại. Nhưng nếu dành lại phân nửa hạt giống của mình để gieo ra, thì anh em sẽ có một vụ mùa năm sau. Nếu năm sau anh em cũng dành lại phân nửa cho công việc trồng trọt, anh em sẽ có một vụ mùa khác vào năm sau nữa. Nếu muốn gieo bất cứ điều gì, thì anh em không được ăn tất cả những gì mình có. Một số người luôn luôn ăn mà không bao giờ gieo. Họ cũng không bao giờ nhận được gì khi có nhu cầu. Giả sử, vài anh em trẻ tuổi “gieo” một số tiền “vào” những anh em khác, khi gieo họ cầu nguyện rằng: “Đức Chúa Trời ơi, con đã gieo trên các anh em. Khi có nhu cầu, con muốn thu hoạch”. Nếu họ làm như vậy, Đức Chúa Trời sẽ tôn trọng lời của Ngài.

B. Dâng Cho Đức Chúa Trời

Điều ấy cũng chưa phải là tất cả. Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời nói với dân Israel rằng: “Các ngươi hãy đem hết thảy phần mười vào kho, hầu cho có lương thực trong nhà Ta; và từ nay các ngươi khá lấy điều này mà thử Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, xem Ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi, đổ phước xuống cho các ngươi đến nỗi không chỗ chứa chăng!” (Mal. 3:10). Tại đây chúng ta thấy cùng một nguyên tắc.

Khi ấy, dân Israel lâm vào tình trạng vô cùng nghèo túng và khó khăn. Làm sao họ có thể thực hành lời [Chúa] trong Ma-la-chi 3:10? Dân Israel có thể đã hỏi rằng: “Nếu chúng ta không thể xoay sở được với mười bao gạo, thì làm sao chúng ta có thể xoay sở được với chín bao? Nếu mười bao bột còn chưa đủ, thì làm sao chín bao bột lại đủ được?” Đó là những lời lẽ ra từ môi miệng thuộc xác thịt và ngu dại. Đức Chúa Trời đã quở trách dân ấy và bảo họ rằng điều không thể được đối với con người thì có thể được đối với Đức Chúa Trời. Dường như Ngài nói rằng: “Hãy đem vào kho của Ta, và thử Ta xem Ta có mở cho các ngươi những cửa sổ trên trời và đổ xuống ơn phước cho các ngươi đến nỗi không đủ chỗ chứa chăng?”.

Mười bao là lý do gây nên tình trạng nghèo túng, trong khi chín bao là nguyên nhân [dẫn đến] sự dư dật. Con người nghĩ rằng trong tay càng có nhiều thì mình càng vững bụng. Tuy nhiên, giữ lại nhiều thứ trong tay chính là nguyên nhân gây nên [tình trạng] nghèo nàn, trong khi dâng nhiều thứ lên cho Đức Chúa Trời chính là nguyên nhân được ban phước. Nếu tôi có thêm một bao trong tay, thì bao ấy sẽ trở nên sự nguyền rủa của tôi. Còn nếu được đem vào kho của Đức Chúa Trời thì bao ấy trở nên ơn phước của tôi. Nguyên tắc đối với dân Israel là tình trạng nghèo túng dành cho những người cố giữ lại những gì lẽ ra phải dâng Đức Chúa Trời. Nếu giữ lại một điều gì đó, thì anh em rốt cuộc sẽ lâm vào tình cảnh nghèo túng.

C. Rải Tiền Bạc

Bây giờ xin đọc Châm Ngôn 11:24: “Có người rải của mình ra, lại càng thêm nhiều lên; cũng có người chắt lót quá bực, nhưng chỉ được sự thiếu thốn”. Nhiều người không chịu rải, và họ không có gì cả. Nhiều người đã rải, và họ trở nên thịnh vượng. Đó là điều Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy. Đó là nguyên tắc Cơ Đốc nhân quản lý tài chính.

D. Dâng Tất Cả Cho Đức Chúa Trời

Xin xem xét một phân đoạn Kinh Thánh tuyệt diệu khác về việc Ê-li cầu xin mưa trên núi Cạt-mên (1 Vua. 18). Bấy giờ là hạn hán, và khô hạn đến nỗi vua và các cận thần của vua phải đi tìm nước. Ê-li sửa chữa bàn thờ ở trên núi ấy . Ông muốn dâng lên một sinh tế, và yêu cầu người ta đổ nước trên bàn thờ và sinh tế.

Khi ấy nước quí báu biết bao! Thậm chí vua cũng phải đi tìm nước. Nhưng Ê-li truyền người ta đổ nước ra. Ông bảo họ đổ trên đó ba lần cho đến khi nước chảy quanh bàn thờ [lênh láng] như sông. Đổ ra nhiều nước như vậy trước khi có mưa thì không phải là phí phạm quá sao? Nếu sau khi đã đổ ra nhiều nước như vậy mà không có mưa thì không thảm hại lắm sao? Nhưng Ê-li bảo họ đem những bầu nước tới và đổ ra. Sau đó, ông quỳ xuống và cầu xin Đức Chúa Trời ban cho lửa để thiêu sinh tế ấy. Đức Chúa Trời đã nghe lời cầu nguyện của ông, lấy lửa chấp nhận sinh tế ấy, và ban cho mưa. Trước hết chúng ta phải đổ nước ra rồi mưa mới đến. Mưa sẽ không đến nếu chúng ta do dự không chịu đổ nước ra.

Nan đề của nhiều người là họ bám chặt lấy những gì mình có đồng thời mong Đức Chúa Trời đáp ứng lời cầu nguyện của mình. Dầu Đức Chúa Trời muốn xua tan hạn hán, nhưng con người phải đổ nước ra trước. Ý nghĩ của con người là luôn luôn phải dự trữ. Nếu mưa không đến thì ít nhất cũng còn vài bình nước. Nhưng những người đếm các bình nước trong tay sẽ không bao giờ thấy mưa. Để thấy mưa, một người phải như Ê-li, bằng lòng buông bỏ lượng nước trong tay mình. Mọi sự phải ra đi. Nếu các tín đồ mới không được giải cứu khỏi quyền lực và sự bấu chặt của tiền bạc, Hội thánh sẽ không bao giờ có thể tiến triển một cách thông suốt. Tôi hi vọng rằng anh em sẽ làm một người dâng mình và sẽ dâng mọi sự anh em có lên cho Đức Chúa Trời.

E. Lời Hứa Về Sự Cung Ứng

Phi-líp 4:19 là một câu [Kinh Thánh] rất đặc biệt. Người Cô-rin-tô thật keo kiệt trong việc ban cho, trong khi người Phi-líp thì rất rộng rãi. Không biết bao nhiêu lần, Phao-lô đã nhận được từ người Phi-líp. Ông nói với người Phi-líp rằng: “Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy dẫy mỗi một nhu cầu của anh em theo sự giàu có của Ngài, trong vinh quang, trong Christ Giê-su”. Anh em có nhận thấy điều gì đặc biệt trong Phi-líp chương 4 không? Phao-lô đã nhấn mạnh: “Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy dẫy mỗi một nhu cầu của anh em”. Đức Chúa Trời là Đấng nhận được tiền bạc và những quà tặng sẽ đáp ứng nhu cầu của người ban cho.

Điều này rất rõ ràng. Người Phi-líp đã chăm sóc Phao-lô không biết bao nhiêu lần, và Đức Chúa Trời của Phao-lô đã cung ứng cho những nhu cầu của họ. Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ cung ứng cho những người không ban cho. Ngày nay, nhiều người nắm lấy Phi-líp 4:19, nhưng họ không thật sự hiểu câu ấy, vì Đức Chúa Trời không cung ứng cho những người xin, mà cung ứng cho những người ban cho. Chỉ những người ban cho mới có thể nhận lấy Phi-líp 4:19. Những người không ban cho không thể nhận lấy lời hứa ấy. Anh em phải ban cho trước khi có thể nói: “Lạy Đức Chúa Trời, hôm nay xin cung ứng cho mọi nhu cầu của con theo sự phong phú của Ngài trong Christ Giê-su”. Đức Chúa Trời chỉ cung ứng mọi nhu cầu cho người Phi-líp. Đức Chúa Trời chỉ sẽ cung ứng nhu cầu của những người thực hành nguyên tắc ban cho.

Khi bình của anh em không còn bột và khi chai của anh em không còn dầu, xin ghi nhớ rằng trước hết anh em phải làm bánh cho Ê-li bằng chút ít bột dầu còn lại. Trước hết anh em phải nuôi dưỡng đầy tớ của Đức Chúa Trời. Trước hết hãy lấy chút dầu và bột ấy mà làm bánh cho vị tiên tri. Sau ít lâu, chút bột và dầu ấy sẽ nuôi dưỡng anh em trong ba năm rưỡi. Có ai từng nghe rằng một bình dầu nuôi dưỡng một người trong ba năm rưỡi chưa? Nhưng tôi xin nói với anh em rằng nếu anh em lấy chút dầu và bột của mình mà làm bánh cho vị tiên tri, thì anh em sẽ thấy bình dầu nuôi dưỡng anh em trong ba năm rưỡi (so sánh với Lu. 4:25-26; 1 Vua. 17:8-16). Có thể những gì một người có không đủ nuôi dưỡng người ấy dầu chỉ một lần. Nhưng khi được đem cho, điều ấy trở nên phương kế sinh nhai của người ấy. Đó là cách Cơ Đốc nhân quản lý tài chính.

VI. BUÔNG BỎ TIỀN BẠC CỦA CHÚNG TA

Cả Tân Ước lẫn Cựu Ước đều dạy chúng ta cùng một điều. Con đường Cơ Đốc đúng ra không phải là con đường nghèo túng. Đức Chúa Trời không muốn chúng ta nghèo túng. Nếu giữa vòng chúng ta có tình trạng nghèo túng, đó là vì có người giữ lại tiền của mình. Càng yêu chính mình thì anh em sẽ càng đói kém. Càng coi trọng tiền bạc thì anh em càng sẽ trở nên nghèo nàn. Có thể tôi không có khả năng làm chứng về những điều khác, nhưng tôi chắc chắn có thể làm chứng về điều này. Một người càng giữ tiền mình lại, thì người ấy càng trở nên khốn khổ và kiệt quệ. Đó là một nguyên tắc hiển nhiên. Trong suốt hai mươi năm qua, tôi đã gặp nhiều trường hợp như vậy. Tôi chỉ ao ước rằng chúng ta có thể buông tiền bạc của mình ra và để tiền ấy lưu hành trên khắp đất, nhằm thực hiện công tác và trở nên một phần trong phép lạ của Đức Chúa Trời và đáp ứng cho những lời cầu nguyện. Rồi khi chúng ta có nhu cầu, Đức Chúa Trời sẽ cung ứng cho chúng ta.

Không những chúng ta ở trong tay Đức Chúa Trời, mà Sa-tan cũng ở trong tay Ngài nữa. Đàn bò trên hàng ngàn ngọn đồi và đàn chiên trên hàng vạn đồi núi đều là của Ngài. Chỉ những kẻ ngu dại mới nghĩ rằng mình đã kiếm được tiền riêng của mình. Một tín đồ mới phải nhận thấy rằng dâng phần mười là bổn phận của mình. Chúng ta cần phải dâng tiền chúng ta kiếm được để chăm sóc các thánh đồ túng thiếu. Đừng quá ngu dại đến nỗi chỉ luôn luôn nhận lãnh. Đừng cố gắng dành dụm tiền hay cất giấu nó. Con đường Cơ Đốc là con đường ban cho. Hãy luôn luôn ban cho điều anh em có, và anh em sẽ nhận thấy tiền bạc trở nên một điều gì đó sống động trong Hội thánh. Khi anh em có nhu cầu gì, chim trời sẽ làm việc giúp anh em, và Đức Chúa Trời sẽ làm phép lạ cho anh em.

Hãy đặt chính mình trên Lời Đức Chúa Trời. Bằng không, Đức Chúa Trời không thể thực hiện công việc của Ngài trong anh em. Trước hết hãy dâng chính mình cho Đức Chúa Trời, rồi cứ cho tiền bạc của mình. Nếu anh em làm như vậy, Đức Chúa Trời sẽ có cơ hội ban cho anh em.