Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 2

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 2
ISBN: 0-7363-0972-2
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 18

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI TÁM

LÀM CHỨNG

Kinh Thánh: Công. 9:19-21; 22:15; 1 Gi. 4:14; Gi. 1:40-45; 4:29; Mác 5:19

I. Ý NGHĨA CỦA VIỆC LÀM CHỨNG

Một ngọn nến chiếu sáng được bao lâu? Dĩ nhiên, khi cây nến tàn, ánh sáng sẽ tắt. Nhưng nếu chúng ta dùng cây nến này thắp lên một cây nến khác, ánh sáng sẽ mạnh gấp đôi. Ánh sáng của cây nến thứ nhất có mờ đi vì nó thắp cây nến thứ hai không? Không. Nếu chúng ta dùng cây nến thứ hai thắp lên cây nến thứ ba, thì ánh sáng của cây nến thứ hai có bị tàn tắt không? Không. Ánh sáng của mỗi cây nến sẽ tắt khi cây nến cháy hết. Nhưng khi ngọn nến thứ nhất tắt, ngọn nến thứ hai vẫn còn cháy. Khi ngọn nến thứ hai tắt, ngọn nến thứ ba vẫn tiếp tục cháy sáng. Nếu chúng ta tiếp tục thắp nhiều cây nến khác, mười, một trăm hay một ngàn cây nến khác, ánh sáng sẽ không bao giờ tắt. Điều này giải thích chứng cớ của Hội thánh. Khi Con của Đức Chúa Trời ở trên đất, Ngài đã thắp ngọn nến thứ nhất. Sau đó, nhiều ngọn nến khác lần lượt được thắp lên. Mười chín thế kỷ qua, Hội thánh giống như những cây nến, khi một cây nến cháy tàn, nó được tiếp tục bằng một cây nến khác. Điều này tiếp tục mãi thậm chí cho đến ngày nay. Hội thánh không bao giờ ngưng chiếu sáng trên đất này, cũng như sự cứu rỗi không bao giờ dừng lại. Một số người thắp mười ngọn nến, một số người khác thắp một trăm ngọn. Ngọn nến này được thắp sáng tiếp theo ngọn nến khác và ánh sáng tiếp tục chiếu ra.

Anh chị em ơi, anh chị em muốn ánh sáng của mình tiếp tục chiếu ra hay muốn thấy nó chấm dứt khi cây nến của mình tắt đi? Anh chị em đã được một người nào đó thắp sáng. Người ấy không mong ánh sáng chấm dứt nơi anh chị em. Mỗi Cơ Đốc nhân phải hết sức cố gắng đem sự cứu rỗi đến cho người khác. Mỗi chúng ta phải hết sức mình làm chứng cho người khác và dẫn dắt họ đến với Chúa để chứng cớ được tiếp tục trên đất này từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thật đáng tiếc vì đối với một số người, khi ánh sáng của họ tắt đi, thì chứng cớ của họ dừng lại. Đó là điều đáng thương hơn hết! Hội thánh đã tự truyền bá trải qua nhiều thế hệ. Một số người thấy lời chứng của mình được tiếp nối, trong khi những người khác ra đi cách đáng tiếc, không để lại hậu tự [thuộc linh]. Ánh sáng của một cây nến chỉ có thể chiếu ra đang khi nó còn cháy. Cũng vậy, lời chứng của một người chỉ có thể tiếp tục đang khi người ấy còn sống. Để ánh sáng của một cây nến tiếp tục chiếu ra, những ngọn nến khác phải được thắp lên trước khi cây nến thứ nhất cháy tàn. Bằng cách ấy, cây nến thứ hai, thứ ba, thứ một trăm, thứ một ngàn và thậm chí thứ mười ngàn sẽ tiếp tục mang ánh sáng. Ánh sáng này sẽ tiếp tục mãi và lan tràn khắp mọi miền trên thế giới. Sự lan tràn ấy sẽ không làm giảm ánh sáng của mỗi ngọn nến. Chúng ta không bị thiệt hại gì cả khi làm chứng. Nhưng bằng cách làm chứng, chứng cớ sẽ tiếp diễn.

Làm chứng là gì? Trong Công vụ các Sứ đồ 22:15, Chúa sai A-na-nia đến nói với Phao-lô: “Vì anh sẽ làm chứng nhân cho Ngài trước mặt mọi người về những điều anh đã thấy và nghe”. Qua điều này, chúng ta thấy nền tảng của việc làm chứng là những gì chúng ta đã thấy và nghe. Anh em không thể làm chứng về những điều mình không thấy tận mắt hay nghe tận tai. Phao-lô đã thấy điều gì đó bằng chính mắt mình và nghe điều gì đó bằng chính tai mình. Đức Chúa Trời trao cho ông nhiệm vụ làm một chứng nhân về những gì ông đã thấy tận mắt và nghe tận tai. 1 Giăng 4:14 cho chúng ta biết làm chứng nghĩa là gì: “Chúng tôi đã thấy và làm chứng rằng Cha đã sai Con làm Đấng Cứu Rỗi của thế gian”. Người ta làm nhân chứng cho điều mình thấy. Cảm tạ Đức Chúa Trời, anh em đã tin Chúa. Anh em đã gặp Ngài, tin Ngài, tiếp nhận Ngài và có được Ngài. Anh em đã được cứu. Anh em đã được giải cứu khỏi tội lỗi, nhận lãnh sự tha thứ, có được sự bình an. Bây giờ khi đã tin Chúa, anh em được vui mừng là dường nào. Sự vui mừng này là một điều trước đây anh em không có. Trước đây, anh em bị gánh tội lỗi đè nặng trên mình biết bao! Nhưng bây giờ, tạ ơn Đức Chúa Trời, gánh nặng tội lỗi đã ra đi. Anh em đã nghe và thấy một điều gì đó. Hôm nay anh em nên làm gì? Anh em nên làm chứng về kinh nghiệm của mình. Nói như vậy không có nghĩa là anh em phải bỏ nghề nghiệp để trở nên một người giảng đạo, mà là anh em nên làm chứng cho bạn bè, họ hàng và những người quen biết về những gì mình đã thấy, đã nghe, và đem họ đến với Chúa.

Phúc âm sẽ dừng lại nơi anh em nếu anh em không tiếp tục làm chứng. Anh em đã thật được cứu, anh em có sự sống của Chúa và được thắp sáng. Nhưng nếu không thắp sáng những người khác, anh em sẽ chấm dứt khi cây nến của mình cháy tàn. Anh em không nên đi tay không đến gặp Chúa. Anh em phải đem nhiều người theo mình khi ra mắt Chúa. Ngay từ đầu, các tín đồ mới phải học tập làm chứng cho người khác và đem họ đến với Chúa. Đừng bao giờ biếng nhác trong việc này. Nếu một tín đồ không mở miệng mình ngay từ đầu, sau một vài ngày, người ấy sẽ hình thành một thói quen khép chặt miệng mình, rồi sau đó nếu muốn làm chứng người ấy sẽ phải cố gắng rất nhiều. Anh em đã tin Chúa. Lần đầu tiên trong đời anh em đã nếm biết một tình yêu lớn lao dường nào, tiếp nhận một Đấng Cứu Rỗi thật tuyệt vời, có được sự cứu rỗi kỳ diệu và kinh nghiệm một sự giải phóng lạ lùng. Nhưng anh em chưa làm chứng cho Chúa hay thắp sáng người khác bằng ánh sáng của mình! Anh em thật đang mắc nợ Chúa!

II. NHỮNG GƯƠNG MẪU TRONG VẤN ĐỀ LÀM CHỨNG

Chúng ta hãy xem bốn phân đoạn Kinh Thánh sau. Đây là những gương mẫu tốt trong vấn đề làm chứng.

A. Vào Thành Phố Để Nói Với Mọi Người

Trong Giăng chương 4, Chúa nói với thiếu phụ Sa-ma-ri về nước sống. Qua điều này bà nhận biết không ai trên đất có thể tìm được sự thỏa mãn nếu không có nước sống. Tất cả những ai uống nước lấy từ giếng đều sẽ còn khát. Dầu uống nước ấy bao nhiêu lần, họ vẫn lại khát, và sẽ không bao giờ thỏa mãn. Chỉ do uống nước của Chúa chúng ta mới không còn khát, vì có một ngọn suối tuôn ra từ chúng ta và làm chúng ta thỏa mãn liên tục. Chỉ có sự thỏa mãn bề trong này mới có thể ban cho chúng ta sự thỏa mãn thật. Thiếu phụ Sa-ma-ri đã kết hôn năm lần. Bà kết hôn với hết người này đến người kia, bà đã đổi chồng năm lần, nhưng vẫn không thỏa mãn. Bà là người uống nước nhiều lần nhưng không bao giờ thỏa mãn. Thậm chí người đàn ông sống với bà lúc ấy không phải là chồng bà. Chắc chắn bà là người không được thỏa mãn. Nhưng Chúa có nước sống có thể làm cho bà thỏa mãn. Khi Chúa tỏ cho bà Ngài là ai và khi bà có được Ngài, bà bỏ bình nước lại, chạy vào thành nói rằng: “Hãy đến, xem người đã tỏ cho tôi mọi điều tôi đã làm. Ấy không phải là Đấng Christ sao?” (c. 29). Phản ứng đầu tiên của bà là làm chứng cho người khác. Bà làm chứng điều gì? Bà làm chứng về Đấng Christ. Có thể dân chúng trong thành phố ấy biết phần nào về bà, nhưng có lẽ còn nhiều điều họ không biết. Tuy nhiên, Chúa nói với bà mọi điều. Bà làm chứng với họ rằng: “Ấy không phải là Đấng Christ sao?” Giây phút bà thấy Chúa, bà mở miệng mời những người khác khám phá xem Ngài có phải là Đấng Christ không. Lời bà nói đưa đến kết quả là có nhiều người tin Chúa.

Mỗi một Cơ Đốc nhân đều có bổn phận làm một chứng nhân giới thiệu Chúa cho người khác. Chúa đã cứu một tội nhân tồi tệ như tôi. Nếu Ngài không phải là Đấng Christ, thì Ngài là ai? Nếu Ngài không phải là Con Đức Chúa Trời, thì Ngài là ai? Tôi không có sự lựa chọn nào khác hơn là mở miệng mình ra. Tôi phải mở miệng mình để làm chứng. Mặc dầu tôi không biết cách giảng một bài, ít nhất tôi biết Ngài là Đấng Christ. Tôi biết Ngài là Con Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Rỗi được Đức Chúa Trời chỉ định. Tôi đã thấy mình là một tội nhân, và tôi biết Chúa đã cứu tôi. Tôi không thể giải thích điều gì đã xảy ra cho mình, nhưng tôi có thể mời người khác đến và xem sự thay đổi lớn lao đã xảy ra trong tôi. Tôi không biết điều đó đã xảy đến như thế nào. Trước đây, tôi cho mình là người tốt. Bây giờ tôi thấy chính mình là một tội nhân. Chúa đã tỏ cho tôi biết tội lỗi của mình, những điều trước đây tôi không nhận biết là tội. Bây giờ tôi biết mình là loại người nào. Tôi đã phạm nhiều tội trong quá khứ mà những người khác không biết, ngay cả chính tôi cũng không biết. Tôi đã phạm nhiều tội, nhưng tôi không nhận biết chúng là tội. Đây là người đã cho tôi biết mọi điều tôi đã làm. Ngài bày tỏ cho tôi những điều tôi đã biết và Ngài cũng bày tỏ cho tôi những điều tôi không biết. Tôi chỉ có thể xưng nhận rằng mình đã chạm đến Đấng Christ và đã gặp Đấng Cứu Rỗi. Đây là người nói với tôi rằng “người chồng” tôi đang có không phải là chồng tôi. Ngài nói với tôi rằng nếu uống nước này, tôi sẽ khát mãi và sẽ trở lại múc nước thêm nữa. Những lời này đúng biết bao! Hãy đến xem. Ngài không phải là Đấng Cứu Rỗi sao? Ngài không phải là Đấng Christ sao? Ngài không phải là Đấng duy nhất có thể cứu chúng ta sao?

Tất cả những ai thấy mình là tội nhân chắc chắn có lời để làm chứng. Những ai đã thấy Đấng Cứu Rỗi cũng có lời chứng để nói ra. Thiếu phụ này đã làm chứng trong vòng vài giờ sau khi gặp Chúa. Đó là điều xảy ra trong cùng ngày ấy, chứ không phải xảy ra vài năm sau khi bà trở về từ một buổi nhóm phục hưng. Bà làm chứng cho người khác ngay sau khi vào thành. Khi một người được cứu, người ấy nên nói ngay với người khác những gì mình đã thấy và hiểu. Đừng nói điều mình không biết, đừng diễn thuyết dài dòng. Chỉ nói với họ những gì mình biết. Đó là tất cả những gì anh em cần làm chứng, anh em chỉ phải nói với họ mình cảm thấy thế nào. Một vài người có thể nói: “Trước khi tin Chúa, tôi buồn chán. Nhưng bây giờ đã tin Chúa, tôi rất vui mừng. Trong quá khứ, tôi theo đuổi nhiều điều nhưng không bao giờ thỏa mãn. Bây giờ trong tôi có một sự ngọt ngào không thể diễn tả được. Trước khi tin Chúa, ban đêm tôi không ngủ được. Nhưng bây giờ tôi ngủ rất ngon. Trước đây tôi thường đầy dẫy sự lo lắng và cay đắng. Nhưng bây giờ tôi cảm thấy bình an và vui mừng dầu đi đến bất cứ nơi nào”. Anh em có thể nói với người khác những gì mình kinh nghiệm. Anh em không cần phải nói với họ những gì mình không biết. Đừng nói quá những gì mình biết hay vượt quá tình trạng hiện tại của mình. Làm như vậy sẽ gây ra tranh luận. Hãy trình bày chính mình cho những người khác như một nhân chứng sống động. Họ sẽ không nói gì được cả.

B. Về Nhà Nói Với Mọi Người

Trong Mác 5:1-20, chúng ta thấy một người bị quỉ ám. Đó là trường hợp quỉ ám trầm trọng nhất được ghi lại trong Kinh Thánh. Một quân đoàn quỉ ở trong người này. Anh ở giữa mồ mả và không ai có thể cột trói anh, dầu bằng xiềng xích. Ngày đêm anh kêu la giữa mồ mả, trên núi và lấy đá rạch mình. Khi Chúa truyền cho các quỉ ra khỏi anh, chúng ra khỏi và nhập vào khoảng hai ngàn con heo. Cả bầy heo đều lao nhanh xuống sườn núi, nhào xuống biển và chết chìm. Sau khi người bị quỉ ám được cứu, Chúa nói với anh ấy: “Hãy về nhà ngươi, đến với người thân của ngươi và thuật lại những việc lớn Chúa đã làm cho ngươi và thể nào Ngài đã thương xót ngươi” (c. 19).

Sau khi anh em được cứu, Chúa muốn anh em nói với gia đình, hàng xóm, họ hàng, bạn bè và đồng nghiệp của anh em rằng bây giờ anh em là một người được cứu. Anh em nên nói với họ không những anh em đã tin Chúa Jesus mà còn thuật lại những việc lớn Chúa đã làm cho mình. Chúa muốn anh em nói với những người khác những gì Chúa đã làm cho anh em. Ngài muốn anh em xưng nhận và làm chứng với người khác những gì đã xảy ra cho mình. Họ sẽ được thắp sáng khi anh em làm như vậy, và sự cứu rỗi sẽ tiếp tục, sự cứu rỗi sẽ không dừng lại nơi anh em.

Thật là đáng thương khi nhiều hồn người trong gia đình của các Cơ Đốc nhân đang trên đường đi đến sự diệt vong đời đời. Một vài người như cha mẹ, con cái, họ hàng và bạn bè chúng ta chưa nghe Phúc âm của Đấng Christ từ miệng chúng ta. Họ chỉ có ơn phước và sự vui mừng trong thời hiện tại, nhưng không có hi vọng trong thời đại sắp đến. Vì sao chúng ta không nói với họ những gì Chúa đã làm cho mình? Đây là những người ở ngay bên cạnh chúng ta. Nếu họ không được nghe Phúc âm từ chúng ta, thì ai có thể được nghe?

Để có thể làm chứng cho gia đình, chúng ta phải bày tỏ cho họ thấy sự thay đổi lớn lao trong hành vi của mình. Chúng ta phải bày tỏ cho gia đình mình thấy một sự thay đổi lớn lao đã được thực hiện trong đời sống chúng ta từ khi chúng ta tin Chúa. Chỉ khi ấy họ mới nghe chúng ta. Họ không tin nơi điều nào hơn là điều này. Chúng ta phải công chính hơn, hi sinh hơn, yêu thương hơn, siêng năng hơn và vui mừng hơn trước. Họ sẽ không tin chúng ta nếu không có sự thay đổi nào trong cách cư xử của chúng ta. Đồng thời, chúng ta cần làm chứng cho họ lý do của sự thay đổi này.

C. Công Bố Trong Nhà Hội

Công vụ các Sứ đồ 9:19-21 nói: “Ông ở với các môn đồ tại Đa-mách vài ngày. Ngay lập tức ông công bố Jesus trong các nhà hội, rằng Đấng ấy là Con của Đức Chúa Trời. Tất cả những ai nghe ông đều kinh ngạc nói rằng: Đây không phải là người đã tàn hại những người kêu cầu danh ấy tại Giê-ru-sa-lem và đã đến đây để làm việc đó, hầu có thể trói và giải họ đến trước mặt các thầy tế lễ cả sao?”

Sau-lơ đang trên đường đến thành Đa-mách để trói các tín đồ của Chúa. Nhưng ông gặp Chúa trên đường và Chúa đã phán với ông. Giây phút ánh sáng đến, ông ngã sấp mặt xuống và trở nên mù. Những người đồng hành nắm tay ông dẫn đến thành Đa-mách. Ông ở đó ba ngày không thấy, không ăn, cũng không uống. Chúa sai A-na-nia đến đặt tay trên ông, và ông được sáng mắt rồi chỗi dậy chịu báp-têm. Sau khi ăn uống, ông được mạnh mẽ lại. Sau vài ngày, ông đi ngay vào các nhà hội để công bố Jesus là Con Đức Chúa Trời và làm chứng cho những người khác. Hiển nhiên là rất khó để ông có thể làm điều này vì từ trước tới nay ông đã bắt bớ các tín đồ của Chúa. Có thể ông là một thành viên của Công Hội. Công Hội Do Thái gồm bảy mươi mốt người và có lẽ ông là một trong số những người đó. Ông đã nhận được thư của thầy tế lễ thượng phẩm và đang trên đường đi bắt trói các tín đồ của Chúa để đem họ đến trước mặt thầy tế lễ thượng phẩm. Bây giờ sau khi tin Chúa rồi, ông phải làm gì? Trước kia, ông định trói những người tin Chúa. Bây giờ chính ông đang có nguy cơ bị trói. Nói theo phương diện loài người, lẽ ra ông nên tẩu thoát hay trốn tránh. Thay vào đó, ông đi vào các nhà hội, không chỉ một mà là nhiều nhà hội, để chứng minh Jesus là Con Đức Chúa Trời. Điều này cho chúng ta thấy việc đầu tiên một người nên làm khi tiếp nhận Chúa là làm chứng cho Ngài. Sau khi được sáng mắt, ông bắt lấy cơ hội đầu tiên để đi làm chứng rằng Jesus người Na-xa-rét là Con Đức Chúa Trời. Tất cả các tín đồ của Chúa đều nên làm như vậy.

Mọi người trên thế giới này biết có một Jesus. Nhưng họ chỉ biết Jesus như một người trong hàng triệu người trên thế giới này. Nói cách khác, Jesus chỉ được xem là một người như bao nhiêu người khác. Mặc dầu họ kể Ngài đặc biệt hơn những người khác chút ít, Ngài vẫn là một người bình thường đối với họ. Nhưng một ngày kia, ánh sáng và khải thị đến với anh em, mắt lòng anh em được soi sáng và anh em khám phá ra một điều gì đó. Anh em khám phá ra rằng Jesus này là Con Đức Chúa Trời. Anh em khám phá ra rằng Đức Chúa Trời có một Người Con! Jesus là Con của Đức Chúa Trời! Thật là một sự khám phá vĩ đại! Anh em khám phá ra rằng có một người ở giữa mọi người là Con của Đức Chúa Trời. Điều này thật lớn lao! Khi một người tiếp nhận Chúa Jesus làm Đấng Cứu Rỗi của mình và xưng nhận Ngài là Con của Đức Chúa Trời, người ấy đang làm một việc lớn lao, một việc vĩ đại! Người ấy không thể khinh suất để cơ hội qua đi, vì đó là một biến cố rất quan trọng. Trong số hàng triệu người trên thế giới này, người ấy đã khám phá có Một Người là Con của Đức Chúa Trời. Thật là một khám phá lớn lao kinh khủng! Giữa hàng tỉ người trong cả lịch sử, người ấy thình lình khám phá ra Jesus ở Na-xa-rét là Con của Đức Chúa Trời. Đây thật là một điều lớn lao. Chúng ta sẽ ngạc nhiên nếu có ai khám phá ra một thiên sứ giữa vòng chúng ta. Kỳ diệu hơn biết bao nếu có ai khám phá ra Con Đức Chúa Trời? Chúng ta không biết Chúa siêu việt hơn thiên sứ bao nhiêu triệu lần. Không thể so sánh được giữa hai điều ấy. Các thiên sứ vô cùng thấp kém so với Chúa chúng ta.

Ở đây có một người đang trên đường đi bắt trói tất cả những ai tin danh Chúa. Nhưng sau khi ngã xuống và chỗi dậy, ông đi vào các nhà hội công bố rằng Jesus là Con Đức Chúa Trời. Hoặc ông mất trí hoặc ông nhận được một khải thị. Nhưng ông không mất trí. Thật vậy, ông đã nhận được một khải thị. Ông thật đã gặp Đấng ở giữa hàng triệu người, là Con Đức Chúa Trời. Giống như Phao-lô, anh em cũng đã gặp Người này giữa loài người, là Con Đức Chúa Trời. Nếu anh em nhận biết sự khám phá của mình lớn lao dường nào, quan trọng dường nào, tuyệt vời dường nào, chắc chắn anh em sẽ nói với người khác ngay lập tức: “Tôi đã gặp Con của Đức Chúa Trời”. Chắc chắn anh em sẽ lớn tiếng công bố: “Jesus là Con của Đức Chúa Trời!” Làm thế nào một người có thể ngồi im và hành động như thể không có điều gì xảy ra khi đã tin Chúa Jesus và được cứu? Nếu một người tin Chúa Jesus và không cảm thấy gì hết, nếu người ấy cho rằng điều này không có gì kỳ diệu hay đặc biệt, chúng ta không chắc người ấy có tin chút nào không. Đây là điều lớn lao, kỳ diệu, phi thường, đặc biệt, vượt qua mọi sự tưởng tượng: Jesus người Na-xa-rét là Con của Đức Chúa Trời. Đây là một điều vô cùng quan trọng! Không có gì quá đáng khi có người thấy một điều quan trọng như vậy gõ cửa nhà bạn mình sau nửa đêm để nói cho họ biết sự khám phá của mình. Một điều kỳ diệu đã xảy ra trong vũ trụ: Jesus người Na-xa-rét là Con Đức Chúa Trời!

Đây là một người vừa mới lành bệnh, thị giác của ông vừa được phục hồi. Chúng ta thấy ông chạy ngay đến các nhà hội và công bố: “Jesus người Na-xa-rét là Con Đức Chúa Trời!” Mỗi một tín đồ đã thấy giống như vậy nên đến các nhà hội và la lên “Jesus người Na-xa-rét là Con Đức Chúa Trời!” Mỗi khi suy xét thế nào Jesus người Na-xa-rét là Con Đức Chúa Trời, chúng ta cảm thấy đây là khám phá vĩ đại nhất trên cả thế giới. Không có sự khám phá nào có thể kỳ diệu hơn và trọng yếu hơn điều này. Thật là một điều lớn lao kinh khủng khi chúng ta khám phá người này là Con Đức Chúa Trời. Khi Phi-e-rơ nói với Chúa: “Ngài là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống”, Chúa Jesus bảo ông: “Thịt và huyết không thể mặc khải điều này cho ngươi, nhưng ấy là Cha Ta, là Đấng ở trên các từng trời” (Mat. 16:16-17). Trong khi Ngài ẩn mình ở giữa chúng ta, không ai biết Ngài ngoại trừ những ai có sự khải thị của Cha.

Anh chị em ơi, đừng bao giờ xem đức tin của mình là một điều nhỏ nhặt. Anh chị em cần nhận biết rằng đức tin của mình là một điều kỳ diệu. Sau-lơ đã đi đến các nhà hội để chia sẻ vì ông biết sự khám phá của mình quá kỳ diệu. Anh chị em cũng sẽ làm như vậy khi nhận biết những gì mình đã thấy là kỳ diệu biết bao. Jesus người Na-xa-rét là Con Đức Chúa Trời. Đó là sự thật kỳ diệu nhất và vinh hiển nhất.

D. Làm Chứng Cho Từng Người Một

Không những chúng ta cần đi vào thành phố, về nhà và đến nhà hội để làm chứng cho người khác về đức tin của mình nơi Chúa, chúng ta còn phải làm chứng cách đặc biệt, ấy là hướng dẫn người khác đến với Chúa từng người một. Đó là lời chứng trong Giăng 1:40-45. Ngay giây phút Anh-rê tin Chúa, ông dẫn dắt anh mình là Phi-e-rơ đến với Ngài. Mặc dầu về sau, Phi-e-rơ trở nên người có ân tứ hơn Anh-rê, nhưng Anh-rê là người dẫn Phi-e-rơ đến với Chúa. Phi-líp và Na-tha-na-ên là bạn của nhau; Phi-líp tin Chúa trước và về sau dẫn bạn mình đến với Chúa. Anh-rê dẫn anh mình đến với Chúa, và Phi-líp tìm được bạn mình. Cả hai đều là gương mẫu trong việc dẫn người ta đến với Chúa từng người một.

Cách đây một trăm năm, có một tín đồ tên là Harvey Page. Mặc dầu ông không có tài năng gì đặc biệt và không biết cách dẫn nhiều người đến với Chúa, nhưng Chúa đầy ân điển đối với ông và mở mắt ông, làm cho ông nhận biết ít nhất mình có thể dẫn một người đến với Chúa. Ông không thể làm nhiều việc lớn, nhưng có thể tập trung vào một người. Ông chỉ có thể nói: “Tôi được cứu rồi. Anh cũng cần được cứu”. Khi đã nắm được một người, ông không để người ấy đi. Ông sẽ cầu nguyện và nói chuyện với người bạn ấy cho đến khi người ấy được cứu. Qua cách ấy, ông đã chinh phục được hơn một trăm người cách vững vàng cho Chúa cho đến ngày ông qua đời.

Tại một nước kia có một tín đồ tên là Todd, là người rất tài giỏi trong việc dẫn người ta đến sự cứu rỗi. Anh được cứu năm mười sáu tuổi. Đó là một ngày lễ và anh đang ở trong một ngôi làng. Một cặp vợ chồng lớn tuổi đem anh về nhà tiếp đãi anh. Họ là những người làm công tác trong Hội thánh có nhiều kinh nghiệm, và họ dẫn anh đến với Chúa. Anh thanh niên này đã sống một cuộc đời phóng đãng, nhưng hôm ấy anh quì gối cầu nguyện và được cứu. Trong khi họ nói chuyện, anh thanh niên khám phá ra rằng Phúc âm không thể đắc thắng trong vùng ấy vì có ông Dickens không chịu ăn năn. Khi nghe như vậy, Todd hỏi: “Ông Dickens là ai?” Họ nói với anh đó là một người lính về hưu trên sáu mươi tuổi. Ông ta có một cây súng trong nhà và thề sẽ bắn chết bất cứ ai đến giảng Phúc âm cho mình. Ông cho tất cả các Cơ Đốc nhân trên thế giới đều là bọn đạo đức giả, và ông gọi họ với danh hiệu ấy. Mỗi khi gặp một Cơ Đốc nhân, ông cư xử với người ấy cách thô bạo. Không Cơ Đốc nhân nào dám giảng Phúc âm cho ông hay thậm chí đi ngang qua con đường ông ở. Nếu biết một Cơ Đốc nhân đang đi ngang con đường nhà mình, ông sẽ nguyền rủa cách hung hăng và dữ tợn. Khi nghe như vậy, Todd cầu nguyện: “Chúa ôi! Con đã nhận lãnh ân điển của Ngài hôm nay. Ngài đã cứu con. Con phải đi làm chứng cho ông Dickens”. Chưa kịp uống hết tách trà, anh nói: “Tôi đi đây”. Anh được cứu cách đó hai tiếng đồng hồ, nhưng anh muốn làm chứng cho ông Dickens. Cặp vợ chồng lớn tuổi khuyên lơn: “Anh đừng đi. Nhiều người chúng tôi đã thất bại. Ông ta đã dùng roi đuổi một vài người. Những người khác bỏ chạy khi ông đe dọa họ bằng mũi súng. Mặc dầu ông ta đánh đập nhiều người, nhưng chúng tôi không muốn đem ông ra tòa vì chúng tôi muốn duy trì một chứng cớ tốt cho Phúc âm. Điều này làm cho ông ta có cớ trở nên hung hăng hơn nữa”. Todd nói: “Tôi cảm thấy mình nên đi”.

Anh đến cửa nhà ông Dickens. Ngay khi anh gõ cửa, ông ta bước ra, tay cầm gậy và hỏi: “Chú kia, chú muốn gì?” Todd nói: “Tôi xin thưa với ông vài lời có được không ạ?” Ông ta gật đầu và cả hai đi vào nhà. Ngay khi họ vào trong nhà, Todd nói: “Tôi muốn ông tiếp nhận Chúa Jesus làm Đấng Cứu Rỗi của mình”. Ông Dickens giơ roi lên nói: “Ta nghĩ chú mày là người mới đến đây nên ta sẽ để chú mày đi mà không đánh chú mày một trận nhừ tử. Chú mày chưa nghe nói không ai được phép nhắc đến danh Jesus ở đây sao? Đi ra! Đi ra ngay lập tức!” Todd lại nói: “Tôi muốn ông tin Chúa Jesus”. Ông Dickens giận cuồng. Ông ta chạy lên lầu và trở xuống với một khẩu súng trong tay. Ông ta la lên: “Đi ngay không ta bắn!” Todd trả lời: “Tôi xin ông tin Chúa Jesus. Nếu ông muốn bắn, thì cứ bắn. Nhưng để tôi cầu nguyện trước khi ông bắn”. Ngay lập tức anh quì gối trước mặt ông Dickens và cầu nguyện: “Đức Chúa Trời ôi! Người này không biết Ngài. Xin cứu người này”. Sau đó anh lại cầu nguyện: “Đức Chúa Trời ôi! Người này không biết Ngài. Xin thương xót ông. Xin thương xót ông Dickens!” Todd quỳ gối tại đó và không đứng dậy. Anh tiếp tục cầu nguyện: “Đức Chúa Trời ôi, xin thương xót ông Dickens! Xin thương xót ông Dickens!” Sau khi cầu nguyện như vậy năm, sáu lần, anh nghe có tiếng rên xiết gần mình. Một lúc sau, anh nghe ông Dickens bỏ súng xuống. Chẳng mấy chốc, ông Dickens quì xuống bên cạnh Todd và cầu nguyện: “Đức Chúa Trời ôi! Xin thương xót con”. Trong vòng vài phút, người đàn ông ấy tiếp nhận Chúa. Ông cầm lấy tay chàng thanh niên và nói: “Trước đây, tôi chỉ nghe Phúc âm. Hôm nay tôi đã thấy Phúc âm”. Về sau, người thanh niên ấy thuật lại với những người khác rằng: “Lần đầu tiên tôi nhìn thấy mặt ông, đúng là một gương mặt tội lỗi. Mỗi một nếp nhăn của ông nói lên tội và điều ác. Về sau, ánh sáng chiếu qua những nếp nhăn ấy và mỗi nếp nhăn dường như nói rằng: “Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót tôi”. Chúa nhật sau đó, ông Dickens đến nhóm và về sau ông dẫn dắt hàng chục người đến sự cứu rỗi.

Trong vòng hai giờ đầu tiên sau khi được cứu, Todd dẫn dắt một con người nổi tiếng là khó khăn đến với Chúa. Tín đồ mới cần mở miệng càng sớm càng tốt. Chúng ta không nên bỏ phí thì giờ mà hãy dẫn dắt người ta đến với Đấng Christ.

III. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC LÀM CHỨNG

A. Là Một Niềm Vui Lớn

Hai ngày vui mừng nhất trong đời sống mỗi tín đồ mới là ngày người ấy tin Chúa và ngày lần đầu tiên người ấy dắt một người khác đến với Đấng Christ. Dĩ nhiên ngày đầu tiên là một ngày vui mừng đặc biệt. Tuy nhiên, niềm vui dẫn người khác đến với Chúa lần đầu có thể lớn hơn niềm vui anh em kinh nghiệm vào ngày mình được cứu. Nhiều Cơ Đốc nhân không vui mừng lắm vì họ chưa bao giờ nói ra điều gì cho Chúa cả, họ không bao giờ dẫn một người nào đến với Chúa.

B. Học Tập Để Trở Nên Khôn Ngoan

Châm Ngôn 11:30 nói: “Người chinh phục được hồn người là người khôn ngoan”. Ngay từ đầu đời sống Cơ Đốc nhân, chúng ta nên học tập chinh phục hồn người ta bằng nhiều cách khác nhau. Chúng ta nên học tập để trở nên khôn ngoan. Điều này làm cho chúng ta trở nên những người hữu dụng trong Hội thánh. Tôi không có ý nói về việc rao ra một bài giảng Phúc âm trên bục giảng. Bục giảng không bao giờ có thể thay thế công tác dẫn người ta đến với Chúa cách cá nhân. Một người chỉ biết giảng trên bục giảng có thể không biết cách dẫn dắt người ta đến với Chúa. Chúng tôi không khuyên anh em rao giảng một bài trên bục giảng. Chúng tôi yêu cầu anh em cứu những người khác. Nhiều người giỏi truyền giảng, nhưng không giỏi cứu người. Họ không biết phải làm gì khi người ta đưa một người đến với họ. Họ không hữu dụng bao nhiêu. Những người thật sự hữu dụng là những người có thể dẫn người ta đến với Chúa từng người một.

C. Sinh Sản Sự Sống

Không cây nào nảy mầm mà không lớn lên. Cũng vậy, không ai có thể có sự sống của Đức Chúa Trời mà lại không sinh ra thêm sự sống. Những ai không bao giờ làm chứng cho tội nhân có lẽ đang cần người khác làm chứng cho mình. Những ai không ao ước hay quan tâm đến việc dẫn dắt người khác đến với Chúa có lẽ chính họ cần ăn năn. Những ai không nói gì cho Chúa trước mặt người khác có lẽ cần nghe tiếng của Phúc âm Đức Chúa Trời một lần nữa. Không ai có thể tiến bộ đến nỗi không cần cứu người khác. Không ai tiến bộ đến mức không còn cần phải làm chứng cho người khác. Tín đồ mới cần học tập làm chứng cho người khác ngay từ đầu. Đó là điều chúng ta phải làm suốt đời.

Khi anh em tiến bộ hơn một chút trong đời sống thuộc linh, những người khác có lẽ nói với anh em: “Anh phải là một ống dẫn nước sống. Anh nên hiệp một với Thánh Linh đến nỗi nước sống, tức Thánh Linh có thể chảy vào trong anh em”. Tuy nhiên, ống dẫn có hai đầu. Ống dẫn Thánh Linh này, tức ống dẫn sự sống này cũng có hai đầu. Một đầu hướng về Thánh Linh, hướng về sự sống và hướng về Chúa, trong khi đầu kia hướng về loài người. Nước sống sẽ không bao giờ chảy nếu đầu hướng về loài người bị đóng lại. Không ai có thể sai lầm đến nỗi cho rằng chỉ cần mở đầu hướng về Chúa là đủ. Nước sống không chảy qua những người chỉ mở ra cho Chúa. Một đầu phải mở ra cho Chúa, và đầu kia phải mở ra cho người. Nước sống chỉ chảy ra khi hai đầu đều mở. Nhiều người không có quyền năng trước mặt Đức Chúa Trời vì đầu hướng về Chúa không mở ra. Nhưng nhiều người hơn nữa không có quyền năng vì đầu làm chứng và dẫn người ta đến với Đấng Christ bị đóng lại.

D. Kinh Nghiệm Nỗi Khốn Khổ Do Bị Phân Cách Đời Đời

Nhiều người chưa nghe đến Phúc âm vì anh em chưa làm chứng cho họ. Hậu quả của điều này là sự phân cách đời đời, đây không phải là sự chia tay tạm thời. Điều này rất quan trọng. Lần kia, có một anh em được mời đến nhà một người khác ăn tối. Vì học cao và nói năng lưu loát, anh nói nhiều về những đề tài trí thức. Một người bạn lớn tuổi khác sống gần đó cũng có mặt tại bữa ăn. Vì cả hai đều rất trí thức, họ nói chuyện một lúc lâu. Vì đã trễ, chủ nhà mời họ ở lại nghỉ qua đêm. Phòng của người bạn lớn tuổi đối diện thẳng với phòng của anh em này. Họ về phòng riêng chưa được bao lâu, anh em này nghe tiếng ngã xuống sàn nhà. Khi chạy đến phòng ấy, anh thấy bạn mình nằm chết trên sàn nhà. Những người khác bắt đầu chạy đến. Anh em ấy nói cách buồn rầu: “Nếu biết chuyện xảy ra như thế này, tôi đã không nói những gì tôi đã nói cách đây hai giờ! Lẽ ra tôi phải nêu lên những vấn đề đời đời. Thậm chí tôi đã không dành ra năm phút để nói với anh ấy về sự cứu rỗi. Tôi không cho anh ấy một cơ hội nào. Nếu tôi biết như bây giờ, tôi đã nói về sự đóng đinh của Chúa cho anh ấy. Nhưng bây giờ đã quá trễ! Nếu tôi nói với anh ấy những lời này vào bữa ăn tối, các bạn chắc đã cười tôi vì nói không đúng lúc. Nhưng đã quá trễ đối với anh ấy. Tôi hi vọng bây giờ các bạn sẽ lắng nghe. Mỗi người cần tin Chúa Jesus và thập tự giá của Ngài!”. Có một sự phân cách đời đời, sự phân cách này không chỉ tạm thời. Thật là một thảm kịch! Một khi cơ hội qua đi, người ta sẽ đời đời bị ngăn cách với trời! Chúng ta phải tìm mọi cơ hội để làm chứng cho những người khác.

D. L. Moody rất tài giỏi trong việc dẫn dắt người ta đến sự cứu rỗi. Ông từng quyết định mỗi ngày phải giảng Phúc âm cho ít nhất một người, cho dầu ngày hôm ấy ông có giảng trên tòa giảng hay không. Một ngày kia ông sắp đi ngủ thì sực nhớ hôm ấy mình chưa giảng Phúc âm cho ai. Ông phải làm gì đây? Ông thay quần áo và lại ra đi để tìm một người ông có thể nói chuyện. Khi ông nhìn đồng hồ thì đã quá nửa đêm, đường phố vắng tanh. Ông tìm đâu ra một người vào giờ này? Người duy nhất ông có thể nói chuyện là một viên cảnh sát đang trực; ông nói: “Anh phải tin Chúa”. Viên cảnh sát đang bực mình vì một chuyện gì đó lúc ấy nên la mắng D. L. Moody cách giận dữ: “Ông không biết làm gì hơn là thuyết phục tôi tin Jesus vào lúc nửa đêm sao?” Moody về nhà sau khi chia sẻ một vài lời ngắn gọn với ông ấy. Nhưng lời Moody nói đã chạm đến lòng của viên cảnh sát. Một vài ngày sau ông đến thăm Moody và được cứu.

Ngay khi một người tin Chúa, trước mặt Chúa, người ấy nên quyết tâm dẫn người ta đến với Ngài. Mỗi người nên ghi xuống bao nhiêu người mình sẽ cứu trong một năm. Người ấy có thể quyết tâm cứu mười hay hai mươi người một năm. Người ấy có thể bắt đầu cầu nguyện cho họ. Những lời cầu nguyện tổng quát thì vô ích. Nếu anh em đến thưa với Chúa: “Chúa ôi! Xin cứu các tội nhân” thì đó là một lời cầu nguyện quá tổng quát. Anh em phải có một mục tiêu cụ thể trong tâm trí. Nếu muốn mười người, hãy nhắm đến mười người. Nếu anh em muốn hai mươi người, hãy nhắm đến hai mươi người. Anh em chuẩn bị một quyển sổ trong đó viết tên những người mình đã đem đến với Chúa. Khi chinh phục được ai, hãy viết tên người đó xuống. Vào cuối năm, anh em có thể đếm số người đã được cứu và số người chưa được cứu. Hãy tiếp tục cầu nguyện cho những người chưa được cứu. Tất cả các anh chị em đều nên thực hành điều này. Chinh phục được ba mươi hay năm mươi người một năm không phải là quá nhiều, mười hay hai mươi là bình thường. Chúng ta phải cầu xin Chúa một con số cụ thể. Chúa muốn nghe những lời cầu nguyện cụ thể của chúng ta. Chúng ta nên cầu nguyện với Chúa mỗi ngày và làm chứng mỗi khi có cơ hội. Nếu tất cả chúng ta đều rao giảng Phúc âm và dẫn dắt người khác đến với Chúa như vậy, trong vòng vài năm, đời sống thuộc linh của chúng ta sẽ tiến bộ nhanh chóng.

Chúng ta phải giương cao ngọn đuốc Phúc âm và phải thắp sáng mọi người chung quanh mình. Mỗi Cơ Đốc nhân hãy tiến lên thắp sáng người khác. Chứng cớ của Phúc âm cần lan ra từ chúng ta cho đến khi Chúa trở lại. Chúng ta không nên được thắp sáng nhưng lại không thắp sáng người khác. Chúng ta nên thắp sáng thêm nhiều ngọn nến. Rất nhiều hồn người trước mắt chúng ta đang cần sự cứu rỗi. Chúng ta phải hết sức cố gắng làm chứng cho họ và dẫn họ đến với Đấng Christ.