Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 18

Untitled Document

PHẦN BỐN: NGƯỜI NGHE

CHƯƠNG MƯỜI TÁM

NGƯỜI NGHE

Bây giờ chúng ta đến với phần thứ tư bàn về người nghe. Sự rao giảng không những liên quan đến người cung ứng mà cũng liên quan đến người nghe, tức là những người lắng nghe lời. Chức vụ cung ứng lời có mạnh mẽ hay không cũng tùy thuộc vào người nghe. Chức vụ cung ứng lời liên quan mật thiết đến sự rao giảng, nhưng người nghe cũng liên quan đến sự rao giảng nữa. Trong khi người cung ứng lời gánh hơn phân nửa trách nhiệm, ít nhất người nghe cũng gánh một phần trách nhiệm. Lời có được truyền đạt hay không tùy thuộc phần lớn vào những người cung ứng, nhưng người nghe cũng có trách nhiệm của mình nữa. Người nghe có thể cản trở việc truyền đạt lời Đức Chúa Trời, và cũng có thể làm mạnh mẽ lời Đức Chúa Trời. Một vài ví dụ trong Kinh Thánh cho chúng ta thấy người nghe cần phải cư xử thế nào. Chúng ta hi vọng học được một điều gì đó từ những phân đoạn này.

MỘT

Trước hết chúng ta hãy xem xét Ma-thi-ơ chương 13. Chúa Giê-su giảng bằng các ẩn dụ vì Đức Chúa Trời không thể mặc khải chính Ngài cho “kẻ khôn ngoan thông sáng” (Mat. 11:25). Người khôn ngoan thông sáng không thể trông mong nhìn thấy khải thị của Đức Chúa Trời. Cũng một lý do đó, họ không thể trông mong nhận được sự cung ứng từ lời. Một người khôn ngoan thông sáng không thể nhận được khải thị trực tiếp từ Đức Chúa Trời, và không thể nhận được khải thị từ những người cung ứng lời. Mỗi khi chức vụ cung ứng tìm thấy những kẻ khôn ngoan thông sáng giữa vòng người nghe, lập tức lời Đức Chúa Trời bị cản trở. Sự cản trở có thể trầm trọng đến nỗi hoàn toàn ngăn chặn, hay có thể cản trở đến mức độ lời chỉ được truyền đạt một cách nhẹ nhàng hay yếu ớt. Một người càng tự cho chính mình là khôn ngoan thì người ấy càng khó nhận được ánh sáng từ Đức Chúa Trời. Một người càng tin cậy chính mình, thì lời Đức Chúa Trời càng đóng kín đối với người ấy. Chúng ta cần phải ghi nhớ rằng theo Cựu Ước, đôi khi Đức Chúa Trời đóng kín lời tiên tri của Ngài đối với con người (Đa. 12:9). Điều này cho chúng ta thấy rằng lời có thể được mở ra, và cũng có thể bị đóng kín sau khi được truyền đạt. Chúng tôi không ở đây để giải thích ý nghĩa về sự đóng kín và lời bị đóng kín bao nhiêu năm. Chúng tôi đang nêu ra một nguyên tắc thuộc linh. Một người có thể lắng nghe lời phán của Đức Chúa Trời nhưng nhận thấy lời ấy đóng kín đối với mình. Một người có thể chạm đến lời Đức Chúa Trời nhưng nhận thấy lời ấy đóng kín. Đa-ni-ên cho chúng ta thấy sự kiện đóng kín, trong khi Chúa Giê-su cho chúng ta thấy lý do [khiến lời] đóng kín — đó là sự khôn ngoan thông sáng. Chúa cho chúng ta thấy lời bị ẩn giấu thể nào. Đức Chúa Trời muốn giấu nhiều điều khỏi người khôn ngoan thông sáng để họ không thể vượt qua. Khi một người trở nên khôn ngoan thông sáng, thì theo quyết nghị của Đức Chúa Trời, Thánh Linh giấu lời khỏi người ấy.

Kinh Thánh ban cho chúng ta một nguyên tắc cơ bản: Sau khi con người ăn cây kiến thức về thiện và ác, con đường đến cây sự sống đã bị chặn lại. Từ thời điểm ấy trở đi, cây sự sống bị đóng kín bởi chê-ru-bim và thanh gươm phừng lửa xoay về mọi hướng (Sáng. 3:24). Một khi có được kiến thức về thiện và ác, con người không còn có thể chạm đến sự sống. Sự phân rẽ này không những liên quan đến sự bất năng của riêng con người mà còn liên quan đến lệnh cấm của Đức Chúa Trời. Đó là ý nghĩa của sự đóng kín. Điều đó không liên quan gì đến sự bất năng của con người. Cho dầu con người có khả năng, Đức Chúa Trời vẫn đóng kín cây sự sống. Đó là một vấn đề nghiêm trọng. Mỗi khi con người chú ý đến kiến thức, sự sống lánh xa con người. Mỗi khi con người khoe khoang về sự khôn ngoan, trí tuệ của mình, tự hào về chính mình, và tìm kiếm vinh quang nơi mình, thì người ấy phải ghi nhớ rằng khải thị về lời Đức Chúa Trời sẽ bị giấu khỏi mình. Người ấy sẽ không nhìn thấy gì cả; điều người ấy nhìn thấy chỉ là những hình bóng mập mờ. Đó là sự đóng kín của Đức Chúa Trời. Chúa nói rằng: “Cha ơi, Cha là Chúa của trời đất, Con khen tạ Cha, vì Cha đã giấu những điều này với kẻ khôn ngoan thông sáng, mà bày tỏ cho con trẻ” (Mat. 11:25). Đức Chúa Trời cố ý làm như vậy.

Trong chức vụ cung ứng lời, chúng ta phải lưu ý đến tình trạng của người nghe. Khi giảng cho những tín đồ mới, có thể chúng ta không phải vận dụng linh mình bao nhiêu; có thể không cần đến nhiều ánh sáng và lời. Nhưng trong việc rao giảng phúc-âm, chúng ta nhận thấy mình phải vận dụng linh nhiều và dùng nhiều lời. Đôi khi, chúng ta phải chạm đến những khải thị cao hơn của Đức Chúa Trời, những điều cao diệu và thật hơn về mặt thuộc linh. Vào những khi ấy, chúng ta thấy mình cần thêm lời, thêm ánh sáng và thêm linh. Giả sử, một người nghĩ rằng mình khôn ngoan và thông sáng. Đức Chúa Trời sẽ giấu chính Ngài khỏi một người như vậy. Ngài sẽ không ban cho người ấy khải thị trực tiếp nào cả. Khi một người như vậy hiện diện, thậm chí người cung ứng lời cũng không thể thi hành chức năng một cách đúng đắn. Nếu nhu cầu tuôn đổ linh ra không mấy cấp thiết, sự trở ngại có thể không nghiêm trọng bao nhiêu. Nhưng nếu nhu cầu tuôn đổ linh ra thật lớn lao thì sự cản trở cũng lớn lao. Nếu có một nhu cầu lớn lao về sự tuôn đổ linh thì một người như vậy sẽ cản trở chức vụ cung ứng lời rất nhiều. Những khải thị cao trọng của Đức Chúa Trời bị ngăn chặn lại vì Đức Chúa Trời đã giấu những điều ấy với những người như vậy.

Trong các phần bàn luận trước đây, chúng ta đã nhận thấy trách nhiệm của những người cung ứng. Chúng ta cũng nhận thấy rằng ngoài những điều kiện dành cho người cung ứng còn có tình trạng của người nghe. Nếu một người ở trong tình trạng ngăn chặn ơn phước của Đức Chúa Trời, sự hiện diện của người ấy sẽ làm cho sự rao giảng chùng xuống. Dầu người cung ứng có mạnh mẽ đến đâu đi nữa, sự rao giảng của người ấy vẫn bị chùng xuống. Cho dầu người cung ứng rất đầy quyền năng trước mặt Đức Chúa Trời, và cho dầu người ấy muốn truyền khải thị cho người khác, chức vụ cung ứng lời của người ấy sẽ thiếu vắng khải thị khi những người khôn ngoan thông sáng như vậy hiện diện. Cùng lắm là chức vụ cung ứng ấy chứa đựng được một ít khải thị. Chúng tôi không hoàn toàn sáng tỏ về sự kiện người nghe ảnh hưởng đến sự rao giảng như thế nào, nhưng sự thật là người nghe có ảnh hưởng đến sự rao giảng. Một số người chưa từng được Đức Chúa Trời bắt phục. Những người thông sáng chưa bao giờ được bắt phục. Trong sự hiện diện của những người như vậy, sự rao giảng khó có thể vươn lên cao.

Trong việc học tập để làm một người cung ứng lời, chúng ta phải ghi nhớ rằng đôi khi nan đề nằm nơi chúng ta; lời bị giữ lại trong chúng ta. Nhưng có những lúc, nan đề không nằm nơi chúng ta. Chúng ta đã xử lý mọi sự ngăn trở, nhưng khải thị, linh và lời vẫn không được truyền ra. Vào những lúc ấy, nan đề có thể nằm nơi người nghe. Khi một người mới tập sự làm người cung ứng, người ấy không có nhiều khải thị và ánh sáng, nên [nếu có] bất cứ sự ngăn trở nào hầu như chắc chắn không liên quan đến người nghe. Nhưng khi một người đã có kinh nghiệm nhiều trong lãnh vực rao giảng, mà được yêu cầu truyền đạt những khải thị mạnh mẽ và có tác động mạnh, thì chỉ cần chạm đến một hai người nghe không xứng đáng hay kiêu ngạo cũng đủ ngăn chặn những cảm xúc tinh tế của người nói; lời của người ấy sẽ không được truyền đạt, cho dầu người ấy có cố gắng khó nhọc đến đâu đi nữa. Cảm xúc của linh rất nhạy bén. Một đặc tính của lời là nó phải được hướng vào người ta. Lời phải được truyền ra, linh phải được truyền ra, và Thánh Linh phải được truyền ra. Nhưng khi có một người tự cao tự đại hay có một người ngoài cuộc phê phán, người rao giảng không thể truyền đạt lời một cách thuần khiết cho dầu người ấy có lời. Đôi khi chúng ta phải dẫn dắt một anh em vào ánh sáng của Đức Chúa Trời để hiểu biết chính mình. Vào những lúc khác, chúng ta phải dẫn dắt một anh em khác đến với Chúa để nhận biết vinh quang của Nơi Chí Thánh. Chúng ta cần phải ghi nhớ rằng trong ánh sáng của Đức Chúa Trời có khải thị thuần khiết. Tại đó không có giáo lý hay sự dạy dỗ; chỉ có khải thị thuần khiết, không gì khác ngoại trừ khải thị. Đó là lúc có sự chiếu sáng thuần khiết và sự phá vỡ thuần khiết. Nếu năm ba anh em chỉ là những quan sát viên cố tìm hiểu những gì đang diễn ra, có linh đóng kín, và cảm thấy không cần chạm đến hay tiếp nhận lời Đức Chúa Trời hoặc cảm thấy không cần phủ phục trước mặt Ngài, thì lời sẽ bị ngăn trở. Lời sẽ bị ngăn trở đến mức hoàn toàn bị cột trói. Những điều chúng ta cố truyền cho người khác càng thuộc linh thì sự rao giảng của chúng ta càng dễ bị người ta ảnh hưởng. Những điều chúng ta phải truyền đạt cho người khác càng ít thuộc linh thì sự rao giảng của chúng ta càng ít có thể bị ảnh hưởng. Một điều đe dọa chức vụ cung ứng lời là một bầu không khí khôn ngoan thông sáng. Chúa sẽ không bao giờ ban phước cho người khôn ngoan thông sáng. Tự xem mình là khôn ngoan thông sáng là điều ngu dại nhất.

Ở phần cuối của Ma-thi-ơ 11:25, Chúa nói: “[Cha] đã bày tỏ những điều ấy cho con trẻ”. Người nghe càng mềm mại thì lời sẽ càng được truyền đạt mạnh mẽ. Người nghe càng khiêm nhường thì lời càng dễ làm cho một người nào đó quì gối xuống. Người nghe càng sẵn sàng tiếp nhận lời, và chúng ta tìm thấy càng nhiều sự vâng phục, thì càng nhiều ánh sáng sẽ chiếu qua người nghe và làm cho họ mở ra tiếp nhận khải thị. Một người càng khó tiếp nhận sự giúp đỡ thì càng khó giúp đỡ người ấy. Một người càng dễ dàng tiếp nhận sự giúp đỡ thì càng dễ dàng giúp đỡ người ấy. Đó là một nguyên tắc thuộc linh cơ bản. Nhiều người khó tiếp nhận sự giúp đỡ. Họ chống lại lời, chống lại những tư tưởng được trình bày, và chống lại Kinh Thánh. Kết quả là họ khó nhận được ánh sáng của Đức Chúa Trời. Thật khó xuyên thấu mọi sự chỉ trích của họ mà chạm đến bản thể bề trong của họ. Khi lời chịu quá nhiều sự chỉ trích, lời sẽ bị che khuất và bị ngăn chặn lại. Một người càng như con trẻ thì người ấy càng sẵn sàng tiếp nhận sự giúp đỡ từ Chúa. Càng mềm mại thì người ấy càng có ít thành kiến trước mặt Đức Chúa Trời. Càng mở lòng mình ra cho Chúa, linh của người ấy cũng càng mở ra cho Chúa. Đức Chúa Trời ban cho những người như vậy sự cung cấp đầy quyền năng của chức vụ cung ứng lời. Ngài ban cho họ những khải thị vĩ đại. Đức Chúa Trời chống lại kẻ ương ngạnh. Đó là lý do tại sao chúng ta phải [có lòng] tìm kiếm, khiêm nhường, giản dị và mềm mại. Làm một con trẻ có nghĩa là như vậy. Càng trở nên như một con trẻ, chúng ta càng nhận được ân điển từ Đức Chúa Trời. Càng kiêu ngạo và ương ngạnh, chúng ta càng nhận được ít ân điển từ Ngài, vì Đức Chúa Trời hủy diệt sự khôn ngoan của những người khôn ngoan và loại bỏ sự hiểu biết của những kẻ hiểu biết. Chúa phải mang chúng ta đến chỗ thừa nhận sự khôn ngoan và hiểu biết của mình là vô dụng. Nếu Đức Chúa Trời dẫn dắt chúng ta tiến lên trong ba hay năm năm nữa và thương xót chúng ta, chúng ta sẽ nhìn lại và nhận thấy sự khôn ngoan riêng của chúng ta thật ra đã giết chết chính mình biết chừng nào. Có những lúc lẽ ra chúng ta đã nhận được ân điển, nhưng sự khôn ngoan riêng của chúng ta đã ngăn chặn mình. Nhiều người chưa nhận thức được sự khôn ngoan riêng của họ đã làm hại mình như thế nào. Khi Chúa thương xót họ, họ sẽ nhận thấy sự khôn ngoan của họ đã làm hại mình đến mức nào.

HAI

1 Cô-rin-tô 1:19 chép: “Ta sẽ hủy diệt sự khôn ngoan của người khôn ngoan, loại bỏ sự thông sáng của người thông sáng”. Mục đích của việc ấy là “để chẳng một xác thịt nào khoe khoang trước mặt Đức Chúa Trời” (c. 29). Nói đơn giản là Đức Chúa Trời không muốn chúng ta kiêu ngạo. Đức Chúa Trời không muốn bất cứ người nào thông sáng và hiểu biết. Một mặt, chúng ta có sự khôn ngoan riêng của mình; mặt khác, chúng ta cần quyền năng. Con người có sự khôn ngoan, nhưng đồng thời lại yếu đuối. Ngày nay Đức Chúa Trời đảo ngược nhiều điều. Ngài biến sự khôn ngoan của chúng ta thành sự ngu dại. Kết quả là sự yếu đuối của chúng ta trở nên quyền năng của mình. Đây là một điều kỳ diệu, và là một điều rất khó thực hiện. Con người thật thông sáng, mà cũng yếu đuối. Ngày nay, Chúa biến sự khôn ngoan của chúng ta thành sự ngu dại để sự yếu đuối của chúng ta trở nên quyền năng của mình. Đức Chúa Trời đang phá vỡ sự khôn ngoan của con người. Đồng thời, Ngài ban cho chúng ta quyền năng.

Điều này có thể khó hiểu. Mối quan hệ giữa quyền năng và sự khôn ngoan là gì? Tại sao quyền năng được thiết lập khi sự khôn ngoan bị tiêu hủy? Làm thế nào một người trở thành mạnh mẽ khi sự khôn ngoan của người ấy bị tiêu hủy? Làm thế nào quyền năng đến khi sự khôn ngoan loài người được lấy đi? Làm thế nào Đức Chúa Trời tiêu hủy sự khôn ngoan của con người, và làm thế nào Ngài ban quyền năng cho con người? 1 Cô-rin-tô 1:30 chép: “Nhưng đối với những người được kêu gọi, cả người Do-thái lẫn người Hi-lạp, thì Đấng Christ là quyền năng của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời”. Chúa đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta. Theo sau nhóm chữ này có một dấu hai chấm cho thấy sự khôn ngoan ấy “vừa là sự công chính vừa là sự thánh hóa vừa là sự cứu chuộc”. Sự khôn ngoan ấy bao gồm sự công chính, sự thánh hóa và sự cứu chuộc. Làm thế nào Đức Chúa Trời làm cho Đấng Christ trở nên sự khôn ngoan của chúng ta? Khi sự khôn ngoan riêng của chúng ta ra đi và chúng ta không còn giữ lại sự khôn ngoan và sự hiểu biết riêng nào của mình nữa, mà thay vào đó chúng ta trở nên ngu dại, thì Đức Chúa Trời sẽ làm cho Đấng Christ trở nên sự khôn ngoan của chúng ta. Sự khôn ngoan ấy bao gồm việc Đấng Christ trở nên sự công chính của chúng ta, Đấng Christ trở nên sự thánh hóa của chúng ta và Đấng Christ trở nên sự cứu chuộc của chúng ta. Ba biểu hiện của quyền năng được tìm thấy trong điều này. Chúng ta cần quyền năng để làm một người công chính, chúng ta cần quyền năng để được thánh hóa, và chúng ta cần quyền năng để được cứu chuộc. (Sự cứu chuộc ở đây chỉ về sự cứu chuộc của thân thể). Phải cần đến quyền năng cực kỳ lớn lao để thực hiện tất cả những điều ấy, và tất cả những điều ấy bao gồm trong Chúa Giê-su là sự khôn ngoan của chúng ta.

Nói cách khác, mọi ân điển của Đức Chúa Trời đều được ban cho chúng ta qua sự khải thị. Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng Christ trở nên khải thị của chúng ta. Cuối cùng, Đấng Christ trở nên sự công chính của chúng ta, Đấng Christ trở nên sự thánh hóa của chúng ta, và Đấng Christ trở nên sự cứu chuộc của chúng ta. Trước hết, chúng ta nhận được khải thị, nhưng kết quả là chúng ta có được sự công chính, sự thánh hóa và sự cứu chuộc. Vì vậy, một khi nan đề khôn ngoan được giải quyết thì nan đề quyền năng cũng được giải quyết. Nói cách khác, một khi vấn đề khải thị được giải quyết thì mọi sự liên quan đến sự phong phú thuộc linh cũng được giải quyết. Tình trạng nghèo nàn thuộc linh chấm dứt, và tình trạng nghèo nàn lời [Chúa] cũng chấm dứt. Mọi sự trong lãnh vực thuộc linh đều liên quan đến sự nhìn thấy của chúng ta; một khi nhìn thấy thì chúng ta có. Nếu không nhìn thấy thì chúng ta không có. Chúng ta không thể trực tiếp giải quyết sự công chính, nhưng có thể nhìn thấy khải thị. Một khi có khải thị thì chúng ta có sự công chính. Chúng ta chỉ có thể có được sự công chính qua khải thị. Chúng ta không cần tìm thấy sự công chính tách rời khỏi khải thị của Đức Chúa Trời. Có lẽ điều này giải thích tại sao Chúa không muốn chúng ta có sự khôn ngoan. Một khi sự khôn ngoan riêng của chúng ta bước vào, sự khôn ngoan của Chúa ra đi, và khải thị cũng ra đi. Một khi khải thị bị cắt đứt, thì mọi ơn phước thuộc linh cũng bị cắt đứt. Một khi khải tượng thuộc linh không còn nữa, thì quyền năng thuộc linh cũng ra đi. Nếu chúng ta tẩy sạch mọi sự ngu dại thuộc linh thì quyền năng thuộc linh sẽ gia tăng. Hai điều này liên kết với nhau.

Một người không thể trực tiếp chiếm hữu công tác của Chúa; mọi công tác của Ngài đều được giữ trong lãnh vực khải thị. Khi có khải thị, chúng ta có mọi sự. Nếu chúng ta cố gắng giữ lấy công tác của Chúa mà tách rời khỏi khải thị, thì công tác của Ngài sẽ trở nên chết chóc đối với chúng ta. Một số tội nhân muốn tiếp nhận Chúa. Họ biết rằng mình là tội nhân và Chúa là Cứu Chúa. Nhưng khi cầu nguyện với Chúa, dường như họ không có sự hiểu biết. Thậm chí họ có thể nói với người khác giáo lý về sự cứu rỗi, nhưng lại nguội lạnh và không đáp ứng đối với lẽ thật. Đó là nắm lấy công tác của Chúa bằng tâm trí con người. Họ không có khải thị. Trong trường hợp khác, một người có thể cầu nguyện trong phòng mình hay nghe một bài giảng tại buổi nhóm. Khi Chúa mở mắt người ấy một chút và người ấy nhìn thấy Chúa đã chết vì mình, thì người ấy tiếp nhận sự chết của Chúa ngay lúc đó. Một khi chạm đến khải thị thì người ấy có được Đấng Christ. Không chạm được khải thị, người ấy không bao giờ có thể có Đấng Christ. Tất cả đều tùy thuộc vào việc người ấy đã nhận được khải thị hay chưa. Đó là một nguyên tắc cơ bản. Đức Chúa Trời đã giữ công tác của Ngài trong lãnh vực thuộc linh. Không ai có thể liên hệ đến công tác của Ngài mà tách rời khỏi khải thị. Một người chỉ có thể có liên hệ đến công tác của Ngài qua khải thị.

Nếu hiểu nguyên tắc thuộc linh này, chúng ta sẽ nhận thức rằng chức vụ cung ứng lời bị người nghe ảnh hưởng rất nhiều. Khi một người “trở nên” khôn ngoan và thông sáng, Đức Chúa Trời sẽ giấu chính Ngài không cho người ấy thấy. Nếu chúng ta như những con trẻ, chờ đợi một cách đơn sơ, khiêm nhường và nhu mì trước mặt Chúa, thì tự phát Ngài sẽ trở nên sự khôn ngoan của chúng ta. Một khi Ngài trở nên sự khôn ngoan của chúng ta thì mọi nan đề liên quan đến quyền năng đều sẽ được giải quyết. Khi nhận lấy Đấng Christ làm sự khôn ngoan của mình trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta cũng sẽ dễ dàng tìm thấy sự công chính, sự thánh hóa và sự cứu chuộc. Nếu không nhận lấy Đấng Christ làm sự khôn ngoan của mình, chúng ta sẽ không thể tìm thấy sự công chính, sự thánh hóa và sự cứu chuộc tại bất cứ nơi nào. Thực tại thuộc linh được giữ lại trong khải thị về Đấng Christ. Một khi chạm đến khải thị thì một người chạm đến thực tại. Nếu không chạm đến khải thị, người ấy không chạm đến thực tại. Sự công chính trong quá khứ, sự thánh hóa trong thực tại và sự cứu chuộc trong tương lai, là tất cả quyền năng mà bản thể chúng ta cần đến, đều được giữ bên trong sự khôn ngoan ấy. Khi Chúa Giê-su trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan ấy bao gồm ba điều đó. Đức Chúa Trời đã đặt ba điều đó trong khải thị, ấy là sự công chính, sự thánh hóa và sự cứu chuộc. Một khi chạm đến khải thị thì tự phát chúng ta chạm đến những điều ấy. Thực chất và thực tại thuộc linh đều được hàm chứa trong khải thị của Đức Chúa Trời. Nếu người nghe lời được rao giảng mà lại kiêu ngạo, tự tin và đóng kín trong linh, Đức Chúa Trời sẽ không thể truyền bất cứ khải thị nào vào trong họ. Đức Chúa Trời sẽ không ban cho họ bất cứ điều gì cả. Chúng ta phải học tập để trở nên khiêm nhường, nhu mì và đơn sơ trước mặt Chúa. Càng kiêu ngạo trước mặt Chúa thì chúng ta càng cách xa khải thị của Đức Chúa Trời. Ngay cả người cung ứng cũng không thể làm gì cho chúng ta; thậm chí người ấy còn bị chúng ta ngăn trở. Đức Chúa Trời giấu chính Ngài khỏi người khôn ngoan thông sáng và bày tỏ chính Ngài cho các con trẻ. Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng.

BA

La Mã 11:8 chép: “Như có chép rằng: ‘Đức Chúa Trời đã phú cho họ tâm linh mê muội, mắt không thấy được, tai không nghe được, cho đến ngày nay’ ”. Câu này nói rằng Đức Chúa Trời đã phú cho người Do-thái một linh mê muội. Họ có mắt, nhưng không thể nhìn thấy; họ có tai, nhưng không thể nghe được cho đến chính ngày hôm nay. Tình trạng trong Ma-thi-ơ chương 13 nghiêm trọng hơn so với tình trạng trong Ma-thi-ơ chương 11. Trong chương mười một, Chúa chỉ nói đến những điều ẩn giấu. Trong chương mười ba có một loại ẩn giấu không bình thường; đó là một sự ẩn giấu dựa vào chương mười hai. Đó là một sự ẩn giấu đời đời thay vì là một sự ẩn giấu tạm thời. Trong chương mười hai, Chúa Giê-su đuổi quỉ bằng quyền năng của Thánh Linh. Người Do-thái ghét Ngài vô cớ và tố cáo là Ngài đuổi quỉ nhờ Bê-ên-xê-bun, tức chủ quỉ (c. 24). Họ ghét Chúa đến độ họ nhắm mắt tố cáo là Ngài đuổi quỉ nhờ chủ quỉ. Họ biết rõ ràng là Chúa Giê-su đuổi quỉ bằng Thánh Linh, nhưng họ ghét Ngài hoàn toàn vô cớ. Khi ghét Chúa, họ báng bổ Thánh Linh và nói rằng Ngài đuổi quỉ nhờ Bê-ên-xê-bun, tức chủ quỉ. Họ có thành kiến. Họ biết rằng Chúa đuổi quỉ bằng Thánh Linh, nhưng họ nhất quyết không tin điều đó. Họ nhất quyết khước từ Chúa, và nhất định cho rằng Ngài đã không đuổi quỉ bằng Thánh Linh, mà nhờ Bê-ên-xê-bun, tức chủ quỉ. Lòng họ rất cứng cỏi. Đó là bức tranh trong chương mười hai. Những người ấy sẽ không được tha thứ, hoặc trong thời đại này hoặc trong thời đại sắp đến. Thánh Linh rõ ràng hành động, nhưng họ nhất định cho rằng Bê-ên-xê-bun, chủ quỉ, đã hành động. Tên Bê-ên-xê-bun có nghĩa là “chủ của ruồi nhặng”. Chúa Giê-su đuổi quỉ bằng Thánh Linh, nhưng họ gán ghép Ngài với “chủ của ruồi nhặng”; họ tố cáo là Ngài đuổi quỉ nhờ “chủ của ruồi nhặng”. Lòng con người cứng cỏi đến như vậy! Đó là tội lớn nhất chép trong Kinh Thánh. Không tội nào khác nghiêm trọng bằng tội này. Con người phạm nhiều tội lỗi, nhưng không tội nào lớn bằng tội này. Tội này sẽ không được tha thứ trong thời đại này cũng như trong thời đại sắp đến.

Sau đó, trong Ma-thi-ơ chương 13, Chúa Giê-su giảng bằng các ẩn dụ. Các môn đồ hỏi Ngài: “Sao thầy phán cùng chúng bằng thí dụ như vậy?” Ngài đáp rằng: “Đã ban cho các ngươi được biết những sự mầu nhiệm của nước trời, song không ban cho họ” (cc. 10-11). Họ nghe về người gieo giống, nhưng không biết ẩn dụ đó có ý nghĩa gì. Họ nghe về đá sỏi, chim chóc và gai gốc, nhưng không biết chúng có ý nghĩa gì. Họ cũng nghe về đất tốt, nhưng không biết chúng có ý nghĩa gì. Ở đây, Chúa Giê-su cho chúng ta thấy một nguyên tắc cơ bản: Khi con người phạm một trọng tội, Đức Chúa Trời đóng lời Ngài lại để lúc nghe họ không hiểu, và lúc nhìn thấy họ không lãnh hội được. “Vì lòng dân này đã đặc, tai họ đã nặng, mắt họ đã nhắm, e mắt họ thấy được, tai họ nghe được, lòng họ hiểu được, mà họ trở lại, và Ta chữa họ lành chăng” (c. 15). Dường như Đức Chúa Trời ngăn chặn không cho họ ăn năn. Một khi con người có những thiên kiến, thành kiến, sự miễn cưỡng và thái độ bắt lỗi, thì ngay cả ánh sáng của Đức Chúa Trời cũng phải tắt đi. Bề ngoài, một số người có thể rao giảng, nhưng họ không còn có những khải thị mới nữa. Những gì họ nhìn thấy được chuyển từ sách vở lên môi miệng, rồi từ môi miệng xuống sách vở. Lời được truyền ra, nhưng không có khải thị và ánh sáng mới mẻ. Những người ấy trải qua những ngày tháng của mình trong sự tối tăm. Chúng ta sợ phạm tội, nhưng điều chúng ta cần phải sợ hơn là phạm tội mà không biết mình phạm tội. Xin ghi nhớ rằng các tội nhân có thể được cứu vào thời Chúa Giê-su, nhưng những người Pha-ri-si thì không thể được cứu. Đức Chúa Trời có cách xử lý các tội nhân, nhưng Ngài không cách nào xử lý những người mù quáng và ở trong sự tối tăm. Dường như, những người Pha-ri-si không phải là những tội nhân. Thật ra, Chúa nói họ là kẻ mù dẫn dắt kẻ mù (15:14). Một người càng đui mù thì càng khó mà xử lý người ấy.

Ma-thi-ơ chương 13 và La Mã chương 11 cho chúng ta thấy một nguyên tắc: Một người có thể trở nên sa ngã đến mức ánh sáng của Đức Chúa Trời hoàn toàn bị niêm phong đối với người ấy. Chúng tôi gọi đó là cấm lệnh của Đức Chúa Trời, hay sự niêm phong của Ngài. Nhiều người chìm sâu trong tình trạng sai lầm, không phải vì ngu dại mà vì họ thông sáng. Một người lầm lỗi do ngu dại thì dễ tha thứ. Nhưng một người lầm lỗi do khôn ngoan thì không dễ tha thứ. Một số người không những lầm lỗi mà còn có một điều gì đó sai trật trong tấm lòng của họ. Khi một người lầm lỗi do tấm lòng sai lệch lìa khỏi Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời sẽ đóng cửa lại đối với người ấy. Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng. Đức Chúa Trời không muốn một số người nhìn thấy Ngài; Ngài giấu mình không cho những người ấy nhìn thấy. Nếu Đức Chúa Trời xử lý chúng ta như vậy thì chúng ta kể như chấm dứt. Không sự mất mát nào lớn hơn sự mất mát khải tượng! Bất cứ khi nào Đức Chúa Trời đóng lại đối với chúng ta thì chúng ta kể như chấm dứt. Chúng ta nên cầu nguyện: “Thưa Chúa, đừng để con quá ngu dại mà nói ra bất cứ điều gì kiêu ngạo. Đừng để con quá ngu dại mà khước từ ánh sáng. Đừng để con sa ngã đến mức không còn cơ hội để ăn năn nữa”. Không có khải thị thì không có sự ăn năn. Niêm phong khải thị có nghĩa là niêm phong sự ăn năn, và niêm phong ăn năn có nghĩa là niêm phong sự tha thứ. Người Pha-ri-si báng bổ Thánh Linh; họ không còn có thể ăn năn, có nghĩa là họ không còn nhận được khải thị nào nữa. Họ nghe, nhưng không hiểu. Họ nhìn thấy, nhưng không chạm đến bất cứ điều gì cả. Nói cách khác, họ chỉ có những lời, chứ không có khải thị. Một số anh chị em không sẵn lòng thuận phục người khác và tiếp nhận nhiều điều. Khi một người có thành kiến đối với một điều gì đó, người ấy sẽ nói điều ấy sai trật cho dầu đó là điều đúng. Để nhận được khải thị từ Đức Chúa Trời, một người phải luôn luôn sợ phạm lỗi. Người ấy không dám đưa ra những nhận xét quá táo bạo vì sợ nhầm lẫn. Để nhận được ánh sáng, một người đừng quá tự phụ. Khi một người yếu đuối và nhu mì, Đức Chúa Trời dễ ban cho người ấy ánh sáng và khải thị; một người như vậy sẽ nhận được những khải thị cơ bản cũng như những khải thị phi thường. Chúng ta phải học tập mở lòng mình ra cho Chúa và liên tục tiếp nhận từ Ngài. Một khi Đức Chúa Trời niêm phong bất cứ điều gì thì chúng ta sẽ không nhìn thấy chút ánh sáng nào cả. Nếu một người cung ứng lời gặp phải ai bị Đức Chúa Trời niêm phong, người cung ứng ấy sẽ không thể truyền đạt bất cứ ánh sáng nào cho người đó.

BỐN

Ánh sáng không bao giờ chờ đợi con người! Chúng ta cần phải đến với Chúa và cầu xin như những người xin bánh. Chúng ta đừng bao giờ tự cho là mình đã có điều đó rồi. Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng. Chúng ta phải nhìn thấy tầm quan trọng của vấn đề này trước mặt Chúa. Chúng ta phải nhận thấy rằng ngày nay Đức Chúa Trời có công việc của Ngài ở trên trái đất. Chiều hướng Đức Chúa Trời công tác không bao giờ dừng lại, mà tiến tới mãi mãi. Những người có mắt sẽ nhìn thấy chiều hướng Đức Chúa Trời công tác; họ sẽ nhận biết ngày nay Đức Chúa Trời đang làm gì. Một khi vấp ngã thì chúng ta sẽ rơi lại đằng sau và không nhìn thấy. Một khi có thành kiến thì chúng ta sẽ không nhìn thấy. Nếu hai mươi năm trước chúng ta đã không theo kịp những gì Đức Chúa Trời làm khi ấy, thì ngày nay chúng ta chỉ có thể lui lại đằng sau xa hơn nữa. Chúng ta đừng bao giờ để chính mình bị loại ra khỏi con đường này. Đó là lý do tại sao chúng ta phải tự hạ mình xuống. Một điều chắc chắn là ngày nay Đức Chúa Trời đang tiến tới. Ngài đang tiến lên từng bước một. Chúng ta cần phải là những người bước theo Ngài từ năm này sang năm nọ. Nếu Chúa gìn giữ chúng ta trong một linh khiêm nhường và nhu mì thì chúng ta sẽ chạm đến một điều gì đó. Nếu tự cao, kiêu ngạo và tự xưng mình là công chính, thì chúng ta sẽ thấy chính mình bị Đức Chúa Trời loại bỏ. Nếu chúng ta sẵn sàng làm một người nghe lời cách đúng đắn, tức nếu chúng ta sẵn sàng tiếp nhận và không chống cự lời Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ chạm đến một điều gì đó trong chức vụ cung ứng, và những ơn phước cùng ánh sáng của Đức Chúa Trời sẽ chiếu xuống trên chúng ta. Tuy nhiên, một số người đã ngã xuống bên lề đường! Nguyện Chúa thương xót chúng ta để chúng ta hạ mình xuống trước mặt Ngài.

Ê-phê-sô chương 4 nói với chúng ta rằng Hội thánh sẽ đạt tới sự hoàn hảo trọn vẹn. Ngày nay, dường như Đức Chúa Trời đang nâng cao tiêu chuẩn chức vụ cung ứng của chính Ngài. Một số người đã chạm đến những điều cao diệu hơn; đó không phải là những điều tầm thường. Nhưng một số người phải đợi đến mười hoặc hai mươi năm nữa rồi mới nhận biết hay chạm đến những điều cao trọng hơn ấy. Nhiều điều sau một thời gian mới có thể nhìn thấy được, và chúng ta vẫn còn cách xa những điều ấy. Chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời thương xót để chúng ta có thể nhìn thấy một điều gì đó vững chắc và thật. Nguyện Chúa ban chức vụ cung ứng cho Hội thánh Ngài, và nguyện chúng ta học những bài học mình cần phải học.