Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 17

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI BẢY

MỘT VÀI ĐIỀU CẦN CHÚ Ý TRONG SỰ RAO GIẢNG CỦA CHÚNG TA

Phục vụ với tư cách là người cung ứng lời là một điều hoàn toàn mới mẻ đối với chúng ta; trong cuộc đời mình, chúng ta chưa bao giờ làm một điều như vậy. Chúng ta giống như những đứa trẻ sơ sinh chưa bao giờ tập nói. Chúng ta đã sống trên đất nhiều năm và nói suốt bao nhiêu năm nay. Nhưng trước đây, chúng ta chưa từng biết loại “phát ngôn” này. Để “nói” theo cách ấy, chúng ta phải khởi sự từ đầu. Trong tiến trình học tập làm người cung ứng lời, chúng ta cần phải quên đi kinh nghiệm trước kia của mình về sự phát ngôn và rao giảng. Những suy nghĩ ấy làm chúng ta lạc hướng. Chức vụ cung ứng lời rất mới mẻ đối với chúng ta, và khác với bất cứ sự huấn luyện, hiểu biết và thực hành nào trước kia của mình. Không ai có thể khinh suất đối với vấn đề này. Chúng ta không thể dựa vào những kinh nghiệm trước kia. Chúng ta không thể xem chức vụ cung ứng lời giống như sự nói năng thông thường của mình. Nói về chức vụ cung ứng lời thì chúng ta là những con trẻ; chúng ta phải học tập mọi sự từ đầu. Một đứa trẻ phải học phát âm mọi mẫu tự khi tập nói. Ngày nay, chúng ta giống như những đứa trẻ; chúng ta phải học tập mọi sự tận ngọn nguồn. Xác thịt có những đặc tính trong sự phát ngôn của nó, và linh cũng có những đặc tính trong sự phát ngôn của nó. Chúng ta không thể dựa vào bất cứ kinh nghiệm nói năng và rao giảng nào trong quá khứ. Nếu cố gắng đem những yếu tố ấy vào, chúng ta sẽ thay đổi bản chất của lời. Chúng ta phải giống như một đứa trẻ, học lại mọi sự từ đầu. Có nhiều thuật ngữ và cách diễn đạt chúng ta cần học tập. Nhiều tư tưởng phải nhận lấy cách mới mẻ. Thậm chí cung cách chúng ta cư xử phải được dạy dỗ và học tập một cách mới mẻ. Không người nào được đem bất cứ điều gì cũ kỹ vào. Nhưng đây cũng không phải là vấn đề giới thiệu một điều gì đó mới lạ. Thật ra, loại rao giảng này rất mới mẻ và khác thường đối với chúng ta đến nỗi mọi sự liên quan đến nó phải được nhận lấy cách mới mẻ từng chút một.

Khi Đức Chúa Trời ban lời cho chúng ta, một mặt chúng ta có thể nói rằng truyền đạt lời ấy thật là một công việc khó. Nhưng mặt khác chúng ta cũng có thể nói rằng truyền đạt lời ấy là một công việc rất dễ. Điều này cũng như cầu nguyện. Theo một ý nghĩa, đó là điều dễ làm nhất, vì một tín đồ mới có thể cầu nguyện ngay vào ngày đầu tiên trong đời sống Cơ-đốc của mình. Theo một ý nghĩa khác, một người có thể dành trọn cuộc đời mình để học tập cách cầu nguyện. Đối với việc học tập làm một người cung ứng lời cũng vậy. Một mặt, đó là một kỹ năng khó mà có được. Mặt khác, trong khi một người học tập làm người cung ứng, Đức Chúa Trời sẽ cho người ấy thấy rằng toàn bộ nỗ lực ấy thật sự không khó chút nào.

Bây giờ, chúng ta hãy xem xét một vài điều cần phải được lưu ý trong sự rao giảng của mình.

BẢO VỆ LINH KHÔNG BỊ TỔN THƯƠNG

Trong việc rao giảng với tư cách là một người cung ứng lời, chúng ta phải lưu ý để linh mình không bị tổn hại hay tổn thương. Chúng ta không nên giảng vì phải giảng. Sự rao giảng của chúng ta phải kèm với sự tuôn đổ linh mình ra. Truyền đạt lời mà không tuôn đổ linh mình ra là thất bại hoàn toàn trong chức vụ cung ứng lời. Tuyệt nhiên không ai có thể cố tuôn đổ linh mình ra mà không có lời. Một người phải có linh và lời cùng một lúc. Lời được truyền đạt vì linh được tuôn đổ ra trong khi chúng ta đang rao giảng. Ấy là linh chạm đến và cảm động người ta. Ấy cũng là linh mở mắt người ta. Có khi linh rất thắng thế đến mức bắt phục người ta. Truyền đạt lời thật ra là tuôn đổ linh. Nếu linh chúng ta không thể được tuôn đổ ra thì có truyền đạt một mình lời cũng vô ích. Nếu có sự cản trở nào trong chính mình thì chúng ta chỉ có lời mà thiếu linh. Đôi khi, linh chúng ta bị tổn thương dầu chúng ta không biết mình có gì sai trật. Linh chúng ta cực kỳ nhạy cảm; do đó, nó rất dễ bị tổn thương. Cảm xúc của linh rất nhạy bén. Linh rất tinh tế đến nỗi vượt quá sự nhạy bén bình thường của chúng ta. Chúng ta có thể chưa cảm thấy một điều gì đó, nhưng linh đã cảm thấy rồi. Một khi linh bị tổn thương, chúng ta chỉ còn lại lời mà thiếu linh. Vào lúc rao giảng, chúng ta phải rất cẩn thận đừng làm tổn thương linh. Vài điều có thể gây tổn thương cho linh chúng ta. Chúng ta hãy lần lượt xem xét những điểm ấy.

Trước hết, có thể chúng ta bị tội lỗi hay sự ô uế nào đó chạm đến trước khi chúng ta rao giảng. Khi chúng ta rao giảng, linh không vận hành theo vì đã bị tổn thương. Khó mà nói rõ loại tội lỗi hay sự ô uế nào sẽ làm tổn thương linh chúng ta. Chúng ta chỉ có thể nói rằng có nhiều tội lỗi và sự ô uế mà chỉ đụng chạm, tiếp xúc và bị ô nhiễm một chút cũng có thể làm tổn thương linh chúng ta. Chúng ta không cần phải thật sự phạm những tội lỗi ấy. Ngay khi mở miệng ra, chúng ta biết mình không thể tiếp tục. Trước khi người cung ứng lời mở miệng, người ấy phải cầu nguyện để được tha thứ và tẩy sạch. Người ấy cần phải xưng nhận trước mặt Chúa tất cả những tội lỗi và sự ô uế mà mình nhận biết, và cần phải tìm kiếm sự tẩy sạch và tha thứ. Người ấy cũng cần phải tìm kiếm sự rửa sạch và tha thứ cho những tội lỗi và sự ô uế mà mình không nhận biết nữa. Người ấy phải chuyên cần tránh những điều ấy. Người ấy cần phải canh giữ chính mình và cẩn thận tránh những điều ấy. Cảm giác của linh nhạy bén hơn những cảm giác khác của con người. Một người có thể không nhận thấy mình bị tội lỗi và sự ô uế nào đó làm ô nhiễm trong ba đến năm ngày. Nhưng linh của người ấy đã nhận ra vài dấu hiệu cảnh cáo rồi. Người ấy có thể có những lời lẽ và tư tưởng đúng đắn; mọi yếu tố bên ngoài và bên trong đều đâu vào đó. Tuy nhiên, dầu có nỗ lực để đẩy linh mình ra, dường như linh của người ấy vẫn ở trong tình trạng trì trệ. Dường như người ấy không thể làm linh mình chuyển động. Trong khi cố đẩy linh ra, người ấy khó có thể biết được linh mình đang ở đâu. Những dấu hiệu ấy cho biết linh đã bị tội làm cho ô uế và suy nhược.

Thứ hai, linh phải được chăm sóc một cách cẩn trọng trước khi nó có thể tuôn đổ ra. Ngay khi tâm trí chúng ta lang thang, không tập trung hay không theo kịp những tư tưởng của mình thì linh chúng ta bị tổn thương. Tâm trí chúng ta phải chăm chú chờ đợi linh trước khi linh có thể tự do chỉ dẫn tâm trí. Khi tâm trí lơ đễnh, linh chúng ta trở nên rất nặng nề và bị trói buộc. Đó là một nguyên nhân khác làm tổn thương linh. Một số người cung ứng lời không thể sử dụng linh vì linh của họ bị tổn thương, và linh ấy bị tổn thương vì có điều gì đó sai trật nơi tâm trí họ. Chúng ta phải học tập gìn giữ tâm trí mình để dành riêng cho linh sử dụng. Tâm trí chúng ta phải chăm chú chờ đợi linh, giống như một người đầy tớ chờ đợi chủ mình. Càng có kinh nghiệm thì chúng ta càng ý thức về nhu cầu này.

Thứ ba, để linh mạnh mẽ và không bị tổn hại, chúng ta phải dùng những từ ngữ thích đáng mỗi khi rao giảng. Chúng ta không thể dùng những từ ngữ sai trật, ví dụ sai trật hay dàn bài với thứ tự sai trật. Một khi chúng ta dùng sai một hai từ ngữ trọng yếu khi rao giảng thì trọn bài giảng của chúng ta bị hỏng. Một vài chữ ấy làm tổn thương linh chúng ta, và đến cuối bài giảng, linh chúng ta vẫn ở tình trạng bị cột trói. (Tất nhiên, có những trường hợp vi phạm ít nghiêm trọng hơn, và một hai chữ sai trật không làm cho linh bị tổn thương. Vào những lúc ấy, chúng ta vẫn có thể tuôn đổ linh mình ra). Đôi khi, chúng ta đưa ra một hình ảnh minh họa không hợp với linh, và linh lại bị tổn thương và bị cột trói. Hay chúng ta có thể kể một câu chuyện không phù hợp với lời diễn đạt của Linh. Trong trường hợp đó, linh lại bị tổn thương và bị cột trói. Trọn bài giảng có thể không phù hợp với Linh, tức chúng ta chưa chạm đến sự hướng dẫn của Linh trong việc chia sẻ bài giảng ấy. Linh lại bị tổn thương và bị cột trói. Chúng ta phải ghi nhớ rằng linh rất dễ bị tổn thương. Nếu không lưu ý đến vấn đề này mà cứ rao giảng một cách cẩu thả, chúng ta sẽ nhận thấy mình không thể đẩy linh ra. Chúng ta có thể muốn tuôn đổ linh mình ra, nhưng không có năng lực làm như vậy. Tình trạng đó có nghĩa là chúng ta đã làm tổn thương linh mình.

Thứ tư, thái độ của chúng ta cũng có thể làm tổn thương linh mình. Nhiều người đến buổi nhóm với tình trạng quá ý thức về bản thân mình. Tình trạng quá ý thức về bản thân mình rất dễ làm tổn thương linh chúng ta. Trong khi phát biểu, một người có thể có ý thức rất nhiều về chính mình. Người ấy có thể nghĩ rằng người nghe của mình rất khắt khe, và thậm chí một vài người thật đáng sợ. Trong khi phát biểu, người ấy có nhiều cảm xúc về chính mình. Đó là tình trạng quá ý thức về bản thân mình, và thái độ ấy bọc kín linh lại đến nỗi linh không thể được tự do tuôn đổ ra. Một khi hồn ngự trị thì tình trạng quá ý thức về bản thân mình chỗi dậy, và linh mất quyền chủ động.

Chúng ta phải nhận thức rằng có một sự khác biệt giữa nỗi sợ thuộc linh và thái độ e dè thuộc hồn. Chúng ta cần có một nỗi sợ thuộc linh, nhưng không cần có thái độ e dè thuộc hồn. Khi nhóm lại với nhau tại một nơi nào đó, chúng ta cần phải đầy dẫy sự sợ sệt, nhưng không được đầy dẫy thái độ e dè thuộc hồn. Chúng ta biết rằng chúng ta không thể thành công và không có sức lực trong chính mình để làm gì cả. Khi đến buổi nhóm, chúng ta đến trong nỗi sợ sệt và run rẩy. Nỗi sợ sệt ấy xoay mắt chúng ta hướng về Đức Chúa Trời, ngưỡng trông Ngài, tin cậy Ngài, và đặt đức tin của chúng ta nơi Ngài. Thái độ e dè thuộc hồn thì khác; nó nhìn loài người. Nỗi sợ thuộc linh xoay mắt chúng ta hướng về Đức Chúa Trời, trong khi thái độ e dè thuộc hồn xoay mắt chúng ta hướng về con người. Một khi thái độ e dè thuộc hồn phát sinh thì linh chúng ta bị tổn thương và suy nhược; chúng ta không còn có thể đẩy linh mình ra nữa.

Một người giảng phúc-âm phải thoát khỏi tình trạng ý thức về bản thân mình trước khi người ấy có thể rao giảng phúc-âm. Tất cả những người rao giảng phúc-âm trong suốt các thời đại đều là những người không có thái độ e dè. Một người rao giảng càng ít có thái độ e dè thì linh của người ấy càng đầy quyền năng. Khi đứng lên phát biểu, người ấy không có cảm xúc nào dành cho trời, đất hay con người. Mặc dầu những điều ấy đều ở trước mắt, người ấy nói ra những gì chất chứa bên trong mình. Người ấy quên hết sự tán thành hay chống đối của những người khác. Thoát khỏi thái độ e dè ấy là một điều kiện cơ bản để làm một người rao giảng phúc-âm. Điều đó nâng linh của người ấy lên; khi người ấy rao giảng, người ta sẽ quay lại [với Chúa]. Người cung ứng lời Đức Chúa Trời phải học tập giải thoát chính mình khỏi bất cứ thái độ e dè nào rồi mới có thể hoạt động cách có hiệu quả. Nếu một người nhạy cảm về nhiều điều trong khi giảng lời Đức Chúa Trời, nếu người ấy sợ hãi con người hay sợ những người khác không nghe mình, nỗi sợ đó sẽ làm tổn hại linh mình. Khi người ấy đứng lên phát biểu, linh của người ấy không thể tuôn đổ ra. Linh của người ấy không mạnh mẽ đúng mức để đáp ứng nhu cầu. Những người cung ứng lời mà không tập [thoát khỏi thái độ này] thì [chức vụ] sẽ dễ dàng mai một. Nếu một người giảng phúc-âm cảm thấy người nghe của mình lớn tuổi, có uy tín, có giáo dục hay hiểu biết hơn mình, thì người ấy sẽ không thể chia sẻ sứ điệp của mình một cách tốt đẹp, cho dù người ấy có nỗ lực đến đâu đi nữa. Càng giảng thì người ấy càng kém dạn dĩ. Một khi người giảng phúc-âm cho những người khác là vĩ đại, người ấy sẽ tự xem mình là nhỏ bé. Nhưng nếu người ấy tôn đại phúc-âm, người khác sẽ bị bắt phục. Một người giảng phúc-âm phải có khả năng tuôn đổ linh mình ra. Khi chúng ta chuyển đạt lời Đức Chúa Trời cho người khác, bất cứ mặc cảm thua kém nào cũng đều hạ thấp lời Đức Chúa Trời, và linh chúng ta trở nên yếu ớt trống rỗng. Tuy lời giảng có thể truyền ra, nhưng linh thì không được tuôn đổ ra.

Một đầy tớ của Đức Chúa Trời muốn có chức vụ cung ứng lời thì đừng lưu giữ mặc cảm thua kém nào cả. Sợ con người không phải là một dấu hiệu bày tỏ tính khiêm nhường mà là một mặc cảm thua kém thuộc hồn. Loại mặc cảm thua kém này là thuộc hồn. Điều đó không liên quan gì đến tính khiêm nhường thuộc linh. Tính khiêm nhường thuộc linh nảy sinh khi chúng ta nhìn thấy chính mình dưới sự chiếu sáng của Đức Chúa Trời và được hạ xuống. Nhưng sự thua kém thuộc hồn phát xuất từ việc hướng nội, là điều bắt nguồn từ sự tự xem xét mình và sợ hãi loài người. Một người có mặc cảm tự ti đôi khi có thể hãnh diện và kiêu căng. Không biểu hiện nào trong đó liên quan đến tính khiêm nhường thật. Thái độ e dè thuộc hồn là một loại mặc cảm tự ti thuộc hồn. Nó làm tổn hại linh và làm cho linh không hoạt động. Vì vậy, khi đứng trước mặt loài người, chúng ta cần ở trong tình trạng run rẩy và sợ sệt cùng với sự dạn dĩ và tin quyết. Chúng ta cần cả hai. Nếu thiếu sót một phương diện, linh chúng ta sẽ bị tổn thương, và một khi linh bị tổn thương thì chúng ta không thể phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời. Mỗi khi phát biểu với tư cách là một người cung ứng lời, chúng ta phải học tập giữ gìn linh mình khỏi bị tổn thương. Một khi linh bị tổn thương thì chúng ta không còn có thể sử dụng linh ấy.

LINH VÀ LỜI KHÔNG ĐƯỢC MẤT LIÊN LẠC

Khi một người cung ứng lời mở miệng, người ấy có thể muốn bàn đến bốn năm phân đoạn, muốn chia sẻ bốn năm câu hay muốn nêu lên bốn năm điều. Thứ tự các câu ấy liên quan rất nhiều đến việc tuôn đổ linh ra. Có thể Linh muốn đặt phân đoạn ấy ở cuối bài giảng, trong khi người ấy có thể đặt phân đoạn ấy ở đầu bài giảng. Trong trường hợp đó, linh sẽ không được tuôn đổ ra. Một nan đề trong sự rao giảng là lời nói của chúng ta thường mất liên lạc với linh của mình. Lẽ ra vài lời phải được chia sẻ ở phần đầu, nhưng chúng ta lại chia sẻ những lời ấy ở phần cuối. Lẽ ra vài lời phải được chia sẻ ở phần cuối, nhưng chúng ta lại chia sẻ những lời ấy ở phần đầu. Khi tình trạng ấy xảy ra, lời được truyền đạt sẽ không có linh; linh sẽ bị gạt qua một bên. Lời giảng được truyền ra, nhưng không có linh kèm theo.

Trong sự rao giảng của mình, có những lúc lời giảng của chúng ta cần phải chuyển hướng. Chúng ta cần phải đổi sang một đề tài khác, chuyển sang một luồng tư tưởng khác. Khi chuyển hướng như vậy, một người phạm lỗi lầm ngớ ngẩn là chuyện thông thường. Khi chuyển hướng, lời giảng và linh không ăn khớp với nhau. Lời chuyển hướng, nhưng linh không chuyển theo. Lời đã chuyển hướng, nhưng linh vẫn dừng lại chỗ cũ. Lời và linh không ăn khớp với nhau. Lời đã đến điểm kế tiếp, nhưng linh thì vẫn dừng lại tại chỗ và không chịu tiến lên. Vậy nên, khi lời giảng chuyển từ phân đoạn Kinh Thánh này đến một phân đoạn khác, chúng ta phải hết sức cẩn trọng để không gây lầm lỗi nào. Một khi chúng ta phạm phải lỗi lầm thì lời và linh sẽ mất liên lạc với nhau. Nếu một phân đoạn Kinh Thánh nào đó lẽ ra phải dùng đến, nhưng chúng ta bỏ qua phân đoạn ấy, thì linh không thể chuyển hướng, và mất liên lạc với lời. Lời và linh không ăn khớp với nhau; hai điều ấy không kết hợp với nhau được. Đó là một nan đề nghiêm trọng.

Những người có ít kinh nghiệm hơn trước mặt Đức Chúa Trời chủ yếu bị vấp ngã bởi những tổn thương trong linh mình. Những người có kinh nghiệm hơn trước mặt Đức Chúa Trời chủ yếu vấp ngã bởi sự không ăn khớp giữa lời và linh. Trong giai đoạn đầu một người được huấn luyện, nan đề chủ yếu là linh bị tổn thương; nguyên nhân linh lâm vào tình trạng bị cột trói là do linh bị tổn thương. Khi một người tiến triển hơn trong Chúa, nan đề của người ấy không còn liên quan đến tình trạng linh bị tổn thương nữa mà liên quan đến sự không ăn khớp giữa lời và linh. Giữ linh và lời ăn khớp với nhau không phải là một điều dễ dàng. Một người rao giảng thường có sự khởi đầu xấu, và linh cùng lời không ăn khớp ngay từ lúc đầu. Vào lúc phát biểu, một người phải biết chữ nào đi trước và chữ nào theo sau. Nếu người ấy đảo lộn thứ tự, lời giảng có thể truyền ra mà không có linh. Chỗ mà lời dễ lạc mất linh nhất là ở điểm chuyển tiếp. Khi chúng ta chuyển hướng trong lời, những tư tưởng và cảm xúc của mình có thể không nhanh nhẹn và phong phú đủ để cùng chuyển theo. Kết quả là lời tiến tới, còn linh thì kéo lê ở đằng sau. Lời giảng có thể được truyền đạt một cách trôi chảy, nhưng linh thì bị bỏ lại ở đằng sau; linh không thể đi kèm theo lời và mất liên lạc với lời. Khi phát biểu, chúng ta phải tập truyền đạt cả lời lẫn linh để hai điều ấy không mất liên lạc với nhau. Ngay khi chúng ta nhận thấy có một điều gì đó sai trật, chúng ta phải quay lời về khởi điểm. Linh rất nhạy cảm. Đôi khi, lúc chúng ta quay về khởi điểm, linh vẫn không trở lại. Đã gạt bỏ linh một lần, linh không những mất liên lạc với lời, mà còn bị tổn thương nữa. Lời giảng ra từ miệng chúng ta có thể không có gì sai trật, nhưng linh không hiện diện. Cảm nhận của linh rất tinh tế. Chúng ta phải hết sức cẩn trọng, đừng phát biểu một cách hấp tấp hay cẩu thả. Chúng ta phải lưu ý đến vấn đề này. Chúng ta phải ngưỡng trông Đức Chúa Trời để được thương xót hầu lời giảng của chúng ta chuyển đúng hướng và không mất liên lạc với linh. Mỗi khi rao giảng cho các anh chị em, chúng ta phải chuyển hướng cùng với linh. Mỗi khi chuyển sang một hướng sai trật hay không thích hợp từ đề tài này sang đề tài khác, chúng ta thất bại trong việc gìn giữ trọn bài giảng của mình ở trong linh. Vậy, ngay khi biết mình sai lầm, chúng ta phải đem lời giảng của mình quay trở lại. Đôi khi, chúng ta càng cố đem lời trở lại thì tình thế càng khó khăn hơn. Có khi tốt hơn là cắt bỏ trọn một phần bài giảng. Một lúc sau, chúng ta có thể tìm lại được phương hướng. Có thể chúng ta tìm lại được sự xức dầu và lời diễn đạt. Sau đó, khi chúng ta phát biểu theo chiều hướng ấy, linh lại được tuôn đổ ra.

Một người cung ứng lời có chuyển đúng hướng trong khi rao giảng hay không tùy thuộc vào sự thương xót của Chúa hơn là tùy thuộc vào kế hoạch của con người. Chúng ta khó mà ấn định lời giảng của mình sẽ mạnh mẽ thế nào hay chúng ta có thể gìn giữ trọn bài giảng của mình ở trong linh tới mức độ nào. Tuy nhiên, hầu như lúc nào cũng do sự thương xót của Đức Chúa Trời mà chúng ta chuyển đúng hướng. Chúng ta không chuyển đúng hướng vì mình có kiến thức hay kinh nghiệm. Có thể chúng ta không biết khi nào mình chuyển đúng hướng, nhưng chắc chắn chúng ta biết khi nào mình chuyển sai hướng. Một khi chuyển sai hướng, chúng ta sẽ nhận biết trong hai ba phút. Hễ nhận biết mình sai trật thì lập tức chúng ta phải dừng lại. Chúng ta đừng bao giờ cố cứu vãn bài giảng của mình. Chúng ta là những người cung ứng lời. Khi cảm thấy lời giảng của mình đã lạc đề, chúng ta phải quay lại. Mỗi khi sai trật, lập tức chúng ta có thể cảm nhận điều đó. Nhưng khi đi đúng đường, chúng ta có thể không nhận biết điều đó mãi cho đến một lúc lâu về sau hay khi chúng ta bước xuống bục giảng. Đôi khi, chúng ta ở ngã ba đường, không biết mình đúng hay sai. Phải mất một khoảng thời gian chúng ta mới biết được mình có đúng không. Sau một lúc, chúng ta nhận biết mình đúng hay sai. Nếu tiếp tục thêm một vài phút nữa, chúng ta nhận ra có một điều gì đó sai trật. Chúng ta nhận thấy lời và linh là hai điều khác biệt; chúng tách rời nhau. Lời giảng được truyền ra, nhưng không có linh kèm theo. Linh rất nhạy cảm. Hễ có một điều gì đó sai trật thì linh dừng lại. Cho dầu chúng ta có thể tìm thấy linh, chúng ta vẫn không thể tuôn đổ linh ra. Khi đẩy linh ra, chúng ta cảm thấy có sự kháng cự mạnh mẽ. Chúng ta nhận thấy rằng mình chỉ có lời mà không có linh. Ngay khi nhận thấy lỗi lầm của mình, chúng ta cần phải quay trở lại.

Làm thế nào một người có thể nhận biết lời giảng của mình đúng hay sai? Người ấy có thể nhận biết qua cách linh được tuôn đổ ra. Nếu linh của người ấy tuôn đổ ra trong khi người ấy phát biểu, thì những lời giảng ấy đúng đắn. Nếu linh của người ấy không tuôn đổ ra thì lời giảng ấy sai trật. Đó là giới hạn Linh đặt trên chúng ta. Chúng tôi đã nêu lên trong phần trước rằng chúng ta không biết ngay lập tức khi nào mình phát biểu điều đúng đắn. Khi đứng ở ngã ba đường, chúng ta không biết ngay lập tức điều phải làm. Sau khi nói một vài phút với cả lời lẫn linh cùng nhau chuyển động, chúng ta nhận biết mình vừa chuyển đúng hướng. Chúng ta không nhận biết ngay là linh và lời có cùng chuyển động với nhau hay không. Đó là lý do tại sao chúng tôi nói rằng toàn bộ vấn đề liên quan nhiều hơn đến sự thương xót của Đức Chúa Trời. Càng nhận thức điều này, chúng ta càng không nương dựa vào điều gì. Khi thi hành chức năng với tư cách là người cung ứng lời, chúng ta không thể làm gì ngoại trừ chỉ ngưỡng trông sự thương xót của Đức Chúa Trời. Tự mình, chúng ta không thể bảo đảm rằng mình sẽ nói bởi Linh của Đức Chúa Trời lâu hơn năm phút. Chúng ta dễ dàng chuyển hướng, và chúng ta lại càng dễ dàng chuyển sai hướng. Sự khôn ngoan, kiến thức và kinh nghiệm thuộc con người không thể giúp gì được trong vấn đề này. Nếu chúng ta ở dưới sự thương xót của Đức Chúa Trời vào những lúc bình thường, học tập ngưỡng trông Đức Chúa Trời, là Đấng đầy dẫy sự thương xót, và phó thác chính mình cho Ngài, thì chúng ta sẽ nhận thấy lời giảng của mình tự nhiên đúng đắn. Nhưng nếu Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta sự thương xót, chúng ta không thể luôn luôn giữ mình theo con đường này. Đây không phải là điều mà người đầy tớ có thể chủ động, nhưng là điều mà chỉ Người Chủ mới có thể định đoạt. Đây không phải là điều chúng ta có thể làm, mà là điều chỉ Chúa mới có thể thực hiện. Chúng ta đã có bao nhiêu kinh nghiệm trong quá khứ hay đã thu thập được bao nhiêu kiến thức và sự huấn luyện từ Đức Chúa Trời cũng không quan trọng; chúng ta phải hoàn toàn phó thác chính mình cho sự thương xót của Chúa. Nếu không thì chúng ta có thể đúng đắn trong ba hay năm phút, nhưng hễ chuyển hướng thì chúng ta lại lệch mục tiêu.

Trước mặt Chúa, một người cung ứng lời Đức Chúa Trời phải nhận thấy rằng mình truyền đạt lời không phải chỉ để truyền đạt lời, mà truyền đạt lời để tuôn đổ linh mình ra. Mục đích của việc truyền đạt lời là tuôn đổ linh ra. Không người cung ứng nào được nghĩ rằng trách nhiệm của mình chỉ nằm ở việc truyền đạt lời. Trách nhiệm của người cung ứng là tuôn đổ linh ra. Chỉ riêng việc truyền đạt lời thì không tạo thành công tác của người cung ứng; công tác của người cung ứng liên quan đến việc dốc đổ linh qua lời. Thử nghiệm căn bản mà người cung ứng lời có thể áp dụng cho chính mình là tự hỏi sau khi mình rao giảng sứ điệp linh đã được tuôn đổ ra bao nhiêu. Linh càng được tuôn đổ ra thì người rao giảng càng được nhẹ nhàng; người ấy biết Chúa đã dùng mình. Người ấy không phải lo âu về bông trái vì Chúa chịu trách nhiệm về bông trái. Một người nào đó được cứu hay được giúp đỡ hay không là vấn đề ở trong tay Chúa, chứ không phải ở trong tay chúng ta. Kết quả hay thành công là công việc của Chúa; điều đó không phải là mối quan tâm của chúng ta. Chúng ta là đầy tớ. Đối với chúng ta chỉ có một bông trái mà chính mình có thể kinh nghiệm ấy là trong khi hay sau khi rao giảng thì chúng ta tin chắc rằng Chúa đã ban ân điển và sự thương xót cho chúng ta để dốc đổ gánh nặng của mình.

Niềm vui của người cung ứng lời không nằm nơi số lượng lời người ấy rao giảng, sự tán thành của người nghe, hay sự giúp đỡ mà người khác tuyên bố họ đã nhận được. Niềm vui của người cung ứng lời nằm nơi việc người ấy tuôn đổ linh mình ra trong khi rao giảng. Một khi linh được tuôn đổ ra, thì gánh nặng được cất đi, lòng được nhẹ nhàng, và người ấy biết mình đã hoàn tất trách nhiệm và đã làm những gì cần phải làm. Nếu lời được truyền đạt mà không có linh thì gánh nặng vẫn lưu lại. Người ấy có thể cất lớn tiếng, căng cổ họng và dốc hết sức lực của mình. Nhưng người ấy vẫn ở trong tình trạng hoàn toàn thất bại vì linh mình bị khép kín và bị cột trói. Một người rao giảng để dốc đổ gánh nặng của mình. Người ấy phải để linh tuôn chảy. Linh càng tuôn chảy, người rao giảng càng được nhẹ nhàng, và càng được nhẹ nhàng thì người ấy càng sung sướng. Khi linh chúng ta được tuôn đổ ra, chúng ta có lời Đức Chúa Trời. Nếu linh chúng ta không được tuôn đổ ra thì lời chúng ta không phải là lời Đức Chúa Trời; đó chỉ là bắt chước lời Ngài, chứ không phải là chính lời của Ngài. Mỗi khi lời Đức Chúa Trời đi qua chúng ta, chắc chắn linh sẽ kèm theo lời ấy.

Chúng ta cần phải chú ý đến sự tuôn đổ ra của linh. Chỉ người khờ dại mới chú tâm đến bông trái. Chỉ người khờ dại mới nhận lấy những lời khen tặng của người khác hay tán thưởng những lời [rao giảng] của chính mình. Những người khờ dại nghĩ rằng đụng chạm linh mình là điều không cần thiết. Một người phải ở trong tình trạng khờ dại, tối tăm và hoàn toàn đui mù mới tán thưởng và tự mãn về những lời [rao giảng] của chính mình. Một người như vậy quên mất sự kiện là nếu không có linh thì những lời giảng của mình đều hư không. Chúng ta phải lưu ý đến sự tuôn đổ ra của linh trong lời giảng của mình. Nếu chúng ta chú ý đến điều đó thì lời và linh sẽ kết hợp với nhau. Nếu chúng ta xao lãng điều đó thì lời và linh sẽ tách rời nhau. Một khi chúng ta không cảnh giác, lời và linh sẽ mất liên lạc với nhau. Về mặt tiêu cực, chúng ta phải xem chừng sự trật khớp gây ra bởi thiếu cảnh giác. Về mặt tích cực, chúng ta phải tin chắc rằng lời và linh kết hợp với nhau. Điều này chỉ có thể được thực hiện nhờ sự thương xót của Đức Chúa Trời. Mọi lời [rao giảng] đều phải được kèm theo sự tuôn đổ ra của linh. Hễ linh được tuôn đổ ra thì lời giảng sẽ đúng đắn và những người khác sẽ chạm đến một điều gì đó cao diệu. Một mặt, chúng ta phải cảnh giác, nhưng mặt khác, chúng ta phải ngưỡng trông Đức Chúa Trời để có được sự thương xót của Ngài. Tự mình, chúng ta không biết làm thế nào để chuyển hướng. Hễ chuyển hướng thì chúng ta sẽ lạc đường. Nhưng nếu Đức Chúa Trời tiếp tục thương xót chúng ta, chúng ta sẽ không mất liên lạc với linh khi lời giảng của mình chuyển hướng. Nếu một anh em hãnh diện về sự giảng dạy của chính mình, điều đó chỉ có thể mang một ý nghĩa: Người ấy chỉ là một thầy giảng, chứ không có chức vụ cung ứng lời. Khi trở về nhà người ấy có thể cảm thấy mình vĩ đại và cao cả, nhưng người ấy không có chức vụ cung ứng lời. Người khờ dại là người kiêu ngạo. Chúng ta phải ghi nhớ rằng chỉ sự thương xót của Đức Chúa Trời mới có thể giữ lời và linh [kết hợp] với nhau.

LINH ĐI THEO LỜI, VÀ LỜI ĐI THEO SỰ XỨC DẦU

Có hai cách rao giảng. Cách thứ nhất là đặt linh vào trong lời rồi đẩy lời ấy ra cùng với linh. Cách rao giảng thứ hai là giảng theo sự xức dầu. Linh hướng dẫn, và lời theo sau sự xức dầu. Khi linh và lời kết hiệp với nhau, thì có hai cách khác biệt để tuôn đổ chúng ra.

Trong khi chúng ta phát biểu, Đức Chúa Trời có thể muốn nói một điều gì đó. Ngài đặt điều ấy vào trong linh chúng ta. Khi truyền đạt lời ấy từ trong linh mình, chúng ta đồng thời cũng tuôn đổ ra linh của chính mình. Chúng ta đặt linh vào trong lời, từng câu một, rồi phát ra lời ấy. Đó là một cách. Theo cách ấy, chúng ta là những người đầy tớ. Là những người cung ứng lời, chúng ta vận dụng ý chí của mình để gói linh bên trong lời rồi truyền đạt và đẩy lời ấy ra. Khi lời được truyền đạt, linh được tuôn đổ ra cùng với lời ấy. Trong khi rao giảng bằng môi miệng, từ bên trong một người đẩy [lời ra] bằng sức lực của mình. Trong khi nói, người ấy đẩy lời ra cùng với linh mình, và linh đồng đi với lời. Trong khi lời được phát biểu, người ấy đặt linh mình vào trong lời và truyền chúng ra cùng với nhau. Khi lời ấy đến với con người, linh cũng đến với con người. Bởi sự thương xót của Đức Chúa Trời, loại rao giảng ấy có thể rất mạnh mẽ; linh cũng có thể rất mạnh mẽ. Trong khi miệng nói, lòng đẩy linh tiến tới. Đó là một cách rao giảng.

Một cách rao giảng khác là tìm kiếm quyền năng và sự xức dầu ngự trên chúng ta trong khi chúng ta rao giảng. Trước khi chúng ta nói, sự xức dầu đi trước chúng ta. Dưới sự ấp ủ và tác động của quyền năng ấy, chúng ta phát biểu theo sự xức dầu. Sự xức dầu tuôn đổ ra, và lời giảng của chúng ta cũng tuôn ra theo sự xức dầu. Điều này có nghĩa là chúng ta phải học tập đi theo sự xức dầu. Khi linh chúng ta cảm nhận một điều gì đó, chúng ta nên đi theo cảm nhận ấy cùng với lời. Khi cảm nhận điều gì, chúng ta cần phải thêm lời theo sau cảm nhận ấy. Loại rao giảng như vậy làm cho linh tuôn đổ ra một cách liên tục. Lợi điểm của loại rao giảng này là chúng ta không thể sai trật một cách dễ dàng. Sự xức dầu luôn luôn đi trước chúng ta, và lời luôn luôn theo sau. Khi chúng ta phát biểu dưới ảnh hưởng của quyền năng của sự xức dầu, lời đi theo sự xức dầu. Có thể loại rao giảng này ít ngoạn mục hơn, nhưng không dễ sai trật.

Hai cách rao giảng ấy thật khác biệt. Theo hai cách rao giảng ấy, cách thức mà người rao giảng nói với người nghe cũng khác nhau. Theo cách thứ nhất, người nói có thể để mắt mình đến người nghe và nhìn họ. Người ấy có thể xem xét diện mạo và tình trạng của họ trong khi đẩy lời mình ra cùng với linh. Theo cách thứ hai, người nói không thể nhìn vào người nghe. Người ấy cần phải hoàn toàn tập trung nơi linh mình, tức chính linh của người ấy. Người ấy cần phải nhận ra sự xức dầu đang tuôn chảy ở chỗ nào và chuyển lời mình đến chiều hướng ấy. Người ấy cần phải đứng ở cửa giống như người canh gác. Ngay khi sự xức dầu xuất hiện thì người ấy cần phải đi theo. Người ấy cần phải đi theo sự xức dầu và không được quan tâm đến sự biểu lộ, thái độ và phản ứng của những người khác. Người ấy cần phải đi theo sự xức dầu từng câu một ở dưới sự tác động của quyền năng của linh. Loại rao giảng này không chú ý đến người nghe. Ngay khi hướng sự chú ý sang người nghe thì người nói sẽ bị cản trở không theo được sự xức dầu.

Những người đang học tập rao giảng bởi linh phải học tập rao giảng theo hai cách ấy. Có lúc, khi Chúa muốn chúng ta rao giảng, trước hết bởi sự thương xót của Ngài, Ngài làm cho tâm trí chúng ta hoạt động để nói ra vài lời bên ngoài. Đồng thời, linh chúng ta bùng nổ qua những lời ấy; chúng ta đặt linh mình trong những lời ấy và tuôn ra những lời ấy trong một cơn bột phát hay bùng nổ. Những lúc khác, Chúa muốn chúng ta tập trung tất cả năng lực của mình để chờ đợi ở bên trong. Trọn bản thể của chúng ta, bao gồm những tư tưởng của chúng ta, cần phải được tập trung vào linh mình trong tình trạng chờ đợi. Khi Chúa ban cho chúng ta sự xức dầu, chúng ta được dẫn dắt tiến lên từng bước một. Sự xức dầu đi trước chúng ta, và bởi sự thương xót của Đức Chúa Trời, tâm trí chúng ta nảy sinh ra lời tương xứng với cảm nhận của sự xức dầu ở bên trong. Khi ấy chúng ta có thể truyền đạt lời đó. Sự xức dầu luôn luôn đi trước chúng ta, và những lời của chúng ta theo sau sự xức dầu từng câu một. Chúng ta hoàn toàn không quan tâm đến những người nghe mình. Mắt chúng ta không đặt vào bất cứ người nào. Tuy nhìn thấy những khuôn mặt, nhưng chúng ta không có cảm xúc đối với những khuôn mặt ấy. Tất cả những cảm xúc của chúng ta đều tập trung vào sự xức dầu. Tất cả những tư tưởng và sự chú ý của chúng ta đều tập trung vào sự xức dầu. Sự xức dầu hướng dẫn, và lời của chúng ta theo sau từng câu một. Sự tuôn đổ linh ra như vậy cũng đem con cái Đức Chúa Trời đến với Linh. Trong chức vụ của mình, những người cung ứng lời cần phải kinh nghiệm cả hai trường hợp; họ cần phải đem con cái Đức Chúa Trời đến với Linh qua cả hai cách ấy.

Một bài giảng cần phải được chia sẻ dưới sự dẫn dắt và hướng dẫn của sự xức dầu từ đầu chí cuối. Tuy nhiên, vào những giây phút quan trọng, người rao giảng phải đẩy linh mình ra mạnh hơn. Đó là loại chức vụ cung ứng lời tốt nhất. Rao giảng bởi sự xức dầu chiếm một phần lớn bài giảng. Người giảng nói theo sự xức dầu và chia sẻ sứ điệp của mình từng câu một. Người ấy không quan tâm đến phản ứng của người nghe, cũng không quan tâm đến người nào đang ngồi trước mặt mình; người ấy chỉ trung tín nói theo sự xức dầu. Khi tìm ra sự xức dầu ở đâu, người ấy tìm được một “khe hở” để qua đó có thể ép lời của mình ra từng câu một. Bên trong chính mình, người ấy biết rằng mình đang nói lời ra theo sự xức dầu. Trong khi truyền đạt lời mình như vậy, người ấy có thể muốn đem phước hạnh đến cho những người nghe mình; người ấy có thể muốn tuôn đổ ra ơn phước gây ra một tác động mạnh mẽ. Trong trường hợp ấy, có thể người ấy muốn thay đổi cách rao giảng và phát biểu sao cho tuôn đổ linh mình ra. Một mặt, người ấy cần quyền năng của sự xức dầu. Mặt khác, người ấy phải dầm thấm lời bằng chính linh rồi tuôn đổ linh mình ra theo cách ấy. Khi điều đó xảy ra, người ấy sẽ chứng kiến ân điển của Chúa. Người khác sẽ nhận được khải thị khi người ấy muốn họ nhận được khải thị. Không cần phải chờ đợi. Người khác sẽ sấp mặt xuống khi người ấy muốn họ sấp mặt xuống. Người khác sẽ nhìn thấy khi người ấy muốn họ nhìn thấy. Loại chức vụ cung ứng lời thấp kém nhất là loại chỉ giúp đỡ người khác hiểu biết. Loại chức vụ cao nhất là loại mở mắt người ta ra và làm cho họ sấp mặt xuống. Để người khác tiến từ chỗ chỉ hiểu biết bằng tâm trí đến chỗ mở mắt ra rồi sấp mặt mình xuống, người giảng phải bằng lòng trả một giá. Mọi sự tùy thuộc vào việc người ấy bằng lòng trả bao nhiêu. Nếu người ấy bằng lòng trả giá, người khác sẽ nhận được một điều gì đó. Khi có sự xức dầu của Linh cùng với sự đẩy chính linh người ấy ra, người khác sẽ nhìn thấy một điều gì đó qua sự rao giảng của người ấy, và họ sẽ sấp mặt mình xuống. Yếu tố trọng yếu là người giảng sẵn lòng trả giá nào. Đối với một người cung ứng lời, vấn đề cơ bản là vận dụng linh. Chúng ta phải hết sức chú ý vấn đề này. Người bề ngoài phải được phá vỡ vì linh chỉ có thể nhận biết chức năng của mình theo mức độ người bề ngoài bị phá vỡ. Thánh Linh liên tục lưu ý đến việc phá vỡ người bề ngoài trong công tác sửa trị của Ngài. Chúng ta phải để Thánh Linh hành động trên chúng ta. Nếu chúng ta không nổi loạn chống lại sự sửa trị của Thánh Linh và nếu chúng ta không tranh đấu chống lại sự sửa trị ấy theo ý chí riêng của mình, Linh sẽ bắt phục người bên ngoài của chúng ta, và người bề trong của chúng ta sẽ trở nên hữu dụng cho Ngài. Đó là lý do tại sao việc phá vỡ người bề ngoài rất trọng yếu.

TÂM TRÍ Ở DƯỚI SỰ KIỂM CHẾ CỦA LINH

Trong khi rao giảng, chúng ta cũng phải chú ý đến tâm trí của mình. Tâm trí quyết định nên nói lời nào trước lời nào sau. Trong khi phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời, tâm trí của chúng ta chiếm một vai trò rất quan trọng. Nếu khả năng trí tuệ của mình linh hoạt, chúng ta có thể đặt một lời ở phần đầu hay ở phần cuối bài giảng của mình, chỗ nào cũng thích hợp, và linh sẽ tuôn đổ ra khi chúng ta nói. Nhưng nếu tâm trí của chúng ta không mấy linh hoạt thì không điều gì có hiệu quả. Trong trường hợp đó, dầu lời đến với tâm trí chúng ta ở phần đầu hay phần cuối bài giảng, linh cũng không tuôn đổ ra trong sự rao giảng của mình. Mọi người cung ứng lời đều phải cẩn thận bảo vệ tâm trí mình để khỏi bị hư hại. Người ấy phải quí tâm trí của mình như một người chơi dương cầm quí đôi tay của mình. Một số người quá bất cẩn đối với tâm trí của mình; họ không bao giờ có thể trở nên những người cung ứng lời đúng đắn. Chúng ta phải để Chúa tự do hướng dẫn tâm trí của mình; chúng ta không thể để tâm trí mình đi lang thang cách phóng túng. Chúng ta không thể để tâm trí mình nghĩ ngợi về những điều không hợp lý, hư không và không quan trọng. Chúng ta phải bảo vệ tâm trí mình như một nghệ sĩ dương cầm bảo vệ đôi tay mình. Chúng ta không nên hướng tâm trí mình về những điều thấp kém và hèn hạ. Nếu Linh không thể sử dụng tâm trí chúng ta khi Ngài cần đến, thì chúng ta cản trở việc phục vụ với tư cách là người cung ứng lời.

Điều này không có nghĩa tâm trí là nguồn xuất phát sự rao giảng của chúng ta. Nếu một người cung ứng lời đặt nền tảng hoạt động của mình trên tâm trí, thì hoạt động ấy cần phải bị lên án và tiêu trừ triệt để. Nghĩ rằng nghiên cứu Kinh Thánh thấu đáo sẽ làm cho một người có đủ tư cách giảng dạy là một ý niệm tồi tệ. Bất cứ tư tưởng nào độc lập với linh cần phải được tiêu diệt. Bất cứ bài giảng nào nương dựa vào tâm trí như là nguồn xuất phát thì cần phải được hủy bỏ. Nhưng nói vậy không có nghĩa là chúng ta nên hủy bỏ chức năng của tâm trí. Mỗi sách trong Tân Ước đều được viết với lối diễn đạt ý tưởng thật phong phú. Các Thư-tín của Phao-lô, chẳng hạn như Thư của ông gửi cho người La Mã, đầy dẫy những tư tưởng. Tuy nhiên, những tư tưởng ấy thật cao diệu và đáng quí. Sách La Mã không phát xuất từ tâm trí, mà phát xuất từ linh. Nhưng những tư tưởng được hàm chứa trong sách ấy tuôn đổ ra cùng với linh. Nguồn phải là linh chứ không phải tâm trí. Chúng ta phải chuyên cần chăm sóc tâm trí mình để tâm trí ấy có thể sẵn sàng cho Đức Chúa Trời khi Ngài cần dùng.

Chúng ta không nên kết án tâm trí của mình một cách thiếu suy xét. Chúng ta cần phải kết án tâm trí với tư cách là nguồn. Rao giảng theo tâm trí của mình thì sai trật. Cách rao giảng đúng đắn là [rao giảng] bằng linh nhờ sự giúp đỡ của tâm trí; không ai có thể kết án điều ấy. Một bài giảng càng thuộc linh thì tư tưởng đằng sau bài giảng ấy càng phong phú. Tất cả những bài giảng thuộc linh đều đầy dẫy tư tưởng. Khi linh được tuôn đổ ra thì cần có những tư tưởng phong phú và thích hợp để hỗ trợ linh ấy. Chúng ta cần phải đặt những tư tưởng của mình vào vị trí thích hợp. Vào lúc rao giảng, tâm trí của chúng ta phải quyết định thứ tự và phương cách lời sẽ được diễn đạt. Nếu một lời đến với tâm trí mình trước, chúng ta cần phải nói lời ấy trước; nếu một lời đến với tâm trí mình sau, chúng ta cần phải nói lời ấy sau. Chúng ta cần phải phát biểu phù hợp với điều mà tâm trí mình hướng dẫn. Chúng ta phải nhận thức rằng linh không trực tiếp điều khiển sự rao giảng của mình. Lúc được điều khiển trực tiếp bởi linh có nghĩa là lúc chúng ta nói các thứ tiếng [lạ]. Trái lại, linh điều khiển sự rao giảng từ đằng sau những tư tưởng và sự hiểu biết của chúng ta. Đó là ý nghĩa của chức vụ cung ứng lời. Sự hiểu biết của chúng ta phải sẵn sàng để cho linh sử dụng. Nếu không sẵn sàng, linh chúng ta sẽ bị ngăn trở, và không có phương tiện để diễn đạt giữa linh và lời. Phương tiện thích hợp để diễn đạt giữa linh và lời là tâm trí. Đó là lý do tại sao chúng ta phải cẩn trọng bảo vệ tâm trí mình trước mặt Chúa. Hằng ngày, tâm trí phải được đổi mới. Chúng ta đừng để tâm trí mình thường xuyên ở trong tình trạng thấp kém. Tâm trí của một số người thường xuyên ở trong tình trạng thấp kém, và Linh không thể sử dụng tâm trí ấy. Chúng ta phải giữ gìn tâm trí của mình. Khi chạm đến chức vụ cung ứng lời, chúng ta mới chạm đến chiều sâu của ý nghĩa về sự dâng mình. Nhiều người không hiểu ý nghĩa của sự dâng mình. Sự dâng mình có nghĩa là trọn bản thể của chúng ta được chuẩn bị sẵn sàng cho Đức Chúa Trời. Để chuẩn bị mọi sự sẵn sàng cho Đức Chúa Trời, mọi phần của tâm trí chúng ta phải được chuẩn bị sẵn sàng cho Ngài. Mỗi ngày, chúng ta phải hết sức cẩn trọng trước mặt Chúa; mỗi ngày chúng ta phải bảo vệ tâm trí mình để nó không trở thành thấp kém. Nếu tâm trí luôn luôn ở trong tình trạng thấp kém, chúng ta sẽ không thể vực tâm trí mình lên khi cần đến. Mỗi ngày chúng ta phải huấn luyện tâm trí mình để sẵn sàng dùng cho Kinh Thánh. Đó là cách duy nhất để bảo đảm tâm trí chúng ta không cản trở linh. Đức Chúa Trời phải được tự do hướng dẫn tâm trí chúng ta. Bởi sự thương xót của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ hướng dẫn tâm trí chúng ta. Ngài sẽ để tâm trí chúng ta nhớ lại những gì mình cần phải phát biểu. Những điều nên được nói ra trước sẽ đến với tâm trí chúng ta trước, và những điều nên được nói ra sau sẽ đến với tâm trí chúng ta sau. Lời giảng của chúng ta sẽ được tâm trí mình điều khiển, và tâm trí chúng ta sẽ được linh mình điều khiển. Nếu linh chúng ta có thể hướng dẫn tâm trí chúng ta thì mọi sự đều sẽ đúng đắn. [Khi ấy] nói một lời trước hay sau đều đúng đắn cả. Nếu rao giảng thêm thì cũng đúng đắn, mà có rao giảng ít đi thì cũng vẫn đúng đắn. Nếu tâm trí đúng đắn và hoạt động [tốt], lời sẽ truyền ra trong bất cứ trường hợp nào.

ĐỈNH ĐIỂM CỦA LỜI VÀ ĐỈNH ĐIỂM CỦA LINH

Vào lúc rao giảng, chúng ta dễ dàng biết đỉnh điểm sự rao giảng của mình vì tâm trí dễ dàng nhận ra điều đó, nhưng biết đỉnh điểm của linh không phải là điều dễ dàng. Đỉnh điểm của linh là điều tâm trí chúng ta không biết được. Đó là lý do tại sao việc nhận ra đỉnh điểm của linh không phải là điều dễ dàng.

Khi chúng ta đứng trên bục và rao giảng, làm thế nào chúng ta biết Đức Chúa Trời muốn đi bao xa? Làm sao chúng ta biết Chúa muốn đạt tới độ cao bao nhiêu? Làm sao chúng ta biết điểm nào Chúa muốn tôn đại? Làm sao chúng ta biết khi nào Chúa muốn đưa sự phát ngôn của Ngài lên đến đỉnh cao? Trong khi rao giảng, người cung ứng lời phải chú ý đến sự khác biệt giữa đỉnh điểm của lời và đỉnh điểm của linh. Nếu tình trạng của mình đúng đắn thì chúng ta phải biết một cách rõ ràng lời đặc biệt Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mỗi khi chúng ta mở miệng ra rao giảng vì Chúa. Chúng ta cũng cần phải biết đỉnh cao sự rao giảng của mình. Điều đó có nghĩa là hầu hết những lời [phát biểu] đều bình thường, nhưng một số lời thì đặc biệt cao diệu; những lời ấy đụng đến đỉnh điểm trong sự rao giảng của chúng ta. Chúng ta cần phải biết đỉnh cao ấy nằm ở chỗ nào trong khi rao giảng. Trong khi rao giảng, chúng ta cần phải quan tâm đến đỉnh cao ấy. Mục đích sự rao giảng của chúng ta là đạt đến đỉnh điểm. Nhưng chúng ta cần phải nhận thức rằng đỉnh điểm trong linh có thể không trùng với đỉnh điểm của sự rao giảng. Đôi khi, đỉnh điểm trong linh trùng với đỉnh điểm của sự rao giảng, nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Tình trạng ấy làm cho vấn đề trở nên khá phức tạp. Đối với người cung ứng lời công việc sẽ dễ dàng nếu đỉnh điểm của lời luôn luôn trùng với đỉnh điểm trong linh. Khi chúng ta biết đỉnh cao của sự rao giảng phải là điều gì, chúng ta nhắm lời giảng của mình đến đỉnh cao ấy và từ từ vươn lên cho tới khi đạt đến đỉnh. Khi đỉnh cao của sự rao giảng giống như đỉnh cao trong linh, thì vấn đề rất đơn giản. Tất cả những gì chúng ta phải làm là nhắm lời giảng của mình đến đỉnh cao ấy. Linh chúng ta sẽ được tuôn đổ ra và sự xức dầu sẽ được tuôn đổ ra. Mức độ linh được tuôn đổ ra sẽ đầy quyền năng và mạnh mẽ như lời được truyền đạt. Chúng ta không phải đương đầu với nhiều khó khăn trong trường hợp [linh và lời] tuôn đổ ra như vậy. Nhưng đôi khi đỉnh điểm sự rao giảng của chúng ta không trùng với đỉnh điểm trong linh.

Khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một chức vụ cung ứng, thì đồng thời Ngài cũng ban lời cho chúng ta. Nhưng khi chúng ta dùng lời ấy phục vụ Hội thánh, điều lạ lùng và kỳ dị là mặc dầu có một cao điểm trong sự rao giảng của mình, nhưng linh lại không thích tuôn đổ ra vào lúc sự rao giảng lên cao điểm. Đỉnh điểm của sự rao giảng có thể đã có, nhưng đỉnh điểm trong linh thì chưa đạt tới. Đôi khi đỉnh điểm trong linh đã đạt tới, nhưng đỉnh điểm trong sự rao giảng thì chưa đến. Đành rằng linh phải được tuôn đổ ra. Nhưng linh được tuôn đổ ra với một tiêu điểm có khi giống và có khi khác với tiêu điểm của lời. Đôi khi, ngay lúc chúng ta chạm đến trọng tâm sự rao giảng của mình, linh được tuôn đổ ra một cách mạnh mẽ, đầy quyền năng và bùng nổ. Nhưng không phải lần nào cũng xảy ra như vậy. Thường thì trọng tâm và đỉnh điểm của sự rao giảng chưa tới; chỉ mới một vài lời đơn giản được nói ra, và có thể những lời ấy được nói ra một cách bình thường. Nhưng linh lại được tuôn đổ ra. Nói cách khác, linh được tuôn đổ ra trước khi chúng ta đạt tới đỉnh điểm của sự rao giảng.

Chúng ta phải nhận ra sự khác biệt giữa đỉnh cao của lời và đỉnh cao trong linh. Chúng ta phải học tập hướng dẫn lời giảng của mình bằng tâm trí để khi đạt đến đỉnh điểm thuộc linh, chúng ta có một vài lời có thể dùng làm đòn bẩy cho sự rao giảng của chức vụ cung ứng. Theo nguyên tắc, đỉnh điểm của chức vụ cung ứng cần phải là đỉnh điểm sự rao giảng của mình. Nhưng điều lạ lùng là khi lời đạt đến đỉnh cao mà không có linh, thì khó mà đẩy linh ra vào những lúc ấy. Đó có thể không phải là một việc tuyệt đối không thể xảy ra vì khi lời đạt đến đỉnh cao, linh sẽ chuyển động một chút, nhưng đôi khi chúng ta không thể đẩy linh ra một cách mạnh mẽ. Có lẽ một vài phút hay thậm chí mười đến hai mươi phút phải trôi qua sau khi cao điểm trong lời [đã đạt đến], tức là khi người cung ứng đã trở lại với cách diễn đạt bình thường, thì linh mới dấy lên và tuôn đổ ra một cách mạnh mẽ. Trong khi rao giảng, chúng ta cần phải chú ý đến hai điều này: cao điểm trong lời và cao điểm trong việc tuôn đổ linh ra. Hai điều này có thể đồng thời xảy ra, nhưng cũng có thể diễn ra vào những lúc khác nhau. Hai điều có thể diễn ra cùng một lúc, hay một điều có thể xảy ra trước rồi điều kia theo sau.

Chúng ta cần phải làm gì khi cao điểm của lời và cao điểm trong linh khác biệt? Một người cung ứng cần phải ghi nhớ rằng vào những lúc ấy, tâm trí có những bổn phận nhất định phải thi hành. Để thi hành chức vụ cung ứng lời, một người phải có một tâm trí uyển chuyển; tâm trí của người ấy không được trì độn. Trong khi người cung ứng lời phải giữ tâm trí mình tập trung vào lời, tâm trí người ấy cũng phải sẵn sàng cho Thánh Linh. Tâm trí phải uyển chuyển đến mức nó có thể xử lý bất cứ sự kiện bất ngờ nào. Người cung ứng lời đương đầu với những điều bất ngờ không phải là không thường xuyên. Vào giây phút cuối, Đức Chúa Trời có thể phán một điều gì đó khác hẳn; Ngài có thể muốn nói thêm một điều gì đó, và Thánh Linh có thể chuyển động theo một chiều hướng khác vào phút cuối. Nhưng giả sử tâm trí của người ấy cứng ngắt như một thanh sắt rèn cứ nhất định bám vào những gì mình sắp phát biểu. Khi linh cố nắm lấy lời, tâm trí có thể không mềm dẻo đủ. Nếu tâm trí quá cứng rắn và trì độn thì sự rao giảng sẽ bị hạn chế. Người ấy có thể đạt đến cao điểm trong sự rao giảng của mình, nhưng linh thì không đạt đến cao điểm. Kết quả là chức vụ cung ứng trở nên tầm thường và bất lực. Chỉ ra hiện tượng này không phải là điều dễ dàng. Có lẽ điểm này sẽ trở nên sáng tỏ đối với chúng ta trong tương lai. Tuy nhiên, chúng ta phải ghi nhớ rằng một mặt, tâm trí của người cung ứng lời phải chỉ được cống hiến cho lời, nhưng mặt khác, tâm trí phải luôn uyển chuyển và tinh nhanh trước mặt Chúa. Khi Thánh Linh chỉ về một hướng khác, tâm trí phải cùng chuyển hướng với Ngài. Nhờ đó, người ấy sẽ không hụt mất đỉnh điểm thuộc linh Đức Chúa Trời muốn đạt tới.

Khi chúng ta đứng lên rao giảng vì Chúa, tâm trí chúng ta phải mềm dẻo và mở ra cho Ngài. Chỉ khi ấy chúng ta mới biết Đức Chúa Trời đang cố gắng thực hiện những gì. Chúng ta phải chuẩn bị tâm trí để đương đầu với mọi hoàn cảnh bất ngờ. Trong khi rao giảng, chúng ta cần phải thử nghiệm Thánh Linh xem sự phát ngôn của mình có đúng hướng không. Chúng ta cần phải thử nghiệm linh của mình và cũng thử nghiệm Linh của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta nhận thấy rằng sau khi nói một vài lời mà có một lượng linh được tuôn đổ ra, thì chúng ta cần phải vận dụng tâm trí mình để làm cho linh tuôn đổ ra dễ dàng hơn. Chúng ta có thể nhận thấy rằng linh tuôn đổ ra dễ dàng hơn khi chúng ta phát biểu một câu nào đó. Chúng ta cần phải nói thêm theo chiều hướng ấy để tuôn đổ linh ra thêm. Trong khi rao giảng, tâm trí chúng ta cần phải nhạy bén để chạm đến cao điểm trong linh. Một khi tâm trí mình chạm đến cao điểm, chúng ta cần phải sẵn sàng nói một câu khác để tuôn đổ linh ra. Tiếp theo, chúng ta cần nói câu thứ ba và thứ tư, là những câu sẽ làm tuôn đổ linh ra nhiều hơn nữa. Nói cách khác, mỗi khi lời đạt đến điểm mà ở đó linh được tuôn đổ ra, thì tâm trí không nên chuyển sang một hướng khác, và đừng ngưng rao giảng. Tâm trí và lời phải chuyển động theo cùng một đường hướng. Một người càng rao giảng, sự xức dầu càng tuôn chảy, và linh càng được tuôn đổ ra. Lời càng lúc càng trở nên mạnh mẽ hơn cho đến khi lời đạt đến đỉnh điểm trong linh.

Đôi khi, đỉnh điểm trong linh trùng với đỉnh điểm trong lời. Nhưng đôi khi chúng không xảy ra cùng một lúc. Đôi khi đỉnh điểm thuộc linh đến trước khi lời đạt đến đỉnh điểm. Chúng ta hoàn toàn không thể làm gì về trường hợp này. Nhưng nếu đỉnh điểm của sự rao giảng đã đến mà đỉnh điểm của linh lại chưa, thì chúng ta phải xét xem cần phải làm gì để tuôn linh ra một cách mạnh mẽ. Chúng ta phải hết sức cẩn thận vào lúc ấy. Việc này giống như khi chúng ta tìm kiếm một cây kim bị mất, tìm dò mọi phía bằng một cục nam châm. Khi cục nam châm đến gần cây kim, cây kim sẽ bị hút vào. Một người rao giảng cần phải thử nghiệm bằng những lời của mình. Nếu linh không chuyển động khi người ấy nói cách này, thì người ấy phải đổi [cách diễn đạt]. Nếu linh vẫn ở trong tình trạng im lìm sau khi người ấy đã thử nói cách khác, người ấy lại phải thay đổi một lần nữa. Người ấy phải theo dõi xem khi nào linh bắt đầu chuyển động. Một người có kinh nghiệm sẽ nhận biết ngay khi linh chuyển động do lời mình nói. Vừa khi lời thích hợp được nói ra thì người ấy có một ấn tượng ở bên trong là mình đã nói điều đúng đắn. Đó có thể là một sự chuyển động rất tinh tế và nhạy bén, nhưng người ấy biết. Trong khi nói bằng tâm trí của mình, người ấy thử nghiệm xem Linh có vừa lòng với lời diễn đạt của mình hay không. Khi Linh chấp nhận sự phát biểu của người ấy, lúc đầu người ấy có thể cảm nhận rất mơ hồ. Nhưng khi người ấy [tiếp tục] theo đuổi hướng ấy, linh sẽ càng lúc càng được tuôn đổ ra. Vào thời điểm này, tâm trí của người ấy cần phải hướng dẫn lời của mình theo hướng ấy và làm cho sự rao giảng của người ấy mạnh mẽ. Người ấy không được xoay qua hướng khác. Người ấy cần phải chuyển sự rao giảng của mình theo hướng ấy. Lời càng tiếp tục [nói ra] theo hướng ấy, linh càng được tuôn đổ, và người ấy sẽ càng chạm được đỉnh điểm thuộc linh trong sự rao giảng của mình. Chúng ta phải học tập thử nghiệm Linh bằng lời. Chúng ta phải biết loại lời nào đem đến đỉnh điểm của Linh và loại lời nào cản trở. Chúng ta càng chạm đến đỉnh cao, linh sẽ càng tuôn đổ ra, và sẽ càng có thêm sự xức dầu. Lời chúng ta càng đụng vào điểm đúng đắn, chúng ta sẽ càng có thêm sự xức dầu, và lời chúng ta sẽ càng đưa mình đến đỉnh điểm, tức cao điểm thuộc linh. Khi cảm nhận được Linh và ơn phước của Chúa, chúng ta có thể tin chắc rằng mình đã chạm đến trọng tâm của sự rao giảng ấy; đó là đỉnh điểm thuộc linh trong sự rao giảng của chúng ta. Nếu linh mình mạnh mẽ, chúng ta có thể duy trì đỉnh điểm này trong một thời gian dài. Nếu linh mình không mấy mạnh mẽ, thì sau một lúc chúng ta sẽ phải chuyển hướng; nếu không thì đỉnh điểm sẽ tàn lụi. Thời gian [duy trì] đỉnh điểm tùy thuộc mức độ mạnh mẽ của linh chúng ta. Nếu linh mạnh mẽ thì đỉnh điểm có thể được duy trì lâu hơn. Nếu linh không mạnh mẽ thì tình trạng ở đỉnh điểm sẽ mau chóng qua đi. Chúng ta không thể nỗ lực duy trì đỉnh điểm. Điều này hoàn toàn là vấn đề thuộc về linh. Khi linh không còn nữa và chỉ còn lại lời thì người rao giảng cần phải ngưng nói về điểm đó.

Do đó, tâm trí chúng ta phải tập trung và uyển chuyển trước mặt Chúa. Tâm trí phải hoàn toàn tập trung, và cũng phải hoàn toàn uyển chuyển. Tâm trí phải tập trung đến mức nó không ý thức về bất cứ điều gì khác. Nhưng đồng thời, tâm trí phải rất mềm mại để có thể điều chỉnh theo bất cứ sự kiện bất ngờ nào. Chúng ta cần phải cảnh giác để tránh tình trạng tâm trí trở nên quá cứng nhắc đến nỗi không chạm được lời hiện tại của Chúa và đỉnh điểm của Ngài. Tâm trí chúng ta phải được vận dụng để theo kịp lời Đức Chúa Trời và sự chuyển động của Linh. Nếu làm như vậy thì lời chúng ta sẽ theo kịp đỉnh điểm của linh khi chúng ta thi hành chức vụ cung ứng lời.

MỘT TRÍ NHỚ HOÀN HẢO

Khi rao giảng với tư cách là một người cung ứng lời, chúng ta phải vận dụng tâm trí mình. Theo thói thường, chúng ta nói ra điều gì đến với tâm trí mình; điều gì chúng ta nghĩ đến thì chúng ta nói ra. Tâm trí chúng ta điều khiển lời nói của mình. Nhưng tâm trí chúng ta phải có “chất liệu” nào đó; nó không được đầy dẫy những tư tưởng hư không và vô mục đích. Nền tảng tư tưởng của chúng ta là trí nhớ của mình. “Tư liệu” chúng ta dùng để diễn đạt chính xác lời rao giảng của mình phát xuất từ bất cứ những gì chúng ta đã học được trước kia, bất cứ những gì chiếm hữu tâm trí chúng ta, bất cứ những gì chúng ta đã kinh nghiệm và nhìn thấy trong quá khứ, và bất cứ công tác phá vỡ nào chúng ta đã kinh nghiệm được. Những “tư liệu” ấy được thu thập từ Chúa. Công tác Chúa đã thực hiện và công tác phá vỡ Ngài đã hoàn thành trở nên những vật liệu xây dựng. Chúng ta dành trọn cuộc đời mình tích lũy kinh nghiệm, sự sửa trị, những sự dạy dỗ và sự hiểu biết Kinh Thánh. Các điều đó trở nên những gì được ký thác tích lũy bên trong chúng ta. Khi chúng ta đứng lên nói vì Chúa, Linh của Đức Chúa Trời sẽ hướng dẫn tâm trí chúng ta tìm tòi trong trí nhớ để sử dụng tất cả những điều mình đã có được. Nói cách khác, Thánh Linh hướng dẫn tâm trí chúng ta, trong khi tâm trí hướng dẫn sự rao giảng. Tâm trí cung cấp tư liệu cho sự rao giảng, và tư liệu ấy đến từ ký ức. Nếu không có kinh nghiệm, chúng ta không có gì trong ký ức của mình; chúng ta không thể nhớ lại điều mình chưa từng có. Chúng ta chỉ có thể nhớ lại những gì mình đã có được. Một điều nào đó chúng ta nhớ đến có thể cấp cho tâm trí lời thích hợp để hỗ trợ cho sự rao giảng của mình. Đằng sau sự rao giảng phải có một tâm trí tốt và những tư tưởng lành mạnh, là những điều phát xuất từ trí nhớ của một người. Đó không phải là những tư tưởng tùy hứng hay tưởng tượng; những tư tưởng ấy có được nhờ các kinh nghiệm trước kia của một người.

Sự rao giảng dựa vào tâm trí, tâm trí dựa vào trí nhớ, và trí nhớ dựa vào kinh nghiệm. Khi đứng lên rao giảng, chúng ta chỉ có thể rút ra từ nguồn tư liệu mà chúng ta đã thu thập trong suốt cuộc đời mình. Những kinh nghiệm chúng ta thu thập trong suốt cuộc đời mình giống như hàng hóa trong nhà kho. Chúa đã đưa chúng ta qua nhiều kinh nghiệm; chúng ta đã học được nhiều bài học và nhìn thấy nhiều lẽ thật. Tất cả những điều ấy đều được lưu trữ trong nhà kho kinh nghiệm của chúng ta. Khi chúng ta mở miệng mình ra nói, lời nói của chúng ta được xây dựng trên kinh nghiệm của mình. Nhưng làm thế nào sự rao giảng của chúng ta được xây dựng trên kinh nghiệm của mình? Sự rao giảng của chúng ta chỉ liên quan đến tâm trí của mình. Có thể chúng ta muốn nói một điều gì đó, và trong khi chúng ta cân nhắc nên nói những gì, tâm trí chúng ta sẽ đến với nhà kho ký ức của mình. Nhà kho chứa kinh nghiệm đời mình chỉ có thể được tâm trí của chúng ta đi vào và lấy ra. Trí nhớ giống như người quản lý nhà kho. Chỉ trí nhớ mới có thể lấy lại những gì chúng ta đã biết và kinh nghiệm. Sau đó, tâm trí sắp xếp những tư liệu ấy và truyền đạt chúng qua sự phát ngôn của chúng ta. Tại đây, chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của trí nhớ. Chúng ta phải đặt người sắp xếp [tức tâm trí] và các tư liệu chung với nhau. Mọi chức vụ cung ứng lời đều bắt đầu từ Thánh Linh. Nhưng khi Thánh Linh phán, Ngài phán qua tâm trí chúng ta. Khi Linh muốn phán một điều gì đó, trước hết Ngài xét xem tâm trí của chúng ta có thể [đủ sức] để Ngài phán những gì. Bất cứ điều gì Linh muốn bày tỏ, thì tâm trí phải nảy ra lời. Nếu Linh muốn bày tỏ một điều gì trước thì tâm trí phải nhớ lại điều ấy trước. Thưa anh em, càng lúc chúng ta càng nhận thức rằng tâm trí chúng ta không thích ứng đủ để Ngài sử dụng. Chúng ta không thể nhớ lại điều Linh muốn bày tỏ, mà lại nghĩ đến điều Linh không muốn bày tỏ. Đó là một bằng chứng cho thấy tâm trí chúng ta không thích ứng đủ để Ngài sử dụng. Một người cung ứng lời chỉ cần một lần rao giảng cho Ngài, thì lập tức người ấy sẽ được hạ xuống. Người ấy sẽ nhận thức mình không thể tự làm được gì cả. Người ấy không thể nhớ lại điều Linh muốn, mà có thể nhớ lại điều Linh không muốn. Tâm trí của người ấy giống như một cái bánh đà bị trật khớp với cái bánh xe khác. Vào những ngày nào đó, người ấy cảm thấy thật tốt đẹp. Bất cứ điều gì Chúa muốn bày tỏ đều tự phát truyền qua miệng người ấy; người ấy có lời thích hợp để chuyển đạt điều Chúa phán. Vào những lúc đó, tâm trí người ấy giống như một cái bánh đà hoàn toàn ăn khớp. Khi Linh chuyển động, tâm trí người ấy thích ứng với sự chuyển động và [hoạt động] theo Linh. Nhưng không phải lúc nào cũng diễn ra như vậy. Tâm trí thường không hoạt động tốt đẹp đến mức ấy. Linh có thể muốn bày tỏ một điều gì đó, nhưng tâm trí quá trì độn nên không nghĩ ra được những lời thích hợp.

Chúng ta phải nhận thức rằng Thánh Linh điều khiển tâm trí chúng ta, trong khi tâm trí chúng ta điều khiển lời nói của mình. Nếu Thánh Linh không thể điều khiển tâm trí chúng ta thì tâm trí không thể điều khiển lời nói. Khi tâm trí chúng ta điều khiển lời nói, nó cũng cần trí nhớ giúp đỡ. Tâm trí không tự nảy ra lời nói, mà chỉ có thể nhớ lại. Những lời ấy không phải là tưởng tượng hay mơ hồ, mà đã được lưu trữ trong nhà kho. Trước hết, chúng ta phải có một câu Kinh Thánh trong nhà kho của mình. Chúa hẳn đã xử lý chúng ta theo một cách nào đó rồi. Khi nhu cầu dấy lên, Chúa sẽ khiến chúng ta nhớ lại điều ấy. Vì vậy, trong khi rao giảng, chúng ta phải vận dụng trí nhớ của mình. Thánh Linh hướng dẫn tâm trí, và tâm trí tìm kiếm qua mọi kinh nghiệm của chúng ta trong trí nhớ của mình rồi truyền đạt những kinh nghiệm ấy ra thành lời. Sự rao giảng ấy trở nên một chức vụ cung ứng lời tốt đẹp. Một trí nhớ lành mạnh rất hữu dụng. Nó đến thật đúng lúc và cung cấp cho một người bất cứ điều gì người ấy cần. Trong chức vụ cung ứng lời, Thánh Linh sử dụng tâm trí của con người để gợi lại những gì người ấy đã học được. Về phần chúng ta thì không cần đến một nỗ lực nào cả, Thánh Linh có thể nhắc lại một điều gì đó chúng ta đã học được hay nhìn thấy rồi đặt điều ấy trong tâm trí chúng ta. Tâm trí chúng ta nhìn thấy điều ấy một lần nữa và nói ra điều ấy. Nhiều điều được giữ lại dưới hình thức chỉ là một vài từ ngữ. Nếu tâm trí chưa được sửa trị, nó không thể nhớ lại những lời ấy, và linh bị cản trở không tuôn đổ ra được. Hễ một phần trong bản thể chúng ta trục trặc thì linh không thể tuôn đổ ra. Chúng ta vẫn có thể rao giảng, nhưng linh thì không tuôn đổ ra. Sự tuôn đổ ra của Linh cần đến sự phối hợp của một tâm trí và một trí nhớ thi hành chức năng cách trọn vẹn. Hễ có một điều gì đó sai trật với tâm trí hay trí nhớ của mình thì chúng ta không thể thi hành chức năng một cách đúng đắn. Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng.

Giả sử, chúng ta biết Chúa muốn mình nói gì. Điều đó có thể khá dài nên không thể được bày tỏ trong một chữ. Có lẽ phải cần đến bảy tám chữ. Chúa muốn chúng ta nói những lời ấy, nhưng chúng ta sợ mình sẽ quên. Vì vậy, chúng ta hết sức cố gắng ghi nhớ những lời ấy. Khi đến buổi nhóm, tâm trí chúng ta hướng về bảy tám lời ấy. Chúng ta tự nhủ rằng mình phải ghi nhớ những lời ấy. Lòng chúng ta đặt nơi những lời ấy, nhưng chúng ta thường khám phá ra rằng trí nhớ không phục vụ mình vào hôm ấy. Linh chúng ta không tuôn đổ ra. Chỉ giữ được lời trong tâm trí cũng vô ích; một lời như vậy không có quyền năng. Khi lời ấy được truyền đạt, linh không chuyển động. Đối với một người cung ứng lời, việc trí nhớ thi hành chức năng phải là một điều gì đó rất tự phát. Nếu chúng ta cố gắng tập trung trí nhớ cách không tự nhiên, trí nhớ sẽ xoay sang hướng khác khi Linh cần đến nó.

Một người cung ứng lời không những cần một tâm trí hoàn hảo mà cũng cần một trí nhớ tuyệt hảo. Trí nhớ giống như dây điện; hễ một đầu bị đứt thì điện bị ngắt. Khi một bộ phận nào đó trong trí nhớ của chúng ta bị tắc nghẽn, Linh của Chúa không tuôn đổ ra được. Hễ trí nhớ của mình bị cắt đứt khỏi nguồn một chút thì chúng ta không còn gì nữa. Nếu cố gắng biến trí nhớ hay tâm trí mình thành nguồn thì chúng ta không còn gì nữa. Khi Thánh Linh là nguồn, tâm trí và trí nhớ của chúng ta có thể trở nên rất hữu dụng. Ấy là khi Thánh Linh chiếu sáng từ bên trong, chúng ta mới nhận thức được tâm trí của mình khiếm khuyết biết bao. Khi thiếu ánh sáng trong linh mình, chúng ta rất hãnh diện về tâm trí, trí nhớ và khẩu tài của mình. Dường như những quan năng ấy hoạt động rất tốt. Nhưng khi được Thánh Linh soi sáng, chúng ta nhận thức được sự vô dụng của tâm trí, trí nhớ và khẩu tài của mình. Đó là lý do tại sao chúng ta phải cầu nguyện; chúng ta phải cầu nguyện để trí nhớ của mình trở nên trí nhớ của Thánh Linh và để Linh của Đức Chúa Trời có thể sử dụng tâm trí ấy khi Ngài cần đến. Khi rao giảng, chúng ta có thể hay không thể nhớ lại những lời trọng yếu nào đó. Sự khác biệt ở đây rất lớn. Nếu chúng ta nhớ lại những lời ấy, lời diễn đạt sẽ được truyền ra, và linh sẽ được tuôn đổ ra. Nhưng nếu không thể nhớ lại những lời ấy, chúng ta sẽ cảm thấy một gánh nặng như cái cối xay ở trên lưng chúng ta. Gánh nặng ấy sẽ đè nặng trên chúng ta, và cả lời lẫn linh đều sẽ bị tắc nghẽn.

Chúng ta phải hoàn toàn tập trung để chuẩn bị chính mình sẵn sàng cho Linh. Chúng ta phải tập trung tất cả những gì mình đã kinh nghiệm trong cuộc đời, mọi sự sửa trị mình đã học được, mọi điều chúng ta đã đọc và nghe, mọi khải thị mình đã nhìn thấy trong đời sống, và mọi sự dạy dỗ mình đã học được từ ánh sáng. Chúng ta phải đặt tất cả những điều ấy trước mặt Linh và khiến chúng trở nên sẵn sàng cho Ngài. Những điều ấy phải được tập trung lại với nhau và đồng thời được chuẩn bị sẵn sàng. Chúng ta vốn giống như một ngôi nhà với tất cả các cửa sổ mở toang để cho tiếng động và màu sắc ở bên ngoài tràn vào gây phân tâm. Bây giờ, các cửa sổ ấy cần phải được đóng lại, không để ảnh hưởng ở bên ngoài vào. Tất cả những điều chúng ta đã thâu thập được trong suốt đời mình cần phải để dành cho Linh sử dụng. Mỗi khi chức vụ cung ứng lời được truyền đạt một cách mạnh mẽ, Thánh Linh lấy mọi sự trong cuộc đời của chúng ta và sử dụng những điều đó trong vòng năm hay mười phút. Chức vụ cung ứng lời liên quan đến một giá phải trả. Mỗi sự tuôn đổ linh ra đều liên quan đến một giá phải trả. Người bề ngoài phải được cản lại; tất cả các cửa sổ hướng ra bên ngoài đều phải đóng lại. Chúng ta phải tập trung toàn bộ trí nhớ của mình; trọn bản thể của chúng ta phải ở dưới sự giám sát khắt khe. Vào thời điểm quyết định, chúng ta phải chuẩn bị mọi sự sẵn sàng cho Thánh Linh. Khi đạt đến được tình trạng đó, chúng ta sẽ có một chức vụ cung ứng lời đầy quyền năng. Không thể có bất cứ sự rối loạn, sao lãng hay bất cẩn nào. Chúng ta phải duy trì trí nhớ của mình trong tình trạng tốt nhất; trí nhớ của chúng ta phải hoàn toàn cảnh giác mỗi khi rao giảng. Chúng ta phải tập trung mọi sự lại theo cách mà trước kia chưa từng được thực hiện trong suốt cuộc đời của mình. Chúng ta cần phải thâu thập tất cả những điều trong cuộc sống của mình và cùng một lúc làm cho chúng trở nên sẵn sàng cho Thánh Linh. Đó là nhiệm vụ của trí nhớ trong chức vụ cung ứng lời.

Để trí nhớ có đủ tư liệu, chúng ta phải học tập nhiều bài học trước mặt Chúa và kinh nghiệm nhiều điều. Chức vụ cung ứng lời dựa vào sự sửa trị của Thánh Linh. Không có sự sửa trị của Thánh Linh, chúng ta không có nguồn cung ứng, và không có gì để nói cả. Chúng ta nhận được nguồn cung ứng qua sự sửa trị của Thánh Linh. Trong khi chúng ta dần dần và liên tục gia tăng sự ký thác của mình, thì có chỗ trong kho ký ức của chúng ta để chứa “hàng tồn kho”. Nhưng nếu chỉ nhận được một ít sự sửa trị của Thánh Linh, chúng ta sẽ rút ra được ít bài học. Sẽ có ít chỗ trong ký ức chúng ta để quản lý hàng tồn kho của mình, và chúng ta sẽ không có gì trong [kho ký ức] để Linh rút ra. Vì vậy, sự phong phú của chức vụ cung ứng lời tùy thuộc vào sự dồi dào của sự sửa trị mà người cung ứng nhận được. Người cung ứng càng học tập những bài học của mình và nhận được sự sửa trị, trí nhớ của người ấy càng sở hữu thêm chỗ để quản lý hàng hóa, và tâm trí của người ấy càng có nhiều tư liệu để từ đó sinh ra lời. Trong việc phục vụ với tư cách là người cung ứng lời, chúng ta phải có chất liệu cho lời nói của mình; chúng ta không thể nói ra những lời hư không, và phải có đủ trí nhớ để áp dụng mọi sự mình đã học được trong cuộc đời vào sự rao giảng của mình. Nếu Linh của Đức Chúa Trời hướng dẫn sự rao giảng của chúng ta, mọi sự chúng ta học được trong cuộc đời mình sẽ được dùng đến.

CẢM XÚC TƯƠNG HỢP VỚI LỜI

Một người cung ứng cũng phải vận dụng cảm xúc của mình. Chúng ta phải nhận thức rằng linh được tuôn đổ ra từ chúng ta chỉ khi nào cảm xúc của chúng ta tương hợp với lời mình nói. Nếu chúng ta có chút dè dặt nào trong cảm xúc đối với lời mình đã nhận được từ linh, lời sẽ không truyền ra, và linh sẽ không được tuôn đổ ra. Chúng ta thường dè dặt trong những cảm xúc của mình. Dè dặt có nghĩa là gì? Có thể chúng ta cảm thấy xấu hổ về một điều gì đó, hay e ngại sự chỉ trích, cách đối xử lạnh lùng hay sự chống đối của người khác. Chúng ta có thể coi nhẹ những lời mình có hay giữ lại những cảm xúc mà mình cần phải có liên quan đến lời ấy. Chúng ta giữ lại một điều gì đó và không dám kết hợp cảm xúc với lời của mình. Khi phát biểu, chúng ta phải hoàn toàn buông ra những cảm xúc của mình. Nếu không buông ra thì chúng ta sẽ dè dặt, và hễ chúng ta dè dặt thì lời không bao giờ được truyền ra. Dù chúng ta có gắng sức đến đâu đi nữa, linh sẽ không bao giờ được tuôn đổ ra. Nếu lời cần đến nước mắt, chúng ta phải đổ nước mắt. Lời thường cần đến nước mắt, nhưng người nói lời ấy lại không đổ nước mắt. Nếu tình trạng ấy xảy ra, thì cảm xúc và lời sẽ không tương hợp.

Cái vỏ bên ngoài của con người rất cứng. Hễ một người không buông ra những cảm xúc của mình thì linh của người ấy không được tuôn đổ ra. Dấu hiệu nổi bật nhất về sự đổ ra của Thánh Linh là sự buông ra những cảm xúc của chúng ta. Có hai cách để buông ra những cảm xúc. Cách thứ nhất là qua sự đổ ra [của Thánh Linh]. Cách thứ hai là qua sự phá vỡ. Sự tuôn đổ xuất phát từ sự đổ ra [của Thánh Linh] là một sự tuôn đổ ở bên ngoài. Chính chúng ta vẫn phải học tập buông ra rồi linh mới có thể được tuôn đổ ra. Sự phá vỡ và sửa trị làm cho một người có thể buông ra, ngay cả khi người ấy không kinh nghiệm sự đổ ra [của Thánh Linh]. Một thanh niên chưa từng nhận được một khải thị sâu xa nào cần sự đổ ra [của Thánh Linh]; sự đổ ra [của Thánh Linh] ấy sẽ làm cho người ấy được cởi mở. Nhưng người ấy không nên tin cậy vào loại tuôn đổ ra qua sự đổ ra [của Thánh Linh]. Người ấy cần phải chấp nhận mọi loại sửa trị hằng ngày, cho đến khi cái vỏ bên ngoài của người ấy được phá vỡ. Sự phá vỡ ấy thật quí báu. Một người cần phải được tuôn đổ ra không phải chỉ khi người ấy có sự đổ ra của Linh; cảm xúc của người ấy cần phải được phá vỡ ngay cả khi người ấy không kinh nghiệm được sự đổ ra nào [của Thánh Linh]. Nói cách khác, nếu sự sửa trị của Linh Chúa nghiêm khắc đúng mức và nếu cái vỏ của cảm xúc được phá vỡ, thì chúng ta sẽ có bất kỳ loại cảm xúc nào mà lời đòi hỏi nơi chúng ta. Chúng ta phải làm cho lời và cảm xúc của mình tương hợp với nhau. Nếu lời chúng ta được truyền đạt mà không có cảm xúc, rất có thể linh sẽ không tuôn chảy ra. Đôi khi, lời Đức Chúa Trời đòi hỏi nước mắt, nhưng chúng ta không thể khóc, hay lời Ngài đòi hỏi phải lớn tiếng, nhưng chúng ta không thể nói lớn tiếng. Đó là vì bản ngã tạo ra một chướng ngại vật căn bản ngăn trở lời tuôn đổ ra. Cảm xúc chúng ta bị ảnh hưởng bởi những người chung quanh mình, và cảm xúc của chúng ta không thể tương hợp với lời của mình.

Đôi khi, để tuôn đổ linh một cách mạnh mẽ, một người phải kêu la và khóc. Chúa Giê-su đã có lần kêu to lên. Giăng 7:37 chép: “Ngày chót, là ngày trọng thể trong kỳ lễ, Giê-su đứng lên kêu [to] rằng...”. Vào ngày lễ Ngũ tuần, Công vụ 2:14 chép: “Phi-e-rơ đứng cùng mười một sứ đồ, cất lớn tiếng và nói với họ”. Khi áp lực của Linh đè nặng trên một người và cảm xúc bị dồn nén, người ấy buộc phải nói lớn tiếng. Cảm xúc bên ngoài và cảm xúc bên trong của người ấy trở nên như nhau. Khi Phi-e-rơ và Giăng được ra khỏi tù, các anh em họp với nhau và cất tiếng lên cùng Đức Chúa Trời (4:23-24). Họ đã chịu những sự bắt bớ tàn khốc. Một mặt họ cầu xin Chúa đoái đến và ban cho họ sự dạn dĩ để rao giảng lời Ngài; mặt khác, họ cầu xin Chúa giơ tay Ngài ra để chữa lành hầu dấu kỳ phép lạ xảy ra nhờ danh Ngài. Phao-lô cũng vậy. Khi nhìn thấy người liệt chân tại Lít-trơ, ông nói lớn tiếng rằng: “Hãy đứng thẳng chân lên” (14:10). Điều này cho chúng ta thấy rằng khi chức vụ cung ứng lời được truyền ra, lời phải được cảm xúc tương ứng kèm theo.

Ngày nay, nếu chúng ta không buông ra và nếu vẫn dè dặt trong cảm xúc của mình, thì chúng ta sẽ nhận thấy linh mình cũng dè dặt. Linh sẽ không được tuôn đổ ra. Trong trường hợp của Chúa Giê-su, trong lời cầu nguyện của Hội thánh đầu tiên, và trong trường hợp của Phi-e-rơ và Phao-lô, những cảm xúc mạnh mẽ được tuôn đổ ra. Họ đều nói lớn tiếng. Khi linh chúng ta được tuôn đổ ra, nó phải được những cảm xúc mạnh mẽ kèm theo. Chúng tôi không khuyến khích rao giảng bằng cách gào thét. Chúng tôi nói rằng khi linh mạnh mẽ, tiếng nói có thể to lên. Nếu linh không mạnh mẽ thì tiếng nói không bao giờ to được. Nếu chúng ta không có cảm xúc ở bên trong thì cho dầu tiếng nói của mình có vang dội khắp căn phòng thì cũng vô ích. Có một số người khi họ hát càng lớn thì họ càng có ít linh. Đối với việc rao giảng cũng vậy. Sự ồn ào giả tạo sẽ không đem lại hiệu quả. Sự giả tạo là vô dụng trong chức vụ cung ứng lời. Thực tại ở bên trong phải được truyền ra. Chúng ta đừng bao giờ cố gắng bắt chước linh một cách bề ngoài. Khi lời chúng ta được truyền đạt, những cảm xúc của chúng ta cũng phải được truyền ra. Đó là lý do tại sao chúng ta phải được phá vỡ. Nếu cái vỏ bên ngoài của chúng ta được phá vỡ, chúng ta có thể kêu lớn tiếng, [bày tỏ] sự vui mừng, hay đau buồn lúc nào mình muốn. Chúng ta không phải biểu diễn những cảm xúc ấy; chúng tuôn đổ ra từ bên trong.

Nếu Chúa không thể vượt qua được cảm xúc của chúng ta, Ngài sẽ không thể vượt qua được cảm xúc của người khác. Người khác lạnh lùng, khô khan và mâu thuẫn. Khi rao giảng, chúng ta phải vượt qua được những cảm xúc của họ. Nếu Chúa không thể vượt qua được cảm xúc của chúng ta, chúng ta không thể mong đợi Ngài vượt qua được cảm xúc của người khác. Nếu Chúa không thể làm cho chúng ta khóc, Ngài không thể làm cho người khác khóc. Nếu áp lực không thể tạo ra nước mắt trong chúng ta, chúng ta không thể mong đợi áp lực tạo ra được nước mắt trong người khác. Chúng ta là rào chắn đầu tiên mà lời Chúa phải đắc thắng. Trong khi rao giảng, chúng ta thường cảm thấy cảm xúc của mình không sẵn sàng cho chúng ta [sử dụng]. Giá cao nhất phải trả trong chức vụ cung ứng lời là giá về sự phá vỡ của chúng ta. Chúa phải đập vỡ chúng ta thành từng mảnh rồi Ngài mới có thể có một con đường qua chúng ta. Lời Đức Chúa Trời phải chạm đến chúng ta một cách mạnh mẽ rồi phản ứng của chúng ta mới có thể là phản ứng của Đức Chúa Trời. Nếu một Giê-rê-mi khóc lóc không thể làm cho những người Do-thái khóc, thì một tiên tri không khóc lóc chắc chắn sẽ không thể làm cho cả quốc gia Y-sơ-ra-ên khóc. Nếu một tiên tri khóc lóc không thể tạo ra một dân tộc khóc lóc, thì một tiên tri không khóc lóc chắc chắn sẽ không tạo ra một dân tộc khóc lóc. Muốn dân của Đức Chúa Trời khóc thì vị tiên tri phải khóc trước. Đức Chúa Trời đặc biệt hài lòng với các anh em buông ra những cảm xúc của mình khi họ đứng lên rao giảng. Khi một người cung ứng lời đứng trên bục giảng, người ấy phải học tập làm cho những cảm xúc của mình tương hợp với lời.

LỜI PHẢI ĐƠN GIẢN VÀ CAO SÂU

Tất cả những người cung ứng lời Đức Chúa Trời cần phải học từ Kinh Thánh về đặc tính của lời Đức Chúa Trời. Một khi học được điều này thì họ sẽ nhận biết trong những hoàn cảnh nào Đức Chúa Trời sẽ sử dụng mình. Nói cách đơn giản thì lời Đức Chúa Trời có hai đặc tính. Thứ nhất, lời thật đơn giản; thứ hai, lời thật cao sâu. Lời Đức Chúa Trời thật đơn giản. Thậm chí một người mù cũng không bị lạc đường và một người què cũng không bị làm cho trật khớp bởi lời Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời rất rõ ràng và đơn giản. Các ẩn dụ trong Lời không phải là những mẩu chuyện bí ẩn. Nếu lời Đức Chúa Trời là một điều gì bí ẩn, thì có nghĩa là lời Đức Chúa Trời không được viết ra để con người hiểu. Lời Đức Chúa Trời không phải là một điều bí ẩn, mà thật rõ ràng và đơn giản. Vì vậy, mọi người cung ứng lời Đức Chúa Trời đều phải tập phát biểu một cách dễ hiểu. Chúng ta phải có thói quen phát biểu một cách dễ hiểu và đơn giản; chúng ta không nên dài dòng. Chúng ta cần phải quan tâm giúp những người khác hiểu lời của mình. Nếu người khác không hiểu lời chúng ta nói, chúng ta phải thay đổi cách [diễn đạt]. Chúng ta cần phải luôn luôn ghi nhớ rằng lời Đức Chúa Trời được ban cho để người ta hiểu chứ không phải để hiểu lầm. Ma-thi-ơ chương 13 là một trường hợp ngoại lệ vì người Do-thái khước từ Chúa. Vì vậy, lời Đức Chúa Trời được giấu không cho họ thấy.

Một người cung ứng lời phải được huấn luyện về khả năng rao giảng. Hôm nay, chúng ta có thể hiểu một điều gì đó, và có thể chỉ cần năm phút để hiểu rõ vấn đề ấy. Nhưng có thể chúng ta phải dành năm tiếng đồng hồ suy gẫm về điều đó. Khi trình bày điều đó, chúng ta nên hỏi một anh em xem anh có hiểu những gì mình vừa nói hay không. Nếu người ấy không hiểu thì chúng ta phải thay đổi cách [diễn đạt]. Chúng ta cần phát biểu sao cho người khác hiểu được ngay lập tức. Chúng ta đừng bao giờ giảng trong nửa tiếng đồng hồ rồi mới khám phá ra rằng chỉ những gì chúng ta nói trong năm phút là hiểu được. Thay vào đó, chúng ta cần phải phát biểu trong năm phút và phải biết chắc rằng những người khác hiểu được điều chúng ta nói trong năm phút ấy. Thà nói ít còn hơn là phí thời gian hai mươi lăm phút. Chúng ta phải tập nói một cách dễ hiểu. Chúng ta cần phải phát triển thói quen nói rõ ràng và đừng để bị cám dỗ nói dài dòng. Chúng ta nên luôn luôn dùng những từ ngữ đơn giản và luôn luôn xem xét cách nào làm cho sự rao giảng của mình có thể hiểu được. Chúng ta phải cầu xin Chúa ban cho những lời dễ hiểu để có thể bày tỏ. Chúng ta có thể bày tỏ những tư tưởng của mình qua một ẩn dụ, nhưng vẫn phải làm cho lời lẽ của chúng ta được rõ ràng. Đó chính là tính chất của lời Đức Chúa Trời. Nếu tính chất sự rao giảng của chúng ta khác với tính chất của lời Đức Chúa Trời thì chúng ta chắc chắn sẽ gặp phải những nan đề trong sự rao giảng của mình. Những người gặp nan đề trong sự rao giảng của mình cần phải quên thể diện của mình đi. Họ cần phải tự hạ mình xuống mà tìm kiếm lời khuyên từ các anh chị em khác. Họ nên tập nói với người khác trong năm phút để xem người khác có hiểu được những gì mình vừa nói không. Họ cần phải sẵn sàng chấp nhận sự điều chỉnh để lần sau có thể nói lâu hơn, có lẽ mười phút. Vì chúng ta ở đây để phát ngôn cho Đức Chúa Trời, nên chúng ta phải tập phát biểu, và lời của chúng ta phải được diễn đạt rõ ràng từng câu một. Ý nghĩa phải sáng tỏ, và từ ngữ chọn lựa phải thích hợp. Chúng ta nói để làm cho những người khác hiểu. Đức Chúa Trời không muốn lời Ngài trở nên bí ẩn, giống như một vài ẩn dụ trong Cựu Ước. Đức Chúa Trời không muốn con người phải mất quá nhiều thời giờ để cố gắng hiểu lời Ngài. Một người cung ứng lời cần phải thường xuyên tìm kiếm lời khuyên từ các anh em có sự hiểu biết và kinh nghiệm nhiều hơn, và nên yêu cầu họ phê bình về bất cứ phần nào không được rõ ràng. Người ấy cần phải học tập để cải tiến sự rao giảng của mình và phấn đấu làm cho lời mình nói trở nên đơn giản và dễ hiểu.

Lời Đức Chúa Trời thật dễ hiểu, nhưng lời Ngài cũng cao diệu và sâu xa. Đức Chúa Trời không bao giờ nói bất cứ điều gì nông cạn. Ngài không bao giờ nói bất cứ điều gì nghe có vẻ như kích động nhưng không chuyển đạt chút linh nào cả. Sự rao giảng của người cung ứng lời cần phải giống như một cái búa; trong việc “đập” lời Đức Chúa Trời, một người cần phải đập mạnh. Nếu đập nhẹ, lời của người ấy sẽ không chạm đến lời của Đức Chúa Trời. Nếu lời của chúng ta nông cạn thì chúng ta không thể bày tỏ lời Đức Chúa Trời cho dầu chúng ta có cố gắng khó nhọc đến đâu đi nữa. Sự rao giảng của chúng ta phải duy trì tính chất cao diệu và sâu xa trong một mức độ nào đó. Một khi thay đổi tính chất sự phát ngôn của Đức Chúa Trời thì chúng ta không thể chạm đến lời Ngài. Sự rao giảng của chúng ta phải cao diệu. Lời của chúng ta phải cao diệu và sâu xa vì Chúa của vạn quân đến qua sự rao giảng của chúng ta. Một khi lời của chúng ta trở nên nông cạn thì Đức Chúa Trời sẽ không được tuôn đổ ra. Vài anh em rao giảng một cách thấp kém khi họ trích dẫn một câu Kinh Thánh đến nỗi khó mà tưởng tượng lời Đức Chúa Trời có thể được truyền đạt qua họ. Vài anh em đưa ra lời khuyên lơn thật trẻ con đến nỗi người ta tự hỏi làm sao lời Đức Chúa Trời có thể ra từ miệng họ. Chúng ta phải quan tâm đến tính chất cao trọng của sự rao giảng của mình. Ngay khi lời của chúng ta trở nên thấp kém thì tiếng phán của Đức Chúa Trời suy giảm và thậm chí biến mất. Khi lời lẽ của chúng ta ở trong tình trạng cạn cợt, thì Đức Chúa Trời không thể tìm được cơ hội nào để đẩy chính Ngài ra qua lời. Lời khuyên lơn của chúng ta càng ở trên bình diện thấp kém thì những người khác sẽ càng không chạm đến gì cả. Lời khuyên lơn của chúng ta càng ở trên bình diện cao thì những người khác sẽ càng chạm đến một điều gì đó. Đó là một hiện tượng rất lạ. Giả sử một bé gái hai ba tuổi chỉ hiểu biết được một vài từ ngữ. Chúng ta có thể nói với bé gái ấy: “Tối nay, bác sẽ mua kẹo cho cháu. Nếu cháu ngoan thì Chúa Giê-su sẽ thương”. Nói như vậy với một đứa bé thì không sao. Nhưng nếu chúng ta nói trên bục giảng: “Tối nay, tôi sẽ cho tất cả quí vị mỗi người một viên kẹo; nếu quí vị lắng nghe bài giảng của tôi thì Chúa Giê-su sẽ yêu thương quí vị”, thì lời khích lệ ấy có hiệu quả không? Đó là lời khích lệ thấp kém, lời khích lệ có tính trẻ con; đó là nói kiểu trẻ con. Một khi lời của chúng ta trở nên thấp kém thì không còn sự phát ngôn thần thượng nữa. Đức Chúa Trời muốn những đầy tớ của Ngài luôn luôn ở trên một bình diện cao. Chúng ta càng vươn lên cao thì người nghe của chúng ta sẽ càng nhận được lời tốt hơn.

Chúng ta phải nhận thức rằng vươn lên cao trước mặt Đức Chúa Trời là một nhiệm vụ quan trọng của người cung ứng lời. Chúng ta càng vươn lên cao thì sẽ càng có thêm sự phát ngôn thần thượng. Nếu chúng ta không hướng lên cao, những sự dạy dỗ và khuyên lơn của mình sẽ thấp kém và chúng ta sẽ thiếu sự phát ngôn của Đức Chúa Trời. Một khi lời của chúng ta thấp kém thì lời Đức Chúa Trời sẽ không được truyền đạt. Đức Chúa Trời không chịu nổi bất cứ tư tưởng thấp kém, lời lẽ thấp kém, sự khuyên lơn thấp kém, ẩn dụ thấp kém hay cách diễn đạt thấp kém nào. Vì vậy, lời của chúng ta phải cao diệu, nhưng đồng thời cũng phải rõ ràng và dễ hiểu. Đó là cách truyền đạt lời Đức Chúa Trời. Đôi khi, chúng ta có ánh sáng, lời và gánh nặng. Chúng ta muốn bày tỏ lời một cách dễ hiểu, nhưng áp lực quá nặng, và chúng ta không thể [trình bày] đơn giản được. Khó mà nói một cách dễ hiểu thậm chí khi chúng ta tập luyện. Nếu không tập luyện thì làm sao chúng ta có thể nói dễ hiểu được? Chúng ta phải tập phát biểu một cách đơn giản, dễ hiểu và rõ ràng. Chúng ta phải làm cho điều đó trở nên thói quen của mình. Đồng thời, chúng ta phải hướng lời của mình lên càng cao càng tốt. Chúng ta đừng bao giờ đụng đến những điều thấp kém. Một khi chúng ta đụng đến những điều thấp kém, lời Đức Chúa Trời sẽ không được truyền đạt. Đó là một điểm rất quan trọng.

LUÔN LUÔN TIẾN TRIỂN

Ngày nay chúng ta khó rao giảng hơn so với những người rao giảng một trăm năm về trước, và còn khó hơn nữa so với những người rao giảng bốn năm trăm năm về trước. So với Martin Lu ther, chúng ta khó rao giảng hơn, vì sự truyền đạt của lời Đức Chúa Trời luôn luôn tiến triển xa hơn và cao hơn. Chúng ta càng rao giảng lời Đức Chúa Trời, lời ấy càng trở nên cao sâu hơn. Ngày nay, sự phát ngôn của Đức Chúa Trời đã đạt tới giai đoạn hiện tại, và chúng ta không thể trở lại với sự phát ngôn trước kia của Ngài nữa. Chúng ta phải tiến tới. Chúa phán: “Cha Ta làm việc cho đến bây giờ, Ta cũng đang làm việc” (Gi. 5:17, RcV). Đức Chúa Trời không bao giờ ngưng làm việc. Hôm qua Ngài đã làm việc, và hôm nay Ngài đang làm việc. Công việc hôm nay của Ngài tiến triển hơn so với công việc hôm qua, và công việc ngày mai của Ngài sẽ tiến triển hơn so với công việc hôm nay. Công việc của Ngài không bao giờ suy giảm, mà chỉ gia tăng. Công việc của Ngài mãi mãi tiến triển và không bao giờ thối lui. Mar tin Lu ther nhìn thấy lẽ thật về sự xưng công chính bởi đức tin. Nhưng điều người ta nhìn thấy trong một trăm năm qua về sự xưng công chính bởi đức tin vượt trổi hơn nhiều so với điều Lu ther đã nhìn thấy. Đây không phải là kiêu ngạo. Điều này cho thấy lời Đức Chúa Trời đang tiến triển. Quyển sách hay nhất Lu ther đã viết là lời chú giải của ông về sách Ga-la-ti. Nhưng so với Lu ther các tín đồ ngày nay đã thấy thêm được nhiều điều hơn từ sách Ga-la-ti. Lời Đức Chúa Trời đã tiến tới, và không ai có thể quay lại.

Chúng ta phải nhận thức rằng tất cả những lẽ thật đều ở trong Kinh Thánh. Nền tảng tất cả những sự rao giảng của chúng ta là Kinh Thánh. Tuy nhiên, việc khám phá lẽ thật trong Kinh Thánh, sự truyền đạt lời Đức Chúa Trời, và những điều Hội thánh nhận được từ Đức Chúa Trời thì tiến triển mỗi ngày. Qua mỗi thế hệ con cái Đức Chúa Trời nhìn thấy nhiều hơn thế hệ trước. Ví dụ, trong vài thế kỷ đầu tiên, Hội thánh giải nghĩa vương quốc có nghĩa là thiên đàng, nhưng vào thế kỷ vừa qua, vấn đề này đã trở nên rất sáng tỏ. Vương quốc là vương quốc, và thiên đàng là thiên đàng; đó là hai điều khác biệt. Ngày nay, thậm chí chúng ta còn rõ ràng hơn; vương quốc không những là vấn đề thuộc về phần thưởng mà còn là vấn đề thuộc về quyền trị vì và cai trị thuộc linh. Chúng tôi tin mọi lẽ thật Kinh Thánh đều sáng tỏ vào thời sứ đồ. Về sau, những lẽ thật ấy bị chôn vùi rồi dần dần được phục hồi từng chút một. Hãy xem xét ví dụ về sự phục sinh. Sự hiểu biết của chúng ta về sự phục sinh đã tiến triển. Trong nhiều năm, người ta nói về sự phục sinh một cách hạn hẹp; họ hiểu sự phục sinh chỉ có nghĩa là một môi trường nào đó. Nhưng ngày nay, một số người đã nhìn thấy sự phục sinh là gì. Họ đã vượt qua những người đi trước trong những gì họ đã nhìn thấy. Nếu Đức Chúa Trời thương xót Hội thánh thì lời sẽ càng lúc càng dư dật hơn. Khi Đức Chúa Trời phán, lời Ngài luôn luôn tiến lên càng lúc càng cao hơn.

Lời Đức Chúa Trời luôn luôn tiến triển. Ngài luôn luôn sẵn sàng ban thêm cho Hội thánh của Ngài. Đọc những bài thuyết giáo vào những thế kỷ thứ hai thứ ba và so sánh chúng với chức vụ cung ứng lời hiện tại, chúng ta có thể nhận thấy sự tiến triển đã đạt đến mức độ nào. Thánh Linh không kìm giữ chính Ngài lại. Lời vẫn đang tiến triển chứ không thối lui. Mặc dầu Hội thánh đương đầu với nhiều trở ngại ở bên ngoài, Đức Chúa Trời vẫn đang tiến lên. Đức Chúa Trời không dừng lại sau khi Ngài đã thực hiện một điều. Ngài vẫn đang làm việc, và vẫn đang tiến tới. Vì vậy, chức vụ cung ứng lời ngày nay cần phải chạm đến nhiều hơn những điều mà các chức vụ trước kia đã chạm đến. Chúng ta cần phải nhận thức trước mặt Chúa rằng ân điển đang tuôn đổ một cách dồi dào không thể lường được. Để Hội thánh tăng trưởng nên tầm vóc trọn vẹn và đạt đến sự đầy đủ của Đấng Christ, chúng tôi tin rằng sự phong phú của chức vụ cung ứng lời phải gia tăng. Đừng rao giảng với tinh thần tự mãn và bình thản. Đức Chúa Trời muốn chúng ta chạm đến một điều gì đó cao trọng. Ngài muốn ban cho chúng ta những điều cao trọng. Có lẽ Đức Chúa Trời không lựa chọn chúng ta để làm một người cung ứng then chốt, tức là “một mối nối [các lắt léo]”, nhưng tôi hi vọng chúng ta vẫn có thể có phần giữa vòng những người cung ứng lời. Tuy không thể xây dựng chính cái khung sườn của cấu trúc, nhưng ít nhất chúng ta có thể lấp vào những khoảng trống trong khung sườn của cấu trúc hiện có.