Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 14

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI BỐN

LỜI VÀ TRÍ NHỚ CỦA CHÚNG TA

Một người cung ứng lời phải lưu ý đến trí nhớ của mình. Trong việc thi hành chức vụ cung ứng lời, trí nhớ của một người chiếm một vị trí rất quan trọng. Tầm quan trọng của trí nhớ vượt xa điều người ta thường tưởng. Đây là một vấn đề khác mà chúng ta cần phải luyện tập trước mặt Chúa.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRÍ NHỚ

Trong khi phục vụ người khác với tư cách là những người cung ứng lời, chúng ta thường cảm thấy trí nhớ của mình quá kém cỏi. Có thể một số người trong chúng ta bẩm sinh có trí nhớ tốt, nhưng khi phục vụ với tư cách là người cung ứng lời, chúng ta nhận thấy trí nhớ của mình khiếm khuyết biết bao. Ngay khi bắt đầu ý thức về trí nhớ kém cỏi của mình, chúng ta khám phá ra rằng chúng ta phát biểu [tư tưởng] thành lời nói thật là khó khăn. Dường như có một bức màn phủ trên tâm trí của chúng ta, và gánh nặng của chúng ta không được giải tỏa. Chúng ta chỉ có thể nói những gì mình nhớ mà không thể nói những gì mình không nhớ. Nói cách khác, trong sự phục vụ với tư cách là người cung ứng lời, làm thế nào những lời bên ngoài tương xứng với những lời bên trong? Làm thế nào những lời bên trong được chuyển thành những lời bên ngoài? Làm thế nào những lời bên trong hậu thuẫn cho những lời bên ngoài? Không có nguồn cung ứng của lời bên trong thì không có lời bên ngoài. Một khi lời bên trong dừng lại thì lời bên ngoài bị mất đi đề tài. Đề tài nằm nơi lời bên trong chứ không nằm nơi lời bên ngoài. Vậy nên, lời bên ngoài phải có được sự cung ứng từ lời bên trong. Không có sự cung ứng của lời bên trong thì lời bên ngoài khô cạn. Đó là chỗ trí nhớ của chúng ta bước vào. Lời bên ngoài chuyển đạt lời bên trong cho người khác qua trí nhớ. Trí nhớ mang những lời bên trong đến với thế giới bên ngoài. Mỗi khi trí nhớ của chúng ta thất bại thì gánh nặng của chúng ta không thể được giải tỏa. Chúng ta phải nhìn thấy tầm quan trọng của trí nhớ.

Mỗi khi một người cung ứng lời đứng lên nói, người ấy gặp phải một hiện tượng kỳ lạ: Càng nhớ một giáo lý thì người ấy càng ít nhớ khải thị đằng sau giáo lý ấy. Hiện tượng này vượt quá khả năng kiểm soát của chúng ta. Giả sử, chúng ta hiểu một giáo lý, và hôm nay giáo lý ấy rất rõ ràng đối với chúng ta. Có lẽ chúng ta không thể khoe khoang rằng mình nhớ mọi chi tiết về giáo lý ấy, nhưng ít nhất chúng ta có thể nói rằng mình nhớ một phần lớn giáo lý ấy. Nhưng giả sử, chúng ta nhìn thấy một khải thị ở bên trong, bắt lấy ánh sáng bằng tư tưởng của mình, và cũng có một vài lời để diễn đạt rõ ràng những gì tư tưởng của chúng ta đã nhìn thấy. Không dễ gì nhớ được một vài lời ấy. Chúa có thể cho chúng ta một câu, và câu ấy có thể diễn đạt rõ ràng những gì tư tưởng của chúng ta đã bắt lấy; câu ấy có thể bày tỏ những gì chúng ta đã nhìn thấy trong linh mình, và có thể bao gồm tư tưởng được giữ lại cùng ánh sáng của Thánh Linh. Câu ấy có thể rất đơn giản; nó có thể chỉ gồm có năm hay mười chữ. Nói về mặt con người thì những lời ấy phải rất dễ nhớ đối với chúng ta. Nhưng điều kỳ lạ là một khải thị càng thật thì chúng ta càng khó nhớ khải thị ấy. Đó là một sự thật chứ không phải là một lý thuyết. Sau khi nói chỉ được năm phút, trí nhớ của chúng ta lại gây trở ngại. Đôi khi thứ tự của lời bị đảo ngược. Thỉnh thoảng những từ ngữ quan trọng bị bỏ sót. Có lúc, cho dầu chúng ta hết sức cố gắng nhớ lại lời ấy, lời ấy hoàn toàn biến mất. Thậm chí khi chúng ta nhớ được những lời, thì thực tại ở đằng sau lời không còn nữa. Đến đây, chúng ta cần phải nhận thức rằng giữ lại khải thị của Đức Chúa Trời trong trí nhớ của con người khó biết bao, và chúng ta nên thưa [với Ngài] rằng: “Chúa ơi, xin ban ân điển cho con và giúp con nhớ được”.

Chúng ta cần sự giúp đỡ của tâm trí mình để truyền những lời bên trong cho thế giới bên ngoài và để diễn đạt chúng qua những lời bên ngoài. Tuy nhiên, vì trí nhớ của chúng ta thường gây trở ngại nên phần bề trong không thể hỗ trợ phần bề ngoài. Chúng ta càng nói thì những lời bên ngoài càng trôi dạt xa khỏi những lời bên trong. Sau khi rao giảng xong một bài, có thể chúng ta nhận thấy rằng những lời bên trong hoàn toàn không được truyền đạt. Đó là một kinh nghiệm rất đáng buồn. Có lẽ chúng ta nghĩ rằng ghi xuống vài chữ trên một miếng giấy có thể giúp ích. Đôi khi, việc làm ấy có ích lợi, còn những lúc khác thì hoàn toàn vô dụng. Điều lạ lùng là thậm chí khi chúng ta đọc những gì mình đã chép xuống và ráng nhớ lại nó, có thể chúng ta nhận thấy mình biết tất cả những mẫu tự và từ ngữ, nhưng chúng ta không thể ghi nhớ mọi điều mà những từ ngữ ấy đang cố chuyển đạt. Đó là lúc chúng ta thấy trí nhớ gây trở ngại cho mình. Nếu điều chúng ta nhìn thấy chỉ là một giáo lý, thì điều đó có thể dễ dàng truyền đạt cho thế giới bên ngoài. Một điểm càng có tính cách giáo lý thì chúng ta càng dễ nhớ. Nhưng nếu đó là một khải thị thì chúng ta không dễ gì nhớ được. Nếu cố gắng bày tỏ và chuyển đạt khải thị mình có ở bên trong, chúng ta khám phá ra là mình quên mất điều mình vừa nhìn thấy. Chúng ta nhớ được lời, nhưng quên mất chính những gì ở đằng sau lời ấy. Điều gây rắc rối cho chúng ta là khi đứng trên bục giảng, chúng ta thường quên mất điều mình đã nhìn thấy. Trong khi rao giảng, chúng ta nói về một điều khác; chúng ta không nói về những điều mình đã nhìn thấy. Kết quả là chức vụ cung ứng lời bị thiệt hại. Do đó, một người cung ứng lời phải có một trí nhớ tốt.

Chúng ta cần hai loại trí nhớ, trí nhớ bên ngoài và trí nhớ của Linh. Chúng ta cần sử dụng hai loại trí nhớ này một cách đúng đắn trước khi có thể làm một người cung ứng lời. Trí nhớ bên ngoài là trí nhớ của người bề ngoài. Đó là trí nhớ ở trong quan năng trí tuệ của chúng ta. Trí nhớ ấy chiếm một vị trí quan trọng đối với chứng cớ về lời Đức Chúa Trời. Nhưng có một loại trí nhớ thứ hai, trí nhớ của Thánh Linh. Chúa Giê-su đề cập đến trí nhớ này trong Giăng 14:26: “Nhưng Đấng An Ủi, tức là Thánh Linh, mà Cha sẽ nhơn danh Ta sai đến, Đấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều Ta đã phán cùng các ngươi”. Đó là sự nhắc lại của Thánh Linh. Đó là Thánh Linh làm cho chúng ta nhớ lại những điều ấy; chúng ta không tự mình nhớ lại những điều ấy. Chúng ta nên dành thời giờ tìm hiểu về trí nhớ của Thánh Linh trước khi xem xét trí nhớ bên ngoài.

TRÍ NHỚ CỦA THÁNH LINH

Thứ nhất, linh chúng ta nhìn thấy một điều gì đó; thứ hai, tư tưởng của chúng ta bắt lấy điều đó; và thứ ba, chúng ta có lời ở bên trong mình. Trong lời ấy chứa đựng điều gì? Lời ấy chứa đựng tư tưởng, và cũng chứa đựng ánh sáng. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một hai câu. Các câu ấy chứa đựng tư tưởng cũng như ánh sáng. Chúng ta cần phải chú ý đến điều gì trước mặt Đức Chúa Trời? Chúng ta cần phải biết lời khải thị là gì. Một khải thị là một sự nhìn thấy, một sự cất đi bức màn. Ánh sáng chiếu qua, và chúng ta nhìn thấy điều ở sau bức màn. Ban đầu, chúng ta nhìn thấy điều ở sau bức màn, mặc dầu chúng ta không thể diễn đạt rõ ràng điều đó. Ánh sáng ấy xuất hiện với chúng ta như một tia chớp của một chiếc máy chụp hình. Sau đó, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta tư tưởng để bắt lấy ánh sáng ấy; ánh sáng được chuyển thành tư tưởng. Cuối cùng, Ngài ban cho chúng ta một hai lời hàm chứa toàn bộ khải thị. Một lời từ Đức Chúa Trời mở ra trọn ý nghĩa ở đằng sau ánh sáng ấy. Chúng ta có thể nói rằng lời của khải thị là lời của “sự nhìn thấy”. Chúng ta có thể nói đó là một lời, nhưng lời ấy là một sự nhìn thấy ở bên trong, một khải thị bên trong; đó không chỉ là một lời. Khi lời ấy ở trong chúng ta, thì đồng thời đó là một “sự nhìn thấy”. Khi sự nhìn thấy ấy là ánh sáng ở trong chúng ta, chúng ta không hiểu ánh sáng ấy có nghĩa là gì. Khi ánh sáng ấy được chuyển thành tư tưởng, chúng ta có thể nhìn thấy ý nghĩa của ánh sáng ấy. Khi ánh sáng trở nên lời, chúng ta có thể bắt lấy ánh sáng ấy trong tư tưởng của mình cũng như diễn đạt ánh sáng ấy bằng môi miệng mình. Đó là lời.

Lời là gì? Lời là một khải thị đã trở nên tư tưởng được diễn đạt rõ ràng. Lời không có nghĩa là chỉ một mình lời; đó không phải chỉ là ba, năm, tám hay mười câu. Đó là một điều gì ở bên trong chúng ta, là một lời diễn đạt về những gì chúng ta nhìn thấy. Nhìn thấy vốn là chức năng của mắt, và không liên quan gì đến miệng cả. Nhưng khi Đức Chúa Trời ban cho tôi một lời, lời ấy bao hàm ánh sáng. Tôi có thể rất sáng tỏ ở bên trong, nhưng không thể diễn đạt rõ ràng điều mình đã nhìn thấy. Ngày nay, lời khiến tôi diễn đạt rõ ràng những gì mình đã nhìn thấy. Vì vậy, chúng ta phải sáng tỏ rằng lời không chỉ là một hai câu. Lời bao gồm một sự nhìn thấy, và là một lời diễn đạt rõ ràng về sự nhìn thấy của chúng ta. Chúng ta có cả lời lẫn sự nhìn thấy ở bên trong mình, chúng ta có thể nói đó là lời của chính mình. Trước hết Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy một điều gì đó cách rõ ràng, rồi Ngài ban cho chúng ta một lời. Lời giải thích những gì chúng ta nhìn thấy.

Lời chỉ có thể được giữ lại trong trí nhớ. Chúng ta có hai loại trí nhớ. Một loại là quan năng giữ lại lời. Loại kia là quan năng giữ lại điều đã được nhìn thấy. Một loại giữ lại lời; đó là trí nhớ bên ngoài. Loại kia giữ lại điều đã được nhìn thấy; đó là trí nhớ của Thánh Linh. Nan đề ngày nay là trí nhớ bên ngoài của chúng ta thường hoạt động để nhớ lời, nhưng trí nhớ của Linh thì biến mất. Chúng ta không nhớ điều đã được nhìn thấy. Chúng ta nhớ được một vài lời, nhưng quên mất điều đã được nhìn thấy. Đối với khải thị, nan đề nằm ở đây: khải thị không giống các giáo lý có thể thuộc lòng từng chữ một. Các giáo lý không gì khác hơn là bài đọc thuộc lòng. Các giáo lý vẫn ở trong lãnh vực bên ngoài, nhưng chức vụ cung ứng lời chạm đến sự sống. Một điều gì đó càng có tính chất giáo lý thì điều đó càng dễ nhớ; điều ấy có thể được lặp lại từng chữ cách dễ dàng. Tuy nhiên, khải thị bên trong liên quan đến sự sống, và một điều gì càng liên quan đến sự sống thì càng dễ quên. Một người có thể nhớ đúng từng chữ nhưng mất đi khải tượng về điều nằm sau những lời ấy. Đó là tình trạng xảy ra khi trí nhớ của Thánh Linh biến mất. Chúng ta phải ghi nhớ rằng lời mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta phải được nuôi dưỡng trong trí nhớ của Thánh Linh. Chỉ khi ấy lời mới tiếp tục sống động. Một khi lời tách rời khỏi trí nhớ của Linh thì lời ấy trở nên một điều gì đó thuộc thể và không còn thuộc linh nữa. Một điều thuộc linh trở nên một điều thuộc thể là việc rất dễ xảy ra.

Lời bên trong rất dễ thoái hóa thành một điều gì đó chết chóc và bề ngoài. Một lời thuộc linh rất dễ thoái hóa thành một điều bề ngoài và thuộc thể. Những lời thuộc linh phải được giữ ở tình trạng sống động trong Thánh Linh trước khi những lời ấy ảnh hưởng trên chúng ta. Những lời khải thị phải được giữ ở tình trạng sống động trong Thánh Linh trước khi chúng ta có thể nhận được ích lợi từ những lời ấy. Nếu một lời khải thị không được nuôi dưỡng trong Thánh Linh, thì một người có thể nhớ những lời lẽ mà không nhớ khải thị. Chẳng hạn, chúng ta đều biết tội thật xấu xa và gian ác. Một số người nhận thấy điều này vào ngày họ trở nên một tín đồ. Những người khác nhận thấy điều này khi họ được phục hưng. Một số người nhìn thấy tính gian ác của tội vào ngày họ nghe phúc-âm. Những người khác buông thả trong một cuộc sống phóng đãng không nhìn thấy tính gian ác của tội cho tới ba đến năm năm sau khi được cứu rỗi, khi họ kinh nghiệm một sự phục hưng lớn của Linh. Lần kia, một anh em ý thức về những tội lỗi của mình và rất buồn rầu. Anh sấp mình xuống và lăn lộn dưới đất từ tám giờ tối cho đến sáng hôm sau. Những người khác đã rời buổi nhóm, nhưng anh vẫn lăn lộn dưới sàn. Trông anh có vẻ như đã chạm đến cửa địa ngục, và anh kêu khóc rằng: “Thậm chí địa ngục cũng không đủ lớn để nuốt đi những tội lỗi của tôi”. Hôm ấy Chúa mở mắt anh thấy một điều gì đó; anh nhìn thấy một điều gì đó trong linh mình. Về sau, anh kể cho những người khác điều anh đã nhìn thấy trong linh mình. Anh nói với họ về tính gian ác và ghê tởm của tội. Một anh em khác làm chứng rằng khi anh ấy nói về tội, những người khác có thể cảm thấy tội giống như một đám mây đen, dày đặc bao trùm họ. Theo ý thức của anh, tội là một đám mây đen, dày đặc; không gì có thể kinh khủng hơn điều đó. Khi anh chia sẻ và diễn đạt rõ ràng khải thị bên trong, những người khác nhận được sự giúp đỡ. Nhưng hai ba năm sau, khải tượng trở nên lu mờ. Anh vẫn có thể nói tội là một đám mây đen, dày đặc. Khi đứng lên, anh có thể nói những lời như trước, nhưng hình ảnh không còn nữa; khải thị của Linh đã biến mất. Khải thị không còn rõ ràng và mạnh mẽ trong anh như trước nữa. Trước kia, khi nói về tính chất đen tối của tội, anh đầy nước mắt. Nhưng bây giờ khi nói về tính chất đen tối của nó, anh có thể vui cười. Hương vị đã thay đổi. Lời vẫn như cũ, nhưng trí nhớ của Thánh Linh thì không còn nữa.

La Mã 7:13 chép: “Tội nhơn điều răn trở nên tội lỗi tột bực”. Một ngày kia, Chúa có thể cho anh em thấy tội gian ác và tội lỗi thế nào. Chính chữ tội lỗi cũng đủ làm cho anh em sợ hãi. Nhưng một vài ngày sau khi anh em rao giảng về tội, rất có thể anh em vẫn nhớ chữ tội lỗi, nhưng bức tranh, hình ảnh, thì không còn nữa. Khi anh em nhìn thấy tính chất tội lỗi của tội, cả lời lẫn hình ảnh của nó đều hiện diện. Nhưng khi anh em đứng lên rao giảng về tính chất gian ác của tội, lời thì có đó nhưng hình ảnh thì không còn nữa. Chúng tôi gọi hình ảnh ấy là trí nhớ của Thánh Linh. Trong việc phục vụ với tư cách là người cung ứng lời, chúng ta cần trí nhớ của Thánh Linh. Trí nhớ ấy không những làm cho chúng ta nhớ lại những lời mà còn gợi lên hình ảnh trong lời giảng của chúng ta. Không có một trí nhớ như vậy, chúng ta có thể nhớ những lời, nhưng thực tại, hình ảnh, không còn đó. Mỗi khi đứng lên rao giảng, chúng ta phải cầu xin Chúa ban cho chúng ta trí nhớ của Thánh Linh để chúng ta không những chuyển đạt lời mà còn truyền đạt chính điều nằm sau lời nữa. Trừ khi có trí nhớ ấy, chúng ta có thể nói về tính chất gian ác và tội lỗi của tội mười hay hai mươi lần mà không biết được tội thật sự là gì. Chúng ta chỉ có thể gây ấn tượng cho người khác về tính chất tội lỗi của tội khi trí nhớ của Linh làm cho chúng ta nhớ lại tính chất tội lỗi của nó. Trong khi nói về điều đó, chúng ta không những cần phải có lời mà còn cần phải có hình ảnh nữa. Lời Đức Chúa Trời là gì? Đó là lời cộng với hình ảnh. Anh em ơi, chúng ta có nhìn thấy điều này không? Lời Đức Chúa Trời phải được hình ảnh bổ sung. Thật ra, lời Đức Chúa Trời là lời cộng với hình ảnh. Lời mà không có hình ảnh thì không phải là lời Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta có hình ảnh sai trật ở đằng sau lời thì chỉ một mình lời cũng chưa đủ.

Hãy xét đến một ví dụ khác. Giả sử, chúng ta rao giảng phúc-âm và đề tài là tình yêu thương của Chúa. Trong khi giảng về tình yêu thương, chúng ta có thể có một hình ảnh ở trước mắt mình; lời giảng của chúng ta dựa vào hình ảnh ấy. Điều đó thật tốt. Nhưng nhiều khi có người giảng về tình yêu thương của Đức Chúa Trời lại không tin nơi tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Làm sao người ấy có thể mong đợi người khác tin điều đó? Chúng ta cần trí nhớ của Thánh Linh. Linh làm cho chúng ta nhớ lại hình ảnh; Ngài làm cho chúng ta nhớ lại chính điều được gọi là “tình yêu thương”. Khi nói về điều ấy, chúng ta đánh trúng trọng tâm. Càng nói về điều đó thì chúng ta càng khơi lên sự sống. Sự sống được khơi dậy, và được tuôn ra. Không có trí nhớ của Linh, chúng ta có thể có mọi lời đúng đắn, nhưng đánh mất thực tại. Lời nói thật đúng đắn, nhưng thực tại không có đó. Như vậy cũng vô ích. Trong việc rao giảng lời Đức Chúa Trời, chúng ta phải trông cậy nơi trí nhớ của Thánh Linh để làm cho chúng ta nhớ lại khải thị, là điều được thêm vào lời bên trong mà Linh ban cho chúng ta. Khi chúng ta phát ngôn theo lời bên trong, dầu một lần hay hai lần, sự sống sẽ được tuôn ra, và người khác sẽ thấy những gì chúng ta đã nhìn thấy. Chúng ta chỉ chuyển đạt văn tự thì cũng vô ích. Trước hết Linh phải làm cho chúng ta nhớ lại lời trước khi chúng ta có thể rao giảng lời ấy.

Một số người trong chúng ta được cứu qua Giăng 3:16. Nhưng hiệu quả sẽ ra sao nếu chúng ta thuộc lòng Giăng 3:16 để xem câu ấy có hiệu nghiệm cho người khác một lần nữa không? Việc làm đó sẽ không hiệu nghiệm cho dầu chúng ta lặp lại câu ấy mười lần cho người khác. Đã một lần Thánh Linh mở mắt chúng ta [nhìn thấy] câu này. Giăng 3:16 chỉ hữu dụng khi nào sự nhìn thấy ấy, tức điều mang đến sự cứu rỗi của chúng ta, được giữ lại trong trí nhớ của chúng ta và chúng ta được làm cho nhớ lại điều ấy. Điều duy nhất có hiệu quả là trí nhớ của Thánh Linh.

Nhiều người nhận thấy Chúa rất yêu thương và quí báu khi họ nhận được sự tha thứ đối với những tội lỗi của mình. Họ nhìn thấy một khải thị ở bên trong, và nhận thấy Chúa rất rõ ràng đối với mình. Sự tha thứ mà họ kinh nghiệm được thật lớn lao; vì vậy, tình yêu thương cũng lớn lao (Lu. 7:47). Họ nhìn thấy một điều gì đó, và có lời trong tâm trí của mình. Họ có cả tư tưởng lẫn lời. Một ngày kia, họ chia sẻ trên bục giảng một hai tiếng đồng hồ. Lời ở bên trong được truyền đạt, và mọi người đều sung sướng và nhận được sự giúp đỡ. Ít lâu sau, họ lặp lại cùng một bài giảng ấy. Những lời lẽ vẫn còn đó; họ ghi nhớ tất cả. Những lời bên ngoài không bị mất, nhưng càng giảng thì họ càng nhận thấy mình không có thực tại. Dường như họ quên sạch những gì mình từng giảng. Họ không thể nhớ lại đó là những gì. Những lời lẽ vẫn còn đó, nhưng tình yêu thương thì không còn nữa. Họ thiếu trí nhớ của Thánh Linh. Mọi khải thị đều phải được bảo tồn trong trí nhớ của Thánh Linh. Người cung ứng lời phải là người có một trí nhớ tốt của Thánh Linh. Trí nhớ ấy càng mạnh mẽ thì càng tốt cho người ấy. Chức vụ cung ứng lời của người ấy sẽ phong phú hơn nhiều vì người ấy có thêm rất nhiều những điều sống động ký thác ở bên trong mình. Nhưng nếu trí nhớ của Linh kém cỏi thì người ấy sẽ phải học đi học lại tất cả những khải thị Đức Chúa Trời đã ban cho mình. Điều đó thật đáng tiếc. Một người không những phải nhận biết khải thị của Thánh Linh, mà khải thị ấy còn phải được liên tục làm cho phong phú. Có lẽ chúng ta đã được cứu rỗi ba mươi năm trước. Khi ấy, Chúa ban cho chúng ta một khải thị. Về sau, Ngài ban cho chúng ta một khải thị khác và một khải thị khác nữa. Khải thị càng lúc càng lớn hơn. Vào lúc được cứu rỗi, chúng ta nhìn thấy khải thị cơ bản. Về sau, khải thị càng lúc càng trở nên sâu xa và vĩ đại hơn. Một người cung ứng lời phải có trí nhớ của Thánh Linh có nghĩa là người ấy phải nuôi dưỡng khải thị mình nhận được trong trí nhớ của Thánh Linh. Khi nhận được một khải thị tươi mới, người ấy phải giữ lại và nuôi dưỡng khải thị ấy trong trí nhớ Thánh Linh. Khi ấy, mọi sự người ấy nhận được sẽ được gìn giữ trong tình trạng sống động.

Chúng ta hãy trở lại với hình ảnh minh họa về tính chất tội lỗi của tội. Điều đó phải là một khải tượng tươi mới trong chúng ta. Nếu điều đó tươi mới trong chúng ta, chúng ta sẽ làm một người cung ứng lời khi truyền đạt điều ấy từng câu một. Nếu điều đó không tươi mới trong chúng ta, chúng ta có thể nói về tính chất tội lỗi của tội trên bục giảng, nhưng người khác sẽ nhận được ma-na mốc meo; điều đó có thể đã trở nên cũ kỹ một ngày, một năm hay thậm chí mười năm. Trong trường hợp ấy, chúng ta không phục vụ với tư cách là người cung ứng lời, và lời của chúng ta sẽ không có giá trị gì cả. Khi một số anh em chia sẻ sứ điệp phúc-âm, người nghe có thể nhận thấy họ có trí nhớ của Thánh Linh. Khi các anh em khác giảng, người nghe có thể nhận thấy họ không có trí nhớ của Thánh Linh. Không ai có thể giả vờ. Nếu có trí nhớ của Thánh Linh thì người ấy có trí nhớ của Thánh Linh; nếu không có trí nhớ của Thánh Linh thì người ấy không có trí nhớ của Thánh Linh. Nguyên tắc ấy cũng có thể được áp dụng cho những khải thị cao sâu hơn. Khải thị được gìn giữ ở tình trạng sống động trong trí nhớ của Thánh Linh. Để làm một người cung ứng lời, lời của chúng ta phải được nuôi dưỡng trong trí nhớ của Thánh Linh. Nếu chúng ta có trí nhớ của Thánh Linh, trí nhớ ấy sẽ hoạt động khi chúng ta chia sẻ và chuyển đạt lời bên trong cho người nghe. Điều lạ kỳ là khi chúng ta nhìn thấy một điều gì đó trong linh, chúng ta có thể quên mất điều ấy ngay lần đầu tiên mình cố gắng dùng điều ấy để cung ứng lời. Chúng ta không thể nói những gì mình muốn nói. Việc chúng ta mất đi cảm nhận sắc bén về tội mà mình cảm thấy mười hay mười lăm năm trước là điều có thể hiểu được. Nhưng trong khi chia sẻ trên bục giảng, chúng ta thường quên những gì mình đã nhìn thấy đêm hôm trước. Trí nhớ bên ngoài của chúng ta vô dụng trong việc giữ lại lời khải thị. Chúng ta không thể tùy thuộc vào trí nhớ bên ngoài của mình để bắt lấy khải thị. Khải thị chỉ có thể được giữ lại trong Thánh Linh.

Xin xem xét một hình ảnh minh họa khác. Giả sử, một người nhận thấy sự khác biệt rất lớn giữa việc lấn ép Chúa và rờ Ngài. Người ấy nhìn thấy sự khác biệt rất lớn giữa việc rờ Chúa cách thuộc thể và chạm đến Ngài cách thuộc linh. Khi nhìn thấy điều đó, người ấy rất sáng tỏ và sung sướng về điều mình vừa nhìn thấy. Hai ba ngày sau, khi thăm viếng một anh em đang bị bệnh, người ấy cố kể với bệnh nhân về điều ấy. Nhưng người ấy nhận thấy mình cứ nói lòng vòng. Càng nói thì lời lẽ của người ấy càng trở nên nguội lạnh và trống rỗng; nỗ lực của người ấy hoàn toàn vô ích. Với mồ hôi [nhễ nhại] trên trán, người ấy hết sức cố gắng để nhớ lại những gì mình từng nhìn thấy, nhưng cũng vô ích. Lý do duy nhất khiến người ấy thất bại ấy là khải thị của người ấy không được nuôi dưỡng trong trí nhớ của Thánh Linh. Nếu những lời khải thị được nuôi dưỡng trong trí nhớ của Thánh Linh, người ấy sẽ không gặp trở ngại gì khi dùng những lời ấy trong chức vụ cung ứng lời của mình. Như vậy, chúng ta cần khải thị, tư tưởng, lời bên trong cùng lời bên ngoài, và chúng ta cũng cần trí nhớ của Thánh Linh. Không có trí nhớ của Thánh Linh, những lời bên trong và lời bên ngoài không thể hoạt động. Không ai có thể làm một người cung ứng lời bằng sức lực thiên nhiên của mình. Chúng ta là loại người thế nào không thành vấn đề. Hễ trông cậy vào sức lực thiên nhiên của mình thì chúng ta hoàn toàn vô dụng. Chỉ một người ngu dại mới khoe khoang về chính mình. Chúng ta có thể khoe khoang được gì trong khi ngay cả điều mới thấy hôm qua mà mình cũng không thể nhớ được? Chúng ta nặn óc cố nhớ lại những gì mình nhìn thấy hôm qua, mà vẫn không thể nhớ được gì. Cho dù chúng ta nỗ lực thế nào đi nữa, trí nhớ vẫn gây trở ngại cho mình. Để hỗ trợ và cung cấp lời khải thị cho lời bên ngoài, chúng ta phải duy trì lời khải thị ở bên trong trí nhớ của Thánh Linh. Chỉ khi ấy những lời chúng ta giảng mới là điều Chúa muốn chúng ta giảng, và chỉ khi ấy chúng mới là thuộc linh chứ không phải thuộc thể. Trừ khi những lời khải thị mà chúng ta đã nhận lãnh được bảo tồn trong trí nhớ của Thánh Linh, chúng ta sẽ nhận thấy linh mình chùng xuống ngay khi chúng ta rao giảng.

Khi Chúa hành động trong chúng ta, chúng ta dễ làm một người cung ứng lời. Nhưng khi Chúa không hành động trong chúng ta, không gì gay go bằng việc đảm nhiệm chức vụ cung ứng lời. Nếu một người cứ [sống] phóng túng và có thói quen hay quên, và nếu không kiểm chế tư tưởng cùng lời nói của mình, thì người ấy sẽ vô dụng trong chức vụ cung ứng lời. Có những đòi hỏi nghiêm khắc đối với chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời. Chúa phải hành động trên chúng ta rất nhiều rồi mới có thể dùng chúng ta. Nếu cho phép chính mình lơi lỏng một chút, có lẽ chúng ta vẫn có thể làm những điều khác, nhưng sẽ không thể làm người cung ứng lời. Chúng ta phải cầu xin Chúa ban cho ân điển. Chúng ta phải cầu xin Ngài ban cho mình trí nhớ của Thánh Linh để chúng ta có thể nhớ được những lời mình đã nhìn thấy. Khải thị ở bên trong lời. Nếu có trí nhớ của Thánh Linh ở bên trong mình, chúng ta sẽ nhớ được lời. Chúng ta không những nhớ được lời khải thị mà còn nhớ được khải thị của lời. Khi cung cấp lời khải thị ấy cho những lời bên ngoài, chúng ta sẽ biết mình đang nói về điều gì ngay khi chúng ta mở miệng. Trong khi giảng, chúng ta sẽ nhìn thấy, và tự phát chúng ta sẽ trở nên người cung ứng lời. Nếu trong khi giảng, chúng ta không nhìn thấy những điều bên trong, chúng ta sẽ hoang mang. Chúng ta sẽ trở nên bối rối và không biết phải nói gì. Thưa anh em, chúng ta phải thừa nhận sự vô dụng của một tâm trí khôn ngoan trong nỗ lực này.

TRÍ NHỚ BÊN NGOÀI

Tiếp theo, chúng ta phải xét đến trí nhớ bên ngoài. Đôi khi, Chúa dùng trí nhớ bên ngoài của chúng ta. Những khi ấy, trí nhớ bên ngoài trở nên cần thiết. Nhưng có lúc, Chúa không muốn dùng trí nhớ bên ngoài của chúng ta. Vào những lúc ấy, trí nhớ bên ngoài vô dụng đối với Ngài. Tại sao trí nhớ bên ngoài của chúng ta có lúc thì cần thiết và có lúc thì vô dụng? Tôi không thể giải thích điều này; tôi chỉ có thể tuyên bố sự thật. Đó là một sự thật mà tôi không thể giải thích. Đôi khi chúng ta có lời ở bên trong; chúng ta có lời về khải thị của Đức Chúa Trời, và cũng có trí nhớ của Thánh Linh. Chúng ta rất sáng tỏ ở bên trong, nhưng vẫn cần vận dụng trí nhớ của mình. Thánh Linh làm cho chúng ta nhớ lại nhiều điều; Ngài không tạo ra cho chúng ta một trí nhớ khác biệt. Trí nhớ của Thánh Linh có nghĩa là Thánh Linh làm cho chúng ta nhớ lại những điều. Giăng 14:26 chép: “Đấng ấy sẽ... nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều Ta đã phán cùng các ngươi”. Linh của Đức Chúa Trời sống ở bên trong chúng ta. Khi Ngài ban cho chúng ta một khải thị, khải thị ấy được gìn giữ trong tình trạng sống động trong Thánh Linh. Khi chúng ta giảng, Đức Chúa Trời có thể ban cho chúng ta đôi lời. Đôi lời ấy là những lời then chốt. Nếu chúng ta ghi nhớ những lời then chốt ấy, thì thật kỳ diệu là trí nhớ của Thánh Linh sẽ ở lại. Nếu chúng ta quên mất đôi lời ấy, trí nhớ của Thánh Linh cũng sẽ đi mất. Đôi lúc, khi Thánh Linh nhắc nhở chúng ta những lời ấy, sợ mình sẽ không nhớ, nên chúng ta viết xuống những lời trọng yếu và quan trọng ấy. Thường thì khi chúng ta nhớ lại đôi lời ấy, hình ảnh ở bên trong trở lại, và chúng ta nhìn thấy khải thị một lần nữa. Điều này cho thấy Thánh Linh dùng trí nhớ bên ngoài của chúng ta. Đôi khi chúng ta viết xuống một vài lời, và chỉ nhìn phớt qua những lời ấy cũng làm cho chúng ta sáng tỏ ở bên trong. Nhưng đôi khi chúng ta không được sáng tỏ ở bên trong thậm chí sau khi đã xem những lời ấy. Vào những lúc ấy, rõ ràng là Thánh Linh không dùng đến trí nhớ bên ngoài của chúng ta.

Do đó, chúng ta có thể nói trí nhớ bên ngoài có thể vừa hữu dụng vừa vô dụng. Đôi khi Chúa cho chúng ta thấy một điều gì đó. Nhưng sau đó ít lâu, chỉ trí nhớ bên ngoài còn [ghi nhớ] lại; ở bên trong, chúng ta không nhìn thấy gì cả. Chúng ta hoàn toàn bất lực về tình trạng này. Trong những hoàn cảnh bình thường, chúng ta nên viết xuống những lời mình đã nhận được. Càng nhận được khải thị từ Đức Chúa Trời thì chúng ta càng cần đến trí nhớ bên ngoài của mình. Càng ít nhận được khải thị từ Đức Chúa Trời, chúng ta càng ít cần đến trí nhớ bên ngoài của mình. Trí nhớ bên trong của chúng ta càng mạnh mẽ trước mặt Chúa, trí nhớ bên ngoài và trí nhớ bên trong của chúng ta càng sẽ được tẩy sạch. Khi những điều nơi trí nhớ bên ngoài và trí nhớ bên trong của chúng ta càng được tẩy sạch, chúng ta sẽ giữ lại nhiều điều nơi trí nhớ bên ngoài và trí nhớ bên trong. Ban đầu, trí nhớ bên trong của chúng ta có thể không tương xứng với những gì đã được giữ lại nơi trí nhớ bên ngoài của mình. Đừng nản lòng. Những điều chúng ta giữ lại ở bên ngoài đôi khi có thể thấy được và đôi khi biến khỏi chúng ta. Nhưng khi kinh nghiệm sâu xa hơn, chúng ta sẽ nhận thấy hai loại trí nhớ ấy càng lúc càng trở nên một; chúng sẽ hòa nhập vào nhau thành một trí nhớ. Chúng ta sẽ nhận thấy rằng cùng với việc nhớ lời ở bên ngoài còn có việc nhớ lời bên trong. Đó là lý do tại sao chúng ta phải tự hạ mình trước mặt Chúa. Chúng ta phải cầu nguyện thật nhiều, thường xuyên ngưỡng trông Ngài và luôn luôn sẵn sàng. Khi được sáng tỏ về những gì mình nhìn thấy, chúng ta có thể nói với người khác về điều đó. Chúng ta phải luôn luôn bảo tồn những lời bên trong ở trong khải thị của Thánh Linh trước khi rao giảng điều đó.

Đôi khi, anh em có thể giảng một bài hay, và mọi người đều khen ngợi. Nhưng tự bên trong anh em biết bài giảng ấy thật sự tốt thế nào. Vào lúc đang rao giảng, anh em không thể nhớ lại chính điều đã gây ấn tượng cho mình. Trí nhớ bên ngoài không tương hợp với trí nhớ bên trong. Anh em nói ra những điều đúng đắn, nhưng không có sự khải thị; nó tan biến vào trong những chi tiết phụ. Chúng ta phải học bài học này trước mặt Chúa: Một người cung ứng lời phải có ánh sáng, tư tưởng bên trong, lời bên trong, lời bên ngoài và trí nhớ của Thánh Linh cũng như trí nhớ bên ngoài. Trí nhớ của Thánh Linh phải nằm giữa khải thị và những lời bên trong; trí nhớ ấy cần phải luôn luôn sẵn sàng cung ứng lời bên trong. Trí nhớ bên ngoài cần phải đặt giữa lời bên trong và lời bên ngoài; trí nhớ ấy cần phải luôn luôn sẵn sàng cung ứng lời bên ngoài.

Chúng ta hãy xem xét ba bước trên: ánh sáng, lời bên trong và lời bên ngoài. (Lần này chúng ta sẽ không xét đến tư tưởng). Trí nhớ của Thánh Linh cần phải nằm giữa điều thứ nhất và điều thứ hai. Trí nhớ của chính chúng ta cần phải nằm giữa điều thứ hai và điều thứ ba. Trí nhớ của Thánh Linh cần phải nằm giữa ánh sáng và lời bên trong để trí nhớ của Thánh Linh có thể cung ứng ánh sáng cho lời bên trong. Lời bên trong phải được nuôi dưỡng bằng ánh sáng của Thánh Linh. Nếu không được nuôi dưỡng bằng ánh sáng, lời bên trong sẽ biến mất đi; lời bên trong sẽ trở nên một điều gì đó thuộc thể chứ không thuộc linh. Trí nhớ của Thánh Linh cung ứng ánh sáng cho lời bên trong để lời bên trong tiếp tục phát triển trong môi trường của ánh sáng. Khi ấy chúng ta phải dùng những lời của chính mình, là điều chúng ta có được nhờ vận dụng tâm trí mình để cung ứng lời bên trong cho lời bên ngoài. Khi điều ấy xảy ra, chúng ta sẽ có sự rao giảng.

Khi luyện tập trí nhớ của chính mình, chúng ta phải nhớ rằng trí nhớ bên ngoài không bao giờ có thể thay thế cho chức năng của trí nhớ bên trong. Thật ra, trí nhớ của Thánh Linh thường không cần đến trí nhớ bên ngoài.

Một điểm khác chúng ta phải nhận thức là đôi khi thậm chí trí nhớ bên ngoài có thể gây trở ngại cho trí nhớ của Thánh Linh. Trí nhớ bên ngoài không những không đủ điều kiện thay thế trí nhớ của Linh, mà đôi khi còn thật sự cản trở trí nhớ của Linh. Đôi khi, lời bên trong chúng ta chiếu sáng và sống động, Thánh Linh nhắc chúng ta về sự chiếu sáng ấy. Nhưng ở bên ngoài, chúng ta quên mất một vài lời trọng yếu. Lời diễn đạt không còn nữa, và chúng ta không thể tiếp tục. Nhiều lúc, nan đề không phải ở bên trong mà nằm ở những nhân tố bên ngoài. Những lời trọng yếu mất đi, và sự rao giảng không còn nữa. Khi có thêm kinh nghiệm, chúng ta nhận thấy rằng đôi khi trí nhớ của chúng ta hỗ trợ trí nhớ của Linh, trong khi vào những lúc khác, trí nhớ của chúng ta ngăn trở trí nhớ của Linh. Trí nhớ của Linh phải dùng đến trí nhớ của chúng ta. Linh không thể dùng một trí nhớ khác ngoại trừ trí nhớ của chính chúng ta; Linh phải sử dụng trí nhớ của chúng ta. Giả sử, chúng ta luôn luôn bận rộn với những công việc bên ngoài và không thể ghi nhớ nhiều lời. Chúng ta hoặc quá bất cẩn hay quá lo âu. Mặc dầu Chúa đã ban cho chúng ta năm ba lời, chúng ta có thể quên tất cả và không thể nhớ được dầu chỉ một điều. Tuy chúng ta không thể ghi nhớ những lời ấy, nhưng chúng ta có thể giảng cả tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, hương vị không còn nữa. Đây là một vấn đề nghiêm trọng. Đó là lý do tại sao đôi khi chúng ta phải ghi xuống vài lời về khải thị mình có. Vài lời ấy sẽ gợi nhớ lại sự nhìn thấy, và toàn bộ khải thị ở bên trong chúng ta sẽ hồi sinh khi chúng ta đọc những lời đó.

Mỗi khi chúng ta phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời, có thể Thánh Linh muốn bày tỏ nhiều điều. Chúng ta không thể nhấn mạnh đến phần này trong khi bỏ qua phần khác. Chẳng hạn, Thánh Linh có thể muốn chúng ta nói ba điều, nhưng chúng ta lại bỏ sót hai trong ba điều ấy. Hai điều mà chúng ta bỏ sót trở nên một gánh nặng đối với chúng ta. Hễ bỏ sót một điều thì chúng ta không thể được xem là một người đủ điều kiện để cung ứng lời. Bên trong một khải thị, có thể Đức Chúa Trời cần truyền đạt nhiều hơn một lời hay cần đề cập đến nhiều hơn một đề tài. Có thể Ngài muốn nêu lên hai ba đề tài. Nếu quên hay bỏ qua chúng, chúng ta sẽ cảm thấy gánh nặng đè trên mình. Vì vậy, chúng ta phải chép xuống năm ba chữ. Năm ba chữ ấy có thể gợi lên nhiều ý nghĩa hơn là chỉ nói lên ý nghĩa của những chữ ấy. Có thể Chúa muốn chúng ta đề cập đến hai ba đề tài. Chúng ta nên viết xuống mỗi một đề tài ấy để không vấn đề nào bị bỏ sót. Nếu bỏ sót điểm cuối cùng, chúng ta có thể đủ sức xoay sở giảng phần còn lại. Nhưng nếu chúng ta bỏ sót điểm đầu tiên, thì trọn buổi nhóm sẽ bị thiệt hại.

Chức vụ cung ứng lời là một vấn đề rất nghiêm trọng. Chúng ta đừng bao giờ làm tổn thương Linh. Có thể chúng ta nghĩ rằng mình có rao giảng tốt hay không cũng không thành vấn đề. Dường như cứ năm câu mà chúng ta bỏ sót một câu [thì cũng không sao]. Không! Nếu bỏ sót điều mà lẽ ra phải truyền đạt, chúng ta sẽ cảm thấy gánh nặng trên mình gia tăng. Nếu bỏ sót một điều gì đó, chúng ta sẽ cảm thấy gánh nặng của nó, vì chúng ta chưa truyền đạt những gì Đức Chúa Trời muốn truyền đạt cho con cái Ngài. Kết quả là gánh nặng của chúng ta càng nặng nề hơn.

Một người cung ứng lời đừng bao giờ thất bại. Chúng ta phải ghi nhớ rằng nếu Chúa muốn chúng ta nói ba điểm thì chúng ta phải nói ba điểm. Nếu Chúa muốn chúng ta nói năm điểm thì chúng ta phải nói năm điểm. Nếu chúng ta không thể truyền đạt tất cả những điểm ấy, gánh nặng của chúng ta sẽ gia tăng. Nếu chúng ta truyền đạt tất cả ngoại trừ một điểm, ánh sáng sẽ bị che khuất, và chúng ta sẽ cảm thấy nặng nề và bị cột trói. Đó là lý do tại sao chúng ta phải tự luyện tập để có một trí nhớ tốt trước mặt Chúa. Chúng ta phải cảnh giác đừng để trí nhớ của mình gây trở ngại. Nguyện Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một sự hiểu biết rõ ràng về đường lối của chức vụ cung ứng lời. Trí nhớ bên ngoài của chúng ta chỉ là một nô lệ cho trí nhớ của Linh; trí nhớ ấy chỉ là một đầy tớ. Nhưng nếu đầy tớ ấy trở nên vô dụng, thì trí nhớ của Linh không thể hoạt động hiệu quả. Trí nhớ của chúng ta cần được đổi mới để có thể trở nên hữu dụng cho Linh. Mỗi người cung ứng lời đều phải trải qua những sự xử lý thích hợp trước khi có thể trở nên hữu dụng. Tâm trí của chúng ta phải được xử lý đến mức có thể trở thành hữu dụng. Trí nhớ của chúng ta cũng phải được xử lý đến mức có thể trở nên hữu dụng. Tư tưởng và trí nhớ liên quan rất mật thiết đến chức vụ cung ứng lời. Một khi trí nhớ của chúng ta gây trở ngại thì khải thị sẽ bị đóng kín và cuối cùng sẽ chết đi.

TRÍ NHỚ TRONG VIỆC TRÍCH DẪN KINH THÁNH

Chúng ta cũng cần phải lưu ý đến vấn đề trích dẫn Kinh Thánh. Trong việc chia sẻ lời Đức Chúa Trời, chúng ta phải theo gương của các sứ đồ, là những người đã trích dẫn Cựu Ước. Khi nói về một đề tài nào đó, chúng ta cần phải trích dẫn Cựu Ước và Tân Ước. Trong việc giảng lời Đức Chúa Trời, chúng ta phải có Kinh Thánh thành văn làm cơ sở của mình. Chúng ta cần phải căn cứ lời giảng của mình trên cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Nhưng ngày nay có một nan đề: Nếu không cẩn thận thì chúng ta sẽ bị Kinh Thánh dẫn vào con đường lầm lạc. Trong việc trích dẫn Cựu Ước và Tân Ước, chúng ta có thể bị những câu trích dẫn lôi cuốn đi. Trước hết là chúng ta có thể bỏ sót điều mình có ý định chia sẻ, và khi trở về nhà, gánh nặng của chúng ta thậm chí còn trở nên nặng hơn. Đó không phải là một điều đơn giản. Nhiều lúc, trong khi giảng, chúng ta không điều khiển được trí nhớ của mình. Chúng ta dễ dàng nói về một phân đoạn Cựu Ước hay một phân đoạn Tân Ước rồi bị phân đoạn ấy cuốn đi. Chúng ta tự hỏi tại sao trong khi giảng, càng lúc mình càng cảm thấy nặng nề hơn. Khi trở về nhà, chúng ta cảm thấy bị lên án; chúng ta cảm thấy mình đã phí phạm thời giờ. Chúng ta đã giảng giải Kinh Thánh và giải thích giáo lý, nhưng chưa dốc đổ được gánh nặng mà Đức Chúa Trời đã giao cho mình. Vì vậy, trong sự rao giảng của mình, chúng ta phải liên tục học tập xét xem gánh nặng của mình đã được giải tỏa chưa. Chúng ta có thể nói về điều này hay điều kia, và có thể trích dẫn Cựu Ước và Tân Ước, nhưng tất cả những điều ấy đều là ngoại vi đối với mục đích là trình bày lời hiện tại của Đức Chúa Trời. Trừ khi có lời hiện tại của Đức Chúa Trời, chúng ta tuyệt đối không nên rao giảng. Nếu không có lời hiện tại của Đức Chúa Trời thì chẳng thà chúng ta đến với nhau và cùng nghiên cứu Kinh Thánh mà không cần sự rao giảng đặc biệt nào cả. Chúng ta đừng thỏa mãn với việc chỉ lặp lại một điều gì đó trong Cựu Ước và Tân Ước; chúng ta cũng phải truyền đạt những lời của chính mình nữa.

Chức vụ cung ứng lời là một điều rất chủ quan. Chúng ta phải giảng những lời quá khứ của Đức Chúa Trời, và phải giảng những lời hiện tại của Đức Chúa Trời. Chúng ta đừng chỉ giảng về Cựu Ước và Tân Ước; chúng ta phải trở về với những lời của chính mình. Chúng ta có thể nói một điều gì đó qua Cựu Ước, và có thể nói một điều gì đó qua Tân Ước. Nhưng chúng ta cũng phải nói những gì mình cần nói. Lời của chúng ta phải mạnh mẽ và phong phú. Chúng ta cần phải truyền đạt những gì mình muốn nói từng câu một. Khi mỗi câu được truyền đạt, chúng ta chạm đến chỗ đúng đắn, và sự sống được tuôn ra nhiều hơn. Gánh nặng dần dần được giải tỏa, và hoàn toàn được dốc đổ khi bài giảng chấm dứt. Có thể chúng ta cảm thấy lời diễn đạt của mình ngắn ngủi, nhưng gánh nặng của chúng ta được giải tỏa; chúng ta đã thực hiện điều mình cần thực hiện. Kết quả là chúng ta sẽ nhìn thấy bông trái trong người khác. Một điều chắc chắn là: Ở đâu gánh nặng được dốc đổ thì ở đó con cái Đức Chúa Trời sẽ nhìn thấy ánh sáng. Nếu họ không nhìn thấy ánh sáng thì đó là nan đề của họ chứ không phải của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta không thể dốc đổ gánh nặng của mình thì nan đề nằm nơi chúng ta chứ không phải nơi họ.

Chúng ta phải nhận thức trước mặt Chúa rằng một người cung ứng lời cần phải luôn luôn mang gánh nặng lời [Chúa]. Rao giảng là để dốc đổ gánh nặng. Muốn dốc đổ gánh nặng, chúng ta phải có trí nhớ của Linh. Không có trí nhớ của Linh, chúng ta không thể dốc đổ gánh nặng của mình. Thậm chí khi trí nhớ của Linh còn tươi mới, chúng ta vẫn phải cẩn thận đừng bị những lẽ thật của Cựu Ước và Tân Ước lôi cuốn đi. Chúng ta cần phải luôn luôn ghi nhớ rằng gánh nặng của chúng ta là mang lời hiện tại của Đức Chúa Trời đến với người ta. Chúng ta không nên chỉ giảng giải Kinh Thánh, mà quên đi những gì lẽ ra mình phải làm. Nếu quên đi những lời đúng ra mình phải bày tỏ, chúng ta sẽ nhận thấy rằng mình vẫn chưa nói lên được điều chính yếu thậm chí sau khi đã nói ra tất cả. Có thể có sự ngăn trở từ Sa-tan. Trong bất cứ trường hợp nào, tư tưởng của chúng ta phải phong phú, và trí nhớ của chúng ta phải phong phú. Chúng ta phải phong phú trong mọi sự rồi mới có thể dốc đổ gánh nặng qua sự rao giảng của mình.