Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 12

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI HAI

GÁNH NẶNG VÀ LỜI

Một người cung ứng lời Đức Chúa Trời không những cần ánh sáng khải thị của Đức Chúa Trời và năng lực để giữ lại ánh sáng ấy, mà còn cần có một gánh nặng. Gánh nặng trong tiếng Hê-bơ-rơ là massa, được dùng theo hai cách. Cách thứ nhất được tìm thấy trong Ngũ-kinh, có nghĩa là “tải trọng có thể mang được” (đc. Xuất. 23:5; Dân. 4:15, 19, 24, 27, 31-32, 49; 11:11, 17; Phục. 1:12). Cách thứ hai được tìm thấy trong các sách tiên tri (đc. Ês. 13:1; 14:28; 17:1; 19:1; 21:1, 11, 13; 22:1; 23:1; 30:6; Giê. 23:33-34, 36, 38; Na. 1:1; Ha. 1:1; Xa. 9:1; 12:1; Mal. 1:1). Những khải thị các tiên tri nhận được là những gánh nặng họ nhận được. Điều được gọi là “gánh nặng” như thế thì liên hệ mật thiết với chức vụ cung ứng lời. Khi các tiên tri phục vụ với tư cách là những người cung ứng lời, sự phục vụ của họ nảy sinh từ massa, tức là từ gánh nặng của họ. Không có gánh nặng thì không có chức vụ cung ứng lời. Vậy, người cung ứng lời phải có một gánh nặng.

HÌNH THÀNH GÁNH NẶNG

Chúng ta đã nhận thấy khởi điểm của chức vụ cung ứng lời là ánh sáng. Khi ánh sáng chiếu trên chúng ta, nó thình lình đến như một tia chớp khải thị rồi nhanh chóng biến đi. Nếu những tư tưởng của chúng ta đã được Chúa xử lý, ánh sáng ấy từ Đức Chúa Trời sẽ được giữ lại trong tâm trí chúng ta. Sau đó, tâm trí chúng ta có thể chuyển dịch ánh sáng ấy trong linh mình thành những tư tưởng có thể hiểu được. Sự chiếu sáng và ngưng tụ ấy trở nên gánh nặng của chúng ta. Người cung ứng lời cần có một gánh nặng. Nhưng nếu không có ánh sáng thì người ấy không thể có gánh nặng. Người ấy cũng không có gánh nặng nếu ánh sáng không được chuyển dịch thành những tư tưởng. Hơn nữa, nếu ánh sáng biến đi và chỉ những tư tưởng còn lại thì cũng không có gánh nặng. Gánh nặng chỉ đến khi nào có ánh sáng cộng với những tư tưởng. Chúng ta phải nhận thấy trước mặt Chúa rằng không có ánh sáng thì không có gánh nặng. Tuy nhiên, chỉ có ánh sáng thì không tạo ra một gánh nặng. Thậm chí sau khi ánh sáng được chuyển dịch thành những tư tưởng, vẫn không có gánh nặng nếu ánh sáng biến đi và chỉ để lại những tư tưởng. Một người cung ứng lời chỉ có thể có gánh nặng khi nào ánh sáng được bổ sung và giữ lại bởi những tư tưởng được chuyển dịch.

Tại sao chúng tôi gọi đó là gánh nặng? Khi ánh sáng được chuyển dịch thành những tư tưởng cách tốt đẹp, nhưng sau đó biến đi, chỉ để lại những tư tưởng, thì [chúng ta] sẽ không còn cảm nhận được chút tác dụng nào. Chúng ta cảm nhận được tác dụng ấy chỉ khi nào chúng ta chạm đến những tư tưởng và đồng thời ở dưới sự chiếu sáng. Vào những lúc ấy, chúng ta cảm thấy bị đè nén, khó chịu hay thậm chí đau đớn ở bên trong. Đó là gánh nặng của lời Đức Chúa Trời. Các gánh nặng mà những tiên tri nhận được chỉ có thể được truyền đạt qua lời. Nếu chúng ta không có lời, những gánh nặng của chúng ta sẽ không được giải tỏa.

Để học làm một người cung ứng lời, chúng ta phải khám phá ra từ Đức Chúa Trời mối liên hệ giữa lời, với những tư tưởng và ánh sáng của Ngài là gì. Trước hết chúng ta nhận được ánh sáng, sau đó chúng ta nhận được những tư tưởng, và cuối cùng chúng ta nhận được lời. Chức năng của lời là truyền đạt ánh sáng của Đức Chúa Trời. Theo cái nhìn của Đức Chúa Trời, thì ánh sáng trở nên những tư tưởng, rồi trở nên lời. Hôm nay, tôi chuyển gánh nặng của tôi cho người khác khi tôi truyền ánh sáng của Đức Chúa Trời cho họ. Khi có ánh sáng và những tư tưởng, tôi có một gánh nặng ở trên chính mình. Dưới gánh nặng ấy, tôi không được tự do; tôi cảm thấy bị đè nén, nặng trĩu, áp đảo và nhiều khi còn đau đớn. Nhưng khi tôi chuyển gánh nặng đó cho người khác và truyền đạt nó cho con cái Đức Chúa Trời, linh của tôi được thanh thản và tâm trí tôi lại được tự do, như thể một gánh nặng đã được cất khỏi vai mình.

CẤT ĐI GÁNH NẶNG TÙY THUỘC VÀO SỰ HIỆN DIỆN CỦA LỜI

Làm thế nào chúng ta có thể giải tỏa chính mình khỏi gánh nặng? Để giải tỏa gánh nặng, chúng ta phải có lời. Những gánh nặng vật chất được giải tỏa bằng bàn tay của chúng ta. Những gánh nặng thuộc linh được trút đi bằng lời. Nếu chúng ta không thể tìm ra lời thích hợp để truyền đạt gánh nặng, thì gánh nặng vẫn đè nặng trên mình. Gánh nặng của mình được cất đi và chúng ta được thanh thản khi có được những lời thích hợp. Tất cả những người cung ứng lời đều có kinh nghiệm chung rằng chỉ có tư tưởng thì không đủ cấu tạo một sứ điệp trong họ; họ phải có lời rồi mới có thể truyền đạt một sứ điệp. Duy những tư tưởng không thể dẫn người ta đến với Đức Chúa Trời. Nếu một người chỉ có những tư tưởng và không có gì khác, lời nói của người ấy sẽ rối rắm, đi lòng vòng, và không đến đâu cả, như thể người ấy ở trong một mê cung. Nhưng nếu người ấy có lời diễn đạt, càng nói thì người ấy càng được giải tỏa. Nhiều lúc người cung ứng có một gánh nặng trên mình. Khi người ấy đến buổi nhóm, Đức Chúa Trời chiếu sáng trên người ấy và thúc đẩy người ấy nói. Nhưng sau khi chia sẻ trong một tiếng đồng hồ, người ấy về nhà với gánh nặng vẫn còn ở trên vai mình. Người ấy đến với gánh nặng, và ra về với gánh nặng. Ngoại trừ có thể viện cớ là do người nghe, lý do duy nhất khiến người ấy thất bại là thiếu lời. Khi ở trong tình trạng thiếu thốn lời, một người càng nói, thì càng trở nên bứt rứt, và càng không được giải tỏa. Người ấy không im lặng. Thật ra, có thể người ấy nói khá dài dòng, nhưng chính lời [muốn] phát biểu ở bên trong không thể được truyền đạt. Như vậy có nghĩa là [người ấy] đang ở trong trình trạng thiếu thốn lời. Đó không phải là vấn đề thiếu tư tưởng mà là vấn đề thiếu lời. Nếu người ấy có những lời đúng đắn thì kết quả sẽ khác. Cho dầu đến [buổi nhóm] với một gánh nặng, người ấy sẽ cảm thấy được giải tỏa đang khi nói. Khi lời được truyền đạt từng câu một, gánh nặng của người ấy sẽ được giải tỏa từng chút một. Càng nói thì người ấy càng được giải phóng. Người ấy đến với một gánh nặng, và sau khi chia sẻ, người ấy sẽ cảm thấy gánh nặng được dốc đổ. Điều này tương tự như cách các tiên tri dốc đổ gánh nặng của mình. Những lời tiên tri của các tiên tri là gánh nặng của họ. Công việc của họ là trút đi những gánh nặng của mình. Họ trút đi những gánh nặng của mình bằng cách truyền đạt lời. Một công tác viên tự giải tỏa gánh nặng của mình bằng cách truyền đạt lời. Không có lời, người ấy không thể trút đi gánh nặng của mình. Gánh nặng vẫn ở trên người ấy. Có thể những người khác khen ngợi người ấy về lời diễn thuyết tuyệt diệu của người ấy; có thể họ nói với người ấy rằng họ đã nhận được nhiều giúp đỡ. Nhưng người ấy sẽ nhận thức rằng không có điều gì ra từ bên trong mình. Người khác chỉ nghe lời người ấy nói, chứ không nghe được lời Đức Chúa Trời.

Trong khi đề cập đến chức vụ cung ứng lời của mình cho người Cô-rin-tô, Phao-lô nói: “Chúng ta cũng giảng những sự ấy, không phải bằng lời của sự khôn ngoan loài người dạy, bèn bằng lời của Linh dạy, lấy lời thuộc linh mà giải nghĩa những điều thuộc linh” (1 Cô. 2:13). Nếu chưa nhận được lời từ Đức Chúa Trời thì chúng ta không thể làm một người cung ứng lời. Chúng ta phải có lời mà Chúa đã ủy thác cho chúng ta và đặt vào miệng chúng ta. Khi lời được truyền đạt, gánh nặng được giải tỏa. Mọi công tác viên Cơ-đốc đều phải học dốc đổ gánh nặng ấy. Những người công tác theo tâm trí hay kiến thức của mình thì không hiểu sự thật này. Một người có thể dốc đổ được gánh nặng của mình hay không thì không tùy thuộc nhiều vào lời diễn đạt và những tư tưởng của người ấy bằng tùy thuộc vào lời Đức Chúa Trời. Khi người ấy có lời Đức Chúa Trời và truyền đạt lời ấy, thì sự dốc đổ lời ấy cũng tương đương với việc trút đi gánh nặng của người ấy. Vì vậy, chúng ta phải học tập tiếp nhận lời Đức Chúa Trời từ Ngài. Khi ánh sáng của Đức Chúa Trời đến với con người bề ngoài của chúng ta qua những tư tưởng của mình, những tư tưởng ấy có thể được chuyển dịch thành lời. Khi những lời ấy được truyền đạt, chúng trở nên lời Đức Chúa Trời. Đó là chức vụ cung ứng lời. Chúng ta phải sáng tỏ trước mặt Chúa thế nào những tư tưởng của chúng ta chuyển thành lời và thế nào những lời bên trong chuyển thành những lời [phát biểu] bên ngoài. Trong chính việc dốc đổ gánh nặng của mình, chúng ta phải nhận thức được sự khác biệt giữa những lời bên trong và những lời bên ngoài. Chúng ta cần có lời, cả những lời bên trong lẫn những lời bên ngoài. Những lời bên trong là lời chúng ta nhận được ở bên trong chúng ta, trong khi những lời bên ngoài trình bày những lời bên trong.

MỐI LIÊN HỆ GIỮA GÁNH NẶNG VÀ LỜI BÊN TRONG

Trước hết chúng ta hãy xem xét lời bên trong. Sau khi nhận được ánh sáng từ Đức Chúa Trời và sau khi có những tư tưởng, chúng ta chỉ có đủ “vật liệu” để tạo nên một gánh nặng, nhưng chừng đó chưa đủ để dốc đổ gánh nặng ấy. Ánh sáng và tư tưởng chỉ có thể trở nên gánh nặng của chúng ta; chúng không thể giúp dốc đổ gánh nặng ấy. Trước hết, ánh sáng và những tư tưởng phải trở nên lời cho chúng ta; trước hết những tư tưởng phải trở nên lời rồi chúng ta mới có thể truyền đạt lời ấy qua tiếng nói của mình cho thế giới bên ngoài. Chúng ta không thể nói ra tư tưởng của mình; chúng ta chỉ có thể nói ra lời của mình. Chúng ta không thể “ứng khẩu” chuyển những tư tưởng của mình thành lời. Trước hết chúng ta phải chuyển dịch những tư tưởng ấy thành lời rồi mới có thể công bố lời ấy cho thế giới bên ngoài. Chức vụ cung ứng lời khác với sự nói chuyện thông thường. Với sự nói chuyện thông thường, hễ có tư tưởng thì một người có thể nói; lời nói của người ấy dựa vào tư tưởng của người ấy. Tuy nhiên, đối với chức vụ cung ứng lời thì không như vậy. Tư tưởng của họ trước hết phải được chuyển thành lời. Bản thể bề trong của họ không những phải đầy dẫy tư tưởng mà còn phải đầy đầy dẫy lời nữa. Họ có thể truyền đạt lời bên trong mình cho thế giới bên ngoài sau khi họ có cả hai.

Chúa Giê-su làm tấm gương cao cả nhất về người cung ứng lời khi Ngài ở trên đất. Ngài không phải là tư tưởng của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt; Ngài là Lời của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt. Một người cung ứng lời phải được [Chúa] cung ứng cho lời rồi mới có thể phục vụ với tư cách là người cung ứng lời. Một người không trở nên người cung ứng lời chỉ nhờ có những tư tưởng. Những tư tưởng phải được chuyển thành lời rồi người ấy mới có thể có một chức vụ cung ứng trước mặt Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta chỉ có những tư tưởng mà không có lời ngoại trừ những lời riêng của mình, thì chúng ta vẫn thiếu một điều, và không thể làm một người cung ứng lời. Đó là những nguyên tắc cơ bản. Chúng ta cần ánh sáng, chúng ta cần những tư tưởng, và chúng ta cần những lời bên trong. Sau khi chúng ta có ánh sáng từ Đức Chúa Trời và sau khi ánh sáng ấy được giữ lại trong tư tưởng của chúng ta, chúng ta phải học cầu xin được có lời trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta phải tỉnh thức. Chúng ta phải cầu nguyện và khẩn nài Ngài rồi chúng ta mới có lời.

Khi ánh sáng của Đức Chúa Trời chiếu vào trong linh chúng ta, đó là một khải thị; chúng ta phải chuyển dịch khải thị ấy thành những tư tưởng của mình. Không có khải thị thì không có sự chiếu sáng. Sự chiếu sáng là công việc của Đức Chúa Trời. Nhưng giữ lại ánh sáng bằng những tư tưởng là công việc của con người, một công việc thuộc về những người đã học được những bài học thích đáng từ Đức Chúa Trời. Sau khi ánh sáng được chuyển dịch thành những tư tưởng, vẫn cần phải chuyển dịch những tư tưởng ấy thành lời. Chúng ta chuyển dịch ánh sáng thành những tư tưởng cho chính mình, và chuyển dịch những tư tưởng thành lời cho người khác. Nếu chúng ta chỉ định có ánh sáng cho chính mình thì có những tư tưởng cũng đủ rồi. Nhưng để ánh sáng được ban phát cho người khác, những tư tưởng ấy phải được chuyển dịch thành lời. Không có những tư tưởng thì ánh sáng quá trừu tượng. Không có ánh sáng thì những tư tưởng chỉ là vô dụng. Nhưng ánh sáng phải được chuyển dịch thành tư tưởng rồi nó mới trở nên cụ thể đối với chúng ta. Hơn nữa, những tư tưởng phải được chuyển dịch thành lời rồi ánh sáng mới trở nên cụ thể đối với người khác. Chúng ta cần những tư tưởng để chuyển dịch ánh sáng, và chúng ta cần lời để chuyển dịch tư tưởng. Chỉ khi ấy chúng ta mới có chức vụ cung ứng lời. Một người chỉ có ánh sáng thì không đủ điều kiện làm người cung ứng lời, và một người chỉ có tư tưởng cũng không đủ điều kiện làm người cung ứng lời. Thậm chí một người có cả ánh sáng và tư tưởng cũng không đủ điều kiện trở nên người cung ứng lời. Phải có ánh sáng, tư tưởng và lời thì một người mới có thể phục vụ với tư cách là người cung ứng lời. Chúng ta cần lời để chuyển dịch tư tưởng. Điều này không chỉ về tư tưởng thông thường mà chỉ về những tư tưởng liên quan đến khải thị. Tư tưởng của chúng ta chính là ánh sáng mà chúng ta nhìn thấy. Nhưng chúng ta không thể chia sẻ tư tưởng ấy với người khác; chúng phải được chuyển thành lời. Vậy nên, một bước lớn khác trong chức vụ cung ứng lời là tiếp nhận lời từ Đức Chúa Trời để neo vững chắc rồi chuyển dịch tư tưởng của chúng ta. Chúng ta cần lời. Ánh sáng từ Đức Chúa Trời chỉ có thể được giữ lại bằng những tư tưởng đã được khép vào kỷ luật. Hơn nữa, chúng ta phải neo vững chắc những tư tưởng ấy bằng lời cũng phát xuất từ Đức Chúa Trời. Lời làm vững chắc tư tưởng của chúng ta phải đến từ Đức Chúa Trời. Đôi khi khải thị ở trong linh, và đôi khi ở trong lời. Chúng ta hãy xem xét hai điều này.

Khải Thị Trong Linh Và Khải Thị Trong Lời

Khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta khải thị trong linh mình, chúng ta có sự chiếu sáng. Tuy nhiên, sự chiếu sáng ấy không dừng lại với khải thị của Đức Chúa Trời trong linh chúng ta. Chúng ta phải giữ lại ánh sáng ấy bằng tư tưởng của mình. Nhưng tư tưởng thiên nhiên của chúng ta không thích hợp với công việc này. Ngay lập tức chúng ta không thể chuyển tư tưởng của mình thành lời. Thế thì chúng ta nên làm gì? Chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời soi sáng thêm, không phải soi sáng trong linh chúng ta để truyền đạt ý nghĩa của sự soi sáng ấy cho chúng ta, mà là soi sáng hầu chuyển đạt những lời [để có thể] diễn dịch ý nghĩa của ánh sáng thành lời. Ở đây chúng ta nhìn thấy hai khải thị, một ở trong linh và một ở trong lời. Khải thị trong lời là một hai câu Đức Chúa Trời ban cho chúng ta. Khi cầu nguyện với Đức Chúa Trời, chúng ta nhận một ánh sáng rõ ràng, chúng ta có thể giữ lại và gìn giữ ánh sáng ấy; ánh sáng được chuyển dịch thành tư tưởng trong chúng ta. Nhưng khi cố nói với những người khác về khải thị ấy, chúng ta không thể làm được. Chúng ta tự mình hiểu khải thị ấy, nhưng không thể truyền đạt cho người khác. Chúng ta có thể hiểu khải thị ấy một ít, nhưng không có lời để bày tỏ cho người khác. Tại điểm này, chúng ta nên bắt đầu cầu nguyện Đức Chúa Trời ban cho lời. Chúng ta cần phải cầu nguyện một cách tỉnh thức và bao quát, mở lòng mình ra cho Ngài và bỏ mọi thành kiến. Linh chúng ta cũng phải mở ra cho Ngài nữa. Khi làm như vậy, chúng ta sẽ bắt đầu nhìn thấy một điều gì đó trước mặt Đức Chúa Trời; Ngài sẽ ban cho chúng ta một hai lời thích hợp để bày tỏ cảm nhận ở bên trong. Chỉ một vài lời ấy trở nên một khải thị. Những lời khải thị ấy giữ ánh sáng của Đức Chúa Trời ở chỗ thích hợp.

Ánh sáng được chuyển dịch thành nhận thức và tư tưởng, rồi tư tưởng được chuyển dịch thành ra lời. Nói như vậy là đúng, và tôi tin điều này chắc chắn là vậy. Ánh sáng trở nên tư tưởng, rồi tư tưởng được truyền đạt qua chúng ta [dưới hình thức] là lời. Ánh sáng đến với chúng ta và được tư tưởng giữ lại. Ngày nay, tư tưởng ấy được bày tỏ qua chúng ta bằng lời. Điều này hoàn toàn đúng. Nói rằng mối liên hệ giữa khải thị với tư tưởng chỉ giới hạn trong mối liên hệ giữa khải thị ở trong lời với tư tưởng thì không mấy chính xác. Chúng ta nhận được lời từ Đức Chúa Trời trong khải thị thứ hai, nhưng những lời khải thị chúng ta nhận được từ Đức Chúa Trời lần thứ hai là nhằm mục đích bắt lấy ánh sáng mà chúng ta nhìn thấy lần thứ nhất. Chúng ta có thể nói rằng có hai sự “bắt lấy” trong chúng ta. Thứ nhất, tư tưởng bắt lấy ánh sáng của Đức Chúa Trời, và thứ hai, những lời chúng ta nhận được từ Đức Chúa Trời cũng bắt lấy ánh sáng của Ngài. Cũng như chúng ta bắt lấy ánh sáng mà chúng ta nhận được trong linh mình bằng tư tưởng, ngày nay chúng ta bắt lấy ánh sáng qua lời Đức Chúa Trời ban cho mình. Nhờ đó, khải thị chúng ta nhận được qua lời trở nên một với khải thị chúng ta đã nhận được trong linh mình. Những gì chúng ta nhìn thấy trong linh mình biến mất trong chốc lát; nhưng nội dung của khải tượng ấy không được đo lường bằng thời gian. Đó không có nghĩa là nếu một khải thị kéo dài một giây thì lời nói cũng sẽ kéo dài chỉ một giây. Những gì chúng ta nhìn thấy trong linh mình chỉ một khoảnh khắc có thể liên quan đến nhiều điều. Đó là lý do tại sao tâm trí của chúng ta phải mạnh mẽ và phong phú để bắt lấy ánh sáng. Càng vận dụng tâm trí của mình, chúng ta sẽ càng bắt lấy thêm nhiều ánh sáng từ Đức Chúa Trời. Lời chúng ta nhận được từ Đức Chúa Trời cũng theo nguyên tắc ấy. Trái với lượng to lớn được khải thị cho chúng ta một khoảnh khắc trong linh, lời Đức Chúa Trời đến với chúng ta chỉ trong một hai câu. Khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một hai câu để bắt lấy ánh sáng, các câu ấy không những chứa đựng từ ngữ mà bên trong còn hàm chứa toàn bộ khải thị.

Trong lời phát biểu thông thường, một người chỉ cần nói tám chữ nếu có tám chữ để nói, hay mười chữ nếu có mười chữ để nói. Nếu một bài nói chuyện cần kéo dài mười phút thì nó có thể chấm dứt trong mười phút. Lời người ta phát biểu trong thế giới này có thể được đếm bằng từng chữ, từng phút và từng giây. Nhưng đó không phải là khải thị. Một lời khải thị có thể chỉ bao gồm một hai câu, nhưng lời khải thị ấy dầm thấm sự phong phú như khải thị của Đức Chúa Trời. Một khải thị chứa đựng rất nhiều sự phong phú; sự chiếu sáng trong khoảnh khắc chứa đựng nhiều sự phong phú. Đức Chúa Trời có thể chỉ ban cho chúng ta một câu, nhưng một câu ấy hàm chứa đầy dẫy lời diễn đạt phong phú và khải thị tuôn tràn của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta có thể nhận được rất nhiều sự phong phú qua một khải thị trong khoảnh khắc, chúng ta cũng có thể nhận được rất nhiều sự phong phú qua một câu duy nhất. Nếu Đức Chúa Trời có thể bao gồm sự phong phú của Ngài trong một khoảnh khắc khải thị, thì Ngài cũng có thể bao gồm sự phong phú của Ngài trong một câu. Những gì một người nhìn thấy trong khoảnh khắc ấy có thể cần đến một vài tháng để giải thích. Tương tự như vậy, những gì một người nhận được trong một câu có thể cần đến một vài tháng đễ diễn giải. Tại đây chúng ta phải phân biệt giữa những lời bên trong và những lời bên ngoài. Những lời bên trong không dài dòng, tuy nhiên lại hàm chứa nhiều sự phong phú. Sự phong phú những lời bên trong chứa đựng thì dồi dào như sự phong phú một người nhìn thấy trong khoảnh khắc. Chúng ta không được ban cho những bài giảng dài để chia sẻ với người khác. Điều chúng ta nhận được có thể chỉ là một hai câu. Nhưng những câu ấy chứa đựng nhiều điều thuộc linh. Vài câu ấy mang một đặc tính nổi bật — chúng là những lời truyền đạt sự sống.

Lời truyền đạt sự sống là gì? Khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta khải thị, Ngài ban cho chúng ta sự sống. Ngài ban phát sự sống cho chúng ta qua khải thị của Ngài. Khải thị ấy trở nên gánh nặng cho một công tác viên hay một người cung ứng. Khi gánh nặng ấy được dốc đổ, sự sống được tuôn ra. Nếu gánh nặng ấy không được dốc đổ, sự sống không được tuôn ra. Gánh nặng càng nặng thì sự truyền đạt của gánh nặng ấy càng đầy quyền năng khi nó được dốc đổ. Nếu gánh nặng không được dốc đổ, thì nó sẽ vẫn ở trong chúng ta, và càng ngày càng trở nên nặng hơn. Giả sử tay chúng ta xách một cái bao to lớn chứa đầy nước rất nặng. Nếu chúng ta đâm thủng cái bao ấy, nước sẽ tuôn ra, và một lúc sau tay chúng ta sẽ không cảm thấy sức nặng nữa. Việc truyền đạt lời cũng theo một tiến trình như vậy. Nếu có gánh nặng bên trong mình, chúng ta cũng cần phải có những lời thích hợp bên trong mình. Một câu cũng đủ rồi; gánh nặng của chúng ta sẽ được dốc đổ cũng như nước tuôn khỏi cái bao. Nhưng nếu không có một lời ấy, chúng ta sẽ cảm thấy như cái bao đầy nước bít kín. Thế thì lời khải thị là gì? Lời khải thị là lời tuôn ra sự sống. Trước kia, sự sống bị nhốt kín, nhưng nhờ chúng ta dốc đổ gánh nặng mà sự sống ấy được tuôn ra cho người khác. Chúng ta phải có những lời thích hợp để giải tỏa áp lực ở bên trong. Nếu không có một lời như vậy, chúng ta không thể tuôn ra sự sống.

Mỗi khi chúng ta có một gánh nặng, dầu nặng đến đâu đi nữa, chúng ta sẽ nhận được một lời liên quan đến gánh nặng ấy nếu chúng ta kiên trì chờ đợi đúng mức trước mặt Đức Chúa Trời. Đôi khi chúng ta có thể phải cầu nguyện nhiều ngày rồi mới có một lời tương xứng với gánh nặng. Trong việc bắt lấy ánh sáng, tâm trí của chúng ta có thể hiểu những điều liên hệ, nhưng chúng ta có thể không có lời để bày tỏ sự hiểu biết của mình. Tuy nhiên, có những khi chúng ta nhận được lời cùng lúc tâm trí chúng ta bắt lấy ánh sáng. Khi cảm thấy sự đè nén của gánh nặng, tự phát những lời sẽ xuất hiện. Chúng ta không thể ra lệnh khi nào lời sẽ đến. Đôi khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta lời ngay khi chúng ta nhìn thấy một điều gì đó. Đôi khi chúng ta phải chờ đợi, và lời chỉ đến sau khi gánh nặng trở nên càng lúc càng trĩu nặng hơn. Bất kể khi nào lời đến, chúng luôn luôn thích hợp với nhu cầu. Những lời ấy trở nên ánh sáng của chúng ta. Dường như toàn bộ khải thị chúng ta đã nhận được có thể được gồm tóm trong một lời. Một hai lời chúng ta nhận được có nội dung phong phú như toàn bộ khải thị chúng ta nhận được trước đó. Những lời ấy giống như nút chai; khi nút chai được mở, thì nước bên trong trào ra. Đức Chúa Trời phải ban cho chúng ta một hai lời. Chúng tôi gọi những lời ấy là những lời bên trong. Những lời ấy đến từ Đức Chúa Trời, và chúng được ban cho để bắt lấy khải thị và kết hợp khải thị lại với nhau. Ý định của Đức Chúa Trời là chúng ta chứa đựng khải thị mình nhận được từ Ngài trong một hai lời ấy. Khi chúng ta tuôn đổ những lời ấy ra, thì khải thị được truyền đạt. Một khi chúng ta diễn đạt những lời khải thị ấy từ Đức Chúa Trời, ánh sáng của Ngài được tỏa ra.

Chúng ta cần phải được sáng tỏ về điều này trước mặt Chúa: Không có ánh sáng thì không có chức vụ cung ứng lời. Không có tâm trí giữ lại ánh sáng và biến đổi ánh sáng ấy thành những tư tưởng thì không có chức vụ cung ứng lời. Nhưng thậm chí sau khi ánh sáng được giữ lại và được chuyển dịch thành tư tưởng, vẫn cần đến lời, tức lời khải thị. Lời ấy là điều Phao-lô đề cập đến là “lời được dạy bởi Linh” (1 Cô. 2:13). Linh phải ban cho chúng ta một lời. Không những Ngài phải ban cho chúng ta khải thị, mà Ngài còn phải ban cho chúng ta khải thị trong lời. Có thể những lời khải thị ấy chỉ là một hai câu, nhưng chúng súc tích và xác đáng. Ngay khi một hai câu ấy được diễn đạt thì ánh sáng sẽ tuôn ra. Chúng ta có thể nói nhiều điều, nhưng nếu chúng ta không nói ra một hai câu ấy thì sự sống sẽ không tuôn chảy. Ngay khi những câu ấy được phát biểu thì sự sống tuôn ra.

Sự sống của Đức Chúa Trời được tuôn đổ qua khải thị chứ không qua điều gì khác. Hãy lấy sự đóng đinh của Chúa Giê-su làm ví dụ. Về mặt sự kiện thì Chúa đã chết cho mọi người trên khắp thế giới rồi. Nhưng mọi người đã nhận được sự sống của Ngài chưa? Về mặt sự kiện thì Ngài đã chết cho mọi người trên thế giới này, nhưng không phải mọi người đều đã nhận được sự sống ấy. Đó là vì không phải mọi người đều đã nhận được khải thị ấy. Cho dầu một người có thể đọc thuộc lòng lẽ thật về sự chết của Chúa, nếu người ấy chưa nhận được khải thị thì điều đó cũng không có ích gì cho người ấy. Những người khác đã nhận được khải thị có thể thốt ra lời cảm tạ và ngợi khen từ sâu trong bản thể của mình. Sự nhìn thấy mang đến sự sống. Thánh Linh làm cho con người sống động qua lời Ngài. Ngay khi nhìn thấy một lời như vậy thì chúng ta được làm cho sống động.

Ngày nay, Đức Chúa Trời đang cung ứng cho Hội thánh qua lời. Ý định của Ngài là ban phát Đấng Christ và sự sống của Đấng Christ cho Hội thánh. Nhưng dường như sự sống ấy chỉ có thể được tuôn ra qua gánh nặng chúng ta mang. Khi một gánh nặng đến với chúng ta, phải có một lời tương xứng để truyền sự sống trong lời ấy. Có những lời không tuôn ra sự sống thậm chí khi được nói ra trong hai giờ đồng hồ. Những lời khác thì tuôn ra sự sống ngay lập tức. Có những lời có thể được lặp lại nhiều lần mà không mang theo chút sự sống nào trong chúng. Những lời khác thì mang đến sự sống ngay khi được nói ra. Một người cung ứng lời phải có lời. Không có lời thì người ấy sẽ không hoàn thành được điều gì cả. Mỗi khi một người nhận được khải thị, người ấy cũng phải nhận được một hai lời nữa. Khi những lời ấy được truyền đạt, thì sự sống tuôn chảy. Những lời xuyên thấu và tuôn-trào-sự-sống ấy truyền đạt sự sống ngay khi chúng được nói ra. Trước khi những lời ấy được nói ra thì không có chút sự sống nào được tuôn ra. Nhưng vừa khi một người nói ra những lời ấy thì người khác chạm đến sự sống. Thiếu những lời như vậy, không ai có thể chạm đến sự sống cho dầu người ấy có cố gắng thế nào đi nữa.

Khải thị và ánh sáng đến trước. Đó là khởi điểm. Chúng ta phải nhận được khải thị và ánh sáng từ Đức Chúa Trời. Nhưng chỉ có khải thị và ánh sáng thì không thể cấu thành chức vụ cung ứng lời. Một người phải được đổi mới trong tâm trí và sự hiểu biết của mình. Khi Đức Chúa Trời lại chiếu sáng, thì người ấy sẽ được sáng tỏ về nội dung của khải thị ấy. Chúng ta không thể chuyển đạt một khải thị mơ hồ và mập mờ. Tối thiểu là khải thị phải sáng tỏ trong tâm trí của chúng ta rồi chúng ta mới có thể nói với người khác về khải thị ấy. Nếu chính mình không sáng tỏ thì chúng ta không thể nói với người khác về điều ấy. Nếu khải thị chúng ta đã nhận được chưa sáng tỏ đối với mình thì chúng ta không thể truyền đạt khải thị ấy. Thậm chí khi đã nhận được khải thị, chúng ta vẫn không thể truyền đạt trừ khi trước hết tâm trí của chúng ta sáng tỏ về khải thị ấy. Những gì chúng ta nói có thể không sai trật, nhưng chúng ta sẽ không có chức vụ cung ứng lời, và Chúa sẽ không được truyền ra qua chúng ta. Sau khi chúng ta nhận được ánh sáng, trước hết tâm trí chúng ta phải sáng tỏ. Nếu tâm trí chúng ta rối loạn, ánh sáng chúng ta nhìn thấy sẽ không lưu lại. Do đó, chúng ta cần một tâm trí đổi mới. Không thể sử dụng tâm trí cũ kỹ; nó phải được phá vỡ. Nếu tâm trí mình không sáng tỏ thì chúng ta không thể làm một người cung ứng lời Đức Chúa Trời. Nhưng cho dầu tâm trí mình sáng tỏ, chúng ta vẫn không thể làm người cung ứng lời vì chúng ta vẫn chưa có những lời thích hợp. Những người khác chỉ có thể nghe được lời của chúng ta; họ không thể nghe tâm trí chúng ta. Nếu không có những lời thích hợp, chúng ta có thể nói hàng tiếng đồng hồ trên bục giảng mà không chuyển đạt được những gì mình biết. Đó là lý do tại sao chúng ta phải có lời từ Đức Chúa Trời. Đối với một số người, lời đến ngay khi tâm trí họ bắt được ánh sáng. Đối những người khác thì có thể phải cần đến một vài ngày hay thậm chí một vài tháng. Cho dầu lời đến sớm hay muộn, vẫn phải có một lời rõ ràng. Chúng ta phải nhận được lời rõ ràng từ Đức Chúa Trời trước khi có thể nói. Không có một lời như vậy thì chúng ta không thể nói. Không cần đến nhiều lời; tất cả những gì chúng ta cần là một hai câu. Một khi nhận được một, hai, ba hay năm câu từ Chúa thì chúng ta có thể truyền đạt tất cả khải thị mình đã nhận được. Trừ khi chúng ta có sự tin chắc hoàn toàn ở trong mình, chúng ta không thể đứng lên nói. Nếu chúng ta không nhận được chút ánh sáng nào, chức vụ cung ứng của chúng ta sẽ không đi đến đâu cả. Không có ánh sáng, thì không có chức vụ cung ứng lời. Nhưng sau khi đã nhận được ánh sáng rồi có những tư tưởng về ánh sáng ấy, chúng ta vẫn cần đến vài lời tuôn-sự-sống. Chúng tôi không nói về những lời khôn khéo và khôn ngoan, mà nói về những lời tuôn-sự-sống. Ngay khi những lời ấy đâm thấu người khác thì sự sống tuôn ra. Hễ những lời ấy được truyền đạt thì sự sống tuôn ra. Sự sống phải được tuôn ra. Đôi khi, một hai câu cũng đủ để tuôn ra sự sống. Trước mặt Chúa chúng ta phải lưu tâm về những lời này. Chúng tôi gọi điều đó là những lời khải thị. Không có những lời khải thị ấy, chúng ta không thể nói ra lời Đức Chúa Trời.

Chúng ta cần phải ghi nhớ rằng khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một gánh nặng, Ngài cũng ban cho chúng ta lời để dốc đổ gánh nặng ấy. Cả hai đều từ Đức Chúa Trời. Ngài ban cho chúng ta ánh sáng ở bên trong, và cũng ban cho chúng ta những tư tưởng ở bên trong. Khi cả ánh sáng lẫn những tư tưởng đều hiện diện, thì chúng ta có một gánh nặng. Gánh nặng ấy sẽ làm cho chúng ta bứt rứt; chúng ta sẽ bị đè nén và thúc ép. Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho chúng ta gánh nặng, cũng sẽ ban cho chúng ta lời để dốc đổ gánh nặng ấy. Đức Chúa Trời là Đấng ban cho chúng ta gánh nặng, và cũng là Đấng ban cho chúng ta khả năng dốc đổ gánh nặng ấy. Ngài sẽ ban cho chúng ta những lời để tuôn ra sự sống. Một hai nhóm chữ cũng đủ để truyền đạt sự sống ấy. Chúng ta đừng bỏ đi với gánh nặng ở trên vai mình. Chúng ta phải tìm cách tuôn đổ sự sống ấy. Nếu không thể làm điều đó, thì chúng ta không biết cách công tác cho Đức Chúa Trời. Khi đến với các anh chị em, chúng ta không nên đi với một chiếc bình trống không trong tay mình; chúng ta cần phải chuẩn bị cho họ nước. Chúng ta phải tìm cách tuôn đổ nước ra trước khi mở miệng nói. Tôi thường nhìn thấy một anh em nói dài dòng mà không truyền đạt những gì mình muốn truyền đạt. Anh em ấy hết sức cố gắng truyền đạt điều đó, nhưng không thể giải tỏa được điều gì cả. Nếu từng học được vài bài học từ Chúa, chúng ta sẽ chú ý thấy anh em ấy đi lòng vòng. Người ấy có thể đi đến chỗ mà tại đó nước sắp sửa tuôn đổ ra, nhưng rồi lại đi lòng vòng và nước vẫn bị giữ lại. Khi đã đạt đến một điểm nào đó, người ấy chỉ cần nói một lời nào đó thì gánh nặng sẽ được tuôn đổ. Nhưng người ấy thiếu lời bên trong. Người ấy chưa học tập để có được những lời trọng yếu trước khi bắt đầu cung ứng lời. Không có gì ngạc nhiên khi người ấy càng nói thì lại càng lạc đề.

Chúng ta phải chờ đợi trước mặt Đức Chúa Trời để nhận được lời thích hợp. Có lời thích hợp ngay khi tâm trí chúng ta bắt được ánh sáng là tốt nhất. Nếu không nhận được lời khi chúng ta bắt được ánh sáng, thì chúng ta cần phải cầu xin [Chúa ban cho] một lời như vậy. Một ngày kia, chúng ta sẽ khám phá thấy rằng tài hùng biện của mình cũng vô dụng. Điều lạ lùng là trước khi một người học tập làm người cung ứng lời Đức Chúa Trời, người ấy có thể nghĩ rằng mình có khẩu tài. Nhưng tài hùng biện thiên nhiên của con người có thể nói về nhiều điều ngoại trừ những điều về Đức Chúa Trời. Tài hùng biện của con người thì vô dụng trong việc bày tỏ những điều về Đức Chúa Trời. Sự sống không bao giờ có thể được tuôn đổ ra qua tài hùng biện của con người. Những lời sự sống chỉ có thể tìm thấy qua khải thị. Dầu có khẩu tài thế nào đi nữa, chúng ta vẫn không bao giờ thành công trong việc tuôn đổ ra sự sống.

Chúng ta phải công nhận Phao-lô là một diễn giả có tài. Nhưng trong Ê-phê-sô 6:19, ông nói: “Cũng hãy vì tôi mà cầu nguyện nữa, để tôi được khẩu tài, dạn dĩ mở miệng bày tỏ lẽ mầu nhiệm của Tin-lành”. Trong nguyên ngữ, khẩu tài là “lời”. Phao-lô yêu cầu người Ê-phê-sô cầu nguyện cho ông để ông nhận được lời hầu bày tỏ huyền nhiệm của phúc-âm. Tài hùng biện thuộc xác thịt thì vô dụng đối với những điều thuộc linh. Phải có những lời được Đức Chúa Trời ban cho. Chức vụ cung ứng lời là một điều gì đó ở bên trong chứ không phải ở bên ngoài. Nếu không có lời bên trong thì không có gì đáng để chúng ta nói cả. Điều rắc rối đối với nhiều người là họ cứ tiếp tục nói, mặc dầu họ không thể truyền đạt những gì mình có ở bên trong. Chúng ta không nên tìm kiếm những lời ấy khi đứng trên bục giảng; chúng ta cần phải có những lời ấy ở bên trong mình trước. Trước hết chúng ta phải tìm những lời ấy trước mặt Đức Chúa Trời rồi mới có thể nói những lời ấy với người khác. Một người cung ứng lời Đức Chúa Trời phải học tập để biết lời bên trong. Trước hết người ấy phải học tập để chạm đến khải thị rồi truyền đạt lời. Nguyện Chúa làm cho chúng ta trở nên những người có lời cách phong phú. Không những chúng ta phải có một gánh nặng, mà gánh nặng ấy phải được bổ sung bằng những lời để có thể được dốc đổ. Điều duy nhất có thể dốc đổ gánh nặng của chúng ta là những câu chúng ta có bên trong mình. Những câu ấy thật ra là một phần của gánh nặng.

Thế thì, gánh nặng là gì? Thứ nhất, gánh nặng là ánh sáng chúng ta nhận được trong linh, rồi những tư tưởng bắt lấy ánh sáng ấy, và cuối cùng là những lời bên trong bổ sung cho ánh sáng và tư tưởng. Bước cuối cùng của gánh nặng là truyền đạt lời bên trong. Kết hợp ba điều ấy lại tạo ra gánh nặng của các tiên tri. Gánh nặng là ánh sáng cộng với những tư tưởng cộng với những lời bên trong. Gánh nặng của chúng ta là để truyền đạt khải thị của Đức Chúa Trời cho loài người, và khải thị của Đức Chúa Trời được truyền đạt qua những lời khải thị mà chúng ta đã nhận được. Nguyện Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy mối liên hệ giữa gánh nặng và những lời bên trong.

Làm Thế Nào Nhận Được Những Lời Bên Trong

Nếu việc dốc đổ gánh nặng liên quan mật thiết đến những lời bên trong, làm thế nào chúng ta nhận được những lời bên trong? Gần như lúc nào chúng ta cũng nhận được những lời bên trong nhờ đọc Kinh Thánh và vào những lúc chờ đợi Đức Chúa Trời. Giả sử, chúng ta nhận được ánh sáng chói lòa, và trong sự thương xót Chúa ban cho chúng ta một tâm trí năng động, có tính sáng tạo và tràn đầy sinh lực để bắt lấy ánh sáng. Sau đó, sự chiếu sáng của Đức Chúa Trời trở nên những tư tưởng của chúng ta. Điều đó đủ cho chính chúng ta. Ánh sáng khải thị và những tư tưởng được chuyển dịch cũng đủ cho chúng ta sử dụng. Khải thị của Đức Chúa Trời đã tạo nên ích lợi nào đó trong chúng ta rồi; khải thị ấy đã trở thành những tư tưởng lâu bền, cụ thể và có thể nắm giữ được trong chúng ta. Tuy nhiên, như chúng tôi đã nêu lên trước đây, điều đó không đủ để cung ứng cho người khác. Chúng ta không thể cung ứng tư tưởng của mình cho người khác. Chúng ta là những người cung ứng lời Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể ban phát tư tưởng của mình cho người khác; chúng ta chỉ có thể ban phát lời. Nhưng những lời ấy không chỉ là sản phẩm của tâm trí chúng ta. Lời bên trong cần đến một khải thị tươi mới từ Đức Chúa Trời. Chúng ta phải có một lời trực tiếp đến từ Thánh Linh. Lời ấy không chỉ dành cho chính mình mà còn dành cho người khác. Đó là lời làm cho chúng ta đủ tư cách làm một người cung ứng. Một điều rõ ràng là: Chúng ta đều là những chi thể của Thân Thể Đấng Christ, và ánh sáng của Đức Chúa Trời không được dừng lại trong chúng ta. Sự chiếu sáng của Đức Chúa Trời hoàn toàn dành cho chức vụ cung ứng, chứ không chỉ dành cho chính mình. Chúng tôi đã đề cập ở phần trước rằng đôi lúc ánh sáng được lời Đức Chúa Trời kèm theo khi nó được chuyển dịch sang tư tưởng, đó là lời làm cho chúng ta có thể trở nên người cung ứng lời. Nhưng nhiều lần, thậm chí hầu hết mọi trường hợp, chúng ta không nhận được lời khi ánh sáng và tư tưởng đến. Để nhận được một lời như vậy, chúng ta phải chờ đợi Đức Chúa Trời và đọc Kinh Thánh. Tôi không nói trường hợp nào cũng luôn luôn như vậy. Mỗi trường hợp mỗi khác. Đôi khi có kinh nghiệm thật đặc biệt. Những khi khác, kinh nghiệm thật bình thường. Vào các hoàn cảnh bình thường, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những lời ấy trong khi chúng ta chờ đợi Ngài và đọc lời Ngài. Hôm nay, chúng ta có thể nhận được một lời từ Đức Chúa Trời trong khi nghiên cứu Kinh Thánh. Ngày mai, chúng ta có thể lại nhận được một lời khi đang nghiên cứu Kinh Thánh. Trong việc nghiên cứu Kinh Thánh, có thể chúng ta nhận được một hai câu bày tỏ một cách thích hợp những gì chúng ta đã thấy trong linh mình. Những lời truyền sự sống ấy truyền đạt những gì chúng ta đã hiểu trong tâm trí mình. Khi những câu ấy được truyền đạt, những gì chứa đựng trong linh cũng được truyền đạt. Những lời ấy tỏa ra ánh sáng đã được tâm trí bắt lấy. Đó là nền tảng của chức vụ cung ứng lời. Đó là điều một người cung ứng lời cần.

Chúng ta hãy lưu ý đến sự kiện này: Chúng ta cần ánh sáng trong linh và khả năng giữ ánh sáng lại trong tâm trí, nhưng chúng ta cũng phải chờ đợi Đức Chúa Trời và đọc Kinh Thánh để nhận được những lời thích hợp từ Ngài. Những khi ấy, chúng ta có thể nhận được một lời. Lời ấy sẽ làm cho chúng ta sáng tỏ ở bên trong, mở mắt bề trong của chúng ta ra, và ban cho chúng ta một sự tin chắc ở bên trong rằng bây giờ chúng ta có thể truyền đạt lời ấy. Chúng ta phải biết cách diễn đạt những lời ấy rồi mới có thể truyền đạt ánh sáng và những tư tưởng ở bên trong mình. Ngay khi có những câu ấy trong tay mình thì chúng ta có những lời bên trong. Trước khi có những lời ấy, cho dầu có cố gắng thế nào đi nữa, chúng ta vẫn không thể truyền đạt khải thị ở bên trong mình. Một lời không có khải thị thì sẽ không bao giờ truyền đạt chút ánh sáng khải thị nào. Việc truyền đạt ánh sáng khải thị dựa vào việc truyền đạt lời khải thị. Những người chỉ có ánh sáng khải thị mà không có lời khải thị thì không thể mong truyền đạt ánh sáng khải thị. Một người càng thiếu ánh sáng khải thị thì người ấy càng phải chờ đợi Đức Chúa Trời. Người ấy cần phải cầu nguyện, tương giao và chờ đợi Đức Chúa Trời với lời Kinh Thánh mở ra trước mặt Ngài. Người ấy không nên chờ đợi Ngài một cách thông thường. Người ấy không nên cầu nguyện hay tương giao một cách thông thường. Thay vào đó, người ấy cần phải chờ đợi Đức Chúa Trời, cầu nguyện và tương giao với Ngài bằng cách mở quyển Kinh Thánh của mình ra trước mặt Ngài. Đối với Đức Chúa Trời, phán qua Kinh Thánh thì dễ dàng hơn, và đối với chúng ta, nhận được lời khải thị của Ngài qua Kinh Thánh cũng dễ dàng hơn. Khi chúng ta nhận được một lời từ Kinh Thánh thì một điều gì đó hình thành bên trong chúng ta. Sau đó, chúng ta có được vài lời mang sự cứu rỗi cho một tội nhân hay giúp đỡ một tín đồ. Những lời ấy trở nên lời Đức Chúa Trời. Mặc dầu không phải là lời thành văn của Đức Chúa Trời, những lời ấy là lời cập nhật hóa của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta trưởng thành, những lời ấy sẽ luôn luôn hữu ích cho chúng ta, và hễ linh chúng ta thuần khiết và đúng đắn thì Thánh Linh sẽ tôn trọng những lời ấy mỗi khi chúng ta áp dụng chúng. Nếu một lời là lời Đức Chúa Trời, Thánh Linh sẽ luôn luôn dùng lời ấy để cứu người ta và gây dựng các tín đồ. Đó không phải là loại lời bình thường. Đó là một lời phi thường, một lời đầy quyền năng.

MỐI LIÊN HỆ GIỮA GÁNH NẶNG VÀ NHỮNG LỜI BÊN NGOÀI

Ba bước thiết yếu cấu tạo chức vụ cung ứng lời: ánh sáng, tư tưởng và lời. Lời có hai phương diện: những lời bên trong và những lời bên ngoài. Để đơn giản hóa vấn đề, chúng ta có thể nói là có bốn bước: ánh sáng, tư tưởng, lời bên trong và lời bên ngoài.

Lời bên ngoài là gì? Mối liên hệ giữa lời bên trong và lời bên ngoài ra sao? Mối liên hệ của chúng cũng như mối liên hệ giữa tư tưởng và ánh sáng. Những điều ấy đều là các sự kiện thuộc linh và không bao giờ có thể lung lay. Trong phần trước chúng tôi đã nói rằng một khi ánh sáng chiếu ở bên trong chúng ta mà không có tư tưởng để bắt lấy ánh sáng ấy thì nó sẽ biến mất. Ánh sáng ấy thoát khỏi chúng ta và không hữu dụng cho chúng ta. Cũng vậy, một khi nhận được một hai lời bên trong thì chúng ta phải truyền đạt những lời ấy qua những lời bên ngoài. Những lời bên trong bao gồm một hai câu. Một hai câu được Đức Chúa Trời phán ấy không thể hiểu hay chấp nhận được nếu chúng được truyền đạt một cách riêng rẽ. Chúng phải được bổ sung bằng nhiều lời khác. Ngoài một hai lời từ Đức Chúa Trời, chúng ta phải có thêm nhiều lời khác rồi mới có thể phục vụ với tư cách là người cung ứng. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta ánh sáng của lời Ngài, và Đức Chúa Trời cũng biến đổi ánh sáng ấy thành những lời bên trong. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ; chúng ta còn phải có nhiều lời bên ngoài. Một lời bên trong mà chưa được bổ sung thì còn ở trong một hình thức không dễ gì tiếp nhận được; nó quá cô đọng. Nếu chúng ta truyền đạt lời ấy trong hình thức thô sơ của nó, người khác sẽ không thể hiểu được. Lời ấy quá mạnh, quá cô đọng và quá súc tích đến nỗi người khác không chấp nhận được. Khi lời bên trong ấy được truyền đạt, nó phải được nhiều lời khác kèm theo. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể bày tỏ lời bên trong một cách có hiệu quả. Có lẽ phải cần đến hai ngàn lời để chuyển đạt một lời từ Đức Chúa Trời. Có lẽ phải cần đến năm hay mười ngàn lời để chuyển đạt một lời. Chúng ta phải sử dụng lời của mình để chuyển đạt lời Đức Chúa Trời. Chức vụ cung ứng lời là như vậy.

Ở đây chúng ta nhìn thấy nhu cầu về các yếu tố con người. Yếu tố con người có liên quan đến việc bắt lấy ánh sáng bằng tâm trí của mình. Một số tâm trí không có khả năng làm việc này, trong khi những tâm trí khác thì có đủ khả năng. Đây là điểm đầu tiên mà yếu tố con người có liên quan đến. Về sau, yếu tố con người lại liên quan đến việc tìm kiếm những lời bên ngoài. Một số người có thể trang bị cho mình những lời bên ngoài thích hợp để truyền đạt lời Đức Chúa Trời. Những người khác thì không thể tìm ra những lời thích hợp để truyền đạt lời Ngài một cách đúng đắn. Ở đây, các yếu tố con người gây ra một sự khác biệt lớn lao.

Những Lời Bên Trong Phải Được Truyền Đạt Qua Những Lời Bên Ngoài

Những lời bên trong mang một hình thức rất cô đọng; không ai có thể tiếp nhận những lời ấy vào trong mình. Những lời bên ngoài thì “loãng” hơn và có thể được tiếp nhận một cách dễ dàng. Trách nhiệm của chúng ta là chăm lo những lời bên ngoài. Trách nhiệm về những lời bên ngoài nằm nơi con người, tức nằm nơi người cung ứng. Trách nhiệm của một người cung ứng là “làm loãng” lời cô đọng của Đức Chúa Trời và làm cho người khác có thể tiếp nhận nó dễ dàng hơn. Những lời bên trong thì khó hiểu và cô đọng, trong khi những lời bên ngoài thì “dài dòng” và “được pha loãng”. Người khác không thể tiếp nhận những lời bên trong, mà chỉ có thể tiếp nhận những lời bên ngoài. Chúng ta nhận được một hai câu từ Đức Chúa Trời khi chúng ta nhận được khải thị thứ hai. Nhưng sau khi nhận được những câu ấy, chúng ta vẫn cần nhiều lời khác để giúp chúng ta truyền đạt chúng. Vậy nên, một người cung ứng trước hết phải nhận được một lời thần thượng từ Đức Chúa Trời rồi truyền đạt lời ấy bằng những lời của chính mình. Chỉ khi nào hiểu được tiến trình này, chúng ta mới có thể hiểu ý nghĩa về sự cảm thúc của Thánh Linh. Lời thuần khiết mà người ta nhận được từ Đức Chúa Trời không khác nhau mấy. Nhưng khi được phán qua Phi-e-rơ thì lời ấy mang hương vị của Phi-e-rơ. Khi được truyền đạt qua Giăng thì lời ấy mang hương vị của Giăng. Khi được truyền đạt qua Phao-lô thì lời ấy mang hương vị của Phao-lô. Nếu người nào có thể đọc Kinh Thánh Hi-lạp, người ấy có thể dễ dàng nhận ra những sách nào được Phi-e-rơ viết, những sách nào được Giăng viết và những sách nào được Phao-lô viết, vì tuy tất cả những sách ấy đều chứa đựng lời Đức Chúa Trời, nhưng chúng được viết cách khác biệt. Phi-e-rơ là loại người này, Giăng là loại người khác, và Phao-lô lại là loại người khác nữa. Khi lời Đức Chúa Trời được phán qua Phi-e-rơ, sự dạy dỗ thuộc về Đức Chúa Trời, nhưng hương vị thì của Phi-e-rơ. Khi lời Đức Chúa Trời được phán qua Giăng, sự dạy dỗ thuộc về Đức Chúa Trời, nhưng hương vị là của Giăng. Khi lời Đức Chúa Trời được phán qua Phao-lô, sự dạy dỗ thuộc về Đức Chúa Trời, nhưng hương vị là của Phao-lô. Các yếu tố con người hiện diện trong chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đặt tay Ngài trên những người được Linh chọn và truyền đạt lời Ngài qua họ. Ngài thật sự là Đấng ban lời, nhưng Ngài muốn con người truyền đạt lời ấy bằng những lời của chính mình. Những người đã học được nhiều bài học trước mặt Chúa sẽ phát biểu như những người đã học được nhiều bài học. Những người đã học được ít bài học trước mặt Chúa sẽ phát biểu như những người đã học được ít bài học. Lời Đức Chúa Trời được giao thác cho con người, và con người được ủy thác truyền đạt lời Đức Chúa Trời.

Một lần nữa, chúng ta hãy trở lại với vấn đề nói các thứ tiếng [lạ]. Tại sao chúng ta cần phải lưu ý đến vấn đề này? Khi bàn luận về chức vụ cung ứng lời, Phao-lô so sánh giữa việc nói các thứ tiếng [lạ] và chức vụ tiên tri. Chúng ta không được cấm việc nói các thứ tiếng [lạ] vì nó có ích cho những người nói [các thứ tiếng lạ]. Nhưng nói về mặt chức vụ cung ứng lời thì nói các thứ tiếng lạ lại vô dụng vì không liên quan gì đến sự hiểu biết của con người. Trong việc nói các thứ tiếng lạ thiếu các yếu tố con người; đó là điều hoàn toàn từ Thánh Linh. Thánh Linh chuyển đạt một lời cho con người, và con người truyền đạt lời ấy đúng từng chữ bằng linh mình. Lời Đức Chúa Trời được truyền đạt, nhưng không có dấu vết nào về sự hiểu biết của con người hay yếu tố con người trong lời ấy. Theo quan niệm của chúng ta thì việc nói các thứ tiếng trổi hơn chức vụ tiên tri. Đức Chúa Trời trực tiếp phán không tốt hơn sao? Thánh Linh dùng lời của chính Ngài không tốt hơn sao? Nhưng Kinh Thánh lại xem việc nói các thứ tiếng thấp kém hơn việc nói tiên tri. So với việc nói các thứ tiếng, Đức Chúa Trời nhấn mạnh đến việc nói tiên tri nhiều hơn. Chức vụ tiên tri là một chức vụ mà trong đó người ta thấy có cả lời Đức Chúa Trời lẫn lời của vị tiên tri. Trong chức vụ này, nước sống tuôn ra từ bản thể sâu thẳm nhất (Gi. 7:38). Lời ra từ bản thể sâu thẳm nhất, chứ không được đổ xuống từ trời. Đó là một nguyên tắc căn bản nhất trong Tân Ước.

Đức Chúa Trời chú trọng nhiều nơi con người. Nếu nghiên cứu kỹ Kinh Thánh, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra tác phẩm của Phi-e-rơ là của Phi-e-rơ, bài viết của Gia-cơ là của Gia-cơ, và bài viết của Ma-thi-ơ là của Ma-thi-ơ. Mỗi sách đều có những thành ngữ riêng, những cách diễn đạt riêng và cấu trúc văn phạm riêng. Đức Chúa Trời không có ý định là mỗi người viết chỉ việc chép xuống lời Ngài. Ý định của Ngài là muốn sự dạy dỗ thuộc về Ngài nhưng lời thì của con người. Vì vậy, một người cung ứng lời gánh trách nhiệm rất lớn! Nếu không đạt đến tiêu chuẩn thì chúng ta có thể đóng góp những gì? Đó là lý do tại sao chính con người của chúng ta phải được phá vỡ. Nếu con người không thích hợp thì chúng ta sẽ mang gì vào trong lời Đức Chúa Trời? Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng lời Đức Chúa Trời rất “siêu thoát”. Để truyền đạt lời Ngài, Đức Chúa Trời ban cho con người một hai câu. Sau đó, con người phải truyền đạt lời Đức Chúa Trời bằng những lời riêng của mình. Người ấy phải dùng đến nhiều lời để diễn đạt một ít câu. Do đó, một người “pha loãng” vài câu ấy với lời của chính mình là điều vô cùng quan trọng.

Trong việc nói ra những lời bên ngoài, chúng ta phải nhận thức có ba điều kiện tiên quyết. Thứ nhất là ánh sáng, thứ hai là tư tưởng, và thứ ba là lời bên trong. Giả sử, chúng ta sắp nói vài lời với các anh chị em, dù cho lời ấy ở trong hình thức đối thoại với cá nhân hay mang hình thức bài giảng. Làm thế nào chúng ta truyền đạt lời ấy? Trước hết chúng ta phải nắm bắt một vài lời. Nói theo cách tượng hình thì những lời ấy là mẹ của mọi lời [khác]. Tất cả những lời theo sau đều được gói trọn trong những lời ấy. Nhưng vì những lời ấy quá cô đọng nên chúng ta phải “pha loãng” chúng rồi người khác mới có thể tiếp nhận. Chúng ta phải phá vỡ chúng thành từng mảnh nhỏ, giống như đập vỡ một hòn đá thành từng mảnh vụn. Trong khi rao giảng, chúng ta phá vỡ hay đập những lời “to lớn” thành những mảnh nhỏ hơn và trình bày những mảnh ấy cho người khác từng chút một. Đó là cách chúng ta truyền đạt lời Đức Chúa Trời. Chúng ta phải đập vỡ những lời bên trong thành những mảnh nhỏ hơn và truyền đạt chúng từng chút một. Chúng ta không thể nói hai tiếng đồng hồ chỉ để khám phá ra rằng hòn đá to lớn vẫn ở trong chúng ta. Đối với việc truyền đạt lời Đức Chúa Trời thì lời nói như vậy thật là vô dụng. Một mặt, lời của con người thật vô dụng, nhưng mặt khác, chúng vô cùng quan trọng. Điều này dường như mâu thuẫn, nhưng lại là một sự thật. Chúng ta chuyển đạt lời Đức Chúa Trời bằng lời của chính mình thì cũng vô dụng, cho dù chúng ta có khôn ngoan và thông minh thế nào đi nữa. Nhưng khi lời Đức Chúa Trời ở với chúng ta, chúng ta có thể truyền đạt lời Ngài bằng lời của chính mình. Lời của chúng ta có thể hoặc truyền đạt lời Ngài và tôn đại lời ấy trước mặt con người, hay chúng có thể nhốt kín lời Đức Chúa Trời và che khuất lời ấy khỏi con người. Lời của chúng ta truyền đạt lời Đức Chúa Trời từng chút một. Chúng ta càng nói, lời Đức Chúa Trời càng sáng tỏ. Sự diễn đạt của những lời bên ngoài là để truyền đạt và chia sẻ những lời bên trong.

Chúng ta cần phải chú ý đến sự tương tác của những yếu tố khác nhau. Trong việc thi hành chức vụ cung ứng lời, trước hết một người phải có những lời bên trong. Kế đến, người ấy phải chuyển đạt lời bên trong qua những lời bên ngoài. Tuy nhiên, truyền đạt những lời bên ngoài không đơn giản bao giờ. Tâm trí cũng phải thi hành chức năng. Nếu tâm trí không hoạt động một cách thích đáng thì người ấy không thể tiếp tục nói. Nhưng tâm trí không thể chuyên chú vào chính những lời. Tâm trí phải chuyên chú vào khải thị đã được nhìn thấy. Trong khi một người đang nói, thì làm thế nào người ấy có thể chắc chắn rằng lời nói của mình chuyển đạt cho người khác những lời được ẩn giấu ở bên trong mình? Người ấy phải vận dụng tâm trí mình để nói những gì người ấy nhìn thấy trong linh mình. Trước hết, người ấy phải có ánh sáng trong linh mình. Sau đó, người ấy phải có những tư tưởng để bắt lấy ánh sáng. Rồi người ấy cần một hai lời ở bên trong mình. Cuối cùng, người ấy phải xét xem mình nên nói thế nào. Chúa ban cho chúng ta hai điều, ánh sáng ở trong linh chúng ta và những lời ở trong bản thể bề trong của chúng ta. Khi nói, chúng ta đẩy khải thị với những tư tưởng của mình ra, và chúng ta truyền đạt lời ấy bằng lời lẽ của chính mình. Chúng ta không cần phải bắt ép tâm trí mình theo đuổi khải thị, nhưng tâm trí chúng ta cần phải đủ mạnh để giữ lại ánh sáng, và chúng ta phải có khả năng truyền đạt lời ấy bằng lời lẽ của mình. Ở đây, chúng ta nhận thấy bốn điều — hai điều thuộc về lãnh vực bên trong và hai điều thuộc về lãnh vực bên ngoài; hai điều ra từ Đức Chúa Trời và hai điều ra từ chúng ta. Khi kết hợp bốn điều này lại, chúng ta có chức vụ cung ứng lời. Loại vận dụng này rất cơ bản. Những lời chúng ta nói nơi môi miệng mình căn cứ vào những lời chúng ta có trong bản thể bề trong của mình. Lời nói của chúng ta cần phải là một sự kết hợp của hai loại lời này.

Nhiều lúc, chúng ta nản lòng vì mất đi khải thị bên trong đang khi chúng ta nói theo cảm nhận bên trong. Thậm chí khi lời ở trong miệng chúng ta, mà khải thị bên trong lại biến mất. Vào những khi khác, chúng ta có thể giữ lại khải thị bên trong, và gánh nặng đối với lời có thể lưu lại trong chúng ta hai, ba hay sáu tháng. Nhưng việc truyền đạt khải thị không theo một khuôn khổ nhất định. Vậy nên, một mặt, chúng ta cần Chúa ban cho lời. Mặt khác, trong khi nói, chúng ta phải tìm kiếm một khuôn khổ ở bên trong và nói theo sự ghi nhận ở bên trong ấy.

Anh em ơi, chúng ta phải nhìn thấy hai mặt của vấn đề. Đôi khi, chúng ta có khải thị và những tư tưởng để nắm bắt [khải thị], nhưng chúng ta không có lời. Chúng ta hiểu ý nghĩa của khải thị, nhưng không thể tìm ra lời để diễn đạt khải thị ấy. Chúng ta đầy dẫy tư tưởng, nhưng thiếu lời. Tuy nhiên, người nghe chỉ có thể hiểu lời của chúng ta; họ không thể hiểu tư tưởng của chúng ta. Những lúc khác, chúng ta có lời, nhưng khải thị ở trong linh thì biến mất. Khi người ta nghe lời nói của chúng ta, họ chỉ có thể cảm thấy đó là ma-na đã mốc meo, tức là lời chúng ta nói không tương xứng với khải thị ở bên trong. Những lời bên ngoài chúng ta truyền đạt phải tương xứng với tư tưởng ở bên trong, và người khác cần phải nhìn thấy ánh sáng qua những lời như vậy. Tâm trí rất quan trọng, nhưng tâm trí không phải là cơ quan tiếp nhận khải thị. Về mặt này, sự khôn ngoan của chúng ta hoàn toàn vô dụng. Nếu cố gắng bắt lấy khải thị bằng những tư tưởng khôn ngoan của chính mình, chúng ta chỉ có thể mang lại những đau khổ não nề cho Hội thánh của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần tâm trí. Thật ra, chúng ta cần cả bốn điều — ánh sáng, tư tưởng, lời bên trong và lời bên ngoài. Chúng ta cần những lời bên trong chúng ta, và cần những lời nơi môi miệng chúng ta. Trong khi chuyển đạt những lời bên trong, chúng ta phải tìm kiếm những lời bên ngoài. Hai loại lời này cũng giống như hai đường ray. Nếu chúng ta chỉ có một đường ray thì xe lửa sẽ không chạy được. Những lời bên ngoài phải tương xứng với những lời bên trong, và những lời bên trong phải được chuyển dịch thành những lời bên ngoài.

Nhiều khi chúng ta cảm nhận được sự soi sáng ở bên trong mình. Chúng ta hiểu ý nghĩa của sự soi sáng ấy, nhưng không có những lời trọng yếu để bày tỏ ánh sáng ấy. Một nhận thức như vậy đối với chúng ta thì đủ, nhưng nếu chúng ta cố giúp đỡ người khác với nhận thức ấy, thì kết quả sẽ giống như một con bò kéo cối xay; chúng ta đi lòng vòng mà không giải tỏa được gánh nặng của mình. Nhiều khi chúng ta có lời bên trong, nhưng không có lời lẽ bên ngoài. Kết quả là đường ray chỉ có một thanh sắt; xe lửa không thể di chuyển được. Lời Đức Chúa Trời không thể được truyền đạt. Có thể chúng ta nói nhiều điều, nhưng lời Đức Chúa Trời không được truyền đạt. Chỉ có khải thị thì không đủ cho công tác rao giảng của chúng ta; chỉ có lời bên trong thì cũng chưa đủ. Chúng ta phải có ánh sáng, tư tưởng, lời bên trong và lời bên ngoài. Chỉ khi nào bốn điều ấy có đủ và cộng tác với nhau thì chúng ta mới có chức vụ cung ứng, và chỉ khi ấy chức vụ cung ứng mới là một chức vụ vinh hiển.

Rao Giảng Theo Lời Kinh Thánh

Trong việc chuẩn bị những lời bên ngoài, chúng ta phải chú ý đến lời Kinh Thánh. Khi chúng ta có những lời bên trong và cố gắng truyền đạt những lời ấy cho người khác, chúng ta thường cảm thấy mình thiếu lời. Hầu như lúc nào chúng ta cũng nhắm vào một hướng nhất định nào đó mà phát biểu và dốc cạn lời lẽ của mình trong một vài phút. Những lời bên trong rất cô đọng và súc tích. Lời diễn đạt của chúng ta không đủ để truyền đạt những lời cô đọng và súc tích như vậy. Nếu chúng ta lặp đi lặp lại mãi một lời một lần, hai lần hay mười lần, người khác sẽ chán ngán sự rao giảng của chúng ta; họ sẽ không quí lời ấy. Lời giảng của chúng ta có thể rất ngắn gọn, nhưng không có hiệu quả. Một người nhận thức mình thiếu khẩu tài khi cố gắng làm một người cung ứng lời. Người ấy có thể nói về nhiều điều, nhưng ngay khi bàn về những điều thuộc linh thì người ấy nhận thấy mình nói được rất ít. Người ấy dùng cạn nguồn nguyên liệu trong khoảnh khắc, trong khi những lời bên trong vẫn chưa được truyền đạt. Người ấy có thể tuôn ra lời lẽ của chính mình, nhưng những lời bên trong vẫn bị đóng kín. Đó là lý do tại sao chúng ta phải quen thuộc với lời Kinh Thánh. Đức Chúa Trời sử dụng chúng ta là những người cung ứng lời của Ngài, nhưng Ngài biết lời diễn đạt của chúng ta có giới hạn. Vì vậy, Ngài phán với chúng ta trong nhiều phần và theo nhiều cách (Hê. 1:1). Tư tưởng của chúng ta cùng lắm có thể được bày tỏ theo một cách. Nhưng Đức Chúa Trời đã phán với chúng ta trong nhiều phần và theo nhiều cách. Đó là lý do tại sao chúng ta phải quen thuộc với lời Kinh Thánh. Chúng ta phải dành thời giờ nghiên cứu Kinh Thánh. Nhờ nghiên cứu, chúng ta được trang bị bằng các giáo lý, kiến thức và những sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Lời giảng của chúng ta phải được xây dựng trên Kinh Thánh; nó phải được những sự dạy dỗ và lẽ thật theo Kinh Thánh hậu thuẫn. Những điều ấy tạo cho con cái Đức Chúa Trời một phương tiện và nền tảng để chấp nhận lời [rao giảng] của chúng ta.

Sau khi đã nhận được ánh sáng, tư tưởng và lời, chúng ta có thể khám phá ra một vài phần Kinh Thánh tương xứng với khải thị mình đã nhận được và nhiều điều trong các phân đoạn ấy giống như khải thị của chúng ta. Chúng ta cần phải ghi chú những phân đoạn ấy và dùng lời nói mà phát biểu lời chúng ta đã nhận được từ Đức Chúa Trời kết hợp với việc dẫn chứng nhiều lần những phân đoạn Kinh Thánh ấy. Có lẽ lời chúng ta nhận được từ Đức Chúa Trời chỉ dài một vài câu hoặc dài nhất là một chục câu. Nhưng chúng ta có thể rút ra từ kinh nghiệm của mình trong Lời để diễn đạt lời phán ở bên trong chúng ta. Tuy ngắn, nhưng lời diễn đạt ấy sẽ đâm thấu vào lòng người ta và soi sáng sự hiểu biết của họ. Đó là lý do tại sao chúng ta phải quen thuộc với Kinh Thánh. Chúng ta phải dùng lời Kinh Thánh để làm cho lời diễn đạt của mình về khải thị dễ dàng hơn. Đó không phải là luận giải Kinh Thánh một cách khách quan mà giải thích Kinh Thánh một cách chủ quan. Chúng ta không trình bày một sự lý giải, mà chuyển đạt khải thị mình đã nhận được. Chúng ta dùng Kinh Thánh chỉ vì phân đoạn đặc biệt ấy trong Lời tương xứng với kinh nghiệm của mình. Vì những lời của Phi-e-rơ, của Giăng, của Sáng Thế Ký hay của Thi Thiên tương xứng với những điều chúng ta sắp nói ra nên chúng ta có thể dùng những lời ấy để trình bày điểm mình muốn nói. Chúng ta cần phải suy gẫm xem Phao-lô nói đến đề tài này và Phi-e-rơ bàn về đề tài kia như thế nào. Chúng ta cần phải suy gẫm xem Đa-vít hay Môi-se nói về đề tài ấy ra sao. Trong khi suy gẫm, chúng ta cần phải xét xem Chúa muốn mình nói về đề tài ấy thế nào. Những người ấy nói về đề tài đó theo cách riêng của họ. Bây giờ, chúng ta phải uốn nắn lời của mình, tức chính lời chúng ta đã nhận được từ Đức Chúa Trời, theo lời lẽ của họ. Chúng ta phải làm điều này theo mọi cách. Khải thị và ánh sáng chúng ta nhận được, gánh nặng và trách nhiệm chúng ta có từ Đức Chúa Trời, tạo nên nền tảng cho lời giảng của mình. Khi chúng ta lặp lại đề tài ấy nhiều lần bằng lời lẽ của chính mình, những lời bên trong sẽ được truyền đạt. Ánh sáng sẽ chiếu rọi và gánh nặng sẽ được dốc đổ.

Việc chúng ta nghiên cứu Kinh Thánh không nên chỉ vì mục đích lý giải. Việc lý giải suông về Kinh Thánh là hư không. Những lời của Kinh Thánh được ban cho chúng ta để dốc đổ gánh nặng ở bên trong chúng ta. Không có những lời ấy, chúng ta không thể trình bày rõ ràng gánh nặng của mình. Những lời từ Kinh Thánh giải tỏa gánh nặng của chúng ta. Có thể có năm, mười hay hai mươi phân đoạn Lời khác nhau có thể thực hiện vấn đề này. Một phân đoạn thì không đủ để giải tỏa gánh nặng của chúng ta; chúng ta phải dốc đổ gánh nặng của mình theo nhiều cách khác nhau. Giả sử, chúng ta có một gánh nặng ở bên trong, và chúng ta cố gắng dốc đổ gánh nặng ấy qua một phân đoạn trong Lời. Chúng ta phải tự hỏi rằng sau khi áp dụng chỉ một phân đoạn ấy, gánh nặng của mình đã được dốc đổ chưa. Nếu gánh nặng ấy vẫn nặng nề, có thể chúng ta phải dùng thêm một vài phân đoạn nữa để giải tỏa. Nhưng nếu gánh nặng không nặng nề lắm thì có thể một vài phân đoạn cũng đủ. Sau khi tìm ra những phân đoạn thích hợp, trước hết chúng ta phải tìm cách giải tỏa gánh nặng của mình. Nếu gánh nặng vẫn còn trong mình, chúng ta cần tìm cách khác giải tỏa gánh nặng ấy. Có lẽ chúng ta phải dùng đến năm phân đoạn khác nhau rồi gánh nặng của mình mới hoàn toàn được giải tỏa. Chức vụ cung ứng lời liên quan đến việc truyền đạt lời bên trong, tức lời “có trọng lượng” của Đức Chúa Trời, qua việc truyền đạt lời Kinh Thánh. Trong khi rao giảng cho Đức Chúa Trời, chúng ta phải sử dụng công cụ tốt nhất — tức Kinh Thánh. Tuy nhiên, chúng tôi phải đưa ra một lời cảnh cáo: Chỉ dùng Kinh Thánh thì không đủ. Văn tự của Kinh Thánh chỉ là các giáo lý. Nền tảng của chức vụ cung ứng lời là khải thị; đó là lời bên trong. Tuy nhiên, khi được truyền đạt, lời ấy được truyền đạt qua lời Kinh Thánh. Nếu một người thiếu khải thị bên trong mà chỉ mải mê với việc giảng giải Kinh Thánh suông, hoạt động của người ấy vẫn còn ở trên một bình diện rất thấp. Chúng ta không thể vay mượn sự phong phú của Phao-lô và xem chúng là của chính mình. Chúng ta phải tự mình nhìn thấy một điều gì đó và rao giảng theo những gì chúng ta đã nhìn thấy rồi chúng ta mới có thể có chức vụ cung ứng lời. Chúng ta phải có khải thị, lời và Kinh Thánh rồi mới có thể rao giảng. Nếu chỉ có lời ở bên trong mà không có Kinh Thánh ở bên ngoài thì chúng ta không thể rao giảng.

THỬ NGHIỆM CHỨC VỤ CUNG ỨNG LỜI

Làm thế nào chúng ta biết sự rao giảng của mình có đúng đắn hay không? Trong khi giảng, chúng ta phải lưu ý xem gánh nặng của mình giảm xuống hay trở nên nặng hơn. Điều này thật quan trọng. Chúng ta không phải đợi cho đến khi bước xuống bục giảng rồi mới khám phá ra mình đã rao giảng cách đúng đắn hay không; chúng ta có thể cảm nhận điều đó trong khi đang giảng. Mỗi khi lời ra từ miệng chúng ta, gánh nặng của chúng ta phải được giảm xuống một ít. Ba điều này — lời Đức Chúa Trời, ánh sáng của Ngài và tư tưởng của chúng ta — tạo nên một gánh nặng. Khi gánh nặng ấy được dốc đổ, nó được dốc đổ nhờ những lời bên ngoài. Vậy, mỗi lời bên ngoài nên làm giảm gánh nặng bên trong. Nếu một lời bên ngoài không làm giảm gánh nặng bên trong thì đã có gì sai trật. Tự bên trong một người biết rằng bài giảng đã được chia sẻ cách thích đáng hay không. Nếu gánh nặng của người ấy được giảm xuống trong khi người ấy rao giảng, thì người ấy có thể tin chắc rằng mình đã chia sẻ bài giảng một cách thích đáng. Nếu sau khi nói trong một vài phút mà gánh nặng của người ấy chưa giảm xuống, thì người ấy có thể quả quyết rằng mình đang theo chiều hướng sai trật; người ấy chưa nói điều đúng đắn. Thà người ấy đừng nói gì cả còn hơn là tiếp tục giảng trong một tiếng đồng hồ nữa mà không thay đổi chiều hướng. Người ấy nên nói: “Thưa các anh em, điều tôi vừa nói là sai trật”, và bắt đầu lại bài giảng. Càng học tập thì người ấy càng ít gặp nan đề hơn trong vấn đề này. Trong khi tập phục vụ với tư cách là người cung ứng lời, chúng ta phải giảng vì mục đích dốc đổ gánh nặng bên trong mình. Chúng ta phải học tập đến rao giảng với một gánh nặng và ra đi mà không còn gánh nặng ấy nữa. Nếu không có gánh nặng trước khi rao giảng thì chúng ta tuyệt đối không thể giảng. Nhưng sau khi chúng ta giảng, đúng ra gánh nặng không còn nữa. Chúng ta không thể đến với một gánh nặng, giảng trong nửa tiếng hay một tiếng đồng hồ, rồi khám phá ra rằng gánh nặng của mình vẫn còn đó. Trong trường hợp ấy, ánh sáng của Đức Chúa Trời chưa trở thành lời, và chúng ta sẽ mang chính gánh nặng ấy về nhà với mình. Đôi khi chúng ta có thể có kinh nghiệm kỳ lạ là trong những gì mình nói có phần thì đúng và phần thì sai. Kết quả là một phần gánh nặng chúng ta mang đến buổi nhóm được dốc đổ trong khi phần còn lại thì chưa được giải tỏa. Có thể chúng ta cảm thấy như vậy vẫn chưa được tốt.

Đôi khi, nan đề có thể trở nên tệ hơn. Thay vì giảm bớt gánh nặng qua lời nói của mình, chúng ta chỉ chất thêm gánh nặng và làm cho nó nặng nề hơn. Một hình ảnh minh họa chúng ta dùng trong lời giảng có thể chất thêm gánh nặng cho mình. Có thể chúng ta sơ ý nói đùa một ít trong lúc giảng, và điều đó gây nên một trận cười không thể kiềm chế được giữa vòng thính giả. Hậu quả ấy có thể làm tăng thêm gánh nặng cho chúng ta. Nhiều hình ảnh minh họa, chuyện vui, ý tưởng bất chợt hay những tư tưởng gây chi phối đều có thể làm tăng thêm gánh nặng của chúng ta. Đến cuối bài giảng, có thể chúng ta cảm thấy gánh nặng của mình nặng hơn so với khi bắt đầu. Mắt chúng ta phải nhắm vào một mục đích. Chúng ta cần phải rao giảng để dốc đổ gánh nặng của mình; chúng ta đừng giảng vì phải giảng.

Một nguyên tắc cơ bản trong việc rao giảng là mắt chúng ta phải chuyên chú vào việc dốc đổ gánh nặng. Mọi người mang gánh nặng đều có ý định dốc đổ gánh nặng ấy; không ai mang một gánh nặng lại có ý định mang nó mãi như lúc đầu. Bất cứ gánh nặng nào đến với chúng ta phải được dốc đổ bằng những lời thích hợp. Nếu cảm thấy gánh nặng của mình gia tăng trong khi rao giảng thì lập tức chúng ta cần phải ngưng nói. Nếu không biết cách dùng những lời thích hợp bên ngoài, chúng ta sẽ gặp nan đề đáng kể đối với chức vụ cung ứng lời. Nếu chúng ta phát biểu một câu mà làm giảm gánh nặng thì chúng ta biết rằng mình đang rao giảng cách đúng đắn. Chúng ta có thể lặp lại một điểm từ những góc độ khác nhau và theo nhiều cách. Sau đó, chúng ta sẽ cảm thấy gánh nặng của mình biến mất, và chúng ta sẽ biết mình đã nói đúng đắn. Cuối cùng, gánh nặng của chúng ta sẽ không còn nữa. Trong lời giảng của mình, chúng ta có thể chỉ có một hai câu mình thật sự muốn nói. Những câu còn lại là để “chuyên chở” và hỗ trợ cho một hai câu ấy. Nếu chúng ta có thể chia sẻ một hai câu ấy cách thích đáng và nếu chúng ta có thể truyền đạt những lời bên trong mình một cách có hiệu quả, thì lời giảng của chúng ta sẽ phù hợp với nguyên tắc cảm thúc.

Nguyện Chúa đầy ân điển đối với chúng ta và ban cho chúng ta những lời chính xác và tuôn ra sự sống. Chúng ta chỉ cần một vài lời ấy. Khi một vài lời ấy được tuôn đổ ra, chúng ta sẽ đạt đến đỉnh điểm trong sự rao giảng của mình. Nếu giảng theo cách ấy, chúng ta sẽ có chức vụ cung ứng lời.