Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 11

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI MỘT

KHẢI THỊ VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG

Khởi điểm của chức vụ cung ứng lời là sự khải thị. Một khi khải thị đến thì Đức Chúa Trời chiếu sáng trong chúng ta, và chúng ta cảm thấy mình có một ít ánh sáng ở bên trong. Tuy nhiên, mặc dầu dường như chúng ta nhìn thấy một điều gì ở bên trong, ánh sáng ấy có vẻ như không lưu lại lâu. Dường như chúng ta đã nhìn thấy một điều gì, nhưng không thể bày tỏ những gì mình đã nhìn thấy. Phủ nhận việc chúng ta nhìn thấy một điều gì đó là sai trật, vì chúng ta rõ ràng đã nhìn thấy điều ấy. Một khải thị xuất hiện với chúng ta một lúc rồi biến mất. Đó là một sự mô tả thật về tiến trình soi sáng. Khi chúng ta được soi sáng, dường như bản thể bề trong của chúng ta được sáng tỏ về mọi sự. Nhưng chúng ta không thể giải thích điều gì cả. Dường như chúng ta rất là sáng tỏ, nhưng lại không thể giải thích mình sáng tỏ về điều gì. Một mặt, chúng ta rất sáng tỏ ở bên trong, nhưng mặt khác, chúng ta không tin chắc là mình sáng tỏ chút nào. Ở bên trong chúng ta sáng tỏ, nhưng ở bên ngoài chúng ta bối rối. Dường như có hai người trong chúng ta. Một người rất sáng tỏ, còn người kia thì bối rối. Sau một thời gian nào đó, dường như chúng ta quên mọi sự ngoại trừ sự kiện ánh sáng của Đức Chúa Trời đã một lần chiếu trên chúng ta. Có lẽ sau đó ít lâu, Đức Chúa Trời lại chiếu sáng trên chúng ta lần thứ hai. Ánh sáng lại đến, và dường như chúng ta lại nhìn thấy một điều gì đó. Lần thứ hai có thể giống y như lần thứ nhất, hay có thể có một ít khác biệt. Thật ra, hai lần ấy có thể hoàn toàn khác nhau. Vì đã trải qua kinh nghiệm thứ nhất nên lần thứ hai chúng ta có thể có phản ứng khác là cố gắng giữ lấy ánh sáng vì sợ nó lại biến mất.

BẢN CHẤT CỦA ÁNH SÁNG

Chúng ta cần phải lưu ý đến đặc tính của ánh sáng, đó là nó dễ dàng phai tàn. Dường như ánh sáng bỏ đi hay bay mất bất cứ lúc nào. Nó đến với chúng ta như một tia chớp và không ở lại lâu. Nó không lưu lại. Tất cả những người cung ứng lời đều có kinh nghiệm như vậy. Họ đều ao ước là ánh sáng ấy làm cho chính nó sáng tỏ trước khi tan biến một lần nữa. Họ ao ước ánh sáng ấy lưu lại một thời gian đủ để họ hoàn toàn được sáng tỏ. Nhưng điều lạ lùng là nhiều người quen thuộc với chức vụ cung ứng lời đều kinh nghiệm là họ không thể giữ lại ánh sáng; họ không thể nắm chặt lấy nó. Một người có thể ghi nhớ nhiều điều, nhưng khó mà ghi nhớ ánh sáng, và những gì người ấy ghi nhớ có lẽ không phải là những gì người ấy đã nhìn thấy. Ánh sáng của Đức Chúa Trời rất vĩ đại và rất mạnh mẽ, nhưng ánh sáng ấy chóng tan biến, và chúng ta không cách nào ghi nhớ nó. Chúng ta càng có nhiều ánh sáng thì càng khó ghi nhớ ánh sáng ấy. Nhiều anh em đã nhận xét: “Chúng ta càng đọc những bài viết của những người có khải thị, chúng ta càng có khuynh hướng quên những bài viết ấy”. Chúng tôi phải công nhận rằng việc ghi nhớ ánh sáng không phải là một điều dễ. Thật ra, ánh sáng là điều khó nhớ nhất. Chúng ta nhìn thấy bằng mắt chứ không phải bằng trí nhớ của mình. Càng nhìn thấy ánh sáng thì chúng ta càng khó ghi nhớ ánh sáng ấy. Trí nhớ của chúng ta không thể giữ lấy ánh sáng. Bản chất của ánh sáng là chỉ cung cấp khải thị, chứ không cung cấp điều gì cho trí nhớ của chúng ta.

Chúng ta phải lưu ý đến bản chất của ánh sáng. Thậm chí trong khi ánh sáng chiếu trên chúng ta, dường như đồng thời ánh sáng ấy cũng xa dần chúng ta. Thật ra, ánh sáng thường tan biến đi. Thông thường ánh sáng dường như biến đi, và thật sự biến đi. Ký ức của chúng ta không thể giữ ánh sáng lại. Vì vậy, chúng ta không biết một người phải được soi sáng bao nhiêu lần rồi sự chiếu sáng ấy mới trở nên một khải thị cho người ấy. Khi ánh sáng đến với người ấy lần đầu tiên, có thể nó biến đi. Có thể người ấy không nhớ gì về nội dung của điều mình đã thấy, ngoại trừ sự kiện là người ấy đã nhìn thấy một điều gì đó. Điều duy nhất người ấy giữ lại trong ký ức của mình là nhận thức rằng mình đã nhìn thấy điều gì đó. Khi ánh sáng đến lần thứ hai, có thể người ấy thấy thêm điều gì đó nhưng vẫn không cách nào nắm bắt được nội dung của nó. Có thể người ấy chỉ nhớ là mình đã nhìn thấy điều gì đó một lần nữa. Ánh sáng đến thật nhanh, nhưng khó mà giữ nó lại. Khi ánh sáng đến lần thứ ba, có thể người ấy nhìn thấy điều mình đã thấy vào hai lần trước. Người ấy có thể nhìn thấy điều gì đó rõ ràng hơn, hay ánh sáng có thể lưu lại lâu hơn so với hai lần trước. Nhưng người ấy gặp phải cùng một nan đề là không thể nhớ ánh sáng ấy. Người ấy biết rằng mình đã nhìn thấy ánh sáng, và người ấy biết rằng mình gặp ánh sáng. Ánh sáng đến nhiều lần. Mỗi lần ánh sáng đến, nó lại khác đi. Nhưng mỗi khi được soi sáng, người ấy có cảm nhận là ánh sáng tan biến quá mau. Nó bay đi. Nó dễ dàng thoát đi. Nó rất ngắn ngủi. Người ấy không nhớ mình đã nhìn thấy điều gì hay cách mình đã nhìn thấy; người ấy chỉ nhớ là mình đã nhìn thấy một điều gì đó. Đôi khi ánh sáng ấy trực tiếp chiếu vào linh của một người mà không đi qua bất cứ phương tiện nào khác, và sự chiếu sáng ấy diễn ra một cách mãnh liệt. Đôi khi một người kinh nghiệm sự chiếu sáng ấy trong linh mình khi đang đọc Kinh Thánh. Hầu như mọi lúc, người ấy trực tiếp nhận được sự chiếu sáng trong linh mình, nhưng thỉnh thoảng người ấy nhận được sự chiếu sáng nào đó khi đang đọc Kinh Thánh. Dầu người ấy trực tiếp nhìn thấy ánh sáng trong linh mình hay nhờ đọc Kinh Thánh, ánh sáng có một đặc tính — nó chóng qua và khó giữ lại.

CHUYỂN ÁNH SÁNG THÀNH TƯ TƯỞNG

Điều này mang chúng ta đến vấn đề thứ hai, đó là chuyển ánh sáng thành tư tưởng. Vào lúc khải thị, Đức Chúa Trời chiếu ánh sáng của Ngài vào trong con người. Khởi điểm của chức vụ cung ứng lời là lúc Đức Chúa Trời chiếu sáng và soi sáng bên trong chúng ta. Sự chiếu sáng ấy biến mất trong khoảnh khắc; rồi ít lâu sau, chúng ta quên đi điều ấy. Khó mà nắm giữ ánh sáng ấy. Không ai có thể lấy ánh sáng thoáng qua ấy làm nền tảng cho chức vụ cung ứng lời của mình. Không thể nào lấy ánh sáng chớp nhoáng ấy làm nguồn của chức vụ cung ứng lời. Để có chức vụ cung ứng lời thì cần thêm một điều gì đó. Bổ sung cho ánh sáng, một người cần thêm điều gì đó: ấy là cần những tư tưởng. Nếu một người đã được Chúa xử lý và người bề ngoài của người ấy được phá vỡ và triệt hạ, thì tự phát tư tưởng người ấy sẽ được làm cho phong phú. Chỉ những ai có tư tưởng phong phú mới có thể chuyển ánh sáng thành các tư tưởng. Chỉ những người có tư tưởng phong phú mới có thể hiểu ánh sáng. Có lần một anh em nói rằng: “Tôi phải hiểu tiếng Hi-lạp trước khi có thể hiểu rõ ràng ý nghĩa của lời và trước khi tôi có thể chuyển dịch ý nghĩa của lời ấy một cách rõ ràng hơn cho chính mình”. Trong cùng một nguyên tắc, ánh sáng là lời Đức Chúa Trời. Ánh sáng chuyển đạt ý chỉ của Đức Chúa Trời. Nhưng nếu không có tư tưởng, chúng ta không biết ý nghĩa của ánh sáng ấy, và không biết nội dung của ánh sáng ấy. Tư tưởng của chúng ta phải mạnh mẽ và phong phú đúng mức để hiểu ý nghĩa và nội dung của ánh sáng. Khi tư tưởng của mình mạnh mẽ, chúng ta bắt lấy ánh sáng, và có thể chuyển ánh sáng ấy thành tư tưởng mình có thể hiểu được. Chúng ta chỉ nhớ được ánh sáng sau khi đã chuyển dịch ánh sáng ấy thành những tư tưởng mà mình có thể hiểu được. Chúng ta chỉ có thể ghi nhớ những tư tưởng của mình, chứ không thể ghi nhớ ánh sáng. Chỉ sau khi chuyển ánh sáng chúng ta đã thấy thành tư tưởng thì chúng ta mới có thể giữ lại ánh sáng ấy. Trước khi ánh sáng được biến đổi thành tư tưởng, chúng ta không thể nhớ được ánh sáng ấy là gì, và cũng không giữ lại được nội dung của ánh sáng ấy. Sau khi ánh sáng trở nên tư tưởng, rồi tư tưởng bày tỏ ý nghĩa của ánh sáng, thì chúng ta có thể ghi nhớ và giữ lại ánh sáng ấy.

Ở đây, chúng ta nhìn thấy tầm quan trọng có tính quyết định của tư tưởng, tâm trí và sự hiểu biết của chúng ta trong chức vụ cung ứng lời. Trong việc học tập để phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời, chúng ta phải nhận thức được tầm quan trọng của chữ tâm trí trong 1 Cô-rin-tô chương 14. Chương ấy hướng chúng ta lưu ý đến vấn đề nói tiên tri. Chúng ta phải lưu ý đến vấn đề nói tiên tri vì nói tiên tri có ích lợi cho tâm trí. Chương ấy không nhấn mạnh đến việc nói các thứ tiếng [lạ] vì nó không có ích lợi cho tâm trí. Câu 14 chép: “Vì nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ, thì tâm linh tôi cầu nguyện, nhưng tâm trí tôi không được hiệu quả gì”. Câu 15 chép: “Vậy thì thế nào? Tôi sẽ cầu nguyện bằng tâm linh, mà cũng cầu nguyện bằng tâm trí nữa. Tôi sẽ hát ngợi khen bằng tâm linh, mà cũng hát ngợi khen bằng tâm trí nữa”. Câu 19 chép: “Nhưng trong Hội thánh thà tôi nói năm lời bằng tâm trí, để dạy dỗ kẻ khác nữa, hơn là một vạn lời bằng tiếng lạ”. Tâm trí của con người chiếm một phần trọng yếu trong chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời. Ý định của Đức Chúa Trời là muốn ánh sáng chạm đến tâm trí của mỗi một người cung ứng lời.

Khi ánh sáng chiếu rọi, trước hết nó chiếu sáng trong linh của con người. Nhưng Đức Chúa Trời không muốn ánh sáng ấy lưu lại trong linh; Ngài muốn ánh sáng ấy chạm đến sự hiểu biết của con người. Một khi ánh sáng chạm đến sự hiểu biết của con người thì nó sẽ không bao giờ tan biến; nó sẽ được giữ lại trong chúng ta. Khải thị thì có trong phút chốc; nó lóe lên và biến đi như chớp. Nhưng khi ánh sáng ấy chiếu rọi và tâm trí của con người được soi sáng, tâm trí bắt đầu chuyển dịch ánh sáng. Nhờ đó, ánh sáng được giữ lại, và chúng ta khám phá ra nội dung của ánh sáng. Khi ánh sáng ở trong linh, nó có thể đến và đi tùy thích. Nhưng một khi ánh sáng chạm đến tâm trí và sự thông hiểu của chúng ta thì nó được giữ lại. Từ thời điểm đó, chúng ta có thể sử dụng ánh sáng ấy. Chúng ta cần phải ghi nhớ rằng ánh sáng không thể sử dụng được khi nó chỉ ở trong linh chúng ta; nó phải trở nên ánh sáng có thể dùng được. Trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta là một “hồn sống” (Sáng. 2:7). Nếu điều gì chưa chạm đến hồn của chúng ta, thì con người của chúng ta không thể sử dụng điều đó, và ý chí của chúng ta không thể điều khiển điều đó. Chúng ta không chỉ là những thực thể thuộc linh. Chúng ta có linh, hồn và thân thể. Khi ánh sáng mặc khải ở trong linh chúng ta, chúng ta không thể nói ánh sáng ấy thuộc về chúng ta. Đúng ra ánh sáng của khải thị không nên lưu lại trong linh chúng ta; ánh sáng ấy phải chạm đến người bề ngoài của chúng ta. Người bề ngoài không thể nhận được khải thị nào cả; khải thị vào trong linh chúng ta. Nhưng khải thị không thể lưu lại trong linh chúng ta; khải thị phải chạm đến tâm trí chúng ta.

Việc chuyển ánh sáng thành tư tưởng trong mỗi người mỗi khác. Nếu tư tưởng phong phú, thì một người sẽ có tác động lớn về phương diện này. Nếu tư tưởng của một người không tương xứng với ánh sáng của Đức Chúa Trời, ánh sáng của Đức Chúa Trời sẽ chịu thiệt thòi. Nếu một bình chứa không tương xứng với ánh sáng của Đức Chúa Trời vì bình chứa bị giới hạn hay thiếu khả năng thì ánh sáng của Đức Chúa Trời sẽ chịu thiệt thòi. Nếu ánh sáng của Đức Chúa Trời đến với một người và tư tưởng của người ấy nhạy bén và tập trung, thì các tư tưởng ấy sẽ giữ lại ánh sáng. Một tâm trí đi lang thang không thể giữ lại ánh sáng của Đức Chúa Trời, những tư tưởng rối loạn cũng không thể chuyển dịch được ánh sáng. Có thể anh em biết ánh sáng đang hiện diện, nhưng vì sự phân tâm và những gánh nặng không liên hệ, anh em không thể chuyển ánh sáng mình thấy thành tư tưởng. Một số tư tưởng không lan man hay bị quá tải, nhưng lại mụ mị. Khi ánh sáng của Đức Chúa Trời chiếu trên chúng, chúng không biết ánh sáng ấy bày tỏ điều gì. Đức Chúa Trời có một đòi hỏi cơ bản dành cho những người phục vụ với tư cách là những người cung ứng lời Ngài — tâm trí của họ phải được đổi mới.

Nan đề đối với nhiều người là tâm trí của họ năng động nhưng lại rối loạn. Họ không thể chuyển dịch ánh sáng của Đức Chúa Trời; họ không cách nào nhận biết ánh sáng ấy có nghĩa là gì. Tư tưởng của nhiều người rất nông cạn; họ liên tục chú ý đến những điều thấp kém. Họ không thể giữ lại ánh sáng hay khám phá ra ánh sáng của Đức Chúa Trời có ý nghĩa gì cho mình. Đức Chúa Trời là ánh sáng; ánh sáng là bản chất của Đức Chúa Trời. Vậy nên, ánh sáng của Đức Chúa Trời cũng vĩ đại, phong phú và siêu việt như chính Đức Chúa Trời. Khi ánh sáng của Đức Chúa Trời được bày tỏ mà các tư tưởng của chúng ta thấp kém, hạn hẹp và rối loạn, thì chúng ta chắn chắc sẽ làm mất nhiều sự soi sáng của ánh sáng ấy. Đức Chúa Trời không có ý định ban cho chúng ta những khải thị nhỏ bé. Nếu Đức Chúa Trời ban cho một người bất cứ khải thị nào, thì khải thị ấy luôn luôn vĩ đại, và phạm vi cùng nội dung của nó luôn luôn phong phú. Bất cứ điều gì phát xuất từ Đức Chúa Trời vinh hiển thì phải vinh hiển. Mọi người đều phải công nhận rằng mức lượng của Đức Chúa Trời ban cho con người luôn luôn là một chén đầy tràn. Đức Chúa Trời luôn luôn phong phú, vĩ đại và bao-hàm-tất-cả. Nan đề ngày nay là nhiều tâm trí không có khả năng chứa đựng ánh sáng ấy. Nhiều người quá nhỏ mọn và thấp kém nên không chứa đựng được ánh sáng sâu nhiệm của Đức Chúa Trời. Anh em ơi, nếu tâm trí của chúng ta không được sửa trị và lơ đễnh suốt cả ngày thì làm sao chúng ta mong giữ lại ánh sáng của Đức Chúa Trời? Nếu Đức Chúa Trời ban cho chúng ta ánh sáng, nhưng tư tưởng của chúng ta quá thấp kém và tầm thường, thì làm thế nào ánh sáng ấy được giữ lại, và làm thế nào chúng ta có thể chuyển ánh sáng ấy thành tư tưởng có thể hiểu được?

Chúng ta phải ghi nhớ rằng điều đầu tiên chức vụ cung ứng lời cần là khải thị từ Đức Chúa Trời. Nhưng để yếu tố con người hiện diện trong lời Đức Chúa Trời và để con người có thể làm người cung ứng cho Đức Chúa Trời, ánh sáng khải thị phải đi qua con người. Ánh sáng ấy phải vào linh của con người và được chuyển thành tư tưởng của con người. Nếu linh của chúng ta không ở trong tình trạng đúng đắn, chúng ta sẽ không nhận được khải thị hay ánh sáng nào. Mặt khác, nếu tâm trí của chúng ta có điều gì đó sai trật, ánh sáng sẽ không chạm đến người bề ngoài của chúng ta và không thể được chuyển thành tư tưởng. Sau khi ánh sáng chiếu vào linh chúng ta, vẫn cần có một tâm trí mạnh mẽ và phong phú để chuyển ánh sáng ấy thành điều có thể hiểu được rồi trở nên lời. Nếu suốt ngày, chúng ta bị đè nặng với những lo lắng của mình về cái ăn, cái mặc và [gánh nặng] gia đình, và nếu tư tưởng của chúng ta luôn luôn đắm chìm trong những điều ấy, thì tâm trí của chúng ta không có khả năng để đáp ứng nhu cầu. Khả năng trí tuệ của một người giống như khả năng thể lực của người ấy. Nếu cánh tay của một người chỉ có thể nâng được hai mươi kí lô, người ấy chỉ có thể nâng được hai mươi kí lô; thêm một kí lô nữa thì trở nên quá nặng cho người ấy. Tâm trí của chúng ta cũng có những giới hạn tương tự. Nếu tâm trí chúng ta bị những điều khác chiếm chỗ, chúng ta không thể dùng tâm trí ấy trong những điều thuộc Đức Chúa Trời; chúng ta sẽ không có khả năng chuyển ánh sáng của Đức Chúa Trời thành tư tưởng. Anh em ơi, nếu nhận biết những giới hạn của mình càng sớm thì chúng ta sẽ nhận được thêm ơn phước. Một sự tranh đấu vô ích là một mất mát lớn lao.

Một số anh em luôn luôn đặt tâm trí của mình vào cái ăn, cái mặc và [việc] gia đình và công chuyện thế gian này. Có bao nhiêu chỗ trong tâm trí họ dành cho Đức Chúa Trời? Tâm trí của họ đã đầy dẫy nhiều điều; tư tưởng của họ bị quá nhiều điều lấn ép. Linh của họ không thể nhận được ánh sáng nào cả. Dầu linh của họ có thể nhận được ánh sáng, sự chiếu sáng ấy chỉ là một hoạt động vô ích. Họ vẫn không thể làm một cửa ngõ để chức vụ cung ứng lời tuôn đổ ra. Khi ánh sáng chiếu trong linh mình, họ không có một tâm trí ổn định để nhận lấy ánh sáng. Khi ánh sáng đến, chỉ một tâm trí tự do, mạnh mẽ và phong phú mới có thể giữ lại ánh sáng ấy. Nếu tư tưởng của chúng ta xoay quanh những điều khác, chúng ta sẽ ở trong một tình trạng rối rắm, và sẽ không thể thoát khỏi tình trạng ấy. Tư tưởng của chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được ánh sáng. Ánh sáng đã thật sự vào linh của chúng ta, nhưng có thể nó dừng lại tại đó. Ánh sáng phải đi theo một con đường nhất định. Lời Đức Chúa Trời cũng có con đường riêng; lời ấy phải đi qua những bước nhất định nào đó trước khi có thể được tuôn đổ ra thành chức vụ cung ứng. Nếu một người muốn phục vụ người khác bằng lời, người ấy phải để lời Đức Chúa Trời lưu xuất ra từ mình từng bước một. Nếu tâm trí có gì sai trật thì lời Đức Chúa Trời là ánh sáng vẫn ở trong linh người ấy; người ấy sẽ không thể chuyển ánh sáng ấy thành tư tưởng.

Điều thú vị là mỗi khi ánh sáng đến với linh chúng ta, chúng ta không biết ánh sáng ấy có nghĩa là gì hay đang nói gì. Đến khi chúng ta cố gắng hiểu và giữ lại ánh sáng ấy thì nó biến mất. Tâm trí và tư tưởng của chúng ta không đủ để hiểu ánh sáng ấy. Chúng ta thấy một điều gì đó, nhưng không biết điều mình nhìn thấy là gì. Nhiều khi, ánh sáng phải đến với chúng ta hai, ba hay thậm chí nhiều lần hơn nữa rồi chúng ta mới có thể nắm bắt ánh sáng ấy. Nếu tư tưởng của chúng ta phong phú đúng mức, chúng ta có thể giữ lại ánh sáng cách dễ dàng hơn. Nếu tâm trí của chúng ta không bị những điều khác đè nặng và choán chỗ và nếu tư tưởng của chúng ta đúng đắn và bao quát đúng mức, chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy ánh sáng ấy là gì và có nghĩa gì. Tất cả những người nhiều kinh nghiệm đều đồng ý rằng trong khi tâm trí họ cố gắng chuyển dịch ánh sáng, thì dường như ánh sáng ấy tan biến. Tâm trí chúng ta phải rất nhạy bén. Tâm trí của chúng ta càng nhạy bén thì chúng ta càng dễ dàng chuyển dịch ánh sáng. Một khi tâm trí của chúng ta sơ sót thì ánh sáng tan biến. Nếu Đức Chúa Trời thương xót chúng ta thì ánh sáng sẽ trở lại lần thứ hai. Nhưng nếu Ngài không thương xót chúng ta thì ánh sáng ấy sẽ không trở lại. Đôi khi chúng ta cảm thấy như thể mình bị mất mát một điều gì; chúng ta cảm thấy như thể một điều gì đó đi mất. Tình trạng ấy có nghĩa là tâm trí của chúng ta không thể hoạt động một cách thích hợp. Nhiều khi chúng ta cảm thấy tâm trí của mình không nhạy bén đúng mức. Nhiều khi chúng ta nhìn thấy một điều gì đó, và giống như một toán cấp cứu lao vào một ngôi nhà cháy, chúng ta nhanh chóng cố gắng chuyển ánh sáng thành tư tưởng. Nếu tâm trí nhạy bén đúng mức, chúng ta có thể bắt được một vài điều, nhưng các điều khác thì biến mất. Ánh sáng không nhẫn nại chờ đợi chúng ta suy gẫm và hiểu. Nó nhanh chóng biến đi. Chúng ta phải nhạy bén bắt lấy trước khi nó tan biến.

Anh em ơi, một khi nhận thấy mình không thể giữ lại ánh sáng, thì anh em nhận thức tâm trí mình vô dụng biết bao. Trước khi cố gắng dùng tâm trí để theo đuổi ánh sáng của Đức Chúa Trời, có thể anh em nghĩ mình là một người rất thông minh. Có thể anh em khoe khoang rằng tâm trí mình nhạy bén, nhưng khi cần chuyển ánh sáng của Đức Chúa Trời thành tư tưởng có thể hiểu được, anh em mới nhận thấy tư tưởng của mình nghèo nàn biết bao. Điều này cũng như kinh nghiệm thông dịch cho một diễn giả trên bục giảng: Anh em cần thông dịch cho người ấy, nhưng anh em không thể thông dịch được vì những từ ngữ không đến với anh em nhanh chóng đúng mức. Khi anh em thông dịch cho một diễn giả, người ấy có thể chờ anh em tìm ra những từ ngữ thích hợp. Tuy nhiên, ánh sáng thì khác; ánh sáng không chờ đợi anh em. Nếu anh em không thể theo kịp thì ánh sáng ấy sẽ biến mất. Tôi không thể cho anh em biết tại sao lại như vậy, nhưng đó là một sự thật. Anh em chỉ có thể giữ lại lượng ánh sáng theo khả năng của mình cho phép; những gì không thể giữ lại thì bị mất đi. Nếu ánh sáng trở lại lần thứ hai hay lần thứ ba, anh em có thể cảm tạ Đức Chúa Trời và bắt lấy nó một lần nữa. Nhưng nếu ánh sáng không trở lại, anh em sẽ chịu thiệt thòi, và Hội thánh cũng chịu thiệt thòi nữa. Nếu anh em làm mất ánh sáng thì Hội thánh sẽ bị mất chức vụ cung ứng.

Ai quyết định người nào là người cung ứng lời? Đức Chúa Trời là Đấng quyết định. Nhưng nếu những tư tưởng của chúng ta không thể tương xứng với ánh sáng thì chúng ta bỏ lỡ cơ hội phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời. Điều đó cho chúng ta thấy những tư tưởng của mình trọng yếu thế nào trong mối liên hệ với lời Đức Chúa Trời. Nhiều người có một ý niệm ngớ ngẩn: Họ nghĩ rằng một người cung ứng lời hoàn toàn không cần vận dụng tâm trí của mình. Không phải như vậy. 1 Cô-rin-tô chương 14 rõ ràng cho chúng ta biết rằng một người cung ứng lời cần vận dụng tâm trí của mình. Nếu không vận dụng tư tưởng và tâm trí của mình thì người ấy không thể phục vụ một cách thích hợp với tư cách là một người cung ứng lời Đức Chúa Trời.

PHÁ VỠ CON NGƯỜI BỀ NGOÀI

Một số người có thể thắc mắc: “1 Cô-rin-tô 2:13 không dạy chúng ta rằng những điều thuộc linh không cần đến sự khôn ngoan thuộc con người sao?” Chúng ta nên trả lời thế nào? Chúng ta phải nhận thức rằng câu ấy chỉ về sự phá vỡ của con người bề ngoài. Nếu tâm trí của chúng ta có thể giống như một người đầy tớ đứng ở cửa ánh sáng của Đức Chúa Trời, chờ đợi sự chiếu sáng và tìm cách thông giải ý nghĩa của ánh sáng ấy, thì đó là người đầy tớ tốt nhất. Nếu không có điều đó thì không có chức vụ cung ứng lời. Nhưng nếu tâm trí không được sử dụng để thông giải ánh sáng mà thay vào đó được dùng để nghĩ ra những tư tưởng riêng của mình, thì đó là người chủ tồi tệ nhất. Có một sự khác biệt lớn giữa việc tâm trí hoạt động với tư cách là người đầy tớ và tâm trí hoạt động với tư cách là người chủ. Khi tâm trí là người chủ, nó tự mình cố tìm kiếm ánh sáng của Đức Chúa Trời; nó cố gắng hiểu ý chỉ của Đức Chúa Trời hay hiểu lời Đức Chúa Trời. Đó là sự khôn ngoan thuộc con người. Khi con người tự mình cố gắng làm nảy sinh ra một điều gì, người ấy đang vận dụng sự khôn ngoan thuộc con người, và điều đó cần phải bị kết án và hủy diệt. Tâm trí của chúng ta cần phải là một người đầy tớ đứng ở cửa, chờ đợi và chuẩn bị sẵn sàng để Đức Chúa Trời sử dụng. Chúng ta không tạo ra ánh sáng; Đức Chúa Trời là Đấng chiếu ánh sáng trên chúng ta, trong khi tâm trí chỉ chuẩn bị sẵn sàng để giữ lại ánh sáng, hiểu ánh sáng và chuyển dịch ánh sáng. Chúng ta có thể nói tâm trí là một người đầy tớ quan trọng trong chức vụ cung ứng. Có một sự khác biệt căn bản giữa việc tâm trí tạo ra ánh sáng và tâm trí giữ lại ánh sáng. Tất cả những người đã học được bài học của mình trước mặt Chúa khi nghe một bài giảng đều nhận biết tâm trí của diễn giả đang hoạt động với tư cách là người chủ của người ấy hay tâm trí đang chuyển dịch ánh sáng nhận được. Khi tâm trí của con người xen vào công việc của Đức Chúa Trời và cố gắng làm người chủ, nó gây trở ngại cho Đức Chúa Trời. Đó là lý do tại sao người bề ngoài phải được phá vỡ. Một khi tâm trí của con người được phá vỡ thì nó không còn hỗn loạn và độc lập nữa.

Chúng ta cần phải ghi nhớ rằng khi người bề ngoài được phá vỡ, trí lực không bị tổn hại; ngược lại, nó còn được nâng cao. Sự phá vỡ tâm trí chỉ về việc phá vỡ tâm trí tự kỷ trung tâm, tự thúc đẩy, tự tiến tới. Một khi tâm trí như vậy được phá vỡ thì sự hữu dụng của nó gia tăng vượt bực. Giả sử, tâm trí của một người luôn luôn suy nghĩ về một vấn đề nào đó. Người ấy nghĩ về điều đó ngày đêm đến mức độ bị điều đó ám ảnh. Nếu tâm trí của một người ở trong tình trạng như vậy, thì thử hỏi người ấy có thể sáng suốt đọc Kinh Thánh không? Chắc chắn là không! Chúng ta cần phải nhận thức rằng theo mắt của Đức Chúa Trời, tâm trí của chúng ta đã lệch lạc rồi. Đôi khi tâm trí của chúng ta có thể bị một vấn đề ám ảnh suốt cả ngày; nó có thể hoàn toàn bị điều ấy chiếm ngự. Hay tâm trí của chúng ta có thể bị chiếm ngự bởi những suy nghĩ [miên man] về những điều chúng ta ham muốn; tâm trí ấy có thể hoàn toàn tập trung vào chính chúng ta. Rồi khi Đức Chúa Trời muốn sử dụng tâm trí ấy, nó không còn có thể dùng cho việc gì khác nữa. Do đó, Đức Chúa Trời không thể sử dụng tâm trí của chúng ta. Anh em ơi, chúng ta phải nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này.

Một điều kiện cơ bản cho chức vụ cung ứng lời là có một tâm trí không bị chi phối, tức một tâm trí dành riêng cho Đức Chúa Trời. Đó là một điều kiện cơ bản dành cho bất cứ người nào tham dự vào chức vụ cung ứng lời. Khi nói người bề ngoài cần được phá vỡ, chúng tôi không có ý nói rằng tâm trí của chúng ta cần phải bị phá hủy đến mức nó không còn có thể hoạt động nữa. Trái lại chúng tôi có ý muốn nói tâm trí không nên đầy dẫy những tư tưởng dành cho bản ngã nữa; nó không được suy nghĩ một cách vô kỷ luật. Nó không được để những điều ở bên ngoài bắt giữ. Sự khôn ngoan của người khôn ngoan phải được phá vỡ, và sự khôn khéo của người khôn khéo phải được lấy đi. Khi ấy tâm trí chúng ta sẽ trở nên một cơ quan hữu dụng; nó sẽ không còn là sự sống và là chủ của chúng ta nữa. Một số người chỉ ham thích suy nghĩ; họ ham thích trở nên khôn ngoan. Những tư tưởng của họ trở thành sự sống của mình, và họ sống bằng những tư tưởng ấy. Nếu bảo họ đừng vận dụng tâm trí thì [khác nào] anh em yêu cầu họ từ bỏ mạng sống của mình. Tâm trí của họ xoay trở suốt ngày. Họ quá năng động đến mức chúng ta không chắc là Linh của Đức Chúa Trời có thể chiếu sáng linh của họ chút nào không. Nhưng cho dầu Ngài có thể [soi sáng], nhưng tâm trí của họ vẫn không thể tiếp nhận ánh sáng ấy. Chúng ta cần phải nhận thức rằng để nhìn thấy bất cứ điều gì, một người không được chủ quan. Nếu chủ quan thì một người không thể nhìn thấy gì cả. Nếu tâm trí của một người là chính sự sống của mình thì người ấy không thể nhìn thấy và hiểu được ánh sáng của Đức Chúa Trời. Đó là vì người ấy quá chủ quan. Để tâm trí trở nên một cơ quan hữu dụng, nó phải được Đức Chúa Trời xử lý. Nó phải được đập vỡ hoàn toàn. Đó là sự phá vỡ con người bề ngoài. Nếu tâm trí của chúng ta cứ là trung tâm của bản thể mình và trọn bản thể của chúng ta chỉ chú tâm đến chính mình, suy nghĩ về những vấn đề của mình, với mọi sự xoay quanh chính mình, thì tâm trí của chúng ta không sẵn sàng cho dầu ánh sáng của Đức Chúa Trời có chiếu vào trong linh chúng ta. Chúng ta không biết Đức Chúa Trời đang nói gì, và không hiểu ý nghĩa của lời Đức Chúa Trời. Kết quả là chức vụ cung ứng bị ngăn lại trong chúng ta; nó bị kết liễu trong chúng ta. Nếu lời không thể đi qua tâm trí của chúng ta thì không có chức vụ cung ứng lời. Chức vụ cung ứng lời cần một ống dẫn, và ống dẫn ấy phải qua chúng ta. Chúng ta là ống dẫn mà qua đó nước của Đức Chúa Trời tuôn chảy. Ngài dùng những người sống làm ống dẫn của Ngài, và nước tuôn đổ ra theo từng chặng. Một khi có chướng ngại vật cản đường hay một đoạn ống dẫn bị nghẽn thì nước không thể chảy qua. Nhiều người bị bế tắc không có được chức vụ cung ứng là vì tâm trí bị tắc nghẽn; tâm trí bị tắc nghẽn thì chức vụ cung ứng không thể tuôn đổ ra.

Anh em ơi, đừng nghĩ rằng phung phí trí lực là chuyện nhỏ. Nhiều người thường phí trí lực của mình vào những điều không quan hệ. Suốt cả ngày, họ nghĩ ngợi về những điều không quan trọng. Phung phí trí lực như vậy gây cản trở cho đường lối của Đức Chúa Trời. Tôi không có ý nói tâm trí là vô dụng. Khải thị đòi hỏi sự cộng tác của tâm trí con người. Mọi sự Đức Chúa Trời ban cho chúng ta đều hữu dụng. Tâm trí được Đức Chúa Trời dựng nên, và chúng ta đừng nghĩ rằng nó vô dụng. Nhưng một tâm trí tự kỷ trung tâm và tự thúc đẩy thì vô dụng. Tâm trí cần phải là đầy tớ của Đức Chúa Trời. Nếu tâm trí cứ là một đầy tớ thì nó hữu dụng. Nhưng nếu cố làm ông chủ thì tâm trí trở nên kẻ thù của Đức Chúa Trời và là đầu não chống đối Đức Chúa Trời. Đó là lý do tại sao 2 Cô-rin-tô 10:5 nói rằng mọi tư tưởng phải được bắt giữ để đạt đến sự vâng phục Đấng Christ. Đức Chúa Trời không muốn hủy bỏ tâm trí chúng ta. Ngài muốn bắt giữ mỗi ý tưởng để đạt đến sự vâng phục Đấng Christ. Vấn đề là tâm trí của con người có ở dưới sự kiểm chế hay không. Nếu chúng ta quá tin tưởng vào sự khôn ngoan và trí lực của mình thì Đức Chúa Trời phải phá vỡ chúng ta. Chúng ta phải được phá hủy một cách hoàn toàn và triệt để. Nhưng chúng ta đừng hiểu lầm công tác phá vỡ này; công tác ấy không phá vỡ chính cơ quan hay chức năng của cơ quan. Sự phá vỡ chỉ đập tan sự sống, tức trung tâm. Đức Chúa Trời vẫn sử dụng cơ quan. Hồn là sự sống của một người và hồn là cơ quan của một người là hai điều hoàn toàn khác biệt. Đức Chúa Trời không muốn tâm trí làm sự sống của chúng ta; Ngài không muốn tâm trí kiểm chế chúng ta. Ngài muốn tâm trí chúng ta làm đầy tớ của Ngài. Hồn hoạt động với tư cách là sự sống của một người thì phải được phá vỡ. Nhưng hồn hoạt động với tư cách là đầy tớ của linh thì cần thiết.

La Mã 8:2 nói rằng Đức Chúa Trời đã giải phóng chúng ta trong Christ Giê-su. Làm thế nào Đức Chúa Trời giải phóng chúng ta? Ngài đã giải phóng chúng ta bằng luật của Linh sự sống. Thế thì, làm thế nào chúng ta có luật của Linh sự sống? Chúng ta phải bước đi theo Linh. Nếu chúng ta bước đi theo Linh thì luật của Linh hành động trong chúng ta. Nếu chúng ta không bước đi theo Linh nhưng theo xác thịt thì luật của tội và của sự chết biểu hiện trong chúng ta. La Mã chương 8 cho chúng ta biết rằng những người bước đi theo Linh đắc thắng luật của tội và của sự chết. Ai là những người bước đi theo Linh? Họ là những người đặt tâm trí của mình nơi linh (c. 6). Những người có tâm trí đặt nơi linh thì bước đi theo Linh, và những người bước đi theo Linh có luật của Linh sự sống trong họ, và họ đắc thắng luật của tội và của sự chết. Đặt tâm trí nơi linh có nghĩa là gì? Đặt tâm trí nơi linh có nghĩa là đặt tâm trí nơi những điều của Linh. Nếu một người dành trọn thời giờ của mình suy nghĩ về những điều phóng túng và kỳ lạ thì người ấy chắc chắn thuộc về xác thịt. Nếu tâm trí của người ấy đặt nơi những điều kỳ quặc thì chắc chắn người ấy thuộc về xác thịt. Nhưng nếu một người được Chúa dẫn dắt đến chỗ mà người ấy có thể nghĩ về Linh thì người ấy trở nên thuộc linh và hiểu những điều thuộc linh. Tâm trí của một số người luôn liên tục nghĩ về những công việc của con người; họ không thể nào sống bởi luật của Linh. Cũng vậy, không thể nào bảo những người có tâm trí liên tục chí hướng về những điều thuộc xác thịt sống bởi Linh. Chúng ta cần phải luôn luôn ghi nhớ rằng tâm trí không thể làm trung tâm bản thể của chúng ta. Tâm trí cần phải làm đầy tớ, và cần phải chăm chú lắng nghe tiếng nói của Chủ. Nếu không tập để ý nghe theo Linh, thì chúng ta sẽ theo ý chí của mình, đặt tâm trí mình nơi nhiều điều khác, và rơi vào chính những điều tâm trí chúng ta chí hướng. Nếu người bề ngoài của chúng ta được phá vỡ, thì bản ngã của chúng ta sẽ không còn là trung tâm, và tâm trí chúng ta sẽ không còn là tiêu điểm. Chúng ta không còn hành động theo tâm trí của mình nhưng thay vào đó học tập lắng nghe tiếng nói của Đức Chúa Trời. Chúng ta chờ đợi Đức Chúa Trời như một người đầy tớ. Khi ánh sáng của Ngài lóe lên trong chúng ta và linh chúng ta nhận thấy ánh sáng ấy, thì lập tức tâm trí chúng ta biết ý nghĩa của ánh sáng ấy.

Trái với suy nghĩ của một số người, người cung ứng lời không thể phục vụ chỉ nhờ thuộc lòng một bài giảng. Nếu như vậy thì Đạo Đấng Christ là một tôn giáo dựa vào xác thịt, chứ không dựa vào khải thị trong linh. Đạo Đấng Christ không căn cứ trên một tôn giáo thuộc xác thịt, mà căn cứ trên một khải thị trong linh. Chúng ta biết những điều thuộc về Đức Chúa Trời trong linh chúng ta, và chúng ta nghiên cứu, chuyển dịch và nhận thức những điều ấy trong linh qua tâm trí mình. Vì vậy, chúng ta không thể để tâm trí mình lang thang. Một khi tâm trí mình lang thang thì chúng ta không thể giữ lại ánh sáng. Nếu tâm trí chúng ta không vươn cao đúng mức thì chúng ta không thể bắt giữ ánh sáng. Mức độ hiểu biết khác nhau mang lại sự nhận thức khác nhau về ánh sáng. Một số người có thể nhìn thấy ý nghĩa của sự xưng công chính trước mặt Chúa; đó là một lẽ thật thông thường và sơ đẳng. Họ nhìn thấy vấn đề xưng công chính, nhưng khi đứng lên nói về sự xưng công chính thì trong họ có một sự thiếu sót lớn. Nền tảng của chức vụ cung ứng là ánh sáng của Đức Chúa Trời trong linh con người. Tuy nhiên, sự chuyển dịch ánh sáng ấy thay đổi theo tình trạng tâm trí của mỗi người. Ánh sáng mà một tâm trí cao cả nắm bắt được thì khác xa ánh sáng mà một tâm trí thấp kém chạm đến. Những gì một người chạm đến chịu ảnh hưởng bởi những gì tâm trí người ấy có thể nắm bắt. Tâm trí của người ấy càng phong phú thì sự hiểu biết của người ấy về sự xưng công chính càng hoàn toàn. Khi lời Đức Chúa Trời được truyền đạt qua người ấy, lời diễn đạt của người ấy phong phú hơn và cao diệu hơn. Nếu những tư tưởng của một người luôn luôn thấp kém, có thể người ấy vẫn nhìn thấy vấn đề xưng công chính, nhưng người ấy hiểu và nói về điều đó theo những tư tưởng thấp kém của mình. Lời Đức Chúa Trời thì như nhau trong cả hai trường hợp. Nhưng giữa vòng những người có tâm trí thấp kém, lời Ngài bị giảm bớt. Có những yếu tố con người trong chức vụ cung ứng, và yếu tố thứ nhất là tâm trí. Nếu tâm trí của chúng ta không ở dưới sự kiểm chế nghiêm ngặt và không vươn lên cao, thì chúng ta sẽ bỏ mất lời Đức Chúa Trời. Một nan đề đối với chức vụ cung ứng lời là có nguy cơ xen thêm những lời không đúng đắn vào lời Đức Chúa Trời và trộn lẫn những tư tưởng không đúng đắn với ánh sáng của Đức Chúa Trời. Khi tình trạng ấy xảy ra, lời không còn hiệu quả khi được truyền đạt, và sẽ bị mất mát nhiều.

Anh em ơi, chúng ta nhìn thấy điều này chưa? Trách nhiệm của chúng ta thật lớn lao. Nếu tâm trí của chúng ta được xử lý, lời Đức Chúa Trời sẽ được những tư tưởng của chúng ta phục vụ một cách thích hợp, và việc bổ sung thêm yếu tố con người của chúng ta vào sẽ đem lại vinh quang cho lời Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể nhận thấy điều này trong Phao-lô, Phi-e-rơ và Giăng. Phao-lô là một người có những đặc tính và nhân cách riêng. Ông có những đặc điểm riêng biệt. Khi ánh sáng của Đức Chúa Trời ngự trên ông và lời được truyền đạt qua ông, [chúng ta] có thể nhận thấy Đức Chúa Trời cũng như chính Phao-lô trong lời ấy. Điều này thật quí báu. Lời Đức Chúa Trời có thể được làm cho hoàn hảo trong con người mà không bị cản trở. Thật ra, lời Đức Chúa Trời có thể được tôn vinh. Chúng ta cũng nhận thấy điều này trong Phi-e-rơ. Khi lời Đức Chúa Trời được truyền đạt qua ông, lời Đức Chúa Trời tuôn đổ ra hàm chứa “hương vị” của con người Phi-e-rơ. Lời Đức Chúa Trời được làm cho hoàn hảo qua Phi-e-rơ. Lời Ngài không chịu thiệt hại. Những người cung ứng lời Đức Chúa Trời ngày nay phải như những người cung ứng lời đầu tiên. Đức Chúa Trời vẫn cần những người cung ứng lời. Nhưng vấn đề là khi đi qua linh và tâm trí của chúng ta, bao nhiêu ánh sáng của Đức Chúa Trời bị thất thoát. Bao nhiêu ánh sáng được làm cho hoàn hảo? Nguyện Chúa thương xót chúng ta. Nếu tâm trí chúng ta chưa được xử lý và không có khả năng đọc và giải nghĩa ánh sáng của Đức Chúa Trời, thì ánh sáng sẽ được truyền đạt một cách yếu ớt. Lời yếu ớt vì tâm trí của chúng ta yếu ớt; chức vụ cung ứng yếu ớt vì tâm trí của chúng ta yếu ớt. Chúng ta là những ống dẫn lời Đức Chúa Trời. Là những ống dẫn, chúng ta kiểm chế lời cũng như ống dẫn nước kiểm chế dòng nước. Một ống dẫn có thể bị rỉ, hay có thể bị ô nhiễm. Cũng vậy, chúng ta có thể chuyển đạt lời Đức Chúa Trời cho các anh chị em một cách mạnh mẽ, hay chúng ta có thể chuyển đạt lời ấy cách yếu ớt và làm ô nhiễm. Trách nhiệm của chúng ta thật sự lớn lao. Những người chỉ chú tâm đến các giáo lý đang đi trên một con đường hoàn toàn khác. Những người đi trên con đường ấy phải được xử lý. Nếu chưa được xử lý thì họ sẽ vô dụng.

Chúng tôi đã nhấn mạnh đến vấn đề dấu vết thập tự giá và sự phá vỡ người bề ngoài. Không có sự phá vỡ thì không có chức vụ cung ứng. Đây không phải là điều có thể lựa chọn, mà là điều căn bản. Nếu chúng ta muốn làm những người cung ứng lời Đức Chúa Trời, cung ứng Đấng Christ và lời Đức Chúa Trời cho người khác, thì người bề ngoài của chúng ta phải được phá vỡ. Đó là lý do tại sao chúng ta phải liên tục trở lại với vấn đề là chính con người của chúng ta. Chúng ta không thể tránh điều này. Nếu con người của chúng ta hữu dụng thì chúng ta sẽ hữu dụng. Nếu con người của chúng ta không hữu dụng thì chúng ta sẽ không hữu dụng. Tình trạng của con người chúng ta là vấn đề trọng yếu.

HUẤN LUYỆN TÂM TRÍ CHÚNG TA

Chúng ta đừng phung phí những tư tưởng của mình. Chúng ta phải quí trọng và giữ gìn từng li từng tí trí lực của mình. Tư tưởng của chúng ta càng mạnh mẽ và phong phú thì chúng ta sẽ càng vươn lên cao. Chúng ta đừng bao giờ phung phí tư tưởng của mình vào những điều vô dụng. Chúng ta có thể nhận ra người ta hữu dụng thế nào đối với chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời qua cách họ sử dụng tâm trí của mình. Nếu một người phung phí tư tưởng của mình vào những điều hư không vô ích, thì làm sao người ấy có thể có chỗ chứa những tư tưởng liên quan đến Đức Chúa Trời? Một người chủ quan thì vô dụng vì người ấy liên tục suy nghĩ về những điều của chính mình, nhìn đến những hoàn cảnh của bản thân, và bị chính tư tưởng mình ràng buộc. Những tư tưởng của người ấy càng tập trung vào chính mình, thì người ấy càng không thể dùng những tư tưởng của mình một cách hữu ích. Chúng ta không thể để tâm trí mình liên tục phóng túng, hỗn loạn, không được kiểm soát và không được chế ngự trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta đừng để tư tưởng mình cứ ở trong tình trạng thấp kém vì liên tục bước đi theo xác thịt, đặt tâm trí nơi xác thịt, và chí hướng về những điều thuộc về xác thịt. Nếu làm như vậy thì chúng ta còn rất ít chỗ trong tâm trí của mình cho Đức Chúa Trời. Chức vụ cung ứng lời cần đến tâm trí. Nếu những tư tưởng của mình đã được xử lý, chúng ta sẽ bắt lấy và giữ lại ánh sáng khi lời xuất hiện trong linh mình. Ánh sáng có khuynh hướng dễ biến mất. Chúng ta thường than thở tâm trí của mình tuyệt vọng thế nào trong việc bắt lấy ánh sáng của Đức Chúa Trời. Hễ tâm trí của chúng ta bận bịu với những điều khác thì ánh sáng của Đức Chúa Trời sẽ biến mất. Những tư tưởng của chúng ta phải như một người đầy tớ chầu chực tại ngưỡng cửa chờ đợi chủ mình. Đó là con đường của chức vụ cung ứng. Chúng ta phải biết con đường ấy. Hãy ghi nhớ là ánh sáng đến rất nhanh. Nhiều điều được hàm chứa trong tia chớp thoáng qua của nó. Chỉ những người có tư tưởng hoàn hảo, cao cả, phong phú và trong sáng mới có khả năng giữ lại nội dung của tia chớp ấy. Thậm chí khi ấy, chúng ta cần phải nhận thức rằng vẫn còn nhiều điều Đức Chúa Trời muốn chúng ta nhìn thấy mà mình không thể giữ lại. Điều rắc rối là chúng ta biết có một lời phán trong linh của mình và lời phán ấy có một ý nghĩa cụ thể. Nhưng chúng ta không biết ý nghĩa ấy là gì. Chúng ta biết mình đã đánh mất một điều gì đó, nhưng chúng ta không biết mình đã đánh mất những gì. Tâm trí của chúng ta thật thiếu khả năng, kém hữu dụng.

Chúng ta cần phải nhận thức rằng ngay cả tâm trí nhạy bén nhất thế giới cũng thiếu khả năng tiếp nhận ánh sáng của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta phung phí [năng lực] tâm trí vào những điều vô dụng thì tâm trí sẽ càng ít hữu dụng hơn nữa. Chúng ta đừng bao giờ để những tư tưởng của mình tự do chạy lang thang; làm như vậy là không khôn ngoan. Ánh sáng chỉ có thể được giữ lại bởi tâm trí, và chỉ hữu dụng theo sự sử dụng của tâm trí mình. Ánh sáng thì thuộc linh và dễ dàng biến mất. Nếu chúng ta muốn giữ lại ánh sáng, tâm trí của mình phải đầy năng lực, phong phú và mạnh mẽ. Đức Chúa Trời thật vĩ đại, và khả năng của chúng ta dùng để khám phá ra mức độ chiếu sáng và lời phán của Ngài thì giới hạn. Vì vậy, khi Ngài chiếu sáng, những tư tưởng của chúng ta phải phong phú. Thậm chí khi đến với Chúa, chúng ta thường cảm thấy mình khiếm khuyết và tâm trí mình không tương xứng với nhu cầu. Nhiều khi chúng ta ý thức về tình trạng nghèo nàn của tâm trí mình. Chúng ta mất đi nhiều điều và bỏ qua nhiều ánh sáng. Tình trạng của chúng ta sẽ tệ hơn biết bao nếu chúng ta phung phí tư tưởng của mình vào những điều gây phân tâm!

Mỗi ngày, chúng ta phải khép tâm trí mình vào kỷ luật trước mặt Chúa. Cách chúng ta sử dụng tư tưởng của mình liên quan rất mật thiết đến cách chúng ta thi hành chức năng với tư cách là người cung ứng lời. Chức vụ cung ứng đã khô cạn trong nhiều người vì họ đã phung phí tư tưởng của mình. Điều này cũng như một người phung phí sức lực của mình qua nhiều lần quẹo sai đường; người ấy không còn sức lực để đi con đường đúng nữa. Nhiều người phung phí tư tưởng của mình; họ không còn năng lực tiếp nhận sự chiếu sáng của Linh. Anh em ơi, đừng nghĩ rằng tâm trí của chúng ta không liên quan gì đến sự chiếu sáng của Linh. Chúng ta phải nhận thức rằng tâm trí của chúng ta liên quan mật thiết đến sự chiếu sáng của Linh. Trong khi sự thật hiển nhiên là những tư tưởng của chúng ta không thể thay thế sự chiếu sáng của Linh, chúng lại cần thiết để hiểu sự chiếu sáng của Linh. Vậy nên, chúng ta đừng phung phí tư tưởng của mình vào những lúc bình thường. Nhiều người để tư tưởng của mình bận rộn với những điều không cần thiết. Kết quả là họ không thể bắt lấy ánh sáng. Một người nghèo nàn trong tư tưởng vì người ấy có quá nhiều nỗi khao khát. Chúng ta phải học tập giữ gìn tư tưởng của mình mà đừng phung phí chúng. Tôi không nói chúng ta đừng sử dụng tâm trí của mình. Tôi nói rằng chúng ta không nên phung phí tư tưởng vào những điều gây phân tâm. Nhiều trí lực có thể bị phung phí. Nếu phung phí trí năng mà Đức Chúa Trời đã ban cho mình vào những điều không cần thiết, chúng ta sẽ nhận thấy không còn khả năng để hiểu lời Đức Chúa Trời. Có nhiều vấn đề phụ trong Kinh Thánh, biện biệt về những điều ấy thì không phải là việc quan trọng. Chúng ta không nên phung phí tư tưởng của mình vào những vấn đề ấy. Hơn nữa, chúng ta cần phải nhận thức rằng chúng ta không thể giải quyết mọi nan đề thuộc linh bằng tâm trí của mình. Chúng ta có thể nghĩ về những giải pháp, nhưng không thể giải quyết chúng. Những nan đề thuộc linh chỉ có thể được ánh sáng của Đức Chúa Trời giải quyết. Nhiều người dùng trọn sức lực của mình cố gắng làm sáng tỏ những điều bí ẩn trong Kinh Thánh hay những nan đề thuộc linh. Họ phung phí tư tưởng của mình vào các giáo lý và lý lẽ. Cho dầu họ nghĩ rằng mình đã giải quyết những nan đề ấy, khi tiếp xúc với họ, người khác chỉ chạm đến những tư tưởng của họ. Không có khả năng giữ lại ánh sáng của Đức Chúa Trời là sự mất mát lớn nhất. Sự hữu dụng của tâm trí nằm ở khả năng bắt lấy ánh sáng của Đức Chúa Trời khi ánh sáng ấy chiếu ra. Một người cung ứng lời phải học bài học quan trọng là sử dụng tư tưởng của mình cho những vấn đề hữu dụng. Người ấy phải đặt những tư tưởng của mình vào một chỗ thích hợp mà tại đó ánh sáng của Đức Chúa Trời có thể chiếu rọi. Người ấy không nên đặt những tư tưởng của mình vào một chỗ mà tại đó ánh sáng của Đức Chúa Trời không thể chiếu đến. Nếu chỉ sử dụng những tư tưởng của mình thì chúng ta không thể nhìn thấy gì. Trước hết Đức Chúa Trời phải chiếu sáng trên chúng ta rồi chúng ta mới có thể vận dụng tâm trí của mình. Chúng ta có nhìn thấy con đường này không? Chúng ta không nên đến với Kinh Thánh chỉ bằng tâm trí của mình. Trước khi có thể vận dụng tâm trí của mình để chuyển dịch ánh sáng và trước khi chúng ta nhìn thấy bất cứ điều gì, thì trước hết Đức Chúa Trời phải chiếu sáng. Nhưng nếu tâm trí mình mở ra cho Ngài thì chúng ta sẽ nhìn thấy ánh sáng của Đức Chúa Trời, và chúng ta sẽ bước bước thứ nhất trong việc tiếp nhận lời Đức Chúa Trời.

Nguyện Chúa tạo ra những người cung ứng lời giữa vòng chúng ta. Không có những người cung ứng lời thì Hội thánh sẽ luôn luôn nghèo nàn. Một người phải nhận được sự cung ứng lời Đức Chúa Trời rồi mới có thể làm người cung ứng cho Hội thánh. Nan đề ngày nay nằm ở con người, nằm nơi ống dẫn. Khi ánh sáng của Đức Chúa Trời chiếu trên chúng ta, trước hết ánh sáng ấy phải đi qua tâm trí. Ánh sáng ở trong linh chúng ta, nhưng trước hết phải đi qua tâm trí. Vì ánh sáng ở trong linh chúng ta, nên làm sao chúng ta có thể trông mong có một chức vụ cung ứng đầy quyền năng nếu ánh sáng ấy bị giảm bớt ngay khi nó đến với tâm trí chúng ta? Đây là một vấn đề rất cơ bản. Nguyện Chúa cho chúng ta biết đường lối của chức vụ cung ứng lời.