Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 10

Untitled Document

PHẦN BA: CHỨC VỤ CUNG ỨNG

CHƯƠNG MƯỜI

NỀN TẢNG CỦA CHỨC VỤ CUNG ỨNG

Chúng ta đã xem xét đề tài về con người — người cung ứng, và chúng ta cũng đã xem xét về lời của Chúa. Bây giờ, chúng ta chuyển sang lưu ý đến chính chức vụ cung ứng.

Chúng ta đã nhận thấy rằng trong chức vụ cung ứng lời của Cựu Ước cũng như Tân Ước, lời phán của Đức Chúa Trời đều chứa đựng các yếu tố con người. Nhưng có một nguy cơ là nếu một người không có tai và lưỡi của “người đã được dạy dỗ” (Ês. 50:4), thì người ấy sẽ xen chính mình vào lời Đức Chúa Trời. Nếu một người chưa được xử lý và chưa trải qua công tác uốn nắn của Thánh Linh, thì rất dễ để người ấy đưa những tư tưởng và cảm xúc riêng của mình vào lời Đức Chúa Trời. Khi việc đó xảy ra thì lời Đức Chúa Trời bị con người gây ô nhiễm và làm ô uế. Sự kiện ấy tạo ra một tình trạng nguy hiểm biết bao! Vì vậy, để có được một chức vụ cung ứng thuần khiết, Đức Chúa Trời phải hành động trên con người; con người bề ngoài phải được phá vỡ. Một người cung ứng lời Đức Chúa Trời phải ở dưới sự giới hạn khắt khe và sự sửa trị thần thượng. Nếu không ở dưới sự kiểm chế của Đức Chúa Trời, người ấy sẽ làm tổn hại lời Đức Chúa Trời.

Không những cần có công tác phá vỡ của Thánh Linh mà cũng cần có công tác cấu tạo của Thánh Linh trong chúng ta. Không những Thánh Linh phải xử lý chúng ta qua thập tự giá để lấy đi các yếu tố không thích hợp, mà Đức Chúa Trời còn phải cấu tạo sự sống của Chúa Giê-su vào trong chúng ta. Trong trường hợp của Phao-lô, Thánh Linh cấu tạo Đấng Christ vào trong ông để ông trở nên khác với tình trạng chưa được tái sinh của mình. Sự thay đổi của Phao-lô không phải là do một sự thay đổi trong xác thịt, mà do sự cấu tạo lại của Thánh Linh. Khi ông nói thì Linh của Đức Chúa Trời phán. Ông đứng trên một bình diện cao diệu. Ông ở trên một bình diện cao đến nỗi lời nói của ông là lời phán của Chúa. Ông nói: “Tôi dặn bảo, mà thật chẳng phải tôi” (1 Cô. 7:10). Có chức vụ cung ứng là như vậy. Đây là người cung ứng lời Đức Chúa Trời. Các yếu tố con người của người ấy đã được Chúa xử lý triệt để đến mức dầu họ có bổ sung vào lời Đức Chúa Trời cũng không làm ô nhiễm lời ấy. Lời Đức Chúa Trời vẫn là lời Đức Chúa Trời. Không những lời ấy không bị tổn hại, mà còn được làm hoàn hảo nhờ được bổ sung. Thánh Linh có thể hành động trong một người đến mức độ khi người ấy đứng lên nói, người nghe nhận thức rằng Chúa đang phán. Đó là một người hoàn toàn được tự do nói những lời lẽ của mình. Vì Thánh Linh đã thực hiện một công tác cấu tạo sâu xa trong người ấy nên lời nói của người ấy trở nên lời phán của Đức Chúa Trời, sự phán đoán của người ấy trở nên sự phán đoán của Đức Chúa Trời, và sự tán thành hay không tán thành của người ấy trở nên sự tán thành hay không tán thành của Đức Chúa Trời. Đó là kết quả công tác sâu xa của Thánh Linh trong con người.

Trong phần trước, chúng tôi đã bàn về đề tài lời Đức Chúa Trời. Chúng ta đã nhìn thấy hai vấn đề trọng yếu được liên hệ đến. Trước hết, tất cả những khải thị theo sau đều dựa vào những khải thị có trước. Tất cả những chức vụ cung ứng lời trong Tân Ước đều dựa vào những chức vụ cung ứng lời trong Cựu Ước. Tất cả những chức vụ cung ứng lời ngày nay đều căn cứ trên những chức vụ cung ứng lời trong quá khứ. Tất cả những khải thị của Đức Chúa Trời ngày nay đều đặt nền tảng trên những khải thị của Ngài trong Cựu Ước và Tân Ước. Vậy nên, Kinh Thánh là nền tảng của mọi sự phát ngôn. Đức Chúa Trời không còn phán thêm lời bổ sung hoặc lời nào độc lập [với những gì Ngài đã phán] nữa; Ngài chỉ phán qua những gì Ngài đã phán rồi. Ngài chiếu ánh sáng của Ngài qua ánh sáng đã có sẵn. Ngày nay Đức Chúa Trời không chiếu ra ánh sáng độc lập; Ngài không ban cho con người những khải thị độc lập. Trái lại, những khải thị của Ngài ban cho con người đến qua những khải thị có sẵn. Thứ hai, để làm người cung ứng lời, một người không thể chỉ đặt nền tảng sự rao giảng của mình trên Lời Đức Chúa Trời, tức là trên một mình Kinh Thánh. Ít nhất một lần, người ấy phải chạm đến Đấng Christ một cách căn bản. Người ấy phải có một khải thị căn bản trước khi có thể xây dựng chức vụ cung ứng của mình trên Kinh Thánh. Hai điều ấy không mâu thuẫn nhau. Những chức vụ cung ứng lời ngày nay dựa vào những chức vụ cung ứng lời trong quá khứ. Tân Ước đặt nền tảng trên Cựu Ước. Điều đến sau xây dựng trên điều đến trước. Đó là một sự thật. Tuy nhiên, chúng ta có một sự thật khác trước mặt mình: Tất cả những người cung ứng lời trước hết phải gặp Chúa ngoài Kinh Thánh và nhận được khải thị của Ngài, tức khải thị về Đấng Christ, rồi họ mới có thể dùng Kinh Thánh làm nền tảng cho chức vụ cung ứng lời của mình. Chúng ta không được bỏ qua điểm này. Một người không nên cho là hễ có được một quyển Kinh Thánh và đang giảng dạy từ quyển sách ấy là mình đã có thể rao giảng. Người ấy phải có một khải thị căn bản từ Đức Chúa Trời rồi mới có thể phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời qua những lời thành văn có sẵn trong Kinh Thánh. Người ấy phải có một khải thị cơ bản; người ấy phải gặp Đấng Christ một cách căn bản rồi mới có thể trích dẫn Kinh Thánh.

MỖI KHẢI THỊ ĐỀU DẪN ĐẾN MỘT CƠ HỘI ĐỂ CUNG ỨNG

Nói về chức vụ cung ứng lời, chúng ta phải nhận thức rằng có hai loại khải thị. Thứ nhất là một khải thị cơ bản, một lần đủ cả. Thứ hai là một khải thị tinh tế và tiệm tiến. Nếu chúng ta đã nhận được khải thị về Đấng Christ, khải thị ấy là một khải thị cơ bản. Phao-lô nhận được khải thị ấy. Sau khi nhận được một khải thị như vậy, mỗi khi mở Kinh Thánh ra chúng ta sẽ khám phá ra những gì mình đã thấy về Chúa rồi. Loại khám phá ấy dựa trên khải tượng và sự hiểu biết ban đầu về Chúa. Trước hết, chúng ta phải phủ phục trước mặt Chúa và thừa nhận rằng không điều gì chúng ta biết trước kia có thể đứng vững trước mặt Ngài. Thậm chí sự phục vụ sốt sắng của chúng ta đối với Đức Chúa Trời, giống như nỗ lực của Sau-lơ, phải bị loại ra. Chúng ta cần phải ghi nhớ rằng Sau-lơ đã ngã xuống đất. Ông không ngã xuống vì tội lỗi của mình. Việc ông ngã xuống liên quan đến công tác. Đó không phải là một việc ngã xuống liên quan đến sự thối lui, mà liên quan đến lòng sốt sắng. Đây là một người biết luật pháp, biết Cựu Ước, và sốt sắng hơn mọi người Pha-ri-si khác. Ông rất sốt sắng đến nỗi lúc nào ông cũng có thể tập trung vào chỉ một điều. Khi tâm trí của ông tập trung vào việc bắt bớ Hội thánh, ông tận lực bắt bớ Hội thánh. Vì nghĩ rằng đó là cách để phục vụ Đức Chúa Trời, nên ông hoàn toàn dâng mình cho điều đó. Mặc dầu ông bị lừa dối, lòng sốt sắng của ông vẫn thật. Khi được soi sáng và bị đánh ngã xuống đất, ông nhận thức rằng điều mình đã làm là bắt bớ Chúa chứ không phải phục vụ Ngài.

Mặc dầu nhiều người được cứu, họ cũng mù quáng như Sau-lơ trong công tác và sự phục vụ của mình. Họ nghĩ rằng mình đang ở trên con đường hầu việc Đức Chúa Trời. Nhưng một ngày kia, Chúa chiếu ánh sáng của Ngài trên họ, và họ kêu cầu từ bên trong rằng: “Thưa Chúa, con phải làm gì?” Tôi e rằng nhiều người chưa hỏi câu hỏi ấy lần nào trong cuộc đời mình. Họ chưa bao giờ được Thánh Linh cảm động để kêu lên với Ngài: “Chúa ơi”. Cách nhiều người kêu “Chúa ơi” giống như những người trong Ma-thi-ơ 7:21. Họ không kêu cầu Chúa như trong 1 Cô-rin-tô 12:3. Ở đây, chúng ta nhìn thấy một người lần đầu tiên xưng nhận Giê-su người Na-xa-rét là Chúa. Lần đầu tiên, người ấy nói: “Thưa Chúa, tôi phải làm chi?” (Công. 22:10). Trước kia, ông đã làm nhiều điều. Nhưng tại đây, ông nói: “Thưa Chúa, tôi phải làm chi?” Đó là một sự ngã xuống. Ông ngã xuống từ công tác của mình, từ lòng sốt sắng của mình, và từ sự công chính riêng của mình. Từ khi ông nhận được một khải thị như vậy thì Kinh Thánh trở nên một quyển sách mới, một quyển sách được mở ra, đối với mình.

Nhiều người chỉ có thể đọc Kinh Thánh với những giáo sư kề bên. Họ chỉ có thể hiểu Kinh Thánh dựa theo những quyển sách tham khảo. Họ không có một sự hiểu biết về Kinh Thánh, là điều phát xuất từ sự gặp gỡ Chúa. Điều lạ lùng là một khi người nào gặp Chúa và được soi sáng thì lập tức Kinh Thánh trở nên một quyển sách mới đối với người ấy. Từ ngày đó trở đi, mỗi khi đọc Kinh Thánh thì người ấy chạm đến một quyển sách mới. Có lần, một anh em nói: “Khi Chúa đặt tôi trong ánh sáng, những gì tôi nhận được trong một khắc cũng đủ để tôi giảng suốt một tháng”. Đó là một lời ra từ kinh nghiệm. Chúng ta phải có khải thị cơ bản ấy, tức một khải thị liên quan đến việc chạm đến Chúa. Một khải thị như vậy sẽ đưa chúng ta đến nhiều khải thị khác, tức những khải thị mở chúng ta ra để hiểu lời Đức Chúa Trời. Một khi chúng ta có được khải thị cơ bản ấy, việc đọc Kinh Thánh của chúng ta sẽ là một sự khám phá. Chúng ta sẽ tìm thấy lời phán của Đức Chúa Trời trong phân đoạn này và phân đoạn kia. Chúng ta sẽ biết Chúa qua phân đoạn này và được sáng tỏ những điểm liên quan đến Ngài qua một phân đoạn khác. Hằng ngày và qua từng phân đoạn [Kinh Thánh], chúng ta sẽ tích lũy nhiều khải thị. Khi phục vụ những người khác bằng loại khải thị ấy, chúng ta có một chức vụ cung ứng.

Chức vụ cung ứng lời đặt nền tảng trên những lời một người nhận được từ Đức Chúa Trời. Khi gặp Đấng Christ, chúng ta phục vụ Hội thánh bằng Đấng Christ mà mình nhận biết. Mỗi khi cung ứng, chúng ta cần một khải thị tươi mới. Chức vụ cung ứng lời liên quan đến việc nhìn thấy một điều gì đó trước mặt Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời trình bày một điều gì đó cách tươi mới cho chúng ta. Khi trình bày lại điều đó cho Hội thánh thì chúng ta có khải thị. Trong phần trước, chúng tôi nói rằng có hai loại khải thị. Khải thị thứ nhất là cơ bản, trong khi khải thị thứ hai thì chi tiết hoặc để bổ sung. Một loại xảy ra một lần đủ cả, trong khi loại kia thì xảy ra nhiều lần. Nếu không có khải thị một-lần-đủ-cả thì chúng ta không có những khải thị liên tiếp [về sau]. Trước hết, chúng ta phải có khải thị cơ bản, rồi con người, linh của chúng ta, và sự hiểu biết của chúng ta về Chúa và Kinh Thánh mới được hữu dụng. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là lập tức chúng ta có thể làm những người cung ứng lời. Khải thị cơ bản khiến chúng ta đủ tư cách làm một người cung ứng. Nhưng chúng ta chỉ có thể bắt đầu thực sự phục vụ khi được bổ sung thêm nhiều khải thị.

Chức vụ cung ứng đặt nền tảng trên sự hiểu biết và khải thị cơ bản nào đó. Tuy nhiên, khi Đức Chúa Trời muốn chúng ta phát biểu một điều gì đó, chúng ta phải học tập để nhận được một khải thị tươi mới liên quan đến sự phát ngôn đặc thù ấy. Một người cung ứng lời Đức Chúa Trời không thể tự cho là mình có thể phát biểu chỉ vì mình đã có lần nhận được một khải thị. Mỗi khi có chức vụ cung ứng lời, mỗi khi người nào cung ứng [cho ai] từ lời [Chúa], thì cần có một khải thị tươi mới cho mục đích đặc biệt ấy. Mỗi lần phục vụ đều cần có một khải thị mới. Mỗi lần cung ứng đều cần có một khải thị mới. Một người phải có khải thị trước khi có thể có một chức vụ cung ứng. Một người không nhận được khải thị rồi sống bởi khải thị ấy suốt cuộc đời mình. Khải thị cơ bản tăng cường khả năng của một người để người ấy có thể nhận được những khải thị tiệm tiến. Khải thị đầu tiên đem đến thêm nhiều khải thị. Khải thị cơ bản đem đến nhiều khải thị tiếp theo. Không có khải thị cơ bản thì không có những khải thị theo sau. Nhưng thậm chí khi có khải thị cơ bản rồi, vẫn cần thêm nhiều khải thị nữa. Có thể một người nhận được một khải thị cơ bản từ Đức Chúa Trời, nhưng không có nghĩa là người ấy có thể dùng khải thị cơ bản ấy từ năm này sang năm nọ, liên tục suốt cuộc đời mình và phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời theo cách ấy. Y như chúng ta phụ thuộc vào Chúa từng giây phút cho sự sống của mình thể nào, thì công tác của chúng ta cũng theo một nguyên tắc tương tự như vậy. Mỗi khải thị đều sinh ra một cơ hội để cung ứng. Một người phải có nhiều khải thị trước khi có thể cung ứng nhiều.

Chúng ta phải ghi nhớ rằng mỗi khải thị chỉ cho chúng ta cơ hội thi hành chức vụ cung ứng của mình một lần. Không thể nào có một khải thị cho hai lần phụng sự. Một khải thị chỉ có hiệu lực cho chức vụ cung ứng một lần. Tất cả những khải thị theo sau đều được xây dựng trên khải thị cơ bản đầu tiên ấy. Nếu không có khải thị cơ bản ấy thì không thể nào có những khải thị theo sau.

Trước hết những vấn đề cơ bản này phải được giải quyết rồi chúng ta mới có thể làm người cung ứng lời Đức Chúa Trời. Những khải thị phải tiệm tiến, khải thị này được xây dựng trên khải thị kia. Một khải thị đơn độc không thể hỗ trợ cho một chức vụ cung ứng mãi mãi. Một khải thị có thể hỗ trợ cho chức vụ cung ứng một lần. Một khải thị chỉ có thể phục vụ một lần. Một người chuẩn bị một số bài giảng rồi dùng những bài giảng ấy khi có cơ hội thì cũng vô dụng. Đó không phải là vấn đề quen thuộc với một bài giảng rồi chia sẻ bài giảng ấy khắp nơi. Chúng ta phải ghi nhớ rằng lời Đức Chúa Trời là lời Đức Chúa Trời; đó không phải là lời của chúng ta. Có thể anh em rất quen thuộc với một bài giảng và thậm chí có thể thuộc lòng bài giảng ấy. Tuy nhiên, để cung ứng lời Đức Chúa Trời, anh em phải nhận được một lời từ Ngài mỗi khi sắp rao giảng. Anh em cần những khải thị liên tiếp trước khi có thể thi hành một chức vụ cung ứng lời liên tục. Mỗi khải thị sẽ trang bị anh em thi hành chức vụ của mình chỉ một lần.

NHỮNG ĐIỀU THUỘC LINH ĐƯỢC NUÔI DƯỠNG TRONG KHẢI THỊ

Lần đầu tiên khi nhận được khải thị của mình, anh em nhận thức Kinh Thánh thật sống động. Ví dụ, anh em có thể nhận thấy Đấng Christ là sự thánh khiết của mình, với sự nhấn mạnh ở chữ là. Đấng Christ là sự thánh khiết của anh em; đó không phải là vấn đề Đấng Christ làm cho anh em trở nên thánh khiết. Đó không phải là vấn đề Đấng Christ ban cho anh em sự thánh khiết của Ngài nhưng Đấng Christ trở nên sự thánh khiết của anh em. Mắt của anh em được mở ra nhìn thấy rằng sự thánh khiết của anh em không phải là một việc làm mà là chính Đấng Christ. Sự thánh khiết của anh em là một Thân vị, cũng như sự công chính của anh em là một Thân vị. Sự công chính của anh em không phải là tổng cộng của năm mươi hay năm mươi mấy điều anh em làm. Đấng Christ là sự công chính của anh em. Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng Christ trở nên sự công chính của anh em. Sự công chính của anh em là một Thân vị. Đây là một khải thị cơ bản: Đấng Christ là sự công chính của anh em. Ngài là sự thánh khiết của anh em. Sự công chính của anh em là một Thân vị, và sự thánh khiết của anh em cũng là một Thân vị. Đó là một khải tượng vinh hiển. Sau hai tháng, một cơ hội có thể dấy lên để anh em thi hành chức vụ cung ứng. Anh em phải nói với các anh chị em rằng Đấng Christ là sự thánh khiết của mình, và anh em phải cho họ thấy sự khác biệt giữa sự thánh khiết là một điều và sự thánh khiết là một Thân vị. Tuy nhiên, anh em phải ghi nhớ rằng anh em không thể dựa vào khải thị mình nhận được hai tháng trước. Anh em lại cần cầu xin Chúa rằng: “Thưa Chúa, con nên nói gì?” Chỉ sau khi Chúa cho anh em thấy cần rao giảng một lời như vậy, anh em mới có chức vụ cung ứng. Mỗi khi muốn anh em rao giảng một lời như vậy, Đức Chúa Trời phải chiếu sáng một lần nữa trên khải thị anh em đã nhận được. Một lần nữa anh em phải nhìn thấy điều đó, và phải nhìn thấy điều đó như trước kia anh em chưa từng nhìn thấy. Điều đó phải trở nên mới mẻ trong anh em. Anh em được soi sáng ở bên trong, và nhìn thấy ý nghĩa của sự kiện Đấng Christ là sự thánh khiết của mình. Khi việc ấy xảy ra, anh em có thể đến với các anh chị em và giảng cho họ về sự kiện Đấng Christ là sự thánh khiết.

Khải thị là gì? Khải thị là nhìn thấy những gì ở trong Đấng Christ. Kinh Thánh đầy dẫy Đấng Christ, và khải thị làm cho chúng ta nhìn thấy tất cả những gì ở trong Đấng Christ. Đấng Christ là sự thánh khiết của chúng ta; đó là một sự thật. Điều đó được chép trong Kinh Thánh. Nhưng lần đầu tiên khi chúng ta nhìn thấy điều đó, điều đó thật mới mẻ đối với chúng ta. Khi một người nhìn thấy điều gì bởi khải thị, điều đó thật mới mẻ; dường như không có gì trên thế giới này mới bằng điều đó. Điều đó rung động đầy sức sống, thật là tươi mới. Khải thị luôn luôn mới mẻ; nó làm cho những điều cũ kỹ trở nên mới mẻ.

Chúng tôi mong muốn chỉ ra điều này: Khải thị không những làm cho văn tự sống động, mà còn biến những điều cũ kỹ trở thành những điều mới mẻ và chuyển những gì khách quan trở thành chủ quan; thật ra khải thị làm cho những điều chủ quan một lần nữa lại trở nên hoàn toàn mới mẻ. Một khải thị cơ bản biến tất cả những điều khách quan trong Đấng Christ thành những điều chủ quan trong con người. Trước khi một người nhận được khải thị cơ bản như vậy, mọi sự trong Đấng Christ đều khách quan đối với mình. Một khi người ấy nhận được khải thị như vậy thì tất cả những điều khách quan đều trở nên chủ quan đối với mình. Nhưng đó không có nghĩa là một khi lời ấy được mở ra thì công việc được hoàn tất. Đó không có nghĩa là một lần mở ra ấy sẽ cung ứng cho một người những gì người ấy cần trong suốt cuộc đời mình. Cho dầu đã nhận được một khải thị, chúng ta vẫn cần khải thị tươi mới từ Đức Chúa Trời mỗi khi chúng ta cung ứng lời và phục vụ người khác bằng Đấng Christ để một lần nữa những điều cũ kỹ có thể trở nên mới mẻ.

Chúng ta phải ghi nhớ rằng những điều thuộc linh phải được nuôi dưỡng trong môi trường khải thị. Đức Chúa Trời có ý định là tất cả những điều thuộc về Đấng Christ và liên quan đến Đấng Christ phải trở nên sống động trong chúng ta. Ngài có ý định là tất cả những điều ấy phải được nuôi dưỡng nhờ khải thị. Khải thị của Ngài có thể làm cho những điều cũ kỹ liên tục sống động trong chúng ta. Tất cả những điều thuộc về Đấng Christ phải được liên tục gìn giữ trong tình trạng sống động nhờ khải thị. Một khi không còn khải thị thì những điều thuộc linh không còn sống động nữa. Có thể anh em nghĩ rằng trước kia mình đã nhìn thấy một điều và khải tượng ấy làm cho ngày nay anh em hội đủ điều kiện để rao giảng. Nhưng anh em sẽ khám phá ra rằng mình không thể ban cho người khác bất cứ điều gì. Đối với việc rao giảng phúc-âm cũng vậy. Ghi nhớ rằng Chúa là Cứu Chúa và tội lỗi của anh em được tha thứ là điều dễ dàng. Đôi lúc, khi giảng phúc-âm, anh em chạm đến một điều gì đó. Những lúc khác, càng nói thì anh em càng kém mạnh dạn; anh em cảm thấy như một lọ keo khô. Rõ ràng trường hợp trước là nói có khải thị kèm theo, trong khi trường hợp sau là nói mà không có khải thị. Chỉ những điều được gìn giữ trong lãnh vực khải thị mới sống động, tươi mới, đầy quyền năng và đầy dẫy sự sống. Chúng ta phải ghi nhớ rằng mọi điều thuộc linh trở nên chết chóc ngay giây phút chúng bị tách rời khỏi khải thị.

Ngày nay, khi cung ứng lời cho người ta, chúng ta không nên tùy thuộc vào trí nhớ của mình. Chúng ta không nên nghĩ rằng chúng ta có quyền tự do lặp lại cùng một điều chỉ vì những kinh nghiệm và lời nói trước kia của mình vẫn còn nguyên trong tâm trí chúng ta. Tuy điều đó có hiệu nghiệm cho chúng ta lần đầu tiên, nhưng lần này thì không còn hiệu nghiệm nữa. Có thể anh em lặp lại cùng một điều, nhưng sau đó, anh em cảm thấy rằng có một điều gì sai trật, những gì chúng ta nói không phải là điều đúng. Chúng ta cảm thấy rằng thật ra, chúng ta cách khá xa điều mình đang nói; chúng ta tuyệt nhiên không chạm được điều ấy. Khải thị rõ ràng khác hẳn sự dạy dỗ. Con người luôn luôn có một khái niệm sai lầm là mình muốn làm một giáo sư. Chúng ta phải nhìn thấy rằng giáo lý và sự dạy dỗ tự chính nó là vô dụng. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng khả năng giảng dạy là tất cả. Có lẽ chúng ta có khả năng giảng, và những người khác có thể đánh giá cao lời giảng của chúng ta, nhưng chúng ta có thể tự xét đoán chính mình; trong thâm tâm, chúng ta biết có một điều gì đó sai trật. Chúng ta cần phải ghi nhớ rằng nhiều người nhận được sự giúp đỡ một cách thiếu hiểu biết. Chúng ta không nên tự ca tụng chính mình chỉ vì những người khác nói là họ đã nhận được sự giúp đỡ từ chúng ta. Có thể một số người nói rằng họ đã nhận được sự giúp đỡ, nhưng thật ra họ không nhận được gì cả. Trong thâm tâm, chúng ta biết rằng lời nói của mình đúng trọng tâm hay trật trọng tâm, cũ kỹ hay mới mẻ, chết chóc hay sống động. Trong khi chúng ta giảng, nếu khải thị của Chúa ở cùng và sự thương xót của Đức Chúa Trời ở trên chúng ta, thì chúng ta sẽ chạm đến thực tại; sẽ không còn một cảm giác xa vời. Chúng ta sẽ chạm đến được, và những điều chúng ta nói sẽ sống động đối với mình. Hễ chúng ta có sự tin chắc rằng những điều ở trong chúng ta sống động, thì chúng ta đúng đắn. Chúng ta phải mãi mãi ghi nhớ rằng chúng ta cần một khải thị tươi mới từ Đức Chúa Trời mỗi khi thi hành chức vụ cung ứng lời. Có chức vụ cung ứng lời là như vậy.

1 Cô-rin-tô chương 14 bàn về vấn đề nói tiên tri. Tất cả các tiên tri đều có thể nói tiên tri và rao giảng. Nhưng “nếu có kẻ khác ngồi đó được sự khải thị thì người đương nói trước phải nín lặng” (c. 30). Giả sử có vài tiên tri, và một người trong họ có lời để nói với các anh em. Trong khi người ấy đang chia sẻ, một người khác cũng nhận được khải thị. Người ấy có thể nói: “Thưa anh, xin cho tôi nói”. Người đang nói nên để anh em ấy nói vì người mới nhận được khải thị thì tươi mới nhất; người ấy có sự sống và quyền năng nhiều nhất. Đó là lý do tại sao người ấy nên được phép nói. Mặc dầu tất cả đều là tiên tri, nhưng người nhận được khải thị mới nhất là người sống động. Có thể vào chính ngày ấy, không ai khác có lời ấy; chỉ anh em đó biết lời ấy vì anh có khải thị. Vì vậy, những người khác nên để anh em có khải thị đứng lên nói. Sự phục vụ của chúng ta trong chức vụ cung ứng lời đặt nền tảng trên những khải thị chúng ta liên tục nhận được. Nếu không có những khải thị liên tục, chúng ta không thể phục vụ một cách thích hợp với tư cách là một người cung ứng lời.

Chúng ta đừng bao giờ cho là một bài giảng từng chứa đựng lời phán của Đức Chúa Trời thì luôn luôn chứa đựng lời phán của Ngài. Chúng ta đừng bao giờ cho là một bài giảng từng đem lại sự ăn năn sẽ luôn luôn đem lại sự ăn năn. Điều đó không thể xảy ra được. Cùng một bài giảng được chia sẻ trong cùng một cung cách không bảo đảm đem lại cùng một kết quả. Chỉ cùng một sự xức dầu mới sinh ra cùng một kết quả. Chỉ cùng một khải thị mới sinh ra cùng một ánh sáng. Cùng một lời không thể sinh ra cùng một ánh sáng. Một điều thuộc linh trở nên chết chóc trong chúng ta dễ dàng biết bao! Điều đó có thể dễ dàng trở nên chết chóc như vũng nước ao tù trong chúng ta. Có khả năng chia sẻ cùng một bài đã từng được rao giảng ba năm trước không có nghĩa là chúng ta có cùng một ánh sáng đã có ba năm về trước. Ngày nay, chúng ta cần có cùng một khải thị mình đã có ba năm trước. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể rao giảng cùng một sứ điệp mình đã rao giảng ba năm về trước. Chức vụ cung ứng không tùy thuộc vào những lời chúng ta đã giảng trước kia, nhưng tùy thuộc vào khải thị mới mà hiện tại chúng ta có được.

Nan đề lớn nhất đối với Hội thánh ngày nay là nhiều người nghĩ rằng họ có nhiều sứ điệp để chia sẻ. Họ nghĩ rằng nếu lặp lại cùng một bài giảng nhiều lần thì họ sẽ có cùng một kết quả nhiều lần. Nhưng điều đó không thể xảy ra được. Chú trọng đến giáo lý thay vì khải thị là một lỗi lầm căn bản. Cho dầu một người giảng chính sứ điệp của Phao-lô và Giăng, điều đó cũng không có hiệu quả, nói gì đến việc lặp lại bài giảng của chính mình. Chỉ cùng một khải thị mới có thể sinh ra cùng một kết quả; cùng một lời nói sẽ không sinh ra cùng một kết quả. Vậy nên, chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời không phải là vấn đề lời mà là vấn đề khải thị. Chúng ta không phục vụ trên nền tảng lời mà trên nền tảng khải thị. Chúng ta phải ghi nhớ rằng chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời là chức vụ cung ứng lời được Đức Chúa Trời mặc khải. Chúng ta phải phân biệt giữa giáo lý và khải thị. Những gì Đức Chúa Trời phán hôm qua và hôm kia là giáo lý; những gì Ngài phán hôm nay là khải thị. Những gì chúng ta ghi nhớ là giáo lý; những gì chúng ta nhìn thấy là khải thị.

Chúng ta biết rằng chức vụ của các tiên tri liên quan đến những vấn đề của hiện tại và tương lai; chức vụ ấy không liên hệ đến những vấn đề thuộc về quá khứ. Chức vụ của các tiên tri bày tỏ ước muốn của Đức Chúa Trời cho hiện tại và tương lai. Đó là lý do tại sao Kinh Thánh gọi những người ấy là những người thấy trước hay tiên tri. Một tiên tri là một người thấy trước; đó là một người trông thấy. Trong Cựu Ước, nhiều tiên tri nói những lời tiên tri. Nhưng một số tiên tri không thật sự nói theo tính cách tiên tri; trái lại, họ tuyên bố ý chỉ của Đức Chúa Trời cho những người đương thời của họ. Khi Na-than đến với Đa-vít, ông nói tiên tri rất ít về vợ con sau này của Đa-vít. Nhưng Na-than chính yếu bày tỏ ý tưởng của Đức Chúa Trời; ông bày tỏ lòng của Đức Chúa Trời về những điều sắp xảy ra (đc. 2 Sa. 12:7-15). Trong Cựu Ước, sự bày tỏ cao nhất về chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời là việc nói tiên tri và rao giảng của các tiên tri. Nếu người nào muốn làm một người cung ứng lời, nếu ai muốn có chức vụ cung ứng ở mức độ cao nhất, thì người ấy phải biết Đức Chúa Trời muốn gì trong hiện tại và Ngài muốn gì trong tương lai. Người ấy phải có khải thị hiện tại của Đức Chúa Trời. Người ấy không thể giữ lại những lời cũ kỹ hay thậm chí những lời rất gần đây. Nhiều người chỉ có thể giữ lại những gì họ nhìn thấy vào những năm trước kia hay một vài ngày trước. Họ không có khải thị hiện tại. Những người ấy không thể làm người cung ứng lời.

HAI LÃNH VỰC KHÁC BIỆT

Chúng ta phải nhận thức rằng có hai lãnh vực khác biệt. Một là lãnh vực giáo lý. Trong lãnh vực ấy, con người chỉ cần chuyển đạt cho người khác những gì mình đã học được tại trường, nơi sách vở hay qua những nhà luận giải Kinh Thánh. Điều duy nhất cần đến là một ít cố gắng, thông minh và khẩu tài. Lãnh vực kia là lãnh vực khải thị. Trong lãnh vực ấy, trừ khi có khải thị của Đức Chúa Trời, một người không thể làm gì cả. Chúng ta phải nhìn thấy rằng trong chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời, tách rời khỏi khải thị của Đức Chúa Trời thì con người bất lực và bất năng. Nếu Đức Chúa Trời không phán thì chúng ta không thể ráng nói ra một lời nào. Nếu Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta khải thị của Ngài, chúng ta không biết phải làm gì. Khi Đức Chúa Trời ban cho khải thị, chúng ta có chức vụ cung ứng lời. Nếu Đức Chúa Trời không ban cho khải thị, chúng ta không có chức vụ cung ứng lời. Việc thi hành chức vụ của chúng ta được đặt nền tảng trên những khải thị tương ứng. Chúng ta phải được liên kết với Đức Chúa Trời trong lãnh vực này. Chúng ta phải đến với Chúa. Nếu không đến với Chúa, chúng ta không thể đứng trước mặt con người để rao giảng. Trong lãnh vực kia, chúng ta có thể sử dụng những gì mình đã thuộc lòng, học được hay rao giảng từ tháng trước hay tuần trước. Trong lãnh vực ấy, con người có thể làm một điều gì đó; người ấy có thể sử dụng đến những phương cách riêng của mình. Điều duy nhất người ấy cần là trí nhớ, sự thông minh và khẩu tài. Nhưng trong lãnh vực khải thị, không ai có thể làm một người cung ứng lời trừ khi Đức Chúa Trời hành động. Tất cả những ai đã học được bài học này trước mặt Chúa đều có thể biện biệt điều đó. Dầu đi đến đâu, họ đều nhận ra người rao giảng đang ở trong lãnh vực nào.

Một số anh em phạm phải một lỗi lầm căn bản là xem tài hùng biện và trí thông minh là những điều kiện để giảng một sứ điệp tốt. Họ nghĩ rằng sự rao giảng hoàn toàn là vấn đề hùng biện. Nhưng Kinh Thánh cho chúng ta thấy rằng sự rao giảng không tùy thuộc vào tài hùng biện mà tùy thuộc vào việc nhận được khải thị từ Chúa. Sự rao giảng không chứa đựng khải thị chỉ nuôi dưỡng tâm trí của con người. Nó có thể kích thích những tư tưởng của con người, nhưng không thể ban cho khải thị.

Đây là điều chúng ta phải quan tâm: Trước hết nếu không có khải thị cơ bản thì chúng ta không thể có nhiều khải thị tiếp theo. Những người không có khải thị cơ bản cũng không có những khải thị tiếp theo. Cho dầu giảng dạy nhiều giáo lý, họ vẫn không thể chuyển đạt khải thị cho người khác. Ai ở trong lãnh vực nào thì chỉ có thể kết trái từ lãnh vực ấy. Một người nghe có trí nhớ tốt có thể nhớ một bài giảng trong vài ngày, nhưng sau đó, bài giảng ấy bị lãng quên đi và không còn gì lưu lại. Một người có thể nghe những bài giảng của chúng ta, nhưng lời chúng ta không làm cho người ấy lên án tính gian ác, xác thịt hay con người xác thịt của mình. Lời từ lãnh vực nào chỉ có thể sinh ra bông trái từ lãnh vực ấy; những lời ấy không sinh ra các bông trái từ một lãnh vực khác. Bông trái thuộc lãnh vực bên ngoài bao gồm không gì khác hơn là một tập hợp của những từ ngữ, giáo lý và lời giảng giải. Những bài giảng được truyền bá trong lãnh vực này bao gồm không gì khác hơn là các bông trái thuộc lãnh vực ấy. Nhưng lãnh vực kia thì khác. Nếu ai đã nhận được khải thị một lần và đang tiếp tục nhận được những khải thị, thì người ấy truyền khải thị cho những người khác trong khi giảng. Chỉ khải thị mới sinh ra khải thị. Chỉ ánh sáng mới sinh ra ánh sáng. Chỉ lời Đức Chúa Trời mới mang lại công tác của Thánh Linh trong con người. Kiến thức chỉ sinh ra kiến thức. Giáo lý chỉ sinh ra giáo lý. Cũng vậy, khải thị chỉ sinh ra khải thị.

Chúng ta chỉ trao cho những người khác các giáo lý thì chưa đủ. Chúng ta trao cho người khác các khải thị cũ cũng không đủ. Các giáo lý là gì? Các giáo lý là những khải thị trước kia. Những lời trong Kinh Thánh từng sống động, nhưng những lời ấy không nhất thiết sống động đối với mọi người ngày nay. Chỉ những lời Thánh Linh lặp lại mới sống động cho con người. Khi nhiều người đọc Kinh Thánh, họ chỉ chạm đến những lời của Kinh Thánh; họ không chạm đến lời của Đức Chúa Trời. Điều đó chưa đủ. Chúng ta cần Thánh Linh để giảng lần thứ hai. Chúng ta cần Chúa để giảng lần thứ hai tách biệt với lời phán đã được Ngài thiết lập. Đức Chúa Trời phải trực tiếp phán với một người trước khi người ấy có thể nghe lời Đức Chúa Trời. Một trăm người có thể lắng nghe một bài giảng, nhưng có thể chỉ hai người giữa vòng họ nhận được sự giúp đỡ nào đó. Có thể Đức Chúa Trời chỉ phán với hai người ấy giữa vòng một trăm người; chín mươi tám người kia không nghe gì cả. Trừ khi Thánh Linh phán, những lời của Kinh Thánh chỉ là giáo lý đối với chúng ta. Chúng ta phải ghi nhớ rằng tất cả những khải thị trước kia không gì khác hơn là các giáo lý đối với chúng ta. Mặc dầu Đức Chúa Trời có thể đã phán với chúng ta và bày tỏ chính Ngài cho chúng ta một lần qua những lời ấy, ngày nay nếu không có sự xức dầu của Thánh Linh thì những lời ấy và khải thị ấy không gì khác hơn là các giáo lý đối với chúng ta. Chúng chỉ có thể sinh ra các bông trái thuộc giáo lý, chứ không thể sinh ra các bông trái thuộc khải thị.

Nan đề ngày nay là các giáo lý được truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia, mà không có khải thị. Người cha là tín đồ không nhất thiết sinh ra con là tín đồ. Thánh Linh có thể tái sinh thế hệ thứ nhất. Ngài có thể tái sinh thế hệ thứ hai. Rồi thế hệ thứ ba và thứ tư có thể trở nên những người vô tín. Sau đó, Linh của Đức Chúa Trời có thể lại hành động trên thế hệ thứ năm và tái sinh thế hệ ấy. Mỗi thế hệ đều là kết quả sự hành động của Thánh Linh. Khi người nào sinh ra một đứa con trong xác thịt, những đặc tính thuộc thể của người ấy được truyền từ thế hệ của người ấy sang thế hệ tiếp theo, nhưng công tác của Thánh Linh không liên quan đến sự di truyền ấy. Sự tái sinh liên quan đến công tác của Thánh Linh. Một khi công tác của Thánh Linh bị giữ lại thì không có sự tái sinh. Đó là hai điều khác biệt. Một cách là chuyển đạt các giáo lý. Bảo tồn các giáo lý trong một trăm năm hay thậm chí một ngàn năm không phải là điều khó. Các giáo lý sinh ra giáo lý, và chu kỳ ấy cứ tiếp tục. Một người có thể không biết gì cả ngoại trừ các giáo lý. Trong khi người ấy giảng dạy các giáo lý, có thể hai ba ngàn người lắng nghe người ấy. Những gì ở trong người ấy là các giáo lý, và những gì ra từ người ấy cũng là các giáo lý. Các giáo lý ấy được truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia. Điều này cũng giống như sinh ra con cái trong lãnh vực thuộc thể; một người không cần đến sự hành động của Thánh Linh để sinh ra một đứa con. Nhưng đối với khải thị và chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời thì không giống như vậy. Lần nào chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời cũng cần đến sự xức dầu của Thánh Linh. Thánh Linh phải hành động trong một người để người ấy kinh nghiệm sự cứu rỗi. Cũng vậy, phải có khải thị của Thánh Linh rồi mới có thể có chức vụ cung ứng lời. Ngay khi Thánh Linh ngưng khải thị thì lời sẽ trở nên không gì khác hơn là các giáo lý. Thánh Linh phải hành động rồi mới có thể có chức vụ cung ứng. Mỗi khi sự xức dầu dừng lại thì không còn khải tượng, khải thị và chức vụ cung ứng.

Vậy nên, chúng ta phải thưa với Chúa rằng: “Con không thể làm gì cả. Chúa ơi, con không thể làm gì với lời Ngài trừ khi trước hết con phủ phục trước mặt Ngài và hành động vượt trên áp lực của đám đông tầm thường”. Ngày nay, đối với lời Đức Chúa Trời nhiều người không nhận thức được mình tuyệt vọng thế nào. Nhiều người giống như những nhà truyền giảng chuyên nghiệp. Họ có thể nói bất cứ điều gì; họ có thể giảng các giáo lý, giáo điều, lẽ thật và Kinh Thánh. Họ có thể rao giảng mỗi khi họ cảm thấy phải rao giảng. Việc đó quá dễ dàng, vô cùng dễ dàng!

Chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời hoàn toàn vượt quá năng lực của chúng ta. Chúng ta phải ghi nhớ rằng cách duy nhất để tái sinh người khác là thực hiện điều đó qua sự hành động của Thánh Linh. Chúng ta có thể truyền các giáo lý cho người khác, nhưng để làm một người cung ứng lời, chúng ta phải có khải thị của Thánh Linh. Chúng ta phải nhận thức rằng công việc ấy vượt trên năng lực của chúng ta. Đó là công việc của Chúa, chứ không phải là công việc của chúng ta. Trong lãnh vực này, một người không được tự do phát biểu mỗi khi người ấy thích. Việc ấy không đơn giản như vậy. Đức Chúa Trời muốn có những người cung ứng lời trên đất; Ngài muốn nhìn thấy con người rao giảng. Vậy nên, ngày nay là thời điểm để chúng ta tìm kiếm mặt Ngài. Chúng ta phải thưa với Chúa rằng: “Con không thể làm gì cả. Con không thể rao giảng”. Con người hoàn toàn bất năng về mặt này. Chỉ người nào ngu dại mới kiêu ngạo. Một người ngu dại không nhận thức rằng những điều thuộc linh không liên quan gì đến con người; người ấy không biết rằng tự mình con người không thể quán xuyến những điều thuộc linh. Không tài hùng biện, tài năng thiên phú hay cách thức nào có thể giúp đỡ một người chạm đến chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời. Chức vụ cung ứng lời là một điều gì đó thuộc về một lãnh vực khác, một lãnh vực không liên quan gì đến chính chúng ta.

Anh em ơi, Đức Chúa Trời phải đem chúng ta đến chỗ mà ở đó chúng ta nhìn thấy sự vô dụng của con người. Chúng ta không thể sinh ra hay tái sinh người nào bởi sự quyết tâm của mình. Cha mẹ có thể sinh ra con cái trong xác thịt, nhưng họ không thể sinh ra bất cứ điều gì theo cách tái sinh. Cũng theo nguyên tắc ấy, chúng ta có thể truyền các giáo lý cho người khác. Chúng ta có thể cho người khác biết những gì Kinh Thánh nói, nhưng việc đó không làm cho chúng ta trở nên những người cung ứng lời. Một người cung ứng lời Đức Chúa Trời được sản sinh do lời phán của Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời không phán thì chúng ta có trình bày Kinh Thánh cho người khác cũng vô ích. Trước hết Đức Chúa Trời phải phán với chúng ta rồi chúng ta mới có thể chuyển đạt lời ấy cho người khác. Nếu Đức Chúa Trời không ban lời Ngài cho chúng ta, chúng ta không bao giờ có thể chuyển đạt bất cứ lời nào cho người khác. Đó không phải là công việc của chúng ta. Nhiều người có thể kể những mẩu chuyện, và có thể giảng dạy các giáo lý, nhưng có lẽ họ không thể cho anh em biết lời Đức Chúa Trời là gì. Nếu Đức Chúa Trời thương xót chúng ta, chúng ta có thể cho người khác biết lời Đức Chúa Trời là gì. Nếu Đức Chúa Trời không thương xót chúng ta thì chúng ta không thể làm gì cả. Chúng ta chỉ có lời khi nào Đức Chúa Trời ban cho chúng ta lời. Đây là điều hoàn toàn vượt quá tầm tay của chúng ta; chúng ta không thể làm gì về vấn đề ấy cả. Nhưng đó là điều Đức Chúa Trời muốn thực hiện. Đức Chúa Trời muốn có chức vụ cung ứng lời. Ngài đã chọn chúng ta để làm những người cung ứng lời. Nhưng chúng ta không thể thi hành điều đó. Thật ra, chúng ta không thể làm gì cả. Đó là nhờ sự thương xót và khải thị của Đức Chúa Trời mà chúng ta được ban cho lời để nói với người khác. Vậy nên, chúng ta phải nhận được một khải thị cơ bản từ Đức Chúa Trời. Đồng thời, linh chúng ta phải được Chúa sửa trị và ở dưới sự kiểm chế của Ngài. Linh chúng ta phải được sửa trị đến mức độ nó có thể luôn luôn mở ra cho Ngài để có được những khải thị tươi mới. Chúa phải xử lý chúng ta và công tác của chúng ta đến mức độ chúng ta phải phủ phục và thưa rằng: “Chúa ơi, xin thực hiện công việc của chính Ngài. Nếu Ngài không thương xót con thì con không thể làm gì cả”.

Chúng ta phải nhìn thấy rằng chức vụ được đặt nền tảng trên khải thị của lời, và khải thị của lời đặt nền tảng trên khải thị về Đấng Christ. Khi đến với những điều thuộc linh, tức những điều liên hệ với lời Đức Chúa Trời và chức vụ cung ứng của Ngài, thì chúng ta phải ghi nhớ rằng không có tình trạng được gọi là tích trữ để dùng về lâu về dài. Không ai có thể khoe khoang về những gì mình có, và không ai được mơ tưởng rằng mình có thể tiếp tục công tác bằng những gì mình có trong tay. Mỗi khi đến với Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải được làm cho trống không để có thể được đổ đầy và tuôn đổ ra một lần nữa. Người nào tự mãn đều không đủ tư cách làm một người cung ứng lời. Chức vụ cung ứng lời đem một người đến tình trạng trở nên trống không như đứa trẻ sơ sinh ngay khi lời được truyền đạt. Người ấy không biết gì trước mặt Đức Chúa Trời, và ngưỡng trông Đức Chúa Trời để được lời cùng khải thị đổ đầy và truyền vào [trong chính mình] một lần nữa. Sau đó, người ấy tuôn ra lời và khải thị của Đức Chúa Trời trên những người khác một lần nữa và lại trở nên trống không. Chúng ta phải liên tục được làm cho trống không. Chỉ nhờ được làm cho trống không một cách liên tục mà chúng ta có chức vụ cung ứng lời. Trong lãnh vực thuộc linh, Đức Chúa Trời là Đấng hoàn thành mọi sự; con người không thể làm gì cả. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng người nào cũng có thể mở miệng mình ra và nói lời Đức Chúa Trời. Nhận lấy lời Đức Chúa Trời và phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời ấy là một công tác vượt quá khả năng thực hiện của con người. Công tác ấy thuộc về một lãnh vực khác. Mỗi lần, Thánh Linh phải hành động trên chúng ta một cách đặc biệt. Loài người không thể làm gì về điều này cả. Nguyện Chúa thương xót chúng ta, và nguyện chúng ta nhìn thấy trước mặt Chúa mình vô dụng thế nào. Nguyện chúng ta không ngu dại. Một khi kiêu ngạo thì một người trở nên ngu dại. Khi không nhìn thấy những điều thuộc linh cơ bản, thì người ấy trở thành ngu dại.