Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 7

Untitled Document

CHƯƠNG BẢY

KHẢI THỊ CỦA THÁNH LINH

Chúng ta đã nhìn thấy rằng một người cung ứng lời Đức Chúa Trời phải có Lời Đức Chúa Trời làm nền tảng cho chức vụ của mình. Người ấy cũng phải có Thánh Linh giải nghĩa lời Đức Chúa Trời cho mình. Bây giờ, chúng ta phải tiếp tục xét đến một vấn đề khác, thậm chí còn quan trọng hơn. Một người cung ứng lời Đức Chúa Trời không những phải biết lời Đức Chúa Trời phán trong quá khứ và được Ngài giải nghĩa những lời ấy, mà còn phải có thêm một điều kiện cơ bản nữa: Người ấy phải là một người có khải thị. Nếu không có một linh khải thị, người ấy không thể phục vụ với tư cách là người cung ứng lời. Người ấy phải có khải thị về Lời Đức Chúa Trời và phải sở hữu sự xức dầu của Linh về Lời ấy. Không có khải thị và không có sự xức dầu của Linh thì người ấy không thể phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời Đức Chúa Trời.

MỘT

Kinh Thánh là một quyển sách kỳ diệu. Một đặc tính nổi bật của Kinh Thánh là quyển sách ấy được cấu thành bởi những lời nói của loài người, nhưng hoàn toàn là lời Đức Chúa Trời. Quyển sách ấy được con người viết ra, nhưng lại do chính bàn tay Đức Chúa Trời viết ra. Kinh Thánh chứa đựng nhiều nhóm chữ, câu văn cùng từ ngữ, và Đức Chúa Trời hà hơi trên tất cả những lời ấy. Từ ngữ trong 2 Ti-mô-thê 3:16 được vài bản Kinh Thánh dịch là sự hà hơi (inspiration) thì trong nguyên ngữ là hơi thở. Kinh Thánh là hơi thở của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh được những người thánh của Đức Chúa Trời viết ra dưới sự chỉ dẫn của Thánh Linh (2 Phi. 1:21). Khi Đức Chúa Trời tạo dựng thế gian, Ngài tạo dựng con người từ bụi đất, nhưng con người thọ tạo chưa sống động. Con người trở nên một hồn sống sau khi Đức Chúa Trời thở hơi thở sống động của Ngài vào trong con người. Kinh Thánh là một quyển sách được con người viết. Kinh Thánh được tạo thành bởi những lời con người nói ra, nhưng hơn nữa, có hơi thở của Đức Chúa Trời ở trên Kinh Thánh. Vì vậy, Kinh Thánh là một quyển sách sống động, là lời sống động của Đức Chúa Trời hằng sống. Đó là ý nghĩa của sự kiện cả Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời hà hơi vào.

Quyển sách ấy, tức Kinh Thánh, chứa đựng các yếu tố thuộc con người và những lời thuộc con người. Khi người ta đọc quyển sách ấy, họ chỉ chạm đến những yếu tố và lời thuộc con người; họ không cảm nhận được Đức Chúa Trời phán trong quyển sách ấy. Điều làm cho Kinh Thánh độc đáo là đặc tính kép của nó. Một mặt có phương diện bề ngoài, thuộc thể của Kinh Thánh. Nói về mặt thuộc thể của con người thì con người được tạo ra từ bụi đất. Nhưng mặt khác Kinh Thánh có một phương diện thuộc linh. Kinh Thánh liên quan đến Thánh Linh; đó là lời phán và hơi thở của Đức Chúa Trời. Nói về cái vỏ bên ngoài thì Kinh Thánh được viết từ ký ức con người và có thể tích chứa trong ký ức con người. Kinh Thánh được nói ra từ miệng con người và được nghe bởi tai con người. Kinh Thánh được viết theo ngôn ngữ loài người và được hiểu bởi sự hiểu biết loài người. Con người có thể rao giảng những lẽ thật chứa đựng trong quyển sách ấy, và những lẽ thật ấy có thể được chứa trong ký ức con người, được hiểu bởi tâm trí con người, và được chuyển đạt từ người này sang người kia. Tất cả những điều này xảy ra khi một người tiếp xúc với cái vỏ bên ngoài của Kinh Thánh. Đó là phương diện thuộc thể của Lời. Những giáo lý và sự dạy dỗ có thể được bao gồm trong thể loại này, vì đó là những điều tâm trí con người có thể hiểu thấu, đó là những điều có thể được hiểu biết và am hiểu bởi trí tuệ con người. Đó là phương diện thuộc thể của Kinh Thánh.

Tuy nhiên, Kinh Thánh có một phương diện khác. Chúa Giê-su nói: “Những lời Ta phán cùng các ngươi đều là linh và sự sống” (Giăng 6:63b). Phương diện khác của Kinh Thánh liên quan đến linh và sự sống. Theo phương diện này, Đức Chúa Trời phán lời Ngài bên trong con người. Đây không phải là điều mà một người khôn ngoan có thể hiểu hay một người với trí nhớ tốt có thể nắm bắt được. Đó cũng không phải là điều mà một người thông minh có thể thấu hiểu. Cần đến một cơ quan khác để hiểu điều này. Tai, mắt và tâm trí không thể nhìn thấy hay hiểu được phương diện này.

Một người cung ứng lời Đức Chúa Trời phục vụ Hội thánh không phải bằng cách chạm đến phương diện thuộc thể của Kinh Thánh mà bằng cách chạm đến phương diện thuộc linh của Kinh Thánh. Những người phục vụ Hội thánh bằng cách chỉ chạm đến phương diện thuộc thể không phải là những người cung ứng lời Đức Chúa Trời. Nếu Kinh Thánh không có khía cạnh thuộc thể thì một người có thể là người cung ứng lời Đức Chúa Trời hoặc không phải là loại người ấy; tuyệt nhiên không thể lầm lẫn về điều đó. Nhưng Kinh Thánh có các yếu tố thuộc thể và thuộc con người. Theo phương diện ấy, Kinh Thánh sẵn sàng được con người hiểu và chấp nhận. Nguy cơ và nan đề thì nằm ở chỗ đó. Con người có thể rao giảng các yếu tố thuộc con người trong Kinh Thánh bằng năng lực các quan năng phàm nhân của mình, và có thể tự xem mình là một người cung ứng lời. Người ấy có thể trình bày tất cả những yếu tố con người trong Kinh Thánh cho Hội thánh, và có thể tự xem là mình đang phục vụ Hội thánh bằng lời Đức Chúa Trời. Họ có thể cho rằng những lẽ thật mình rao giảng là những lẽ thật Kinh Thánh và là những sự dạy dỗ theo đức tin chính thống và thuần khiết. Người ấy có thể tự lừa dối chính mình mà nghĩ rằng sự dạy dỗ của mình là sự dạy dỗ chính thống. Nhưng chúng ta phải nhận thức rằng những sự dạy dỗ ấy không liên quan gì đến phương diện thuộc linh của Kinh Thánh; chúng thuộc về một lãnh vực khác.

Một số thanh niên nghĩ rằng hễ có thể hiểu tiếng Hi-lạp thì họ có thể hiểu lời Đức Chúa Trời. Họ không nhận thức được là nhiều người hiểu tiếng Hi-lạp lại biết rất ít về lời Đức Chúa Trời. Thật ra, họ có thể không biết gì cả. Một người hiểu tiếng Hê-bơ-rơ không nhất thiết hiểu Cựu Ước. Một người hiểu tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng Canh-đê không nhất thiết hiểu sách Đa-ni-ên. Một người hiểu tiếng Hoa không nhất thiết hiểu Kinh Thánh bằng tiếng Hoa. Kinh Thánh chứa đựng những lời lẽ vượt trên tiếng Hoa và tiếng Hi-lạp. Kinh Thánh chứa đựng những lời mà người Hê-bơ-rơ và người Canh-đê có thể không hiểu được. Những lời mà người cung ứng lời phải cố gắng hiểu là những lời của riêng Đức Chúa Trời. Không phải người nào hiểu tiếng Hoa đều có thể hiểu Kinh Thánh. Tương tự như vậy, không phải người nào hiểu tiếng Hi-lạp cũng có thể hiểu lời Đức Chúa Trời. Hiểu một ngôn ngữ là một việc, và biết lời Đức Chúa Trời lại là một chuyện khác. Thật ra, biết lời Ngài hoàn toàn là một vấn đề khác biệt. Chúng ta đừng bao giờ có quan niệm sai lầm là càng nghiên cứu lời Đức Chúa Trời thì chúng ta càng có thể là một người cung ứng lời Ngài. Vấn đề không phải là chúng ta có nghiên cứu Kinh Thánh hay không, mà là chúng ta nghiên cứu Kinh Thánh như thế nào. Đức Chúa Trời phải phán lời Ngài vào trong con người rồi lời ấy mới có thể trở nên lời Đức Chúa Trời cho con người. Con người phải biết tiếng nói của Đức Chúa Trời. Chỉ Đức Chúa Trời mới có thể phán lời Đức Chúa Trời. Con người phải biết tiếng nói của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời phải phán với con người trước khi con người có thể trở thành một người cung ứng lời Đức Chúa Trời.

Trong công tác rao giảng phúc-âm, chúng ta rao giảng chính phúc-âm, chứ không rao giảng nền tảng của phúc-âm. Chúng ta phục vụ những người khác bằng phúc-âm chứ không bằng nền tảng của phúc-âm. Kinh Thánh là nền tảng của phúc-âm; đó là nền tảng cho lời phán của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, chúng ta không thể nói một cách khái quát rằng đó là điều Đức Chúa Trời đang phán cho chúng ta ngày nay. Đức Chúa Trời đã phán qua quyển sách này. Tất nhiên đã có lần Đức Chúa Trời phán những lời ấy. Nhưng ngày nay, Đức Chúa Trời phải thở hơi thở của Ngài qua quyển sách ấy một lần nữa trước khi quyển sách ấy trở nên sống động đối với chúng ta. Linh của Đức Chúa Trời phải thở vào lời Ngài trước khi lời ấy trở nên sống động đối với chúng ta. Ngày nay, chúng ta vẫn cần khải thị của Đức Chúa Trời trong lời Ngài để lời ấy có thể sống động đối với chúng ta. Lời sống động và lời chết chóc khác nhau một trời một vực. Chúng ta phải nhận thấy lời Đức Chúa Trời là gì. Lời Đức Chúa Trời là lời phán của Ngài ngày nay. Lời Đức Chúa Trời không chỉ là lời phán của Ngài trong quá khứ. Lời phán trước kia của Ngài là lời Ngài, nhưng ngày nay Ngài phải thở hơi thở của Ngài một lần nữa trên lời ấy. Lời Đức Chúa Trời không chỉ là lời phán của Ngài ở thời điểm nào đó trong quá khứ, mà là lời phán của Ngài ngày nay. Chúng ta phải nhận thức rằng có hai lãnh vực đối với lời Đức Chúa Trời. Một là lãnh vực thuộc về Kinh Thánh thành văn. Lời thành văn, bao gồm tất cả những giáo lý, kiến thức, sự dạy dỗ, lời tiên tri và lẽ thật thuộc Kinh Thánh, thì ở trong lãnh vực ấy. Nhưng đó chỉ là lãnh vực có thể thấy được của Kinh Thánh. Có thể chúng ta đã nghe rằng Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời và Ngài kể ông là công chính. Việc Đức Chúa Trời xưng công chính những người tin có thể không gì khác hơn là một sự dạy dỗ bên ngoài đối với chúng ta. Ai có một trí nhớ tốt và tâm trí minh mẫn thì có thể rao giảng điều ấy; có thể người ấy nghĩ rằng mình đang rao giảng lời Đức Chúa Trời. Nhưng thật ra, người ấy chỉ rao giảng phương diện nông cạn của lời. Đó không phải là chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời.

Chúng ta phải lưu ý xem Kinh Thánh là gì. Kinh Thánh là lời phán của Đức Chúa Trời trong quá khứ. Đã có một lần Đức Chúa Trời phán, và hơi thở của Linh ở trên lời phán của Ngài. Khi lời ấy được nói ra, một số người chạm đến “lời Đức Chúa Trời”, nhưng một số khác không chạm đến lời ấy. Khi Phao-lô viết thư gửi cho người La Mã thì có hai điều xảy ra. Thứ nhất ông sử dụng một vài vật liệu để viết bức thư của mình. Có lẽ ông đã viết bức thư ấy trên một tấm da cừu và dùng loại nhựa cây nào đó làm mực. Những lời được ghi chép theo thể văn viết của ngôn ngữ nào đó. Đó là mặt thuộc thể của Thư ấy, và chúng ta ở trong lãnh vực ấy khi chúng ta đọc bức thư ấy cách cạn cợt bên ngoài. Khi Phao-lô trao Thư ấy cho người La Mã, có thể họ chỉ có ấn tượng về lời của Thư ấy. Nếu vậy thì đó chỉ là một bức thư và không gì khác hơn; không có lời Đức Chúa Trời ở trong đó cho họ. Nhưng nếu trong khi người La Mã đọc bức thư ấy, Đức Chúa Trời thở hơi thở của Ngài trên mỗi một chữ, và mỗi chữ đều đầy dẫy hơi thở của Đức Chúa Trời, thì họ phải nhận thức rằng mình là những tội nhân và sự xưng công chính đến bởi đức tin. Họ tin và nhận lãnh lời Đức Chúa Trời. Đó là chức vụ cung ứng lời. Trong khi họ đọc, nghiên cứu và cố gắng hiểu lời Đức Chúa Trời, họ chạm đến “lời” Phao-lô giảng qua sách La Mã. Một người khác, là người khôn ngoan, thông minh và bẩm sinh có trí nhớ tốt, có thể đọc Thư của Phao-lô một cách dễ dàng và có thể thuộc lòng Thư ấy mà không cần cố gắng nhiều. Nhưng người ấy không biết ý nghĩa của việc xưng công chính bởi đức tin là gì. Người ấy có thể chạm đến giáo lý về sự xưng công chính bởi đức tin, nhưng không thể chạm đến sự xưng công chính bởi đức tin. Người ấy có thể chạm đến những điều thuộc về phương diện thuộc thể của Kinh Thánh, nhưng không thể chạm đến phương diện thuộc linh của Kinh Thánh. Người ấy chỉ có thể chạm đến giáo lý của Kinh Thánh, nội dung của Kinh Thánh và bề mặt của lời Đức Chúa Trời, chứ không thể chạm đến sự sống trong lời Ngài.

Chúng ta phải nhận thức được Kinh Thánh là gì. Kinh Thánh là lời phán trước kia của Đức Chúa Trời. Đó là chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời của các đầy tớ Ngài trong quá khứ. Sách La Mã là chức vụ cung ứng lời trước kia của Phao-lô. Đã có lần Đức Chúa Trời phán những lời ấy. Nhưng ngày nay, khi đọc sách La Mã, có thể chúng ta chỉ chạm đến bề mặt của Kinh Thánh, khía cạnh thuộc thể và bề ngoài của Kinh Thánh. Ngày nay, Đức Chúa Trời phải thở hơi thở của Ngài trên lời ấy một lần nữa rồi chúng ta mới có thể biết lời Đức Chúa Trời và có thể làm một người cung ứng cho Ngài. Đức Chúa Trời chỉ thở hơi thở của Ngài một lần thì chưa đủ. Ngài phải thở một lần nữa rồi chúng ta mới có thể chạm đến lời Ngài.

HAI

Sự hà hơi là gì? Khải thị là gì? Ý nghĩa của sự kiện Kinh Thánh là sự hà hơi của Đức Chúa Trời là đã có lần Đức Chúa Trời thở hơi thở của Ngài trên quyển sách ấy. Không có sự hà hơi của Đức Chúa Trời thì Kinh Thánh không thể được gọi là Kinh Thánh. Sự hà hơi là nền tảng của Kinh Thánh. Đức Chúa Trời cảm thúc Phao-lô để viết sách La Mã. Ấy là nhờ Đức Chúa Trời cảm thúc và thở trên Phao-lô mà ông viết sách La Mã. Thế thì, khải thị là gì? Đó là Đức Chúa Trời lại thở trên sách La Mã một lần nữa khi chúng ta mở sách ấy ra hai ngàn năm sau. Nhờ khải thị mà chúng ta chạm đến lời Đức Chúa Trời một lần nữa. Sự hà hơi là sự kiện xảy ra một lần đủ cả, nhưng khải thị là sự việc xảy ra được lặp đi lặp lại. Khi Đức Chúa Trời thở hơi thở của Ngài trên lời Ngài lần thứ hai, khi chúng ta lại tìm thấy ánh sáng qua Thánh Linh và sự xức dầu trên lời Ngài để nhìn thấy những gì Phao-lô từng nhìn thấy, thì chúng ta có khải thị. Khải thị có nghĩa là Đức Chúa Trời đang làm một điều gì đó ngày nay; ngày nay Ngài hồi sinh những gì Ngài từng ban cho con người qua sự hà hơi. Đây là một vấn đề lớn lao.

Anh chị em ơi, đây là điều vô cùng vinh hiển. Khải thị là gì? Đó là khi Linh của Đức Chúa Trời hồi sinh lời Ngài bằng cách làm cho lời ấy sống động và đầy dẫy sự sống như khi Phao-lô viết lời ấy. Khi Đức Chúa Trời viết lời ấy qua Phao-lô, sự sống sôi nổi trong cả người viết lẫn bài viết. Ngày nay, những lời ấy cũng có thể được truyền đạt một lần nữa. Đức Chúa Trời có thể đổ Thánh Linh đầy dẫy lời Ngài một lần nữa. Sự xức dầu của Ngài có thể hành động trên lời Ngài một lần nữa. Khi điều ấy xảy ra, thì lời ấy trở nên đầy quyền năng, soi sáng và ban-sự-sống như trước kia. Tựu trung khải thị là như vậy. Chỉ nghiên cứu Lời suông cũng vô dụng. Nếu không có khải thị thì một người có thể nghiên cứu từng chữ từ trang đầu đến trang cuối mà không nghe được một lời nào từ Đức Chúa Trời. Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời. Đã có lần Đức Chúa Trời phán lời ấy. Nhưng nếu muốn lời ấy trở thành lời của Đức Chúa Trời ngày nay thì anh em phải cầu xin Đức Chúa Trời phán lời ấy một lần nữa. Sự phát ngôn ấy sẽ mang lại nhiều điều: lời, ánh sáng và sự sống của Đức Chúa Trời. Nếu không có loại phát ngôn ấy thì Kinh Thánh vẫn là một quyển sách đóng kín và chết chóc đối với anh em.

Giả sử, một trăm anh chị em nhóm lại tại một địa điểm, và Đức Chúa Trời phán qua họ. Có thể là không phải ai cũng nghe được lời Đức Chúa Trời. Mọi người đều nghe âm thanh và những lời nói. Nhưng một số có thể nghe lời phán của Đức Chúa Trời, trong khi những người khác có thể không nghe được. Một số có thể chạm đến những điều trong cả hai lãnh vực, trong khi những người khác có thể chỉ chạm đến những điều trong một lãnh vực. Một số người có thể nghe giáo lý, lẽ thật được truyền đạt qua âm thanh và lời nói. Họ có thể hiểu được các tư tưởng, và những người có trí nhớ tốt có thể lặp lại các lời ấy nhiều lần, nhưng họ có thể không nghe được lời phán nào của Đức Chúa Trời. Nghe lời phán của Đức Chúa Trời là một vấn đề hoàn toàn khác biệt. Anh chị em ơi, lời Đức Chúa Trời không chỉ là một giáo lý hay là một sự dạy dỗ. Chúng ta cần nghe giáo lý và lời dạy dỗ, nhưng hơn thế nữa, chúng ta cần nghe một điều khác. Chúng ta cần nghe Đức Chúa Trời phán riêng với chúng ta. Chỉ sau khi nghe được như vậy chúng ta mới có thể nói: “Cảm tạ Đức Chúa Trời, con đã nghe được lời Ngài”. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể nói rằng mình đã chạm đến một điều gì đó chân thật.

Giả sử, một trăm người lắng nghe phúc-âm. Chín mươi chín người có thể nghe và hiểu được mọi điều rao giảng. Có thể họ biết giáo lý, lời dạy dỗ và lẽ thật. Có thể họ gật đầu nói: “Phải, phải”. Tất cả chín mươi chín người đều biết những điều đó, nhưng có thể chỉ người thứ một trăm, tức một người khác với chín mươi chín người kia, nhận được một lời dạy dỗ vượt trên lời dạy dỗ những người khác nhận được, nghe được tiếng nói vượt trên tiếng nói những người khác nghe, và thấu hiểu một lời vượt trên lời những người khác hiểu. Ngoài việc nghe lời dạy dỗ, người ấy nghe lời phán của Đức Chúa Trời, và cúi đầu xuống mà xưng nhận: “Con là một tội nhân. Đức Chúa Trời ơi, xin cứu con”. Người ấy đã nghe lời Đức Chúa Trời. Chín mươi chín người khác chỉ chạm đến những điều liên quan đến phương diện thuộc con người và thuộc thể của lời; họ chưa nghe được lời Đức Chúa Trời. Giữa hai tình trạng này có một sự khác biệt căn bản.

Nói về việc đọc Kinh Thánh thì cũng vậy. Đành rằng Kinh Thánh là lời Đức Chúa Trời và đã có lần Đức Chúa Trời phán với Phao-lô, Phi-e-rơ và Giăng qua lời ấy. Nhưng khi một số người đọc lời ấy, họ chỉ tìm thấy những từ ngữ, cách diễn đạt, giáo lý, lẽ thật và lời dạy dỗ. Họ có mọi sự ngoại trừ lời phán của Đức Chúa Trời. Họ có thể đọc Kinh Thánh trong mười năm mà không được Đức Chúa Trời phán với mình một lần nào. Anh chị em ơi, anh chị em có từng nghe ai làm chứng: “Tôi đã đọc Kinh Thánh hai mươi năm, nhưng vẫn không hiểu Kinh Thánh nói gì” chưa? Anh chị có bao giờ nghe một người nào đó đứng lên nói: “Tôi đã đọc Kinh Thánh năm mười năm. Tôi nghĩ mình biết tất cả về Kinh Thánh. Nhưng một ngày kia, Đức Chúa Trời thương xót tôi. Ngài phán một lời với tôi. Bây giờ, tôi biết rằng trước kia mình không biết gì cả”? Anh chị em ơi, một người đã kinh nghiệm có thể sẵn sàng cho biết sự khác biệt giữa hai điều ấy. Một người phải có lời của Đức Chúa Trời thêm vào lời của con người. Cũng phải có lời phán của Đức Chúa Trời thêm vào lời nói của con người. Nếu Đức Chúa Trời không mở miệng Ngài ra thì không có ích lợi gì cả. Đó là hai lãnh vực hoàn toàn khác biệt. Một là lãnh vực thuộc các giáo lý, lẽ thật, giáo điều, lời nói, ngôn ngữ và cách diễn đạt. Trong lãnh vực này, người nào siêng năng và thông minh, người nào có tâm trí minh mẫn và trí nhớ nhạy bén đều có thể thành công. Nhưng trong lãnh vực kia, Đức Chúa Trời phải lặp lại lời Ngài với con người. Anh chị em ơi, anh chị em có thấy sự khác biệt giữa hai điều này không? Đức Chúa Trời đã phán, và những lời Ngài đã phán được chép xuống đúng từng chữ trong Kinh Thánh. Nhưng Đức Chúa Trời cũng có thể phán lần thứ hai với con người qua lời Kinh Thánh. Đó là điều chúng tôi gọi là lời phán ngày nay của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phải phán với chúng ta lần thứ hai qua những lời Ngài từng sử dụng. Ngài phải soi sáng chúng ta lần thứ hai qua ánh sáng đã được Ngài khải thị. Ngài phải ban cho chúng ta khải thị tươi mới bên trong khải thị đã được Ngài thiết lập. Đó là nguyên tắc cơ bản của chức vụ cung ứng lời. Không có điều đó, chúng ta không có chức vụ cung ứng lời.

E rằng một số người giữa vòng chúng ta không hiểu mối quan hệ giữa Kinh Thánh và khải thị hiện tại của Đức Chúa Trời, tôi sẽ dùng một hình ảnh minh họa khác. Giả sử, anh em nhận thức rằng có lần Đức Chúa Trời đã dùng anh em nói ra một điều gì đó cho Ngài. Có thể điều đó không gây ấn tượng gì mạnh mẽ, nhưng ít nhất anh em có thể nói rằng mình có một cảm nhận rõ rệt là Chúa đã phán một điều gì đó qua anh em; rõ ràng là có một lời phán đặc biệt. Giả sử, hai tháng sau anh em đương đầu với một hoàn cảnh tương tự. Anh em đối diện với cùng một loại người, và cũng có một loại nhu cầu như vậy xuất hiện. Có thể anh em cảm thấy rằng điều anh em đã nói hai tháng trước là lời thích hợp nhất cho những người này hôm nay. Có thể anh em tin chắc rằng mình có thể giúp họ theo cách như vậy. Nhưng hai tháng trước, khi anh em nói, sự xức dầu của Linh đã ở với lời ấy. Tuy nhiên, hôm nay khi lặp lại cùng một lời ấy, anh em cảm thấy mình đã thất bại. Quyền năng trong lời không còn nữa. Điều gì đã sai trật? Vì anh em cũng nói những lời tương tự đã từng được đầy dẫy sự xức dầu nên anh em nghĩ rằng Thánh Linh chắc chắn sẽ tiếp tục xức dầu lời của anh em. Nhưng điều ấy đã không xảy ra. Có thể Thánh Linh đã xức dầu lời của anh em một lần, nhưng không có nghĩa là Ngài sẽ xức dầu lời ấy mỗi khi anh em nói cùng một điều như vậy.

Chúng ta phải ghi nhớ rằng một người có thể nhận được một lời khải thị. Nhưng không có nghĩa bất cứ khi nào anh em nói cùng một lời ấy thì lời ấy sẽ trở nên một lời khải thị. Có thể những lời ấy vẫn có đó, nhưng khải thị có thể không còn nữa. Chúng ta có thể lặp lại lời, nhưng không thể lặp lại khải thị và sự xức dầu. Khải thị và sự xức dầu ở trong bàn tay Đức Chúa Trời. Chúng ta chỉ có thể lặp lại và hồi tưởng những lời [đã từng nói], chứ không thể lặp lại hay hồi tưởng khải thị. Chúng ta phải nhìn thấy mối liên hệ giữa chức vụ cung ứng lời và Kinh Thánh, hay mối liên hệ giữa Kinh Thánh và lời. Có thể hôm nay một tội nhân đến với chúng ta. Nếu chúng ta nói về Giăng 3:16, có thể người ấy sẵn sàng thừa nhận mình là một tội nhân. Rồi không lâu sau đó, có thể một người khác lại đến với chúng ta. Có thể chúng ta vẫn ở trong cùng một căn phòng và trích dẫn cùng một câu Kinh Thánh ấy, nhưng Thánh Linh có thể không phán, và người thứ hai có thể không được cứu. Giăng 3:16 không thay đổi, nhưng vấn đề là sự xức dầu và khải thị có còn hiện diện hay không.

BA

Là những người phục vụ với tư cách là người cung ứng lời Đức Chúa Trời, chúng ta phải học bài học này. Ấy không phải là chúng ta hiểu Kinh Thánh bao nhiêu, nhìn thấy bao nhiêu lẽ thật trong Kinh Thánh, hay có thể trích dẫn bao nhiêu câu Kinh Thánh. Những điều đó không làm cho chúng ta trở thành một người cung ứng lời. Chúng ta cần nhìn thấy lẽ thật Kinh Thánh, cần trích dẫn và hiểu biết Kinh Thánh. Nhưng ngoài những điều đó, chúng ta cần một thành tố cơ bản. Nếu có thành tố cơ bản ấy thì chúng ta sẽ có chức vụ cung ứng lời. Thiếu thành tố ấy, chúng ta sẽ không có chức vụ cung ứng lời. Thành tố cơ bản ấy là khải thị của Thánh Linh. Chức vụ cung ứng lời cần khải thị của Thánh Linh. Một người không những phải nói cùng một lời mà còn phải có cùng một khải thị. Không có cùng một khải thị thì chức vụ cung ứng lời không tồn tại. Chúng ta phải hiểu thấu đáo và không lầm lẫn về điều này.

Đức Chúa Trời đã phán. Nhưng ngày nay, Ngài phải phán cùng một điều ấy một lần nữa trước khi lời ấy nảy sinh cùng một tác động. Đã có lần Đức Chúa Trời dùng lời Ngài. Ngày nay, Ngài phải dùng cùng một lời ấy một lần nữa; sự xức dầu của Ngài phải ở trên cùng một lời ấy trước khi lời ấy tác động trên chúng ta. Ở đây chúng ta phải nhìn thấy sự quân bình. Một mặt, Đức Chúa Trời phải dùng lời mà Ngài đã từng nói ra. Khi rao giảng lời Đức Chúa Trời, chúng ta không phải tìm những lời mới mẻ. Ngược lại, lời nói của chúng ta cần phải đặt nền tảng trên những gì đã được phán rồi. Nhưng về mặt khác, những gì chúng ta rao giảng không phải chỉ là những lời cũ kỹ. Những lời ấy cần phải là cùng một lời nhưng không phải là cùng một lời. Cùng một lời vì nếu không có lời ấy làm nền tảng thì Đức Chúa Trời không thể phán; trong lời phán của Ngài không có sự bất đồng. Nhưng theo một ý nghĩa khác thì có sự xức dầu và khải thị tươi mới của Thánh Linh cùng với lời ấy. Không có sự xức dầu và khải thị tươi mới của Linh thì cùng một lời sẽ không sinh ra cùng một kết quả. Một người phải duy trì một sự quân bình thích đáng giữa hai phương diện này.

Có một sự cám dỗ lớn ngày nay là con người chỉ tìm kiếm và hi vọng lặp lại những lời tương tự. Người ấy nghĩ rằng nhờ nói cùng một điều, người ấy sẽ lặp lại cùng một quyền năng, ánh sáng và khải thị. Chúng ta phải ghi nhớ rằng đó là những điều thuộc về hai lãnh vực khác biệt. Anh em có thể lặp lại những lời giống nhau, những giáo lý giống nhau, những lời làm chứng giống nhau, những ẩn dụ giống nhau và những lời diễn đạt giống nhau. Những điều ấy có thể được lặp lại, và con người có thể lặp lại bằng năng lực riêng của mình. Nhưng trong khi những lời ấy có thể được lặp lại, Đức Chúa Trời có thể không sử dụng lại những lời ấy. Anh em có thể lặp lại những điều ở bên ngoài, nhưng không thể lặp lại những điều ở bên trong. Lãnh vực của Đức Chúa Trời vẫn là lãnh vực của Đức Chúa Trời, và lãnh vực của chúng ta vẫn là lãnh vực của chúng ta.

Một hình ảnh minh họa khác có thể làm sáng tỏ hơn. Đức Chúa Trời phán dạy theo nguyên tắc phục sinh. Sự phục sinh là gì? Sự phục sinh không ban sự sống, mà chỉ làm sống lại điều đã chết. Đó là sự phục sinh. Một đứa bé được sinh ra thì đó không phải là sự phục sinh. Nhưng khi một người chết bước ra từ mồ mả, thì đó mới là sự phục sinh. Con gái của Giai-ru được phục sinh, đứa con trai duy nhất của người đàn bà góa ở Na-in được phục sinh, và La-xa-rơ được phục sinh. Họ đã chết nhưng được làm cho sống lại. Đó là sự phục sinh. Ngày nay, những người cung ứng lời Đức Chúa Trời phục vụ theo nguyên tắc phục sinh. Đức Chúa Trời đặt sự sống Ngài trong lời Ngài. Lời vẫn có tại đây, nhưng Đức Chúa Trời phải thở sự sống Ngài vào trong lời Ngài một lần nữa. Anh em có nhìn thấy điều này không? Đó là nguyên tắc phục sinh. Nguyên tắc phục sinh khác với nguyên tắc sáng tạo. Lần đầu tiên, một lời được phát ra, lời ấy được truyền đạt theo nguyên tắc sáng tạo. Khi lời ấy được phán, thì một điều gì đó được sáng tạo. Một “đứa con trai” ra đời thì có một sự sinh ra [hoàn toàn] mới. Nhưng ngày nay chức vụ cung ứng lời không vận hành như vậy. Lời của Đức Chúa Trời đã ở đây rồi, và Ngài chỉ lặp lại những gì Ngài đã phán. Đức Chúa Trời đặt sự sống của Ngài vào trong lời Ngài một lần nữa, và khi lời ấy trở nên sống động trong con người, thì đó là khải thị đối với con người.

Cây gậy của A-rôn là biểu tượng về sự phục sinh, vì đã có lần cây gậy ấy đã sống. Thật ra, tất cả các cây gậy đều đã từng sống. Chúng không được làm bằng sắt. Chúng là gỗ và đã từng có sự sống trong chúng. Nhưng khi sự sống không còn nữa thì thanh gỗ ấy trở nên một cây gậy chết. Cây gậy của A-rôn chỉ là một trường hợp ngoại lệ. Cây gậy ấy được đặt trước hòm bảng chứng (rương chứng cớ), và đã đâm chồi, trổ bông và kết trái. Đó là sự phục sinh. Lời Đức Chúa Trời đặt nền tảng trên nguyên tắc phục sinh. Không cần phải lấy một khúc gỗ khác. Cây gậy đầu tiên đâm chồi, trổ bông và kết trái. Lời Đức Chúa Trời là một, và chỉ có một lời. Chúng ta không thể gạt Kinh Thánh sang một bên để rao giảng lời Đức Chúa Trời. Cây gậy vẫn như cũ, nhưng khi sự sống lại thăm viếng nó thì chúng ta có sự phục sinh. Nó phải là cùng một cây gậy, và sự sống phải vào cây gậy ấy lần thứ hai. Đó phải là cùng một lời, nhưng sự sống phải vào trong lời ấy nhiều lần. Sự sống phải vào trong lời ấy nhiều lần, khải thị phải đến trên lời ấy nhiều lần, và ánh sáng phải chiếu trên lời ấy nhiều lần. Chỉ khi ấy, lời mới sống động đối với chúng ta. Người nào cố khước từ Kinh Thánh thì bị Đức Chúa Trời khước từ vì người ấy khước từ những lời đã được Đức Chúa Trời viết xuống. Mọi lời của Kinh Thánh đều là sự hà hơi của Đức Chúa Trời, và chúng ta phải tôn trọng. Không có lời ấy làm nền tảng thì không có đức tin chính thống và không có khải thị từ Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, với những lời của Kinh Thánh, con người vẫn cần đến với Đức Chúa Trời để tiếp nhận khải thị và ánh sáng. Đó là cùng một lời của Đức Chúa Trời. Nhưng trên cùng một lời ấy cần có cùng một khải thị được mặc khải một lần nữa. Cây gậy vẫn như cũ, nhưng sự sống tươi mới phải vào trong nó một lần nữa trước khi nó đầm chồi, trổ bông và kết trái. Tựu trung lời Đức Chúa Trời có nghĩa là như vậy. Đó là ý nghĩa của sự khải thị về lời Đức Chúa Trời.

Có một sự hà hơi, nhưng phải có nhiều khải thị được lặp lại. Một lời của Đức Chúa Trời phải được Ngài phán đi phán lại nhiều lần. Chúng ta có một quyển Kinh Thánh, nhưng cần một sự xức dầu liên tục của Thánh Linh. Chỉ khi ấy mới có chức vụ cung ứng lời. Mỗi khi một người cố gắng giải thích Kinh Thánh mà không cần đến sự xức dầu, khải thị hay ánh sáng thì chức vụ cung ứng lời chấm dứt trong người ấy. Chúng ta phải lưu ý đến sự kiện này. Tính siêng năng, trí nhớ, sự hiểu biết và trí thông minh của con người đều hữu dụng, nhưng vẫn chưa đủ. Đức Chúa Trời phải thương xót con người và phải phán với con người một lần nữa.

Trên thực tế, nếu một người không nghe được lời phán của Đức Chúa Trời thì người ấy không thể làm gì về lời phán đó được. Đức Chúa Trời phải bằng lòng phán với con người một lần nữa. Nếu Đức Chúa Trời không muốn phán thì con người không thể làm gì cả. Nếu Chúa không phán thì những người cung ứng không thể hoàn thành bất cứ điều gì cho dầu tất cả những người ấy đều rao giảng. Chúa phán là một điều lớn lao. Nếu Ngài không phán thì không có gì xảy ra cả. Con người dầu cố gắng hết sức để rao giảng, cũng sẽ không có kết quả. Một người càng cố gắng rao giảng trong lãnh vực thuộc thể thì người ấy càng thất bại. Một người càng rao giảng trong lãnh vực thuộc linh thì lời rao giảng ấy càng công hiệu. Càng tập nói theo linh của mình, anh em sẽ càng nhận thức rằng đó là một điều vượt quá sự điều khiển của bất cứ người nào. Những lời có thể giống nhau, những âm thanh có thể giống nhau, và thậm chí những cảm xúc bên trong cũng có thể giống nhau, nhưng điều được truyền đạt thì không giống nhau. Có thể giảng giống nhau từng chữ, từng câu. Trọn bài giảng có thể được lặp lại đúng từng chữ, và mọi chi tiết có thể giống y như nhau. Nhưng điều được tuôn đổ ra thì không giống nhau. Chúng ta phải ghi nhớ rằng chỉ Đức Chúa Trời mới có thể phán lời của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời, và chúng ta cần Đức Chúa Trời phán lời ấy với chúng ta. Công tác của những người cung ứng là để Đức Chúa Trời phán lời ấy một lần nữa. Là những người nói ra lời của Đức Chúa Trời, khi chúng ta cho Đức Chúa Trời quyền tự do để phán lời Ngài, thì sẽ có chức vụ cung ứng lời. Chúng ta chỉ có thể phục vụ trong lãnh vực này.

Về mặt nội tại, thần học và sự phát ngôn của Đức Chúa Trời rất khác biệt nhau. Mỗi khi nghe một bài giảng, chúng ta đừng bao giờ chỉ xét xem giáo lý có đúng hay không, lời dạy dỗ có theo Kinh Thánh hay không, và lẽ thật có chính xác hay không. Nói như vậy không có nghĩa là xem thường các yếu tố ấy. Tuy nhiên, người nào đã được Đức Chúa Trời dạy dỗ và mở mắt đều cần phải nhận biết loại bài giảng nào được rao giảng ngay khi người ấy ngồi xuống nghe. Một người có thể có tâm trí tốt, nhưng có thể không có lời Đức Chúa Trời. Một người khác có thể không có tâm trí nhạy bén, nhưng lời Đức Chúa Trời ở với người ấy. Có một sự khác biệt căn bản giữa việc Đức Chúa Trời phán qua một người và việc Đức Chúa Trời không phán qua một người.

Nếu tất cả anh em đều có thể học tập bài học này thì Hội thánh sẽ không chú tâm nhiều đến các ân tứ. Thay vào đó, Hội thánh sẽ chú tâm đến chức vụ cung ứng nhiều hơn. Nan đề ngày nay là nhiều anh chị em trẻ tuổi không thể nhận ra sự khác biệt giữa các ân tứ và chức vụ cung ứng lời. Đó là lý do tại sao trong Hội thánh các ân tứ thường được hoan nghênh phổ biến hơn, trong khi chức vụ cung ứng lời thì không được chú ý đến. Những lời [rao giảng] có thể giống nhau trong cả hai trường hợp, nhưng thực tại thì khác biệt. Cả hai có thể giống nhau về mặt văn tự, về vẻ bên ngoài, nhưng những người biện biệt được đều có thể nhận ra sự khác biệt giữa hai điều đó. Một anh em từng nói: “Tôi đã rao giảng mọi điều anh em kia rao giảng”. Anh em này có tâm trí và khả năng tư duy tốt đến nỗi anh có thể giảng hay như những người khác. Anh ấy không nhận thức được rằng lời giảng của mình ở trong một lãnh vực hoàn toàn khác biệt. Một số người rao giảng theo tâm trí của mình, trong khi những người khác thì rao giảng theo linh của họ. Đó là hai lãnh vực hoàn toàn khác biệt. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng chỉ nhờ lặp lại những lời tương tự như nhau mà chúng ta có thể gặt hái cùng một kết quả giống nhau. Một số người có thể nói những lời giống nhau, nhưng Đức Chúa Trời có thể không phán qua họ nhưng những người khác có chức vụ cung ứng lời vì Đức Chúa Trời phán qua họ.

BỐN

Nhìn lại lịch sử Hội thánh, chúng ta nhận thấy rằng Đức Chúa Trời đã theo đường lối khôi phục từ thời Martin Luther. Đức Chúa Trời đã dấy lên Luther và những người đương thời để đem đến công tác khôi phục. Từ năm 1828, nhiều lẽ thật đã dần dần được khôi phục. Những người yêu mến Chúa suy nghĩ trong tâm trí mình là Chúa sẽ tiến bao xa trên đường lối khôi phục? Nhưng chúng ta cần hỏi sự khôi phục là gì. Sự khôi phục không có nghĩa là chúng ta rao giảng những gì các sứ đồ đã rao giảng và nói về mọi lẽ thật ở trong Kinh Thánh. Đó không phải là sự khôi phục. Một khi chúng ta rao giảng lẽ thật của Tân Ước thì không có nghĩa là chúng ta có khải thị của Tân Ước. Một khi chúng ta rao giảng sự dạy dỗ của các sứ đồ thì cũng không có nghĩa là chúng ta có lời của các sứ đồ. Ngày nay, nhiều người có thể rao giảng về báp-têm mà không biết báp-têm là gì. Họ có thể giảng về sự đặt tay mà không biết sự đặt tay là gì. Một số người có thể giảng về Hội thánh mà không biết gì về Hội thánh. Những người khác có thể giảng về sự thuận phục mà không biết gì về uy quyền của Đức Chúa Trời cả. Đừng nghĩ rằng hễ đề tài giống nhau thì nội dung cũng giống nhau. Đừng nghĩ rằng hễ giáo lý và thuật ngữ giống nhau thì bài giảng cũng giống nhau. Nhiều người rao giảng theo lãnh vực văn tự bề ngoài. Những người như vậy không có chức vụ cung ứng lời.

Nếu muốn làm một người cung ứng thời Tân Ước, anh em phải có khải thị của Tân Ước. Chỉ khi nào chúng ta nhận được cùng một sự xức dầu mà các sứ đồ đã nhận được thì chúng ta mới có chức vụ cung ứng lời. Chỉ nhờ nhận được cùng một khải thị, chúng ta mới nhận được chức vụ cung ứng lời. Chúng ta không nhận được lời phán thần thượng mà họ nhận được nhờ chỉ lặp lại những lời họ nói. Chúng ta có thể lặp lại những chữ họ sử dụng mà không nhận được những chữ thần thượng họ đã nhận được. Lời Đức Chúa Trời hoàn toàn khác biệt. Giả sử, một Hội thánh bị lừa gạt giống như những người Ga-la-ti từng bị lừa gạt. Chúng ta nên làm gì? Chúng ta có thể lấy nguyên sách Ga-la-ti, sao chép lại rồi gởi đến Hội thánh ấy không? Thư gửi cho người Ga-la-ti được Phao-lô viết, nhưng người Ga-la-ti nhận được lời phán của Đức Chúa Trời. Khi nhận được bức thư của Phao-lô, người Ga-la-ti chạm đến lời Đức Chúa Trời phán. Ngày nay, chúng ta có thể chép lại lời của Thư đã từng gởi cho người Ga-la-ti mà gởi đến một Hội thánh đang gặp nan đề ấy. Có thể những người nhận thư chỉ chạm đến lời được viết mà không chạm đến lời Đức Chúa Trời. Những lời ấy ở trong hai lãnh vực khác biệt. Một người chạm đến Kinh Thánh mà không chạm đến sự sống là điều thường xảy ra. Người ấy chỉ chạm đến Kinh Thánh mà không chạm đến sự sống. Người ấy chỉ chạm đến những lời mà Đức Chúa Trời từng sử dụng chứ không chạm đến lời phán hiện tại của Đức Chúa Trời. Một người có thể chạm đến Kinh Thánh đã được hà hơi mà không chạm đến khải thị của Thánh Linh. Anh chị em ơi, tại sao ngày nay có rất nhiều người đọc Kinh Thánh nhưng rất ít người nhận được gì từ Kinh Thánh? Tại sao rất nhiều người giảng Kinh Thánh nhưng người ta cảm nhận được quá ít lời của Đức Chúa Trời. Lời giải thích duy nhất là con người chỉ chạm đến cái vỏ bên ngoài của Lời Đức Chúa Trời. Họ đã chạm đến điều Đức Chúa Trời từng phán, nhưng không chạm đến những gì ngày nay Đức Chúa Trời đang phán một lần nữa. Đức Chúa Trời không phán với họ qua lời mà Ngài từng sử dụng.

Chúng ta phải nhận thức rằng trách nhiệm của những người cung ứng lời là để Đức Chúa Trời phán qua Kinh Thánh một lần nữa. Những người cung ứng lời của Đức Chúa Trời là những người mà qua họ Đức Chúa Trời có thể phán lời Ngài một lần nữa. Đức Chúa Trời sẵn lòng phán qua họ. Đó phải là lời của Ngài được phán ra chứ không phải chỉ là Kinh Thánh được truyền đạt. Ai là những người cung ứng lời Đức Chúa Trời? Họ là những người khai mở Kinh Thánh và chuyển đạt cho người nghe những lời phán hiện tại của Đức Chúa Trời, chứ không phải chỉ là những lời từ chính quyển sách ấy. Làm một người cung ứng lời là như vậy. Nếu những người nghe có nan đề trong chính họ, hay nếu họ quyết định khép kín linh, tấm lòng hay tâm trí của mình thì đó là vấn đề riêng của họ. Nhưng hễ mở linh, tấm lòng và tâm trí của mình ra thì một người sẽ nghe lời phán của Đức Chúa Trời. Nếu những người khác không nghe Đức Chúa Trời phán gì trong khi chúng ta giải nghĩa Kinh Thánh và giảng giải những sự dạy dỗ của Kinh Thánh, thì chúng ta hoàn toàn thất bại theo cái nhìn của Đức Chúa Trời. Người cung ứng lời là người mà qua họ Đức Chúa Trời có thể phán. Những người khác cần phải cảm nhận rằng Đức Chúa Trời đã phán với mình, và họ cần phải sấp mặt mình xuống. Lý do Hội thánh quá nghèo nàn là vì những người cung ứng lời nghèo nàn. Chúng ta than phiền rằng quá ít người nhận được khải thị. Tại sao chúng ta không trao cho họ khải thị? Công việc của chúng ta là trao cho họ khải thị, nhưng chúng ta lại trách Hội thánh quá nghèo nàn. Tại sao chúng ta không làm cho Hội thánh trở nên phong phú? Công việc của chúng ta là làm cho Hội thánh trở nên phong phú. Chức năng của những người cung ứng lời là truyền đạt lời Đức Chúa Trời qua môi miệng mình, chứ không phải chỉ là Kinh Thánh. Những lời trong Kinh Thánh trở nên lời Đức Chúa Trời trong miệng họ. Những lời ấy trở nên sự sống và ánh sáng chứ không chỉ là văn tự bên ngoài.

Đừng để bị lừa gạt mà nghĩ rằng hễ một người giảng dạy từ Kinh Thánh và giải nghĩa những lời tiên tri từ Kinh Thánh, thì người ấy là một người cung ứng lời. Một người như vậy chỉ giảng dạy cho những người khác về cái vỏ bên ngoài của Kinh Thánh; người ấy không phải là một người cung ứng lời. Một số người than phiền rằng Hội thánh thiếu khải thị. Chúng tôi đồng ý là Hội thánh cần khải thị, nhưng chúng ta phải hỏi rằng ai sẽ ban khải thị cho Hội thánh. Chúng ta không thể đổ hết lỗi cho các anh chị em. Nếu những người cung ứng của Đức Chúa Trời ở trong tình trạng nghèo nàn thì toàn thể Hội thánh ở trong tình trạng nghèo nàn. Nếu Hội thánh không có các tiên tri, nếu Hội thánh thiếu khải tượng, thì dân của Đức Chúa Trời sẽ thiếu ánh sáng. Ngày nay, Đức Chúa Trời đang ban phát ánh sáng cho Hội thánh qua những người cung ứng lời. Trách nhiệm của Hội thánh lớn lao biết bao! Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng hễ chúng ta rao giảng cùng một quyển Kinh Thánh mà các sứ đồ rao giảng thì chúng ta có thể tự xưng là những người nối nghiệp các sứ đồ. Chúng ta phải ghi nhớ rằng chúng ta có thể tự xem mình là những người nối nghiệp các sứ đồ theo mức độ chúng ta nhận được cùng một khải thị họ đã nhận được và kinh nghiệm được cùng một sự xức dầu họ đã kinh nghiệm. Đó không phải là vấn đề có cùng một giáo lý mà là vấn đề có cùng một sự xức dầu. Đây là sự thử nghiệm cơ bản đối với mọi sự.

Trong Hội thánh, không gì nghiêm trọng hơn việc thiếu những người cung ứng lời, khải thị và ánh sáng của Đức Chúa Trời cho người khác. Nếu chúng ta không cung ứng cho người khác những điều ấy thì chúng ta có thể trông đợi họ nhận được những điều ấy chỉ nhờ cầu nguyện không? Chúng ta tránh trách nhiệm của mình và trút gánh nặng ấy lên vai họ bằng cách bảo họ tự mình cầu xin những điều ấy. Trách nhiệm không ở trên vai của họ. Chúng ta không nên giao trách nhiệm ấy cho họ. Những người cung ứng lời có trách nhiệm cung ứng cho Hội thánh. Những người cung ứng lời cần phải có nhiều khải thị, ánh sáng và sự xức dầu của Linh. Khi họ đứng lên rao giảng từ Kinh Thánh, Đức Chúa Trời phải phán qua cùng một quyển Kinh Thánh ấy. Đức Chúa Trời phải sẵn lòng phán ra lời của chính Ngài qua cùng một phân đoạn [Kinh Thánh] ấy. Làm một người cung ứng lời có nghĩa là như vậy. Đó là ý nghĩa việc cung ứng lời của Đức Chúa Trời cho Hội thánh. Cung ứng là phục vụ. Điều này cũng giống như chuẩn bị một bữa ăn và dọn bữa ăn ấy cho những người khác. Sự phục vụ ấy làm thỏa mãn cơn đói của những người khác. Một người cung ứng lời cần phải chuẩn bị lời Đức Chúa Trời sao cho người ấy có thể cung ứng và nuôi dưỡng những người khác bằng lời [Ngài].

Ngày nay, nhiều người có thể giảng giải Kinh Thánh. Nhưng nan đề là Đức Chúa Trời không phán. Chúng ta phải biết sự khác biệt giữa việc hiểu biết Kinh Thánh và có lời Đức Chúa Trời. Có thể chúng ta nghiên cứu Kinh Thánh đã lâu, nhưng có thể Đức Chúa Trời không phán với chúng ta một lời nào. Khi Đức Chúa Trời quyết định phán với chúng ta, mọi nan đề đều được giải quyết và mọi sự đều thay đổi. Chúng ta sẽ nói: “Trong nhiều năm, tôi đã đọc Kinh Thánh một cách ngu dại. Tôi không hiểu gì cả, nhưng đến ngày hôm đó tôi mới biết”. Vấn đề là Đức Chúa Trời có phán hay không. Một số người không có sự sáng suốt thuộc linh về bất cứ điều gì. Có thể họ không kinh nghiệm được bất cứ lời phán nào khác hơn là lúc họ được cứu. Những người như vậy sẽ không chạm đến bất cứ điều gì trong lãnh vực thuộc linh. Một số người đã lắng nghe một thời gian dài. Một số lời đã được lặp đi lặp lại nơi tai họ hơn mười lần, nhưng họ vẫn không cảm nhận được gì. Nhưng khi đang nghe một anh em rao giảng, thình lình họ nghe được một điều gì đó và được lời ấy chạm đến. Trong những lần trước, họ chỉ nghe văn tự của Kinh Thánh. Nhưng lần này, họ nghe lời Đức Chúa Trời phán. Ở đây có một sự khác biệt căn bản. Lời Đức Chúa Trời là gì? Lời Đức Chúa Trời là sự tuôn đổ ra của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải nhìn thấy lời Đức Chúa Trời thật sự là gì. Chỉ khi nào lời được tuôn đổ ra và khi nào Đức Chúa Trời phán thì chúng ta mới có thể thi hành chức năng với tư cách là những người cung ứng. Đây là một vấn đề vô cùng căn bản. Đức Chúa Trời phải phán với chúng ta, và Ngài phải phán qua chúng ta. Nếu Ngài không phán với chúng ta, chúng ta không thể nói ra lời Ngài. Nhiều người khao khát làm người phát ngôn và cung ứng [lời] của Đức Chúa Trời. Muốn làm một người như vậy, họ phải là những người có khải thị.

Ngày nay, sự xây dựng Hội thánh, việc đạt đến tầm vóc đầy trọn của Đấng Christ và việc đạt đến sự hiệp một trong đức tin của Hội thánh tùy thuộc vào sự thi hành chức năng của những người cung ứng lời. Đức Chúa Trời đang dấy lên những người cung ứng lời Ngài để làm công tác của chức vụ cung ứng. Ê-phê-sô chương 4 cho chúng ta thấy rằng chỉ khi nào công tác của chức vụ cung ứng trở thành hiện thực thì mới có sự tăng trưởng tầm vóc của Đấng Christ và đạt đến sự hiệp một trong đức tin (cc. 12-13). Nan đề ngày nay là ít người có thể làm người cung ứng lời. Mỗi ngày đều có sự rao giảng, nhưng khó mà nói có bao nhiêu sự rao giảng ấy truyền ra lời Đức Chúa Trời. Dân Đức Chúa Trời thiếu ánh sáng cùng khải thị, và trách nhiệm ở nơi chúng ta. Đừng đổ hết lỗi cho các anh chị em. Ngày nay, những hồn người chưa được cứu và các tín đồ không được gây dựng vì không có sự tuôn đổ ra lời [Ngài]. Những người cung ứng đã thất bại. Nếu những người cung ứng đã thất bại thì làm sao chúng ta có thể trông đợi Hội thánh thắng thế? Toàn thể nan đề nằm nơi sự kiện chúng ta đóng kín đối với Đức Chúa Trời; chúng ta không chịu để ánh sáng của Đức Chúa Trời chiếu trên chúng ta. Đó là lý do tại sao chúng ta không thể đem các anh chị em mình vào trong ánh sáng của Đức Chúa Trời. Nan đề nằm nơi chúng ta chứ không nằm nơi họ. Đây là một điều nghiêm trọng, một điều rất nghiêm túc. Một lý do tại sao ngày nay Hội thánh ở trong tình trạng đổ nát là Chúa không thể đột phá qua chúng ta. Ngài đang tìm kiếm những người cung ứng lời khắp nơi. Lời Đức Chúa Trời không bao giờ thiếu; ánh sáng và khải thị của Ngài không bao giờ thiếu. Nan đề ngày nay là Ngài chưa tìm được những con người đúng đắn. Ngài bị chúng ta giới hạn. Ánh sáng không thể chiếu ra qua chúng ta.

Nhiều công tác viên tự xưng là người phát ngôn của Đức Chúa Trời. Nhưng trong khi giảng giải Kinh Thánh, họ không có được cái hi vọng mong manh nhất hay ý tưởng mơ hồ nhất là Đức Chúa Trời phán qua mình. Mối quan tâm duy nhất của họ là mong muốn trình bày các giáo lý riêng của mình. Họ nghĩ rằng hễ có các giáo lý thì mình có mọi sự. Họ chỉ quan tâm đến lẽ thật của mình, những ý niệm mình ưa thích, và họ nghĩ rằng hễ những điều ấy được phổ biến thì mọi sự đều ổn thỏa. Họ không có được cái hi vọng mong manh nhất là Đức Chúa Trời được tuôn đổ ra qua lời nói của mình.

Chúng ta phải ghi nhớ rằng mình chỉ có lời Đức Chúa Trời khi nào Ngài được tuôn đổ ra. Nếu Đức Chúa Trời không được tuôn đổ ra thì mọi sự con người nghe được đều chỉ là lời của con người. Chỉ khi Đức Chúa Trời được tuôn đổ ra thì mới có khải thị. Nếu Ngài không được tuôn đổ ra thì dầu vẫn là sự dạy dỗ như vậy nhưng đó chỉ là lời được chuyển đạt từ người này sang người kia, từ miệng này sang miệng nọ, và từ tâm trí này đến tâm trí khác. Nếu nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, Ngài được tuôn đổ ra từ chúng ta, thì điều đó sẽ gây ra sự khác biệt lớn lao biết bao!

Anh em ơi, chúng ta phải nhận thức được việc giảng giải Kinh Thánh và sự truyền đạt khải thị của Đức Chúa Trời cho con người khác nhau biết bao. Chúng ta phải nhận thức rằng mặc dầu có thể chúng ta nói nhiều lời có vẻ hợp lý, kỳ diệu, tốt đẹp và quí báu, Đức Chúa Trời vẫn không ở trong lời nói của chúng ta. Một khi nhận ra sự khác biệt ấy thì chúng ta sẽ phủ phục trước mặt Đức Chúa Trời và thưa rằng: “Chúa ơi, từ nay trở đi, con ghét những công tác thiếu vắng khải thị, những công tác không truyền đạt khải thị cho con người”. Chúng ta đừng bao giờ làm những thầy giảng chuyên nghiệp. Một khi trở nên những thầy giảng chuyên nghiệp thì chúng ta nói vì nghề nghiệp của chúng ta là phải nói, và chúng ta giảng vì nghề nghiệp của chúng ta là phải giảng. Chúng ta sẽ không nói hay giảng do nhận được một điều gì đó từ Đức Chúa Trời. Chúng ta phải sống trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Thiếu sự hiện diện của Ngài, chúng ta sẽ không có chức vụ cung ứng lời. Đức Chúa Trời phải có được điều này giữa vòng chúng ta. Nhờ sự thương xót của Đức Chúa Trời, chúng ta phải nhận được khải thị từ lời Ngài rồi chuyển đạt khải thị ấy cho những người khác. Để thực hiện việc đó, chúng ta không thể làm gì cả ngoại trừ cầu xin sự thương xót của Ngài. Nếu Chúa không phán qua chúng ta, chúng ta không thể chuyển đạt lời Ngài cho những người khác. Nếu điều chúng ta có không gì khác hơn là một quyển sách, tức Kinh Thánh, thì chúng ta không có điều gì sống động cả. Đành rằng nền tảng của chức vụ cung ứng lời chính là Kinh Thánh, nhưng chỉ riêng Kinh Thánh thì chưa đủ; cần có sự khải thị của Thánh Linh.

Anh em ơi, chúng ta cần Linh xức dầu trên chúng ta. Chúng ta cần học tập trông đợi sự xức dầu. Nhiều khi, chúng ta phải thưa với Chúa: “Chúa ơi, hôm nay xin xức dầu lời Ngài một lần nữa để con có thể nhận lấy và sử dụng lời ấy”. Khi đứng trước mặt những người khác, chúng ta phải thưa với Chúa: “Xin xức dầu những lời con sắp nói và xin phán ra những lời ấy với sự xức dầu của Ngài”. Bây giờ là lúc khẩn nài sự thương xót. Tất cả những nan đề đều nằm nơi những người cung ứng. Không có lời Đức Chúa Trời, những người cung ứng thật nghèo nàn, và Hội thánh cũng nghèo nàn. Dường như quá nhiều người đặt hi vọng mình vào lẽ thật và kiến thức. Ít người đặt hi vọng mình vào sự khải thị. Rốt cuộc, phúc-âm được rao giảng, nhưng ít hồn người được cứu. Những bài giảng được chia sẻ, nhưng ít người nhận được ơn phước gì. Nếu sự sống của Đức Chúa Trời không đi theo lời Ngài thì mọi sự đều hư không và vô dụng. Sự thất bại của chúng ta nằm ở chỗ chúng ta chỉ nhìn thấy người ta ngợi khen lời Đức Chúa Trời và những nhà truyền giảng của Đức Chúa Trời. Nhưng chính những lời ấy không truyền đạt ánh sáng làm [chúng ta] nóng cháy; khải thị không đủ mạnh mẽ để đánh ngã người ta xuống đất. Ngày nay, nhu cầu không phải là có thêm sự thán phục lời Đức Chúa Trời, mà có thêm những người sấp mặt mình trước ánh sáng của Đức Chúa Trời. Nếu là những người cung ứng lời mà chúng ta không thể hoàn thành điều này thì chúng ta chỉ có thể tự trách mình đã thất bại. Nguyện Chúa thương xót chúng ta.