Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 6

Untitled Document

CHƯƠNG SÁU

GIẢI NGHĨA BỞI THÁNH LINH

Vì chính mình cũng như vì những người khác, chúng ta phải lưu ý rằng lời được những người cung ứng truyền đạt ngày nay không thể độc lập với những lời được thấy trong Kinh Thánh. Tất cả những lời của Đức Chúa Trời đến sau đều đặt nền tảng trên những lời đầu tiên của Ngài. Tất cả những lời của Tân Ước đều đặt nền tảng trên những lời của Cựu Ước. Vậy nên, tất cả những lời chúng ta phát ngôn ngày nay phải được đặt nền tảng trên những lời phát ngôn của Tân Ước và Cựu Ước. Lời Đức Chúa Trời là một tổng thể sống động và hữu cơ. Nếu một người tuyên bố rằng lời của mình có tính cách độc lập, tách rời và khác biệt với Tân Ước và Cựu Ước, lời ấy không mang nét tương tự nào với những lời trước kia của Đức Chúa Trời, và không đặt nền tảng trên những lời trước kia của Ngài, thì chúng ta có thể khẳng định rằng đó là tà giáo; đó phải là giáo lý của ma quỉ. Ngày nay Đức Chúa Trời vẫn có những người cung ứng lời. Những người cung ứng ấy xây dựng chức vụ của mình trên một nền tảng nhất định; họ không phát ngôn một cách bốc đồng.

Chúng ta cần tiến một bước xa hơn. Một mặt, lời được nói ra bởi những người cung ứng lời phải được đặt nền tảng trên những lời đã được Đức Chúa Trời phán trước kia; tuy nhiên, mặt khác, Đức Chúa Trời phải giải thích và giải nghĩa những lời ấy cho những người cung ứng lời. Chức vụ cung ứng lời không phải chỉ có lời làm nền tảng; chính Đức Chúa Trời cũng phải khai mở và giải thích lời ấy nữa. Vậy nên, không phải bất cứ ai đặt nền tảng lời nói của mình trên lời Đức Chúa Trời đều là một người cung ứng lời Ngài. Một người cũng không thể xưng là sứ giả của lời Đức Chúa Trời chỉ vì người ấy tự trang bị cho mình bằng những lời Đức Chúa Trời phán trước kia. Một người có thể thuộc nhiều câu trong Cựu Ước, nhưng không có nghĩa là người ấy có thể viết Tân Ước. Tương tự như vậy, một người quen thuộc với Tân Ước không có nghĩa là người ấy có thể làm một người cung ứng lời ngày nay. Lời Đức Chúa Trời phải là nền tảng, nhưng Đức Chúa Trời cũng phải ban cho lời giải thích. Đức Chúa Trời phải giải thích lời Ngài cho những người cung ứng rồi họ mới có thể có chức vụ cung ứng lời Ngài. Chúng ta cần phải để sang một bên mọi lời không có nền tảng đúng đắn. Nhưng thậm chí khi một lời được căn cứ trên nền tảng đúng đắn, cũng không nhất thiết có nghĩa là chúng ta có thể chấp nhận lời ấy. Chúng ta phải xét xem đó có phải là sự giải nghĩa của Đức Chúa Trời hay không.

Những lời trước kia của Đức Chúa Trời chỉ có thể được chính Đức Chúa Trời giải nghĩa. Chúng ta không thể tin tưởng vào tâm trí minh mẫn, trí nhớ tốt hay sự siêng năng của mình trong [việc nghiên cứu] Lời. Chúng ta không thể lấy lời đã được Đức Chúa Trời phán trước kia và làm cho lời ấy trở thành chức vụ cung ứng lời hiện tại của Đức Chúa Trời. Một người thuộc lòng một trăm năm mươi Thi Thiên có thể không có khả năng luận giải những bài Thi Thiên ấy. Cũng vậy, một người thuộc lòng sách Nhã Ca có thể không có khả năng giải nghĩa sách Nhã Ca. Một người không thể luận giải sách Ê-sai chỉ vì người ấy thuộc lòng sách ấy, hay luận giải sách Đa-ni-ên chỉ vì người ấy đã dành năm mươi năm nghiên cứu sách ấy. Những người rao giảng mà không căn cứ trên lời đã được Đức Chúa Trời phán trước kia thì không thể làm người phát ngôn của Ngài, nhưng những người đặt nền tảng trên lời Đức Chúa Trời cũng không nhất thiết là những người cung ứng lời. Những người phát ngôn mà không có nền tảng là lời Đức Chúa Trời thì không đủ tư cách. Nhưng không có nghĩa là người nào phát ngôn trên nền tảng ấy thì được chấp nhận. Có nhiều thầy thông giáo và người Pha-ri-si rất quen thuộc với Cựu Ước, nhưng không ai [trong vòng họ] là người cung ứng lời. Ngày nay, một số người có thể đã nghiên cứu Kinh Thánh một cách rất thấu đáo, nhưng không có nghĩa họ là những người cung ứng lời. Những người cung ứng lời là những người quen thuộc với lời Đức Chúa Trời và cũng được Đức Chúa Trời giải thích và mở Lời ra cho mình. Trước hết, một người cung ứng lời Đức Chúa Trời phải có một nền tảng đúng đắn. Rồi người ấy phải có lời giải nghĩa đúng đắn. Nếu không thì người ấy không thể làm một người cung ứng lời của Đức Chúa Trời.

Làm thế nào Đức Chúa Trời giải nghĩa lời Ngài? Làm thế nào Ngài giải nghĩa những lời Cựu Ước cho những người cung ứng [Lời] thời Tân Ước? Trong Tân Ước có ít nhất ba loại giải nghĩa. Thứ nhất là giải nghĩa những lời tiên tri. Thứ hai là giải nghĩa lịch sử. Thứ ba là giải nghĩa bằng cách tổng hợp một vài phân đoạn Kinh Thánh. Khi đọc Cựu Ước, những người cung ứng lời trong Tân Ước có ba loại lời như trên ở trước mặt họ. Thứ nhất là những lời tiên tri, thứ hai là lịch sử, và thứ ba là tổng hợp những phân đoạn khác nhau. Cả ba đều đòi hỏi sự giải nghĩa của Thánh Linh.

Chúng ta hãy lấy Phúc-âm Ma-thi-ơ làm ví dụ và xét xem thế nào Ma-thi-ơ phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời Đức Chúa Trời.

Thánh Linh hoàn toàn kiểm chế Ma-thi-ơ khi ông kể câu chuyện về Chúa Giê-su. Ma-thi-ơ 1:23 được trích từ Ê-sai chương 7: “Kìa, gái đồng trinh sẽ thọ thai, sanh một trai, người ta sẽ gọi tên con đó là Em-ma-nu-ên”. Trong khi Ma-thi-ơ viết sách Phúc-âm của mình, Thánh Linh soi sáng ông. Vấn đề không phải là Ma-thi-ơ dành bao nhiêu thời giờ nghiên cứu. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là Ma-thi-ơ không nghiên cứu Cựu Ước. Ông vốn là một người thâu thuế, nhưng về sau, có lẽ ông dành nhiều thời giờ nghiên cứu Cựu Ước. Đó là lý do tại sao Thánh Linh có thể nhắc ông về lời trích dẫn ấy. Đó là tại sao ông có thể trích dẫn: “Kìa, gái đồng trinh sẽ thọ thai, sanh một trai, người ta sẽ gọi tên con đó là Em-ma-nu-ên”. Nhưng lời ấy có nghĩa gì? Thánh Linh phải giải thích và giải nghĩa lời ấy cho Ma-thi-ơ. Ngài phải cho Ma-thi-ơ thấy rằng lời ấy chỉ về sự ra đời của Chúa Giê-su. Đến một thời điểm nào đó, Đức Chúa Trời ở với chúng ta. Trước ngày ấy, Đức Chúa Trời không ở với chúng ta theo cách như vậy. Bây giờ Đức Chúa Trời ở với chúng ta nhờ sự xuất hiện của Chúa ở trên đất. Đó là một lời giải nghĩa bởi Thánh Linh. Chúng ta phải quen thuộc với những lời Đức Chúa Trời phán trước kia, nhưng cũng phải có lời giải nghĩa của Thánh Linh. Chỉ Thánh Linh mới có thể xác minh ý nghĩa của lời Đức Chúa Trời cho chúng ta.

Ma-thi-ơ 2:15 chép về việc Chúa Giê-su ra khỏi Ai Cập. Ở đây, Ma-thi-ơ trích Ô-sê 11:1. Nếu tự mình đọc Ô-sê 11:1, chúng ta có thể không nhận thấy phân đoạn ấy chỉ về Chúa Giê-su. Nhưng qua sự giải nghĩa của Thánh Linh, Ma-thi-ơ nhận biết những lời ấy chỉ về Chúa Giê-su.

Ma-thi-ơ 2:18 chép: “Tại Ra-ma nghe tiếng kêu, khóc lóc than van lớn; ấy là Ra-chên khóc con cái mình, mà không chịu yên ủi, Vì chúng nó không còn nữa”. Câu này được trích từ Giê-rê-mi 31:15. Khi đọc Giê-rê-mi 31:15, chúng ta không nghĩ rằng câu ấy chỉ về ý định của Hê-rốt muốn giết Chúa Giê-su. Nhưng nhờ sự giải nghĩa của Thánh Linh, chúng ta khám phá ra ý nghĩa của phân đoạn này.

Ma-thi-ơ 3:3 chép: “Ấy là về người này mà tiên tri Ê-sai đã nói: ‘Có tiếng kêu trong đồng vắng rằng: Hãy dọn đường Chúa, làm thẳng các nẻo Ngài’ ”. Khi đọc Ê-sai 40:3, chúng ta đã không nghĩ rằng câu ấy chỉ về Giăng Báp-tít. Thánh Linh đã phải giải nghĩa câu ấy cho Ma-thi-ơ và cho ông thấy câu ấy chỉ về Giăng Báp-tít.

Ma-thi-ơ 4:13 đề cập đến việc Chúa Giê-su ở Ca-bê-na-um, tại biên giới Sa-bu-lôn và Nép-ta-li. Trong các câu 15 và 16, Ma-thi-ơ trích dẫn lời từ Ê-sai 9:1-2: “Để cho ứng nghiệm lời tiên tri Ê-sai đã nói: ‘Đất Sa-bu-lôn và Nép-ta-li, trên đường dọc theo biển, bên kia Giô-đanh, tức là Ga-li-lê của Ngoại-bang. Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng lớn, những kẻ ngồi trong miền và dưới bóng sự chết, thì có ánh sáng mọc lên cho rồi’ ”. Khi đọc Ê-sai chương 9, chúng ta không nghĩ đoạn ấy chỉ về Chúa Giê-su. Chúng ta cần Thánh Linh giải nghĩa để bày tỏ cho chúng ta phân đoạn ấy chỉ về Chúa Giê-su. Điều này cho chúng ta thấy những người cung ứng lời của Đức Chúa Trời chỉ có lời Ngài thôi thì chưa đủ; Thánh Linh phải giải nghĩa lời Ngài cho chúng ta. Khi có sự giải nghĩa của Thánh Linh, chúng ta có thể công bố Lời Đức Chúa Trời là nền tảng của mình. Không có sự giải nghĩa của Thánh Linh, Lời sẽ đóng kín đối với chúng ta nên không bao giờ có thể trở thành nền tảng cho lời của chúng ta.

Trong Ma-thi-ơ chương 8, Chúa Giê-su chữa lành nhiều người bị bệnh và đuổi các quỉ. Câu 17 trích từ Ê-sai 53:4 chép rằng: “Hầu cho ứng nghiệm lời tiên tri Ê-sai nói rằng: ‘Chính Ngài đã gánh lấy sự đau yếu của chúng ta, và mang bệnh hoạn của chúng ta’ ”. Lời trong Ê-sai chương 53 được mở ra cho Ma-thi-ơ. Lời đã được mở ra ấy làm nền tảng cho lời của ông. Chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời đặt nền tảng trên lời phán trước kia của Đức Chúa Trời. Nhưng lời phán ấy phải được mở ra cho những người cung ứng trước khi họ có thể dùng lời phán ấy làm nền tảng cho lời của mình. Không có sự mở ra ấy, thì dùng bất cứ loại trích dẫn nào cũng chỉ là một cách áp dụng nông cạn. May lắm thì đó chỉ là lời rời rạc chứ không phải là chức vụ cung ứng lời. Lời mở ra được ban cho một người có chức vụ cung ứng lời. Vậy nên, không những cần một nền tảng mà cũng cần sự giải nghĩa đúng đắn.

Trong Ma-thi-ơ 12:10-16, Chúa Giê-su chữa bệnh cho một người bị teo tay và truyền rằng: “Hãy giơ tay ra”. Người ấy giơ tay mình ra, và được chữa lành. Khi Chúa đi khỏi nơi ấy, nhiều người đi theo Ngài, và Ngài chữa lành cho tất cả, cũng truyền họ đừng tỏ Ngài ra. Tại điểm này, Ma-thi-ơ trích dẫn Ê-sai 42:1-4: “Để được ứng nghiệm lời tiên tri Ê-sai đã nói rằng: ‘Kìa, tôi tớ Ta, là kẻ Ta đã lựa chọn, Người yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đường. Ta sẽ phú Linh Ta trên Người, Người sẽ truyền công lý cho dân Ngoại-bang. Người sẽ chẳng cãi cọ, chẳng reo la, cũng chẳng ai nghe tiếng Người ngoài đường. Người sẽ chẳng bẻ cây lau có chớp, chẳng tắt tim đèn gần tàn, cho đến chừng nào Người khiến công lý đắc thắng. Dân Ngoại-bang sẽ ngưỡng vọng danh Người’ ” (Mat. 12:17-21). Sự giải nghĩa của Thánh Linh đã liên kết Ê-sai chương 42 với Ma-thi-ơ chương 12. Một sự giải thích như vậy làm cho Ma-thi-ơ có chức vụ cung ứng lời.

Chức vụ cung ứng lời đòi hỏi sự giải thích của Thánh Linh về Lời Đức Chúa Trời. Sự giải thích ấy bị che khuất khỏi những người bình thường cũng như bị che khuất khỏi những nhà thông giáo và người Pha-ri-si. Đức Chúa Trời phải giải nghĩa Lời ấy cho chúng ta rồi chúng ta mới có thể nói ra lời Ngài. Ma-thi-ơ không phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời một cách bốc đồng; lời của ông căn cứ vào những bài viết trong Cựu Ước. Làm thế nào ông có thể đặt nền tảng lời của mình trên Cựu Ước? Trước hết, ông hẳn đã nghiên cứu kỹ những lời của Cựu Ước, rồi Thánh Linh hẳn đã giải thích và mở những lời ấy ra cho ông trước khi ông có thể dùng làm nền tảng cho lời của mình. Đó là ý nghĩa của chức vụ cung ứng lời. Chức vụ cung ứng lời đặt nền tảng trên sự giải nghĩa của Linh về Lời Đức Chúa Trời. Không có sự giải nghĩa này thì không có chức vụ cung ứng lời. Có rất nhiều câu được trích dẫn từ Cựu Ước trong sách Ma-thi-ơ, số câu chính Chúa trích [từ Cựu Ước] không phải là ít. Tuy nhiên, những ví dụ trên đều được Ma-thi-ơ trích dẫn. Ông nói với chúng ta rằng những gì xảy ra là sự ứng nghiệm của những điều được Ê-sai và các tiên tri khác nói. Chúng ta đều biết Ma-thi-ơ từng là một người thâu thuế. Tuy nhiên, thật là quí báu khi nhận thấy ông có thể trích dẫn Cựu Ước. Ông không phải là một nhà thông giáo hay người Pha-ri-si như Phao-lô, nhưng ông có chức vụ cung ứng lời. Ông có những lời Cựu Ước làm nền tảng cho mình, và Thánh Linh đã giải nghĩa những lời ấy cho ông. Ông cần sự giải nghĩa của Linh trước khi có thể dùng những lời Cựu Ước làm nền tảng cho mình. Không có sự giải nghĩa của Linh thì không thể có chức vụ cung ứng lời. Với sự giải nghĩa ấy, ông có thể dùng những lời Cựu Ước làm nền tảng cho mình. Nếu không có sự giải nghĩa ấy, ông không thể dùng những lời như vậy làm nền tảng cho mình. Chỉ có Kinh Thánh cũng chưa đủ, mà Kinh Thánh phải được Thánh Linh mở ra cho chúng ta.

Trong chương hai mươi bảy, Ma-thi-ơ nói thêm một điều. Chúa Giê-su sắp rời khỏi thế gian, Giu-đa đã treo cổ tự tử, và thầy tế lễ thượng phẩm cùng các trưởng lão đã lấy số tiền Giu-đa từng nhận để phản Chúa mà mua một miếng ruộng. Trong câu 8, Ma-thi-ơ nói: “Nhơn đó ruộng ấy đến ngày nay còn gọi là ruộng Huyết”. Chúng ta phải lưu ý đến sự kiện là lời công bố ấy được chính Ma-thi-ơ nêu lên. Sau đó, ông nói tiếp: “Bấy giờ được ứng nghiệm lời tiên tri Giê-rê-mi đã nói rằng: ‘Họ lấy ba chục miếng bạc, là giá của người bị định giá, tức là người mà con dân Y-sơ-ra-ên định giá cho, và bỏ bạc ấy ra mà lấy ruộng của thợ gốm, y như Chúa đã chỉ dạy cho ta’ ” (cc. 9-10). Ma-thi-ơ chỉ ra đó là một sự ứng nghiệm lời của Giê-rê-mi. Khi chúng ta đọc lời của Giê-rê-mi, không dễ gì nhận thấy phân đoạn ấy chỉ về việc xảy ra ở trên. Nhưng Linh của Đức Chúa Trời đã giải nghĩa câu ấy cho Ma-thi-ơ, và ông có thể tổng hợp hai sự kiện như vậy. Trong ông, chúng ta nhìn thấy chức vụ cung ứng lời.

GIẢI NGHĨA LỊCH SỬ

1 Ti-mô-thê nói về lịch sử của A-đam và Ê-va trong 2:13-14: “Vì A-đam được nắn nên trước, rồi mới tới Ê-va. Lại không phải A-đam bị lừa dối, bèn là đàn bà bị lừa dối mà sa vào sự vi phạm”. Sa-tan đã không trực tiếp lừa gạt A-đam; sự lừa gạt của hắn nhắm vào Ê-va. Trước hết, hắn cám dỗ Ê-va, rồi Ê-va cám dỗ A-đam. Trước hết Ê-va sa ngã vì bị Sa-tan lừa gạt, rồi A-đam sa ngã vì bị Ê-va cám dỗ. Trong Cựu Ước, chúng ta chỉ có bản ký thuật về sự kiện này. Nhưng trong Tân Ước, Thánh Linh khai mở sự kiện ấy và bày tỏ cho chúng ta thấy rằng đàn bà không được làm đầu của hội-thánh; đàn bà không nên thống trị đàn ông. Một khuôn mẫu được bày tỏ, và một nguyên tắc cơ bản được thiết lập. Mỗi khi người đàn bà đảm nhiệm quyền làm đầu thì tội bị đưa vào thế gian. Sự kiện này là một phần lịch sử của A-đam và Ê-va. Nhưng khi được mở ra, sự kiện ấy trở nên nền tảng của chức vụ cung ứng lời.

Trong La Mã chương 9, Phao-lô nói đến câu chuyện Áp-ra-ham. Ông trích dẫn Sáng Thế Ký chương 21. La Mã 9:7 chép: “Duy kẻ ra từ Y-sác mới gọi là dòng dõi ngươi”. Câu 9 chép: “Cũng kỳ nầy Ta sẽ đến, thì Sa-ra sẽ có một con trai”. Đó là lịch sử Cựu Ước; đó là sự kiện Cựu Ước. Tuy nhiên, Thánh Linh mở ra cho Phao-lô về sự kiện Áp-ra-ham sinh ra Y-sác, và ông đã có thể nhìn thấy ý nghĩa của sự kiện ấy. Ông bắt đầu nhận thức rằng “chẳng phải hết thảy đều là người Y-sơ-ra-ên đâu. Cũng không phải vì họ là dòng dõi Áp-ra-ham mà hết thảy đều là con cái đâu” (cc. 6-7). Chỉ những người ra từ Sa-ra mới là con cái. Lời hứa của Đức Chúa Trời cho Sa-ra là: “Cũng kỳ nầy Ta sẽ đến, thì Sa-ra sẽ có một con trai” (c. 9). Đó là lời hứa của Đức Chúa Trời. Y-sác đã được sinh bởi lời hứa của Đức Chúa Trời. Chỉ đứa con trai ấy mới được kể là dòng dõi của Áp-ra-ham. Vậy nên, chỉ những người tin Chúa Giê-su, được sinh bởi lời hứa của Đức Chúa Trời mới là con cái của Đức Chúa Trời. Thánh Linh mở ra cho Phao-lô lịch sử về sự kiện Áp-ra-ham sinh ra Y-sác. Khi nhìn thấy điều này thì ông có chức vụ cung ứng lời. Nếu Phao-lô đọc câu chuyện về Áp-ra-ham và Sa-ra mà không có sự giải nghĩa của Thánh Linh, thì câu chuyện ấy vẫn chỉ là một câu chuyện; ông đã không có chức vụ cung ứng lời. Vậy, Lời Đức Chúa Trời cần đến sự giải nghĩa của Thánh Linh. Nếu không có sự giải nghĩa của Thánh Linh thì một người không thể dùng những lời của Đức Chúa Trời trong quá khứ làm nền tảng cho lời nói của mình, và người ấy sẽ không có chức vụ cung ứng lời.

Trong sách Ga-la-ti, câu chuyện về Y-sác được luận giải một cách chi tiết và rõ ràng hơn. Ga-la-ti 3:29 chép: “Còn nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em là dòng dõi của Áp-ra-ham, kẻ thừa thọ theo lời hứa”. Ga-la-ti 4:28 chép: “Hỡi anh em, chúng ta là con cái của lời hứa cũng như Y-sác”. Đó là lời của Phao-lô; đó là chức vụ cung ứng lời của ông. Từ đâu ông có được chức vụ của mình? Ông có được chức vụ ấy từ một câu chuyện trong Cựu Ước. Thánh Linh mở câu chuyện ra cho ông thấy mấu chốt của câu chuyện ấy, đó là lời hứa. Mấu chốt lời hứa này được tìm thấy trong Sáng Thế Ký 18:10: “Trong độ một năm nữa, Ta sẽ trở lại đây với ngươi không sai, và chừng đó, Sa-ra, vợ ngươi, sẽ có một con trai”. Đó là một lời hứa của Đức Chúa Trời. Lời hứa ấy sẽ diễn ra năm sau chứ không phải vào chính ngày ấy. Đó là lý do tại sao chúng ta có thể nói Y-sác được sinh ra theo một lời hứa. Giống như Y-sác, chúng ta cũng được sinh ra theo lời hứa. Vậy, vấn đề trở nên sáng tỏ. Phao-lô có thể cung ứng lời Đức Chúa Trời cho con cái Ngài vì Thánh Linh đã giải nghĩa lời ấy cho ông. Ông có chức vụ cung ứng lời. Vậy nên, chức vụ cung ứng lời đặt nền tảng trên sự giải nghĩa của Thánh Linh. Nếu không có sự giải nghĩa của Thánh Linh thì không có sự truyền đạt lời. Chúng ta cần Thánh Linh giải nghĩa lời tiên tri và lịch sử. Mỗi phần lịch sử trong Cựu Ước đều cần đến sự giải thích của Linh. Nếu không có sự giải nghĩa của Thánh Linh thì không có sự truyền đạt lời.

Một ví dụ rõ ràng khác có thể được tìm thấy trong Ga-la-ti 3:15, câu ấy chép: “Hỡi anh em, tôi nói theo cách người ta thường nói. Dầu là giao ước của loài người, mà nếu đã định rồi, thì chẳng ai có thể xóa hoặc thêm gì được”. Phao-lô nói rằng người nào lập nên một giao ước thì không thể hủy bỏ hay thêm gì vào giao ước ấy. Điều này không những đúng đối với Đức Chúa Trời mà thậm chí cũng đúng đối với con người. Sau đó, câu 16 chép: “Vả, lời hứa đã phán cho Áp-ra-ham và cho dòng dõi người. Không nói: ‘Cho các dòng dõi’, như chỉ về nhiều người; nhưng nói: ‘Cho dòng dõi ngươi’, như chỉ về một người, tức là Christ”. Điều này cho chúng ta thấy Phao-lô chính xác đến thế nào. Trong Sáng Thế Ký, Đức Chúa Trời nói với Áp-ra-ham rằng Ngài sẽ ban phước cho những người khác qua dòng dõi của ông. Trong phân đoạn này, Linh của Đức Chúa Trời giải thích lời ấy cho Phao-lô. Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho những người khác qua Áp-ra-ham và dòng dõi của ông. Chúng ta biết gì về chữ dòng dõi trong tiếng Hê-bơ-rơ? Trong tiếng Hê-bơ-rơ, từ ngữ ấy ở thể số ít chứ không ở thể số nhiều. Ngay khi sự kiện ấy chiếu rạng trên Phao-lô thì ông được sáng tỏ. Ý định của Đức Chúa Trời không phải là muốn ban phước cho các quốc gia qua nhiều dòng dõi của Áp-ra-ham. Nếu là vậy thì ân điển của Đức Chúa Trời chỉ dành cho người Do Thái; chỉ họ mới có thể mang ơn phước đến cho toàn thể thế giới. Nhưng chữ dòng dõi ở thể số ít, và chỉ về Đấng Christ. Khi Đức Chúa Trời phán Ngài sẽ ban phước cho các quốc gia qua dòng dõi của Áp-ra-ham, Ngài chỉ về Đấng Christ. Sự kiện này thật đơn giản, liên quan đến một từ ngữ ở thể số ít chứ không phải ở thể số nhiều. Nhưng ở đằng sau sự kiện đơn giản này là một lẽ thật rất quan trọng. Thánh Linh mở sự kiện ấy ra và bày tỏ cho Phao-lô thấy ý nghĩa đằng sau sự kiện ấy. Một khi được sáng tỏ thì ông có chức vụ cung ứng lời.

Chúng ta hãy xem xét một sự kiện khác. Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời kể ông là công chính. Điều này được ghi chép trong Sáng Thế Ký chương 15. Căn cứ trên điều này, Phao-lô cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời không kể con người là công chính theo sự công chính của người ấy mà theo đức tin của người ấy. Đó là chức vụ của Phao-lô. Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời kể đức tin ấy là sự công chính. Tiếp đến Phao-lô cho chúng ta thấy rằng tất cả những dòng dõi của Áp-ra-ham cũng được xưng công chính giống như Áp-ra-ham đã được xưng công chính. Áp-ra-ham đã được xưng công chính bởi đức tin, và tất cả những người được xưng công chính bởi đức tin đều là các con của Áp-ra-ham (Ga. 3:6-7). Đức Chúa Trời xưng Áp-ra-ham là công chính bởi đức tin; Ngài kể Áp-ra-ham là công chính bởi đức tin. Tương tự như vậy, Ngài xưng công chính cho tất cả những ai giống như Áp-ra-ham cũng sở hữu cùng một đức tin (cc. 8-9). Phao-lô cho thấy rằng Sáng Thế Ký chương 15 không những nói về một sự kiện hay về lịch sử mà đề cập đến một nguyên tắc, nguyên tắc về sự xưng công chính bởi đức tin.

Chúng ta cần phải ghi nhớ rằng cả lịch sử Cựu Ước lẫn những lời tiên tri Cựu Ước đều quí báu như nhau. Một số người nghĩ rằng những lời tiên tri, qui định và lời dạy dỗ trong Kinh Thánh đều quí báu nhưng lịch sử thì không. Họ xem lịch sử chỉ là những câu chuyện. Nhưng chúng ta phải ghi nhớ rằng tất cả những bản ký thuật có tính lịch sử trong Kinh Thánh đều là một phần của lời Đức Chúa Trời, cũng như những sự dạy dỗ là lời Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta đưa cho một người vô tín Lời của Đức Chúa Trời, có thể người ấy nhận lấy sách Châm-ngôn mà bỏ đi sách Sáng Thế Ký. Nhưng chúng ta biết rằng những lời tiên tri được ghi chép trong Cựu Ước đều là lời Đức Chúa Trời, và những lời dạy dỗ, qui định và thậm chí lịch sử cũng vậy. Lời Đức Chúa Trời là một tổng thể trọn vẹn, và mọi phần của lời ấy được chi phối bởi cùng một nguyên tắc. Cho dầu những phần ấy được trình bày dưới hình thức lịch sử hay theo hình thức tiên tri, chúng cũng là lời Đức Chúa Trời, và cũng cần đến sự giải nghĩa của Thánh Linh như những phần khác. Những lời tiên tri cần được Thánh Linh giải nghĩa, và lịch sử cũng cần được Thánh Linh giải nghĩa. Nhiều lẽ thật và khải thị bắt nguồn từ việc mở ra lịch sử Cựu Ước. Trong công tác phục vụ với tư cách là người cung ứng lời Đức Chúa Trời, đôi khi Phao-lô nhận được khải thị của Linh qua những lời tiên tri trong Cựu Ước và đôi khi qua những bản ký thuật có tính lịch sử. Một khi nhìn thấy khải thị thì ông có chức vụ cung ứng lời. Cần sự giải nghĩa của Thánh Linh. Thánh Linh phải giải nghĩa các sự kiện trong Cựu Ước cho chúng ta trước khi chúng ta có chức vụ cung ứng lời. Nếu không thì không có chức vụ cung ứng lời.

GIẢI NGHĨA BẰNG CÁCH TỔNG HỢP

Cả những lời tiên tri lẫn lịch sử đều cần đến sự giải nghĩa của Thánh Linh. Có một loại giải nghĩa thứ ba — giải nghĩa bằng cách tổng hợp. Đức Chúa Trời dành một vị trí đặc biệt cho loại giải nghĩa này đối với người cung ứng lời của Ngài. Hãy xem xét cách Phi-e-rơ phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời Đức Chúa Trời vào ngày lễ Ngũ tuần. Vào ngày lễ Ngũ tuần có một điều kỳ diệu xảy ra: Thánh Linh được đổ ra và các ân tứ đến. Vào ngày ấy, nhiều người nói các thứ tiếng [lạ]; họ nói được ngôn ngữ của nhiều thứ dân. Cũng vào ngày ấy, một trăm hai mươi người nhận được điều dân Y-sơ-ra-ên chưa từng nhận được. Trước kia, Thánh Linh đến trên một người. Một hai người hay nhiều nhất là một nhóm tiên tri nhận được Linh của Đức Chúa Trời ở trên họ. Nhưng vào ngày ấy, một trăm hai mươi người, nam và nữ, đều nhận được sự tuôn đổ của Linh Đức Chúa Trời; họ được đầy dẫy như đã uống rượu mới. Điều ấy chưa từng xảy ra trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Vào lúc ấy, Đức Chúa Trời rõ ràng đặt chìa khóa vào tay Phi-e-rơ. Giữa vòng mười một sứ đồ, Phi-e-rơ rõ ràng là người lãnh đạo. Ông nắm lấy cơ hội để làm chứng cho Chúa, đứng lên nói cho những người Do Thái biết điều đã xảy đến với họ. Phi-e-rơ không những giải thích cho người ta điều đang diễn ra vào ngày ấy, mà cũng làm chứng với họ và khuyến khích họ nhận lấy điều đó. Phi-e-rơ đang rao giảng. Vào ngày lễ Ngũ tuần, ông là một người cung ứng lời. Ông đã không đặt nền tảng lời giảng của mình trên một phân đoạn mà trên ba phân đoạn. Ông tổng hợp ba phân đoạn ấy lại với nhau và nhận được ánh sáng qua sự tổng hợp ấy. Đó không phải là phân tích mà là tổng hợp. Ba phân đoạn được tổng hợp với nhau. Đức Chúa Trời không những giải thích hiện tượng ấy cho ông, mà ba phân đoạn Kinh Thánh được tổng hợp với nhau để cho những người Do Thái thấy những gì thật sự đang diễn ra. Ngày nay, những người đầy tớ của Đức Chúa Trời cũng nhìn thấy nhiều điều bằng cách kết hợp những phân đoạn Kinh Thánh khác nhau lại. Làm như vậy là theo nguyên tắc trong chức vụ cung ứng của Phi-e-rơ vào ngày lễ Ngũ tuần.

Vào ngày lễ Ngũ tuần, Phi-e-rơ giảng bằng cách kết hợp ba phân đoạn, ấy là Giô-ên chương 2, Thi Thiên 16 và Thi Thiên 110. Chức vụ cung ứng lời của ông vào ngày lễ Ngũ tuần gồm công việc tổng hợp ba phân đoạn Kinh Thánh ấy. Thánh Linh kết hợp ba phân đoạn ấy lại với nhau và giải thích ý nghĩa ở đằng sau các phân đoạn ấy cho ông. Đó là giải nghĩa bằng phương pháp tổng hợp. Với phương pháp giải nghĩa tổng hợp, người ta nhận được ánh sáng từ những phân đoạn ấy. Một người cung ứng lời không nhất thiết chỉ chia sẻ qua một phân đoạn Kinh Thánh. Nhiều lúc, chúng ta giải nghĩa được là nhờ kết hợp những phân đoạn Kinh Thánh. Thậm chí nguyên tắc tổng hợp ấy còn thông dụng hơn trong chức vụ cung ứng lời ngày nay. Chúng ta cần kết hợp nhiều phân đoạn Kinh Thánh lại với nhau để tìm thấy ý nghĩa nằm sau các phân đoạn ấy.

Ví dụ, trong Cựu Ước, bốn vật đã được dùng làm đối tượng để thờ lạy là bò con bằng vàng, con rắn bằng đồng, cái ê-phót của Ghê-đê-ôn và tượng chạm của Mi-ca (1 Vua. 12:28-33; 2 Vua. 18:4; Quan. 8:27; 18:14-31). Nếu anh em muốn chia sẻ một bài giảng về những loại thờ phượng mà đối tượng không phải là Đức Chúa Trời, anh em có thể tổng hợp những phân đoạn ấy và chia sẻ về vấn đề ấy. Nhiều đề tài cần được nghiên cứu theo phương pháp tổng hợp.

Vào ngày lễ Ngũ tuần, Phi-e-rơ áp dụng phương pháp tổng hợp. Ông giảng từ Giô-ên chương 2 về sự tuôn đổ của Thánh Linh, từ Thi Thiên 16 về sự phục sinh của Chúa Giê-su, và từ Thi Thiên 110 về sự thăng thiên của Chúa. Ông kết hợp ba điểm ấy lại với nhau. Chúa Giê-su đã phục sinh. Sau khi phục sinh, Ngài không ở lại trên đất, mà thăng thiên lên các từng trời. Kết quả của sự thăng thiên là Thánh Linh tuôn đổ. Sự thăng thiên của Chúa theo sau sự phục sinh của Ngài. Sự chết không thể cầm giữ Ngài; Ngài đã thăng thiên đến với Cha và đang chờ đợi kẻ thù Ngài trở nên bệ chân Ngài. Ngày nay, Cha đã vinh hóa Ngài, và sự tuôn đổ của Thánh Linh là bằng chứng của sự vinh hóa ấy. Trong khi Phi-e-rơ phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời Đức Chúa Trời vào ngày ấy, Thánh Linh giải nghĩa ba phân đoạn Kinh Thánh ấy cho ông. Được giải nghĩa ba phân đoạn ấy, ông có một nền tảng vững chắc để giảng. Chức vụ cung ứng lời đòi hỏi Thánh Linh giải nghĩa Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta. Tiếp theo, chúng ta phải nhận lấy lời được giải nghĩa ấy làm nền tảng cho chức vụ rao giảng của mình.

Trong Công-vụ, chúng ta tìm thấy những ví dụ khác về loại dạy dỗ tổng hợp ấy. Chẳng hạn, trong chương ba, bài giảng của Phi-e-rơ thì ngắn, chỉ gồm có vài câu, nhưng ông đã tổng hợp Phục Truyền Luật Lệ Ký với Sáng Thế Ký. Trong chương bảy, lời của Ê-tiên chắc chắn là một chức vụ cung ứng lời. Thật ra, đó là một chức vụ cung ứng lời rất đặc biệt. Lời của ông đầy quyền năng, và thật có ít lời giải thích trong bài giảng ấy. Ông chỉ kể cho các thính giả của mình lịch sử trong Cựu Ước theo từng thời kỳ, từ sự kêu gọi Áp-ra-ham trong Sáng Thế Ký chương 12 đến thời Môi-se ở tại Ai Cập, đến việc dân Y-sơ-ra-ên phản loạn chống lại Đức Chúa Trời. Ông đi từ Sáng Thế Ký đến Xuất Ai Cập Ký, đến Phục Truyền Luật Lệ Ký rồi trích dẫn những lời của A-mốt và Ê-sai. Ông cứ tiếp tục kể mà không phải giải thích nhiều. Bài giảng ấy làm những người nghe nổi giận, và họ ném đá ông đến chết. Điều này cho chúng ta thấy chức vụ cung ứng lời của ông là một chức vụ rất đặc biệt. Không có lời giải thích nào cả; ông chỉ tường thuật lịch sử từng phần một. Một bài giảng như vậy được “vắt” ra từ linh của Ê-tiên. Những người nghe lời ấy không thể chịu nổi. Lời tổng hợp ấy đầy quyền năng. Trong chương mười ba, lời của Phao-lô cũng theo nguyên tắc ấy. Trong khi rao giảng tại An-ti-ốt thuộc Bi-si-đi, ông trích dẫn từ 1 Sa-mu-ên chương 13, Thi Thiên 89, Thi Thiên 2, Ê-sai chương 55, Thi Thiên 16 và Ha-ba-cúc. Đó là một sự tổng hợp. Căn cứ trên sự tổng hợp ấy, Phao-lô đi đến kết luận và thách thức người nghe tiếp nhận Giê-su người Na-xa-rét làm Cứu Chúa của mình.

Trong khi những người cung ứng trong Tân Ước đọc lời Cựu Ước của Đức Chúa Trời, họ nhận được ba loại giải nghĩa khác nhau từ Thánh Linh. Thứ nhất là giải nghĩa lời tiên tri, thứ hai là giải nghĩa lịch sử, và thứ ba là giải nghĩa những phân đoạn khác nhau được tổng hợp lại. Thánh Linh ban lời giải thích cho tất cả ba loại giải nghĩa này. Chúng ta cần phải lưu ý đến những lời được kết hợp từ nhiều phân đoạn khác nhau. Sách Hê-bơ-rơ chứa đựng nhiều lời thuộc loại ấy, và các sách La Mã và Ga-la-ti cũng vậy. Khi Thánh Linh chỉ dẫn các sứ đồ giảng về một đề tài nào đó, Ngài chọn ra nhiều câu từ Cựu Ước và dẫn dắt họ giảng những gì cần phải giảng. Chúng ta cần phải nhận thức rằng ngày nay những người cung ứng lời cũng được chi phối bởi nguyên tắc ấy. Phi-e-rơ, Phao-lô, Ma-thi-ơ và tất cả các sứ đồ khác thi hành chức vụ của mình bằng cách theo Cựu Ước mà giảng những lời Thánh Linh chỉ dạy họ thể nào thì chúng ta cũng phải thi hành chức vụ của mình bằng cách theo cả Cựu Ước lẫn Tân Ước mà giảng như Thánh Linh đã chỉ dạy chúng ta thể ấy. Các sứ đồ không giảng một cách bất cẩn; họ ở dưới sự chỉ dẫn của Thánh Linh. Họ giảng những gì Đức Chúa Trời muốn họ giảng dựa trên lời giải nghĩa của Linh về những lời phán trước kia của Đức Chúa Trời. Ngày nay, những người cung ứng lời cũng phải theo nguyên tắc ấy. Nền tảng của chúng ta cần phải là những lời thuộc về Tân Ước và Cựu Ước, tức những lời Linh chỉ dạy chúng ta nói ra và Ngài đã giải nghĩa cho chúng ta. Ngày nay chúng ta cần phải giảng những gì Đức Chúa Trời muốn chúng ta giảng dựa trên nền tảng là những lời ấy. Có chức vụ cung ứng lời có nghĩa là như vậy.

CẦN SỰ GIẢI NGHĨA CỦA LINH

Ma-thi-ơ, Phao-lô, Phi-e-rơ cũng như bất cứ người cung ứng nào khác trong Tân Ước đều không nói ra những lời riêng của mình. Không ai trong họ nói một cách độc lập. Tất cả những lời của họ nói đều được đặt nền tảng trên Cựu Ước.

Tuy nhiên, không phải người nào đọc Cựu Ước cũng có thể nói được như Ma-thi-ơ, Phao-lô hay Phi-e-rơ. Một người phải có sự giải nghĩa của Thánh Linh rồi mới có thể có chức vụ cung ứng lời. Ấy là Thánh Linh soi sáng, giải thích ý nghĩa của lời, tìm ra những sự kiện trong Cựu Ước, nêu lên những điểm nổi bật trong những lời ấy, và ban cho một người nền tảng để rao giảng.

Tất cả những người viết Tân Ước đều có chức vụ cung ứng lời của riêng mình. Ngày nay, cần có một chức vụ như vậy giữa vòng chúng ta. Nếu muốn làm những người cung ứng lời Đức Chúa Trời, chúng ta phải sốt sắng nghiên cứu Lời Ngài. Chỉ đọc bằng tâm trí của chúng ta thì chưa đủ. Chúng ta phải xin Linh của Chúa bày tỏ cho chúng ta thấy những điểm nổi bật trong Lời được viết ra của Ngài, làm cho chúng ta lưu ý đến những sự kiện ấy, và giải nghĩa những sự kiện ấy cho chúng ta. Một người cung ứng lời phải có một nền tảng để dựa vào đó mà rao giảng. Chúng ta đừng bao giờ rao giảng một cách độc lập. Chúng ta cũng đừng cho rằng chỉ thuộc lòng Lời Ngài là tất cả những gì chúng ta cần. Chúng ta cần sự giải nghĩa của Thánh Linh.

Chúng ta phải ghi nhớ rằng chức vụ cung ứng lời ngày nay phong phú hơn nhiều so với chức vụ cung ứng lời được thấy trong những người viết Tân Ước. Điều này không có nghĩa là những gì chúng ta nhìn thấy ngày nay thì sâu xa hơn những gì họ đã nhìn thấy. Chúng ta đều biết rằng Lời Đức Chúa Trời được hoàn tất khi sách Khải-thị được viết xong. Tất cả những lẽ thật của Đức Chúa Trời đều đã được truyền đạt. Những lẽ thật cao sâu nhất đã được truyền đạt. Điều chúng tôi muốn nói là về mặt phong phú thì chức vụ cung ứng lời ngày nay lẽ ra phải phong phú hơn nhiều so với chức vụ của những người viết Tân Ước. Nền tảng của lời thần thượng mà dựa trên đó Phao-lô rao giảng chỉ là những sách Cựu Ước. Nhưng nền tảng của lời thần thượng mà dựa trên đó chúng ta rao giảng là những sách Cựu Ước cộng với những tác phẩm của Phao-lô, Phi-e-rơ và những người khác. Quyển Kinh Thánh chúng ta có trong tay thì lớn hơn so với quyển Kinh Thánh Phao-lô có trong tay. Ông chỉ có ba mươi chín sách, nhưng chúng ta có tới sáu mươi sáu sách. Những người cung ứng lời của Đức Chúa Trời ngày nay cần phải có một chức vụ cung ứng lời phong phú hơn. Vì có nhiều tài liệu hơn để Linh của Đức Chúa Trời sử dụng và có nhiều cơ hội hơn để Linh của Đức Chúa Trời ban cho sự giải nghĩa nên chức vụ cung ứng lời ngày nay phải dồi dào hơn nhiều. Lẽ ra chức vụ ấy không nghèo nàn chút nào, trái lại cần phải phong phú hơn.

Chúng ta cần nghiên cứu Kinh Thánh một cách cẩn thận, và cần Thánh Linh giải nghĩa Kinh Thánh cho chúng ta. Trong quá khứ, nhiều người dành nhiều thời giờ nghiên cứu Kinh Thánh. Thánh Linh đã ban cho chúng ta nhiều ánh sáng. Một số người đã khám phá ra sự khác biệt giữa những chữ có mạo từ và những chữ không có mạo từ, chẳng hạn như sự khác biệt trong bản tiếng Anh giữa Christ và Đấng Christ, giữa luật và luật pháp, và giữa đức tin và niềm tin. Điều này đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng. Trong Tân Ước, danh hiệu Giê-su Christ chỉ về Chúa trước khi sống lại, trong khi danh hiệu Christ Giê-su chỉ về Chúa sau khi sống lại. Không có chỗ nào trong Kinh Thánh nói đến việc các tín đồ ở trong Giê-su. Chúng ta chỉ tìm thấy lối diễn đạt là trong Christ. Những điểm tinh tế ấy cần được nghiên cứu cẩn thận để đem ra [ánh sáng]. Chúng ta phải để Linh của Chúa phán với chúng ta, và phải nhận thức được tính chính xác của Lời Đức Chúa Trời.

Nhiều chữ trong Kinh Thánh không thể hoán đổi. Nhiều đại danh từ có ý nghĩa đặc biệt và không thể được thay thế. Mỗi khi nói về huyết thì Kinh Thánh chỉ về sự cứu chuộc, và mỗi khi đề cập đến thập tự giá thì Kinh Thánh chỉ về sự xử lý chính con người của chúng ta; hai điều này không bao giờ bị lẫn lộn. Mỗi khi đề cập đến cõi sáng tạo cũ thì Kinh Thánh nói về sự đóng đinh của thập tự giá, và mỗi khi đề cập đến bản ngã thiên nhiên thì Kinh Thánh nói về việc vác thập tự giá. Hai điều này không bao giờ bị lẫn lộn. Chúng ta là những người lầm lẫn, chứ lời Đức Chúa Trời không bao giờ lầm lẫn. Nói đến sự hành động của Thánh Linh thì công tác cấu tạo luôn luôn thuộc về bề trong, trong khi kinh nghiệm các ân tứ luôn luôn thuộc về bề ngoài. Những ví dụ trên cho thấy tính chính xác của Kinh Thánh. Những người viết Tân Ước nhận thức được tính chính xác của Cựu Ước, và họ thuận phục sự giải nghĩa của Linh của Chúa. Chúng ta cũng phải nhìn thấy tính chính xác của Tân Ước, và cũng cần phải nhường chỗ cho sự giải nghĩa của Chúa Linh. Chúng ta cần cả Tân Ước lẫn Cựu Ước làm nền tảng cho mình trước khi có thể có một chức vụ cung ứng lời phong phú. Chúng ta cần nghiên cứu Kinh Thánh, nhưng chỉ nghiên cứu Kinh Thánh thôi vẫn chưa đủ; chúng ta cần sự giải nghĩa của Thánh Linh.

Một người cung ứng lời không phải bất chợt nhận được một khải thị lớn lao và chưa từng có bao giờ. Ngược lại, người ấy xây dựng ánh sáng của mình trên những lời phán của Đức Chúa Trời trong quá khứ. Phao-lô, Phi-e-rơ và tất cả những người cung ứng lời của Chúa đều theo đường lối như vậy. Đó cũng là đường lối cho những người cung ứng lời của Chúa ngày nay. Trước Phao-lô có những người khác, và trước chúng ta có Phao-lô, những sứ đồ và sáu mươi sáu sách trong Kinh Thánh, tức Lời thành văn của Đức Chúa Trời. Khải thị ngày nay phải xứng hợp với khải thị của những người đi trước chúng ta, và ánh sáng cùng lời của ngày nay phải xứng hợp với ánh sáng và lời của những người đi trước chúng ta. Phao-lô cần sự giải nghĩa của Thánh Linh trước khi ông có thể làm một người cung ứng lời. Nếu ngày nay muốn làm người cung ứng lời, chúng ta cũng cần sự giải nghĩa của Thánh Linh. Lời Đức Chúa Trời được truyền từ thế hệ này đến thế hệ kia, và lời Ngài cũng sinh ra thêm lời từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp. Không ai có thể rao giảng bất cứ điều gì độc lập. Người thứ hai luôn luôn thấy nhiều hơn người thứ nhất, người thứ ba luôn luôn thấy nhiều hơn người thứ hai, và người thứ tư luôn luôn thấy nhiều hơn người thứ ba. Theo thời gian, thêm nhiều điều được nhìn thấy. Với người đầu tiên, Đức Chúa Trời phải trực tiếp can thiệp, nhưng người thứ hai bước đi trên con đường của người thứ nhất và nhìn thấy thêm nữa. Người thứ ba bước đi trên con đường của người thứ hai và nhìn thấy thêm nữa. Lời Đức Chúa Trời tiếp tục tăng trưởng. Lời sinh ra lời, và theo thời gian sẽ có thêm lời được truyền đạt. Để nhìn thấy và nhận được thêm, chúng ta phải nhìn thấy điều những người đi trước chúng ta đã nhìn thấy và tiếp nhận điều họ đã tiếp nhận. Nếu Đức Chúa Trời thương xót và đầy ân điển đối với chúng ta và mở mắt chúng ta để nhìn thấy những gì Ngài đã phán, thì chúng ta sẽ có một nền tảng để dựa trên đó mà phục vụ với tư cách là những người cung ứng lời Ngài.

Có thể có nhiều người cung ứng, nhưng lời vẫn là một. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhiều người hoạt động với tư cách là người cung ứng lời, nhưng tất cả những người cung ứng ấy đều phát xuất từ cùng một lời. Những người theo sau cần phải cầu xin Đức Chúa Trời giải nghĩa lời của những người đã đi trước cho mình. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể liên kết với “lời” vĩ đại của Đức Chúa Trời, và chỉ khi ấy chúng ta mới có thể đứng chung với tất cả những người cung ứng của Đức Chúa Trời. Đây là một nguyên tắc rất cơ bản: Có một lời phán, nhưng có nhiều người cung ứng.