Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 5

Untitled Document

PHẦN HAI: LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI

CHƯƠNG NĂM

NỀN TẢNG CỦA LỜI

MỘT

Chúng ta đã nhận thấy rằng làm một người cung ứng lời Đức Chúa Trời không phải là một vấn đề đơn giản. Không phải ai cũng có thể nói lời Đức Chúa Trời. Vấn đề cơ bản về một người cung ứng lời Đức Chúa Trời liên quan đến con người của người ấy. Bây giờ, chúng tôi muốn chuyển sang một vấn đề khác, ấy là về chính Lời Đức Chúa Trời. Khi bàn về chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời, chúng tôi không nói rằng Đức Chúa Trời có những lời khác không liên quan gì đến Kinh Thánh. Chúng tôi không nói rằng người nào đó có thể thêm một sách nữa vào sáu mươi sáu sách trong Kinh Thánh. Chúng tôi cũng không nói rằng một người có thể nhận được một khải thị nào hay đưa vào một chức vụ nào mà không được tìm thấy trong Kinh Thánh. Chúng tôi tin rằng lời Đức Chúa Trời là đầy đủ trong Cựu Ước và Tân Ước. Chúng ta không cần thêm bất cứ lời nào vào những điều đã được ghi chép trong Kinh Thánh rồi. Nhưng đồng thời, chúng ta phải nhận thức rằng nếu chỉ có kiến thức suông về Kinh Thánh thì một người vẫn chưa đủ tư cách rao giảng lời Đức Chúa Trời. Người nào mong muốn làm một người cung ứng lời Đức Chúa Trời phải nhận biết lời Đức Chúa Trời là gì. Nếu không biết lời Đức Chúa Trời là gì thì người ấy không thể làm một người cung ứng lời Ngài.

Sáu mươi sáu sách trong Kinh Thánh được khoảng bốn mươi người viết. Họ đều dùng cách diễn đạt riêng của mình; mỗi người sử dụng phong cách riêng của mình. Mỗi người viết dùng thuật ngữ đặc biệt riêng của mình, và những gì họ viết hàm chứa những cảm xúc, tư tưởng và các yếu tố con người của riêng từng người. Khi lời Đức Chúa Trời đến với những người viết ấy, các yếu tố cá nhân của họ được Đức Chúa Trời chấp nhận. Một số người được dùng nhiều hơn những người khác, trong khi những người khác thì được dùng ít hơn, nhưng mọi người đều được Đức Chúa Trời dùng đến, mọi người đều nhận được khải thị từ Ngài, và mọi người đều là người cung ứng lời Ngài. Lời Đức Chúa Trời giống như một bản nhạc, và những người ấy giống như nhiều nhạc cụ. Một dàn nhạc bao gồm nhiều nhạc cụ, và mỗi nhạc cụ đều có âm thanh riêng biệt của nó. Tuy nhiên, khi toàn thể dàn nhạc biểu diễn, tất cả những âm thanh hòa hợp với nhau một cách hài hòa. Khi các âm thanh đến với tai chúng ta, chúng ta có thể phân biệt giữa âm thanh của dương cầm, vĩ cầm, kèn trompet, clarinet và sáo, nhưng chúng ta không nghe một loạt những âm thanh hỗn loạn. Thay vào đó, chúng ta nghe một bản nhạc hài hòa. Mỗi nhạc cụ đều có đặc tính riêng và cá tính riêng của nó, nhưng tất cả đều chơi cùng một bản nhạc. Nếu chơi hai bản nhạc [cùng một lúc] thì sẽ có sự đối chọi và hỗn loạn. Chúng ta cũng có thể nói như vậy về những người cung ứng lời. Mỗi người cung ứng đều có đặc tính riêng của mình. Nhưng mỗi người đều nói lời Đức Chúa Trời.

Kinh Thánh không phải là một bộ sưu tập hỗn tạp các tác phẩm. Từ trang đầu đến trang cuối, đó là một tổng thể hữu cơ. Mặc dầu người cung ứng này nói điều này và người cung ứng kia nói điều khác, nhưng khi kết hiệp các chức vụ của họ lại với nhau thì chúng ta có một tổng thể hữu cơ. Có khoảng bốn mươi người viết ra Kinh Thánh. Tuy con số này khá lớn, nhưng sứ điệp của họ thì nhất quán; không có tình trạng lộn xộn và chắp vá nào cả. Kinh Thánh có thể cho thấy vài chục nhạc cụ, nhưng chỉ có một bản nhạc. Người nào cố thêm vào một điệu nhạc khác thì sẽ dễ dàng bị nhận ra. Ngay khi điệu nhạc vang đến tai mình, chúng ta liền biết đó là loại âm thanh sai trật. Lời Đức Chúa Trời là một tổng thể nhất quán. Các âm thanh có thể khác nhau, nhưng tuyệt nhiên không được chói tai. Chúng ta không nên cho là hễ có âm thanh phát ra là đủ rồi. Chúng ta không nên nghĩ rằng người nào cũng có thể đứng lên, nói một vài lời, và tự xưng là nói lời Đức Chúa Trời. Từ đầu đến cuối, lời Đức Chúa Trời là một tổng thể nhất quán. Các chức vụ cung ứng lời khi xưa thuộc về thực thể trọn vẹn ấy, và các chức vụ cung ứng lời ngày nay cũng thuộc về tổng thể trọn vẹn ấy. Không yếu tố xa lạ nào có thể được thêm vào chức vụ ấy hay hình thành một phần của tổng thể ấy. Lời Đức Chúa Trời là chính Chúa Giê-su; lời ấy là một, và sống động. Nếu cố thêm vào bất cứ điều gì vào lời ấy, chúng ta sẽ không có lời Đức Chúa Trời, mà có sự rối loạn, bội đạo và xung khắc. Điều chúng ta có không phải là lời Đức Chúa Trời.

Cựu Ước gồm ba mươi chín sách. Nói về lịch sử thì có lẽ sách Gióp được viết trước hết. Nhưng Ngũ-kinh của Môi-se lại được đặt ở đầu Kinh Thánh. Điều kỳ diệu là tất cả những người viết Kinh Thánh sau Môi-se đều không viết một cách độc lập; họ dựa trên những bài viết đã có trước. Môi-se viết Ngũ-kinh mà không tham khảo những gì người khác viết. Nhưng những gì Giô-suê viết thì dựa trên Ngũ-kinh của Môi-se. Nói cách khác, chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời của Giô-suê không phải là một chức vụ độc lập; sự phục vụ của ông với tư cách là người cung ứng dựa trên sự hiểu biết của ông về Ngũ-kinh. Sau Giô-suê, những người khác như những tác giả của các sách Sa-mu-ên cũng viết dựa trên các sách của Môi-se. Điều này có nghĩa là, ngoại trừ Môi-se là người đã được kêu gọi một cách thần thượng để viết năm sách đầu tiên của ông, tất cả những người cung ứng lời Đức Chúa Trời sau này đều thi hành chức năng dựa trên nền tảng là những lời của Đức Chúa Trời đã có từ trước. Những sách còn lại của Cựu Ước đều được viết dựa trên các tác phẩm đã có trước. Mặc dầu những tác giả về sau viết theo cách khác, những lời họ viết đều dựa trên những lời đã có từ trước. Tất cả những người cung ứng lời Đức Chúa Trời sau Môi-se đều phát ngôn dựa trên lời thần thượng có trước họ. Lời Đức Chúa Trời là một thực thể trọn vẹn, và không người viết nào có thể theo con đường riêng của mình. Những người đến sau đều luôn luôn phát ngôn dựa trên nền tảng lời của những người đi trước.

Khi đến với Tân Ước, khải thị mới mẻ duy nhất mà chúng ta tìm thấy là huyền nhiệm về Thân Thể Đấng Christ. Ê-phê-sô cho chúng ta biết rằng Thân Thể bao gồm những người Do-thái và người Ngoại-bang. Ngoại trừ điều này, không có gì mới mẻ cả; mọi sự đều căn cứ trên những sự dạy dỗ Cựu Ước, và mọi sự trong Tân Ước đều có thể được tìm thấy trong Cựu Ước. Cựu Ước hàm chứa hầu hết tất cả những khải thị có tính giáo lý. Thậm chí trời mới và đất mới cũng được tìm thấy trong Cựu Ước. Có một bản dịch Kinh Thánh viết hoa tất cả những câu trong Tân Ước được trích dẫn từ Cựu Ước. Nếu đọc qua bản dịch ấy, người ta có thể nhận thấy rằng nhiều điều trong Tân Ước thật ra đã được nói trước trong Cựu Ước rồi. Vài phân đoạn trong Tân Ước là những đoạn trích dẫn rõ ràng, trực tiếp từ Cựu Ước. Những phân đoạn khác không phải là những đoạn trích dẫn trực tiếp, nhưng những người viết rõ ràng nhắc đến các phân đoạn trong Cựu Ước. Điều này cũng giống như sự rao giảng của chúng ta; đôi khi chúng ta trích dẫn Kinh Thánh bằng cách chỉ nêu lên “địa chỉ” của phần ấy trong Kinh Thánh. Những lúc khác, chúng ta lặp lại trọn câu Kinh Thánh, và những người quen thuộc với Kinh Thánh sẽ biết địa chỉ của câu ấy. Tân Ước có trên một ngàn năm trăm lần nhắc đến Cựu Ước. Chúng ta phải ghi nhớ rằng chức vụ cung ứng lời trong Tân Ước căn cứ trên sự phát ngôn thần thượng trong Cựu Ước. Tuyệt nhiên không có sự phát ngôn độc lập.

Ngày nay nếu một người đứng lên tuyên bố rằng mình đã nhận được một khải thị độc lập, lập tức chúng ta có thể kết án khải thị ấy là không đáng tin cậy. Ngày nay không ai có thể nhận được lời Đức Chúa Trời ở ngoài Kinh Thánh. Thậm chí Tân Ước cũng không thể tự hiện hữu một cách độc lập. Lời của Phao-lô không thể tự mình hiện hữu cách độc lập. Một người không thể cắt bỏ Cựu Ước mà chỉ giữ lại Tân Ước. Cũng vậy, không ai có thể cắt bỏ bốn sách Phúc-âm và chỉ giữ lại các Thư-tín của Phao-lô. Chúng ta phải nhận thức rằng tất cả những lời về sau đều dựa vào những lời có trước; chúng là ánh sáng có được từ những lời có trước chứ không phải là những lời độc lập, riêng rẽ. Những lời độc lập, riêng rẽ chỉ có thể là những lời thuộc tà giáo; chúng không thể là lời Đức Chúa Trời. Chúng ta phải hiểu chức vụ cung ứng lời là gì. Tất cả chức vụ cung ứng lời trong Kinh Thánh đều liên hệ với nhau. Không ai có thể nhận được một khải thị hoàn toàn độc lập và không liên quan gì đến các khải thị khác. Không khải thị nào có thể hoàn toàn biệt lập với những khải thị khác hay không được trích dẫn từ những khải thị khác. Hai mươi bảy sách trong Tân Ước đều dựa vào Cựu Ước. Những người cung ứng lời về sau luôn luôn tiếp nhận nguồn cung ứng từ những người cung ứng lời đi trước.

HAI

Chúng ta phải kết án tất cả những khải thị độc lập và chức vụ độc lập. 2 Phi-e-rơ 1:20 chép: “Chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh lấy ý riêng mà giải nghĩa được”. Chữ riêng cũng có thể được dịch là riêng tư. Nó bổ nghĩa cho chữ giải nghĩa. Điều này có nghĩa là lời tiên tri của Đức Chúa Trời không thể được giải nghĩa chỉ theo văn cảnh riêng của nó; một phân đoạn không thể dựa vào chính nó để giải nghĩa. Ví dụ, Ma-thi-ơ chương 24 không thể được giải nghĩa bởi tham chiếu một mình Ma-thi-ơ chương 24; chúng ta phải xem xét chương ấy trong ánh sáng của các phân đoạn Kinh Thánh khác. Chúng ta không thể giải nghĩa lời tiên tri bởi chính lời tiên tri. Chúng ta không thể giải nghĩa Đa-ni-ên chương 2 bằng cách chỉ tham chiếu Đa-ni-ên chương 2, hay Đa-ni-ên chương 9 bằng cách chỉ tham chiếu Đa-ni-ên chương 9. Nếu chúng ta giải nghĩa một phân đoạn bởi chính phân đoạn ấy thì chúng ta đưa ra một “lời giải nghĩa riêng”. Chúng ta phải ghi nhớ rằng lời Đức Chúa Trời là một tổng thể trọn vẹn. Để nói ra lời Đức Chúa Trời, trước hết chúng ta phải nhận thức rằng đó là một tổng thể trọn vẹn. Không phân đoạn Kinh Thánh nào có thể được giải nghĩa một cách riêng rẽ, tức không thể được giải nghĩa chỉ theo chính một mình phân đoạn ấy. Phân đoạn ấy phải được giải nghĩa bằng cách phối hợp với nhiều phân đoạn khác. Ngày nay chúng ta có Kinh Thánh ở trước mặt mình; chúng ta không thể truyền đạt điều gì được gọi là “lời độc lập của Đức Chúa Trời”, tức lời không liên quan gì đến lời đã được Đức Chúa Trời thiết lập. Nếu lời chúng ta giảng không xứng hợp với Lời đã được Đức Chúa Trời thiết lập, thì điều chúng ta rao giảng là tà thuyết và là sự lừa gạt của ma quỉ.

Những người cung ứng lời đầu tiên phát ngôn cho Đức Chúa Trời một cách độc lập. Họ phát ngôn một cách độc lập vì không có người cung ứng lời nào trước họ. Nhưng nhóm thứ hai phải xây dựng lời của mình trên lời của nhóm thứ nhất. Lời của nhóm thứ hai chỉ nên là sự lặp lại hay sự phát huy lời của nhóm thứ nhất. Khi nhóm thứ ba xuất hiện, nhóm ấy cần phải xây dựng lời của họ trên nhóm thứ nhất và thứ hai; nhóm ấy cũng không thể phát ngôn một cách độc lập. Ánh sáng Đức Chúa Trời ban cho chỉ có thể là một sự áp dụng sâu xa hơn những gì đã được ban cho nhóm thứ nhất và thứ hai. Đức Chúa Trời có thể ban cho khải tượng và khải thị mới, nhưng các khải tượng và khải thị ấy dựa trên những lời Ngài đã phát ngôn rồi. Ở đây là chỗ cần đến mỹ đức của người Bê-rê. Họ kê cứu Kinh Thánh để xem những gì họ nghe có thật là vậy không (Công. 17:10-11). Lời Đức Chúa Trời không thay đổi mỗi ngày, mà là một tổng thể trọn vẹn, luôn luôn không thay đổi từ đầu đến cuối. Lời ấy tự xây dựng trên chính nó từng chút một. Đức Chúa Trời đang xây dựng một điều gì đó mà chính Ngài đang theo đuổi. Những người trong Cựu Ước và Tân Ước nhận thêm ánh sáng thì đã không tiếp nhận được khải thị độc lập nào; những khải thị của họ đều dựa trên khải thị đầu tiên trong Cựu Ước. Khải thị đầu tiên cứ tiếp tục [duy trì]. Từ một khải thị ánh sáng đã gia tăng thêm; cái nhìn của con người càng ngày càng được mở ra, cho đến khi chúng ta có cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Một người trở nên người cung ứng lời Đức Chúa Trời trong Tân Ước nhờ nhận được những khải tượng của lời Đức Chúa Trời trong Cựu Ước. Ngày nay, bất cứ người nào muốn làm người cung ứng lời phải suy xét lời Đức Chúa Trời theo quan điểm của Cựu Ước và Tân Ước; người ấy không thể có lời Đức Chúa Trời biệt lập với Cựu Ước và Tân Ước. Đó là một nguyên tắc rất quan trọng. Một người cung ứng lời ngày nay không độc lập, cũng như những người cung ứng lời trước kia không độc lập. Tất cả những người cung ứng lời đều tùy thuộc vào lời được Đức Chúa Trời phán trước kia. Tách rời khỏi Kinh Thánh, không ai có thể nhận được khải thị nào cả. Người nào nhận được khải thị tách rời khỏi Kinh Thánh là tiếp nhận tà thuyết, tức điều tuyệt đối không thể chấp nhận được.

Giữa vòng con cái Đức Chúa Trời có một sự hiểu lầm lớn về Cựu Ước và Tân Ước. Có người nghĩ rằng hai giao ước ấy mâu thuẫn với nhau. Họ nghĩ luật pháp và ân điển mâu thuẫn với nhau. Nhưng khi đọc Kinh Thánh, chúng ta có thể thấy Cựu Ước mâu thuẫn với Tân Ước hay luật pháp mâu thuẫn với ân điển không? Nếu đọc các Thư-tín gửi cho người La Mã và người Ga-la-ti, chúng ta sẽ nhận thấy không có gì mâu thuẫn cả. Thật ra, Ga-la-ti cho chúng ta thấy hai giao ước bổ sung cho nhau. Nhiều người có ý niệm sai trật là luật pháp và ân điển mâu thuẫn với nhau, vì họ để ý thấy rằng Đức Chúa Trời đối xử với người thời Cựu Ước theo cách này, trong khi đối xử với người thời Tân Ước theo cách kia. Họ nghĩ Cựu Ước và Tân Ước mâu thuẫn với nhau vì dưới luật pháp và ân điển, Đức Chúa Trời xuất hiện với con người cách khác nhau. Họ không nhận thức rằng Tân Ước là sự tiến triển của Cựu Ước chứ không đối lập với Cựu Ước. Ân điển là sự tiến triển của luật pháp chứ không đối lập với luật pháp. Chúng ta cần phải nhận thức rằng Tân Ước là một sự phát triển tiếp tục và xa hơn của Cựu Ước; cả hai tuyệt nhiên không mâu thuẫn với nhau.

Phao-lô cho biết ân điển không chỉ bắt đầu ở thời đại Tân Ước. Khi đọc Ga-la-ti, chúng ta nhận thấy rằng “lời hứa” được ban cho khi Đức Chúa Trời kêu gọi Áp-ra-ham. Nói cách khác, Đức Chúa Trời rao giảng phúc-âm cho Áp-ra-ham và bảo ông trông đợi Đấng Christ mà qua Ngài ơn phước sẽ đến trên khắp thế giới. Vào thời điểm Đức Chúa Trời ban cho Áp-ra-ham ân điển, thì luật pháp chưa có. Ga-la-ti nói với chúng ta một cách rõ ràng rằng Đức Chúa Trời không ban cho Áp-ra-ham luật pháp mà ban cho một lời hứa, tức là phúc-âm (3:8). Trong Ga-la-ti, Phao-lô nói rằng phúc-âm của chúng ta dựa trên phúc-âm của Áp-ra-ham và ân điển của chúng ta dựa trên ân điển mà Áp-ra-ham nhận được. Lời hứa chúng ta nhận được căn cứ vào lời hứa được ban cho Áp-ra-ham, và Đấng Christ chúng ta nhận được là chính dòng giống của Áp-ra-ham (cc. 9, 14, 16). Phao-lô cho thấy rõ rằng cả Cựu Ước và Tân Ước đều theo cùng một đường hướng.

Thế thì tại sao chúng ta có luật pháp? Trong sách Ga-la-ti, Phao-lô nói rằng luật pháp là một điều “được thêm vào” (3:19). Ban đầu, Đức Chúa Trời ban cho con người ân điển; Ngài ban cho con người phúc-âm. Nhưng vì các tội nhân không biết hay không kết án tội lỗi của mình nên họ không thể nhận được ân điển và phúc-âm. Khi luật pháp đến, tội của con người được phơi bày và kết án. Nhưng sách Ga-la-ti cho chúng ta biết rằng thậm chí sau khi con người bị kết án, Đức Chúa Trời vẫn ban phúc-âm và lời hứa cho con người. Nói cách khác, không phải Đức Chúa Trời lúc thì ban cho chúng ta ân điển lúc thì ban cho chúng ta luật pháp. Không phải Ngài lúc thì ban cho chúng ta lời hứa lúc thì đòi hỏi chúng ta việc làm. Từ đầu đến cuối, công tác của Đức Chúa Trời không thay đổi. Sách Ga-la-ti cho thấy ân điển chúng ta nhận được không phải là không có từ trước; đó là cùng một ân điển Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham. Vì chúng ta đã trở nên dòng dõi của Áp-ra-ham, chúng ta có thể thừa hưởng ân điển ấy và vui hưởng lời hứa của Đức Chúa Trời. Do đó, ngày nay, lời hứa ban đầu, luật pháp xen vào và sự hoàn thành phúc-âm của Đấng Christ đều theo cùng một đường hướng. Lời Đức Chúa Trời là một tổng thể trọn vẹn; không có hai đường hướng. Lời ấy tiệm tiến chứ không mâu thuẫn.

Trước hết, Đức Chúa Trời ban cho Áp-ra-ham lời hứa. Sau đó, Ngài ban cho dân Y-sơ-ra-ên luật pháp. Hai điều này có mâu thuẫn nhau không? Không. Chúng không mâu thuẫn với nhau. Ngược lại, điều đó cho thấy một sự tiến triển. Ngày nay, một lần nữa, chúng ta nhận thấy Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta theo ân điển. Như vậy có phải lại mâu thuẫn nữa không? Không. Đó là một sự tiến triển. Theo thời gian, cách Đức Chúa Trời đối xử với con người càng rõ ràng hơn. Lời hứa của Đức Chúa Trời cho Áp-ra-ham không thể bị hủy bỏ bởi luật pháp là điều bốn trăm ba mươi năm sau mới có (Ga. 3:17). Bốn trăm ba mươi năm sau khi Ngài ban lời hứa cho Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời ban luật pháp cho con người, không phải nhằm mục đích hủy bỏ lời hứa mà để làm trọn lời hứa, vì có ý thức được tội lỗi của mình thì con người mới nhận được lời hứa. Nhờ nhốt mọi sự ở dưới tội mà Đức Chúa Trời có thể ban cho con người ân điển, là điều Ngài ban phát qua Con Ngài (cc. 21-22). Cựu Ước thì tiệm tiến. Tân Ước tiếp theo Cựu Ước, và cũng tiến triển. Tân Ước không mâu thuẫn với Cựu Ước. Lời Đức Chúa Trời vẫn là một tổng thể trọn vẹn. Những chức vụ cung ứng lời tiếp theo mở rộng và phát triển những khải thị và lời dạy dỗ trước kia của Đức Chúa Trời; chúng không độc lập cũng không mâu thuẫn.

Ngày nay, một người cung ứng lời phải biết những gì Đức Chúa Trời đã phán trong Cựu Ước và Tân Ước. Rõ ràng là những người cung ứng lời đã viết Tân Ước thì quen thuộc với Cựu Ước. Rõ ràng là những người cung ứng [lời] ngày nay cũng phải rất quen thuộc với Cựu Ước và Tân Ước. Chúng ta phải quen thuộc với lời của những người cung ứng đi trước chúng ta. Chỉ khi ấy, lời của chúng ta mới có thể xứng hợp với lời của Cựu Ước và Tân Ước; chỉ khi ấy lời của chúng ta mới không phải là những lời độc lập. Chức vụ cung ứng lời ngày nay không phải là vấn đề nhận được một số lời độc lập từ Đức Chúa Trời và nói những lời ấy cho con người. Ngày nay, chức vụ cung ứng lời bao hàm sự hiểu biết về những gì Đức Chúa Trời đã phán trong Cựu Ước và Tân Ước, được nâng cao bởi ánh sáng và khải thị được đổi mới. Khi chúng ta nói một lời như vậy với người khác, đó là Đức Chúa Trời phán lời ấy. Những người cung ứng lời trong Tân Ước phát ngôn dựa trên nền tảng Cựu Ước. Ngày nay, khi đứng lên nói, chúng ta phải ghi nhớ rằng mình đã có nhiều lời trong Cựu Ước và nhiều lời trong Tân Ước rồi. Khi nhóm người đầu tiên đứng lên nói lời Đức Chúa Trời, họ không có lời nào đã được Đức Chúa Trời phán làm nền tảng cho mình. Khi nhóm người cung ứng thứ hai được dấy lên, cùng lắm họ chỉ có thể trích dẫn Kinh Thánh bằng những gì nhóm thứ nhất đã truyền đạt. Khi nhóm thứ ba, thứ tư và những nhóm tiếp theo được dấy lên, họ có thể trích dẫn thêm, và có một nền tảng rộng lớn hơn để xây dựng trên đó vì lời Đức Chúa Trời đã được truyền đạt nhiều hơn. Ngày nay chúng ta đã tiến triển xa hơn và đã đạt đến mức độ phong phú hơn nhiều. Tất cả những lời của Cựu Ước đã được truyền đạt, và tất cả những lời của Tân Ước cũng đã được truyền đạt. Chúng ta có thể tìm thấy tất cả những lời Đức Chúa Trời đã phán trong Cựu Ước và Tân Ước. Đồng thời, tất cả những lời ấy ở đây để xét đoán chúng ta. Nếu chúng ta lệch lạc thì những lời ấy cho biết chúng ta đã nói ra từ chính mình chứ không phải bởi Linh. Nếu lời của chúng ta không xứng hợp với lời của Cựu Ước và Tân Ước, thì chúng ta có thể biết chắc chắn rằng mình đang lệch lạc. Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời. Vì thế, nếu chúng ta không biết Cựu Ước và Tân Ước thì chúng ta không thể làm một người cung ứng lời. Người nào mong muốn làm một người cung ứng lời Đức Chúa Trời thì ít nhất phải có một sự hiểu biết thực tiễn về Kinh Thánh; người ấy cần phải rất quen thuộc với Kinh Thánh đến nỗi có thể tùy nghi áp dụng Kinh Thánh. Nếu không quen thuộc với toàn bộ Kinh Thánh thì người ấy không thể tùy nghi áp dụng Kinh Thánh, và không thể làm một người cung ứng lời Đức Chúa Trời. Nếu chưa nhìn thấy ánh sáng mới mẻ nào từ lời đã được viết ra, thì người ấy không có nền tảng cho lời mình nói; người ấy không biết khi nào mình lệch lạc trong lời nói của mình. Đó là lý do tại sao chúng ta phải quen thuộc với Kinh Thánh. Nếu không chúng ta sẽ chạm trán với những trở ngại lớn lao khi cố gắng phục vụ với tư cách là người cung ứng lời của Đức Chúa Trời.

Chúng tôi không nói rằng chỉ kiến thức Kinh Thánh cũng đủ trang bị một người làm người cung ứng lời. Chúng tôi nói rằng một người cung ứng lời phải quen thuộc với Kinh Thánh. Nếu chúng ta chưa từng nghe lời được Đức Chúa Trời phán trước kia, thì bây giờ chúng ta không thể nhận được khải thị nào cả. Khải thị sinh ra khải thị; chúng không độc lập với nhau. Khải thị của Đức Chúa Trời trước hết được chứa đựng trong Lời. Khi Linh Ngài chiếu sáng qua Lời, thì làm nảy sinh thêm khải thị, và [bày tỏ cho chúng ta] thấy thêm ánh sáng. Ánh sáng trở nên rực rỡ hơn. Đó là cách khải thị đến với chúng ta. Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta khải thị từ chỗ không không. Ngài không làm như vậy. Ngài luôn luôn ban ánh sáng ra từ lời hiện có, rồi phát huy ánh sáng ấy ra. Từng hồi từng lúc, khi ánh sáng ấy được bày tỏ, thì ngày càng trở nên sáng tỏ hơn. Đó là cách khải thị của Đức Chúa Trời hành động. Nếu trước kia chúng ta không có những khải thị từ Đức Chúa Trời, ánh sáng của Ngài sẽ không có phương tiện để chiếu sáng chúng ta. Ngày nay Đức Chúa Trời không ban khải thị cho con người theo cách Ngài ban khải thị cho những người đầu tiên. Đó là một nguyên tắc chủ đạo căn bản. Lần đầu tiên khi Đức Chúa Trời mặc khải chính Ngài cho con người, Ngài phán mà không cần đến những lời trước đây làm nền tảng. Nhưng ngày nay, tất cả những lời và khải thị tiệm tiến của Đức Chúa Trời đều dựa vào những lời đã được Ngài phán và những khải thị đã được Ngài mặc khải. Ngài thêm vào bằng cách xây dựng trên nền tảng ấy. Bất cứ người nào không quen thuộc với lời đã được Đức Chúa Trời phán thì không đủ tư cách làm người cung ứng lời của Ngài. Nếu không có một nền tảng như vậy thì Đức Chúa Trời không thể ban cho chúng ta ánh sáng nào cả.

BA

Thi-thiên 68:18 nói về việc Chúa Giê-su ban phát các ân tứ khi Ngài thăng thiên. Đó là nền tảng Cựu Ước để Phao-lô khai triển chương một và chương bốn trong sách Ê-phê-sô. Ê-phê-sô chương 1 nói với chúng ta rằng Chúa Giê-su thăng thiên lên nơi cao và ngồi bên tay hữu của Đức Chúa Cha (c. 20). Sau đó, chương bốn cho chúng ta biết rằng trong sự thăng thiên của Ngài, Chúa Giê-su dẫn theo những tù nhân là những người đã bị kẻ thù của Ngài cầm tù và ban ân tứ cho loài người (c. 8). Nếu nhìn lại một ít, chúng ta sẽ nhận thấy đó chính là những gì Phi-e-rơ nói vào ngày lễ Ngũ-tuần. Ông nói: “Vậy, vì Ngài đã được tôn cao lên bên hữu Đức Chúa Trời, và đã nhận lãnh Thánh Linh mà Cha đã hứa, nên Ngài đã đổ Thánh Linh ra như các ông đương thấy và nghe” (Công. 2:33). Cả lời của Phi-e-rơ về sự tuôn đổ [Thánh Linh] vào ngày lễ Ngũ-tuần lẫn lời của Phao-lô trong Ê-phê-sô về sự thăng thiên cùng sự ban cho các ân tứ để xây dựng hội-thánh đều đặt nền tảng trên sự hiểu biết về ánh sáng được mặc khải trong Thi-thiên 68. Đức Chúa Trời không ban cho Phao-lô ánh sáng trực tiếp. Ngài đặt ánh sáng ấy ở trong Thi-thiên 68 rồi mặc khải điều ấy cho Phao-lô. Người nào muốn nhận được ánh sáng thì người ấy phải biết đến Thi-thiên 68. Chúng ta cần phải ghi nhớ rằng Đức Chúa Trời giấu kín ánh sáng ấy ở trong Thi-thiên 68. Rồi một ngày kia, Ngài mở phân đoạn ấy ra và mặc khải ánh sáng đó cho con người. Người ta được sáng tỏ về lẽ thật ấy. Phi-e-rơ và Phao-lô là những người có khải thị, nhưng họ không nhận được khải thị một cách độc lập.

Sách Hê-bơ-rơ bày tỏ ý nghĩa của nhiều sinh tế một cách rõ ràng. Sách này cho chúng ta thấy Chúa Giê-su là sinh tế độc nhất. Nếu không hiểu những sinh tế Cựu Ước, chúng ta sẽ không hiểu thế nào Chúa Giê-su dâng chính mình làm một sinh tế. Ánh sáng của Đức Chúa Trời chứa đựng trong những sinh tế Cựu Ước. Tác giả sách Hê-bơ-rơ hiểu những khải thị Cựu Ước. Nếu không thì ông đã không thể viết sách Hê-bơ-rơ. Ánh sáng của Đức Chúa Trời chứa đựng trong Cựu Ước. Nói cách khác, ánh sáng của Đức Chúa Trời chứa đựng trong Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Giô-sép, Môi-se, Giô-suê, Sa-mu-ên, Đa-vít và Sa-lô-môn. Nếu không nhìn thấy những người ấy thì chúng ta sẽ không nhìn thấy ánh sáng. Nói như vậy cũng như nói ánh sáng ở nơi cây nến. Nếu không có cây nến thì chúng ta không có ánh sáng. Ánh sáng được biểu lộ qua đèn và chân đèn. Nếu không có đèn và chân đèn thì không có ánh sáng. Chúng ta phải nhận thức rằng những lời của Cựu Ước và Tân Ước đều chứa ánh sáng của Đức Chúa Trời. Nếu không hiểu những lời ấy thì chúng ta không thể đáp ứng nhu cầu ngày nay. Lời Đức Chúa Trời là một tổng thể trọn vẹn. Lời ấy chính là chỗ chứa đựng ánh sáng của Đức Chúa Trời và từ đó ánh sáng chiếu ra.

Hãy lấy ví dụ trong Ga-la-ti 3:6, câu ấy chép: “Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, thì điều ấy được kể là công chính cho người”. Đó là một lời trích dẫn từ Sáng-thế Ký 15:16, là câu được trích hai lần khác trong Tân Ước — La Mã 4:3 và Gia-cơ 2:23. Câu ấy chỉ được dùng một lần trong Cựu Ước, nhưng lại được trích ba lần trong Tân Ước. Câu này có ba chữ trọng yếu, ấy là tin, được kể và công chính. Lời này ở trong Cựu Ước. Ánh sáng của Đức Chúa Trời được chứa đựng trong lời ấy. Khi viết La Mã chương 4, Phao-lô làm nổi bật chữ được kể. Những người tin được kể là công chính. Trong Ga-la-ti chương 3, Phao-lô lại trích cùng một phân đoạn ấy, nhưng lần này điểm nhấn mạnh không phải ở sự kể mà ở sự tin. Ông nói rằng những người tin đều được xưng công chính. Khi Gia-cơ nói về phân đoạn này, điểm nhấn mạnh của ông không ở sự kể cũng không ở sự tin, mà ở sự công chính. Một người phải công chính. Ánh sáng của Đức Chúa Trời được chiếu ra trong ba phương diện khác nhau, từ ba nguồn khác nhau. Khi đọc La Mã chương 4, anh em khám phá ra ánh sáng của Đức Chúa Trời được giấu kín trong Sáng-thế Ký. Khi đọc Ga-la-ti chương 3, anh em cũng khám phá ra ánh sáng của Đức Chúa Trời được giấu kín trong Sáng-thế Ký. Khi đọc Gia-cơ chương 2, anh em có thể tìm thấy cùng một điều — ánh sáng của Đức Chúa Trời được giấu kín trong Sáng-thế Ký. Nếu Phao-lô chưa từng đọc Sáng-thế Ký chương 15, hay nếu ông đã đọc mà quên mất đoạn ấy, hay đọc đoạn ấy mà không nhận được khải thị từ đó, thì lời này không bao giờ được viết ra.

Một người bất cẩn, hời hợt và không nghiêm túc đối với lời Đức Chúa Trời không thể làm một người cung ứng lời. Một người cung ứng lời phải tìm tòi nghiên cứu tất cả những sự kiện trong Kinh Thánh. Thậm chí người ấy cần phải khám phá ra tất cả những điểm tinh tế trong lời Đức Chúa Trời. Trước hết người ấy phải đi sâu vào những sự kiện của Đức Chúa Trời rồi mới có thể nhận được ánh sáng của Ngài. Nếu không có ánh sáng của Đức Chúa Trời thì một người không thể nhìn thấy gì cả. Nhưng nếu không có những sự kiện được bày tỏ trong Kinh Thánh thì người ta không có phương tiện để có thể nhận được ánh sáng. Nếu không có đèn thì không thể có ánh sáng. Tuy nhiên, nếu một người có đèn nhưng không thắp lên thì cũng không có ánh sáng. Ánh sáng phải chiếu ra qua đèn. Nếu không có đèn thì không có ánh sáng. Chúng ta cần đến với Lời đã được Đức Chúa Trời vững lập rồi mới có thể nói ra lời Ngài.

Ha-ba-cúc 2:4 chép: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin mình”. Câu này cũng được trích ba lần trong Tân Ước — trong La Mã 1:17, Ga-la-ti 3:11 và Hê-bơ-rơ 10:38. Câu này cũng có ba chữ quan trọng, ấy là công chính, đức tin và sống. La Mã chương 1 chú trọng đến “công chính”; ấy là người công chính sống bởi đức tin. Ga-la-ti chương 3 chú trọng đến “đức tin”; một người sống bởi đức tin. Hê-bơ-rơ chương 10 chú trọng đến “sống”; người công chính sẽ sống bởi đức tin. Ánh sáng của Đức Chúa Trời được hàm chứa trong Cựu Ước. Nhưng trong Tân Ước, ánh sáng ấy được chiếu ra qua cùng một câu, ở chỗ này, chỗ nọ và chỗ kia. Vậy, khải thị là sự chiếu ra ánh sáng dựa trên lời đã được Đức Chúa Trời phán. Ánh sáng ấy không độc lập, mà có một nền tảng.

BỐN

Tôi xin nhắc lại: ngoại trừ huyền nhiệm về Thân Thể Đấng Christ bao gồm những người Do-thái và người Ngoại-bang như được miêu tả trong sách Ê-phê-sô, Tân Ước không chứa đựng điều gì mới mẻ cả. Mọi sự trong Tân Ước đều là sự phát triển sâu xa hơn của Cựu Ước. Nguyên tắc cơ bản cần ghi nhớ là ánh sáng của Đức Chúa Trời được chứa đựng trong Lời Ngài. Để học tập hầu việc Chúa và làm một người cung ứng lời Ngài, chúng ta phải học tập để biết lời Ngài. Không phải người nào quen thuộc với Kinh Thánh cũng có thể phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời, nhưng những người không quen thuộc với Kinh Thánh có ít cơ hội trở thành một người cung ứng lời hơn. Chúng ta không thể lười biếng trong [việc theo đuổi] sự hiểu biết Kinh Thánh. Để hiểu biết Kinh Thánh thì cần đến sự quen thuộc thuộc linh. Chỉ học thuộc lòng và đọc suốt qua Kinh Thánh cũng chưa đủ. Chúng ta phải đọc Kinh Thánh trước mặt Chúa. Chúng ta cần ánh sáng, và Kinh Thánh phải trở nên một quyển sách soi sáng cho chúng ta. Chúng ta phải nghiên cứu những lời chứa đựng trong quyển sách này trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và phải để những lời đã được phán ra trước kia phán với chúng ta một lần nữa. Nếu một người chưa từng chạm đến lời Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh, người ấy không bao giờ có thể chạm đến ánh sáng của Đức Chúa Trời. Lời trong thời hiện tại được chứa đựng trong những lời Tân Ước, cũng như những lời Tân Ước được chứa đựng trong những lời Cựu Ước. Chúng ta phải nhận thức rằng Phao-lô và các sứ đồ khác có được lời để rao giảng từ Môi-se và các tiên tri thể nào, thì chúng ta cũng có được lời để chia sẻ từ Phao-lô và các vị sứ đồ thể ấy. Chúng ta phải học tập nhận được thêm lời nhờ tiếp nhận lời của các sứ đồ.

Tất cả những khải thị chúng ta có ngày nay đều trình bày thêm ánh sáng về những lời đã được phán trước kia. Lần đầu tiên Đức Chúa Trời phán, Ngài trực tiếp phán với con người. Từ đó, chúng ta nhận được thêm lời qua những lời hiện có; những lời của chúng ta được xây dựng trên những lời hiện có. Nguyên tắc cơ bản ngày nay là tiếp nhận lời qua Lời, và xây dựng lời trên những lời của Kinh Thánh. Chúng ta không nhận được lời Đức Chúa Trời một cách độc lập. Nếu không nhận được lời của mình từ những lời hiện có, chúng ta không đủ tư cách làm một người cung ứng lời. Chúng ta cần phải đến với Lời Đức Chúa Trời theo khuôn mẫu của những vị sứ đồ chứ không theo lề thói của những nhà thông giáo và người Pha-ri-si. Tất cả chúng ta cần phải tìm kiếm ánh sáng từ Lời và sinh ra thêm những lời từ Lời. Hạt lúa mì đầu tiên đã được Đức Chúa Trời tạo ra, nhưng tất cả những hạt lúa theo sau đều được sản sinh. Một hạt lúa sinh ra nhiều hạt lúa. Từ một hạt lúa, nhiều hạt lúa được sinh ra, và nhiều hạt lúa mang lại thêm nhiều hạt lúa hơn nữa. Hạt lúa đầu tiên là từ Đức Chúa Trời, đã được Ngài tạo ra. Không hạt lúa nào có trước hạt lúa đầu tiên cả, nó chưa từng có trước đó. Lời Đức Chúa Trời cũng hành động theo nguyên tắc ấy. Lời đầu tiên được Đức Chúa Trời tạo ra; lời này chưa từng được biết đến trước đó. Từ lời ấy đã phát sinh thêm nhiều tiến triển và có thêm nhiều lời được nói ra. Lời đầu tiên Đức Chúa Trời phán thì chưa từng có trước đó. Ngày nay, lời ấy trong chúng ta đã sinh ra thêm nhiều lời nữa. Một khi chúng ta có lời vững lập ở trong mình thì sẽ có thêm nhiều lời được sinh ra. Mỗi thế hệ đều thấy lời sáng tỏ hơn và dồi dào hơn. Ngày nay, chúng ta không thể trông đợi Đức Chúa Trời tạo ra một hạt lúa từ chỗ không không rồi gieo hạt lúa ấy xuống. Cũng vậy, chúng ta không thể trông đợi Đức Chúa Trời tạo ra một lời từ chỗ không không. Chúng ta chỉ có thể nhận được những lời dựa trên những lời đã được Đức Chúa Trời vững lập; chúng ta chỉ có thể nhận được ánh sáng dựa trên ánh sáng hiện có và khải thị dựa trên khải thị hiện có. Đó là đường lối của những người cung ứng lời ngày nay. Nếu người nào vượt quá giới hạn ấy thì người đó theo tà giáo.

Anh chị em ơi, đừng để người nào tự xưng một cách khinh suất rằng mình là một sứ đồ hay một tiên tri. Nếu trong lời giảng của mình, một người vượt quá giới hạn của Lời đã được Đức Chúa Trời phán và thiết lập thì lời giảng của người ấy là tà giáo và quỉ quyệt. Nếu một người không cẩn thận trong lời giảng của mình, người ấy sẽ gây rắc rối lớn cho bản thân. Ngày nay ánh sáng được chứa đựng trong ánh sáng đã được tiếp nhận trước kia, lời được chứa đựng trong Lời [Chúa], và khải thị được chứa đựng trong những khải thị trước kia. Bất cứ điều gì phát xuất từ Kinh Thánh đều đúng cả; bất cứ điều gì không phát xuất từ Kinh Thánh nhưng phát xuất từ những nguồn khác đều sai trật cả. Tất cả những lời giảng chúng ta có ngày nay đều phát xuất từ những lời trước kia. Hôm nay không phải là ngày sáng tạo. Nguyên tắc của ngày nay là nguyên tắc sản sinh. Khải thị sinh ra khải thị, ánh sáng sinh ra ánh sáng, và lời sinh ra lời. Ngày nay, chúng ta phải học tập phát ngôn từng bước một. Cuối cùng, chúng ta hi vọng mình sẽ có chức vụ cung ứng lời.