Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 4

Untitled Document

CHƯƠNG BỐN

ĐỈNH CAO CỦA CHỨC VỤ CUNG ỨNG LỜI

MỘT

Ngoại trừ Chúa Giê-su, tức chính Lời của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, có hai loại người cung ứng trong chức vụ cung ứng lời. Trong Cựu Ước có một loại, và trong Tân Ước có một loại khác. Theo nguyên tắc, những người cung ứng trong Cựu Ước có tính chất hoàn toàn khách quan; họ không có kinh nghiệm chủ quan nào của mình. Mặc dầu Giê-rê-mi, Ê-sai và nhiều tiên tri khác trong Cựu Ước có nhiều kinh nghiệm chủ quan, những kinh nghiệm ấy chỉ liên quan đến từng trải cá nhân của họ, chứ không phải là những kinh nghiệm theo nguyên tắc những người cung ứng lời. Theo qui luật, Đức Chúa Trời chỉ cần đặt lời Ngài trong miệng con người, và con người chỉ cần nói ra lời ấy đúng từng chữ. Điều này làm cho một người trở thành phát ngôn viên của Đức Chúa Trời. Con người một mặt tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, mặt khác truyền đạt lời ấy. Theo qui luật này, ngay cả Sau-lơ cũng được xem là một trong những tiên tri (1 Sa. 10:10). Ba-la-am là một tiên tri khác. Lời Đức Chúa Trời và những người nói ra lời Ngài có ít liên hệ với nhau. Con người giống như một cái ống nước; nước chảy vào đầu này và tuôn ra đầu kia. Cái ống vẫn là cái ống, có rất ít liên hệ với chính dòng nước. Với loại phát ngôn ấy, điều duy nhất cần có để bảo tồn sự khải thị của Đức Chúa Trời là con người phải chính xác. Điều này không khó khăn lắm.

Nhưng những người cung ứng [lời] của Tân Ước thì khác. Nếu một người cung ứng [lời] thời Tân Ước tương hợp với mục tiêu của Đức Chúa Trời thì chức vụ của người ấy vinh hiển hơn chức vụ của những người cung ứng [lời] thời Cựu Ước. Tuy nhiên, nếu người ấy không tương hợp với mục tiêu của Đức Chúa Trời thì người ấy còn nguy hiểm hơn những người cung ứng [lời] thời Cựu Ước. Trong Tân Ước, Đức Chúa Trời phó thác lời Ngài cho con người. Ngài đặt lời ấy trước mặt con người và cho phép con người trình bày lời ấy theo những tư tưởng, cảm xúc, sự hiểu biết, trí nhớ và lời nói riêng của người ấy. Nếu con người trình bày lời một cách thuần khiết thì chức vụ ấy vinh hiển biết bao nhiêu lần hơn chức vụ Cựu Ước. Tham dự vào lời Đức Chúa Trời mà không thay đổi hay làm ô uế lời ấy là điều vinh hiển nhất cho con người. Nhưng nếu thậm chí chỉ có một nan đề hay khuyết điểm nhỏ về phía người phát ngôn thì lời Đức Chúa Trời sẽ chịu tổn hại.

Vài người có thể tự hỏi tại sao Đức Chúa Trời sử dụng một phương thức phiền hà như vậy để truyền đạt lời Ngài. Câu hỏi này tương tự như những câu hỏi được những người vô tín nêu lên khi họ thắc mắc tại sao Đức Chúa Trời không cất bỏ cây kiến thức về thiện và ác ngay từ đầu, và tại sao Đức Chúa Trời không tạo ra con người không thể phạm tội. Nếu Đức Chúa Trời làm như vậy thì đã không còn nguy cơ phạm tội, và Đức Chúa Trời đã tự miễn cho mình khỏi vướng phải những nỗi phiền toái của sự cứu chuộc. Lời giải đáp cho những câu hỏi này có thể được áp dụng tương tự cho câu hỏi liên quan đến những người cung ứng lời. Đức Chúa Trời không muốn những tạo vật của Ngài giống như một người máy, tức là một vật gì đó không có sự lựa chọn riêng của nó và chuyển động đây đó chỉ như một cái máy dễ bảo. Đức Chúa Trời tạo ra một cái máy hoàn toàn theo những lời chỉ dẫn của Ngài là điều dễ dàng. Tình trạng ấy sẽ không liên hệ gì đến nỗ lực từ phía con người. Tất nhiên, tình trạng ấy cũng không đem lại vinh quang nào cho Đức Chúa Trời. Loại vâng phục và mỹ đức như vậy không đáng giá bao nhiêu. Loại người đó không bao giờ lầm lỗi hay phạm tội, nhưng cũng không có bất cứ sự thánh khiết riêng nào của mình. Người ấy có thể bị đẩy đi đây đó như một cái máy. Đó không phải là điều Đức Chúa Trời muốn. Ngài mong muốn có một dân có thể phân biệt trái phải, có thể lựa chọn làm điều thiện cũng như điều ác, điều đúng cũng như điều sai. Nếu tạo vật được Đức Chúa Trời dựng nên tự ý chọn thuận phục Đức Chúa Trời, thì sự lựa chọn của người ấy đem lại cho Đức Chúa Trời nhiều vinh hiển hơn so với sự thuận phục của một cái máy. Đức Chúa Trời đã ban cho con người một ý chí tự do để chọn giữa điều thiện và điều ác. Nếu người ấy chọn điều thiện thì Đức Chúa Trời được vinh hiển. Mặc dầu khả năng chọn điều ác là một nguy cơ, nhưng quyết định chọn điều thiện lại là một vinh quang lớn lao. Đó là lý do tại sao Đức Chúa Trời không tạo ra một cái máy dễ bảo. Ngài không tạo ra một cái máy chỉ có thể làm điều tốt. Thay vào đó, Ngài tạo ra con người với một ý chí tự do để có thể chọn giữa điều thiện và điều ác. Đức Chúa Trời muốn con người tự ý chọn điều tốt và sự vâng phục. Điều này đem lại vinh quang cho Đức Chúa Trời.

Nguyên tắc ấy cũng có thể được áp dụng cho chức vụ cung ứng lời trong Tân Ước. Có vô số chướng ngại vật ngăn trở Đức Chúa Trời phán lời Ngài qua con người. Tự Đức Chúa Trời phán trực tiếp thì không có gì khó khăn cả. Đức Chúa Trời phán qua các thiên sứ thì cũng không có nhiều nan đề. Thậm chí sử dụng một con lừa còn ít gây nên nan đề hơn so với việc phát ngôn qua con người vì con lừa không phức tạp bằng con người. Con lừa không tạo ra những chướng ngại vật trong tâm trí, sự hiểu biết, trí nhớ, động cơ và tinh thần của nó. Một con lừa không có những nan đề ấy. Nếu lời Đức Chúa Trời được đặt trong miệng của nó thì nó có thể lặp lại lời ấy một cách chính xác. Nhưng đối với Đức Chúa Trời, việc sử dụng một con lừa là một điều gì đó ngoại lệ. Chỉ khi nào vị tiên tri thất bại thì Đức Chúa Trời mới sử dụng con lừa để truyền đạt lời Ngài. Ngài không có ý định muốn con lừa thế cho vị tiên tri; Ngài vẫn muốn con người làm tiên tri của Ngài. Đức Chúa Trời muốn sử dụng con người. Con người được dựng nên đặc biệt là để Đức Chúa Trời sử dụng. Khi Đức Chúa Trời dựng nên thế gian, ý định của Ngài không phải là để có một cái máy thuận phục. Cũng vậy, Đức Chúa Trời không theo đuổi một cái máy có thể rao giảng. Ngài không theo đuổi một điều gì đó không có ý chí. Ngài đang theo đuổi những người sở hữu một ý chí tự do. Dường như Đức Chúa Trời chấp nhận một sự rủi ro nguy hiểm lớn khi Ngài chọn con người làm một người cung ứng lời Ngài. Nhưng Đức Chúa Trời thà làm như vậy còn hơn là không. Đức Chúa Trời phó thác lời Ngài cho con người, một con người phức tạp, đầy dẫy tội lỗi, ô uế và yếu đuối. Cũng có các nan đề thuộc về con người bề ngoài, con người thiên nhiên và con người xác thịt. Tất cả những điều ấy đều là các nhân tố chống lại Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Trời vẫn phó thác lời Ngài cho con người. Ngài muốn có được vinh quang lớn lao nhất nhờ đắc thắng những nỗi khó khăn lớn lao nhất. Nếu Đức Chúa Trời có thể khắc phục những trở ngại lớn lao ấy thì Ngài sẽ có được vinh quang lớn lao nhất.

Đức Chúa Trời mong muốn phán qua con người. Nhưng con người có thể vừa tốt vừa xấu. Con người có thể chuyển đạt lời Đức Chúa Trời một cách thuần khiết, hay có thể làm tổn hại lời Đức Chúa Trời. Vì vậy, đương nhiên, Đức Chúa Trời phải thực hiện một công tác lớn lao và kỹ lưỡng trước khi Ngài có thể phó thác lời Ngài cho con người và trước khi con người có thể chuyển đạt lời Ngài một cách đúng đắn.

HAI

1 Cô-rin-tô chương 7 cho chúng ta thấy rằng Phao-lô được Đức Chúa Trời chọn lựa để làm một người cung ứng lời Ngài. Đức Chúa Trời làm cho ông hoàn hảo đến mức độ chức vụ cung ứng của ông trở nên chính sự diễn đạt các cảm thúc thần thượng. Lời nói của ông rất chính xác đến nỗi không một chữ nào là lạc mục tiêu. Lời của ông không những chứa đựng lời Đức Chúa Trời, mà còn rất chính xác đến nỗi mỗi câu mỗi đoạn đều đụng đến trọng tâm. Làm sao ông có được chức vụ ấy? Ông có được chức vụ ấy bằng cách được Đức Chúa Trời xử lý một cách triệt để. Đức Chúa Trời hành động trên ông đến mức độ những tư tưởng, lời nói, quyết định và ý kiến của ông đều được Đức Chúa Trời chấp thuận; những điều ấy đều đúng đắn và chính xác theo cái nhìn của Ngài. Đối với Phao-lô thì không có sự chính xác của một cái máy mà có sự chính xác của một con người. Với Phao-lô, chúng ta có thể nhận thấy thế nào Đức Chúa Trời đặt lời Ngài trong con người và thế nào Ngài truyền đạt lời ấy qua con người. Ngài không phán lời Ngài qua con người theo cách lặp lại đúng từng chữ. Nếu sự truyền đạt lời Đức Chúa Trời chỉ là vấn đề con người lặp lại những lời nói của Đức Chúa Trời đúng từng chữ thì công việc như vậy thật dễ dàng. Nhưng Đức Chúa Trời không truyền đạt lời Ngài như vậy. Thay vào đó, Ngài đặt lời Ngài trong con người; con người phải tìm kiếm lời ấy bằng tâm trí của mình. Đức Chúa Trời đặt ánh sáng của Ngài trong con người, và con người phải bắt lấy ánh sáng ấy bằng tâm trí mình. Đức Chúa Trời đặt gánh nặng của Ngài trong con người, và con người phải bày tỏ gánh nặng ấy qua lời nói của chính mình. Đó là con người vận dụng sự suy nghĩ của mình; đó là con người tìm kiếm và phát ngôn. Nhưng khi lời được truyền đạt, Đức Chúa Trời công nhận lời ấy là lời của chính Ngài.

Chức vụ cung ứng lời trong Tân Ước không phải là chức vụ mà trong đó Đức Chúa Trời đọc sứ điệp của Ngài từng chữ một rồi con người lặp lại lời ấy từng chữ một. Khi lời Ngài được mặc khải cho con người trong Tân Ước, trước hết ánh sáng của lời ấy chiếu vào trong linh của con người như một ánh sáng lóe lên. Điều ấy tạo ra một gánh nặng đối với lời [Chúa] bên trong linh con người. Ánh sáng ấy có thể mờ đi trong phút chốc, và con người phải bắt lấy tia sáng của nó bằng cách vận dụng tâm trí của chính mình. Người ấy phải “minh định” ánh sáng ấy bằng những tư tưởng riêng của mình, nếu không thì ánh sáng dường như biến đi. Người ấy phải minh định ánh sáng bằng những tư tưởng của mình. Người ấy phải cầu xin Đức Chúa Trời cho lời diễn đạt để có thể nhận được một hai câu làm cho ánh sáng của mình trở nên rõ ràng. Người ấy có thể suy gẫm, và một nhóm chữ có thể đến với mình. Rồi người ấy có thể viết xuống nhóm chữ ấy, hay có thể có một cảm xúc, nhận xét hay ý kiến nào đó liên quan đến một vấn đề nào đó, và người ấy có thể nói ra lời ấy. Trong khi người ấy thuật lại những cảm xúc, nhận xét bề trong và ý kiến của mình, thì gánh nặng ở trong linh người ấy được giải tỏa. Người ấy càng nói, ánh sáng ở bên trong linh người ấy, là điều đã được bắt lấy bằng tâm trí của người ấy, càng được giải tỏa. Đến một thời điểm nào đó thì gánh nặng hoàn toàn được giải tỏa. Người ấy nói ra những lời riêng của mình, bày tỏ những tư tưởng riêng, cảm xúc riêng và ý kiến của mình. Nhưng sau khi người ấy dứt lời, Đức Chúa Trời công nhận những lời ấy là của chính Ngài.

Anh em có nhận thấy giữa điều này và những lời tuyên bố giống như giáo điều ra từ trí tưởng tượng con người khác biệt lớn lao thế nào không? Anh em đang nói, viết và suy xét. Nhưng vì anh em đã được Đức Chúa Trời xử lý một cách rất triệt để, nên lời nói của anh em được Đức Chúa Trời công nhận là lời nói của chính Ngài. Ý nghĩa của chức vụ cung ứng lời là vậy. Điều được giấu kín bên trong anh em chỉ là ánh sáng, là một gánh nặng. Nhưng anh em có những ý kiến, lời đề nghị và cảm xúc của mình. Trong khi anh em ấp ủ những ý kiến, cảm xúc, tư tưởng và nhận xét của mình, Đức Chúa Trời ban cho anh em một vài chữ hay một vài câu để trình bày rõ ràng ấn tượng bên trong của mình. Khi anh em nói ra những lời và những câu ấy, Đức Chúa Trời công nhận đó là lời Ngài. Do đó, một người phải đạt đến đỉnh cao rồi mới có thể được xem là một người cung ứng lời. Nếu có nhược điểm trong tâm trí, tình cảm hay cảm xúc của mình thì người ấy không thể làm một người cung ứng lời. Trừ khi chính con người của người ấy trải qua những sự xử lý của Đức Chúa Trời, ý kiến của người ấy sẽ không đáng tin cậy. Khi ý kiến của người ấy được bày tỏ, Đức Chúa Trời sẽ không công nhận đó là lời của chính Ngài. Nhiều khi anh em có thể nhận biết rằng lời nói của một anh em không đạt đến tiêu chuẩn này ngay khi người ấy mở miệng. Anh em có thể nhận thấy rằng những gì người ấy có chỉ là những lời lẽ riêng của người ấy; chúng không phải là lời Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời đặt lòng tin cậy nhiều nơi những người cung ứng [lời] của Ngài đến nỗi Ngài ban cho họ ánh sáng, gánh nặng hay một ấn tượng và để tùy họ hiểu biết và nhận thức ra được lời diễn đạt và để tùy họ nêu lên những đề nghị và dự định về lời ấy. Mặc dầu những đề nghị và dự định ấy là của chính họ, Đức Chúa Trời đặt lòng tin cậy nơi các hoạt động của họ. Ngài tin cậy những người cung ứng của Ngài. Đức Chúa Trời muốn hành động trong con người đến mức độ con người giống như Ngài trong những ý kiến, tư tưởng, cảm xúc và quan điểm của mình. Nếu ước muốn của chúng ta có thể hiệp một với ước muốn của Đức Chúa Trời và chúng ta có thể yêu thương những gì Đức Chúa Trời yêu thương, không bao giờ lệch lạc trong bất cứ trường hợp nào, thì lời nói của chúng ta sẽ được sự hiện diện của Linh đi cùng. Một mặt, chúng ta nói ra một điều gì đó từ chính mình. Mặt khác, Linh Đức Chúa Trời sẽ mang lời của chúng ta theo. Trong khi chúng ta nói thì Ngài sẽ mang lời của chúng ta tiến lên. Đó là sự rao giảng của các tiên tri thời Tân Ước. Đó là chức vụ cung ứng lời trong Tân Ước.

BA

Một lần nữa, chúng ta hãy xem xét tình trạng của Phao-lô trong 1 Cô-rin-tô chương 7. Câu 6 chép: “Nhưng điều này tôi nói theo cách chuẩn hứa, chớ không theo cách truyền lệnh”. Phao-lô nói rằng mặc dầu ông đồng ý với lời đề nghị, vấn đề không phát xuất từ ông như một lệnh truyền. Ông rất sáng tỏ về mức độ sự hoạt động bên trong ông. Ông đồng ý với vấn đề, nhưng không làm cho điều ấy thành một mạng lịnh. Chúng ta phải để ý đến sự tinh tế và mềm mại trong những ấn tượng bên trong Phao-lô. Ở đây ông vạch ra sự khác biệt rất rõ ràng. Ông không những thấy rõ rằng lời đề nghị có thể chấp nhận được, mà cũng hiểu rõ rằng đó không phải là một mạng lịnh do ông khởi xướng mà là một lời dung nhượng đối với những ý kiến của người khác. Khi đến với câu 40, chúng ta nhận thấy đó là lời của Linh Đức Chúa Trời. Linh của Đức Chúa Trời đồng ý với lời của Phao-lô. Phao-lô cảm thấy một lời đề nghị như vậy có thể chấp nhận được, và sau đó, Linh cũng cảm thấy như vậy. Đức Chúa Trời có liên quan mật thiết với những cảm xúc mềm mại của Phao-lô. Khi đề cập đến vấn đề uy quyền của Đức Chúa Trời, chúng tôi đã chỉ ra tầm quan trọng vô cùng lớn lao của sự kiện Chúa Giê-su phó thác danh Ngài cho chúng ta. Tương tự như vậy, Đức Chúa Trời đã phó thác lời Ngài cho chúng ta. Điều này cũng là một vấn đề vô cùng lớn lao. Giả sử, một người bối rối vì nhiều nan đề và tìm đến chúng ta để được giúp đỡ. Chúng ta có thể bảo một anh em trẻ tuổi rằng: “Hãy đi và nói vài lời với người ấy”. Anh em trẻ tuổi ấy có thể trả lời: “Tôi không biết phải nói gì”. Có lẽ anh em đáp: “Anh có thể nói bất cứ điều gì. Điều gì anh nói cũng được xem là lời của chúng tôi. Anh có thể nói với người ấy bất cứ điều gì mình muốn, và chúng tôi sẽ công nhận lời nói ấy là ý kiến của chúng tôi”. Đó là một mạng lịnh vô cùng nghiêm trọng, nhưng có thể mang lại sự tổn hại lớn lao. Nếu anh ấy có nan đề gì thì chúng ta không thể tin cậy anh ấy như vậy.

Ngày nay, đó là điều xảy ra cho những người cung ứng lời. Đức Chúa Trời không ráp sứ điệp của Ngài lại với nhau từng chữ một, giao cho chúng ta và yêu cầu chúng ta học thuộc sứ điệp ấy. Đối với chúng ta, việc học thuộc một sứ điệp không phải là chuyện khó. Chỉ cần Đức Chúa Trời nói một chữ hay một câu rồi chúng ta lặp lại cùng một chữ hay một câu ấy. Nếu một sứ điệp có sáu trăm chữ thì trách nhiệm của chúng ta sẽ hoàn thành nếu chúng ta có thể đọc thuộc lòng trọn sáu trăm chữ ấy. Nhưng Đức Chúa Trời không muốn chúng ta chuyển đạt sứ điệp của Ngài theo cách như vậy. Ý định của Ngài là đặt lời Ngài vào trong chúng ta, tức là chúng ta tiếp nhận lời ấy là nước sống rồi để lời ấy tuôn ra từ chúng ta. Ngài ban cho chúng ta ánh sáng, gánh nặng và sau đó là một vài lời rõ ràng để nói với người khác. Những người có thể được dùng sẽ trở nên hữu dụng cho Ngài, và những người không thể được dùng sẽ không hữu dụng cho Ngài. Dường như Đức Chúa Trời ở trên trời ủy thác cho chúng ta nói ra cho Ngài ở trên đất, nhưng cũng một Đức Chúa Trời ấy cho phép chúng ta nói bất cứ điều gì mình muốn nói. Tất nhiên, những người biết Đức Chúa Trời không dám nói bất cứ điều gì cách hấp tấp.

Trách nhiệm của một người cung ứng lời không phải là một trách nhiệm nhỏ nhoi. Khi một người đứng lên nói cho Đức Chúa Trời, người ấy phải rút ra từ những cảm xúc, tư tưởng và ý kiến của mình. Người ấy phải có những nhận xét và lời đề nghị đúng đắn. Vì vậy, trách nhiệm của người ấy rất lớn lao. Nếu những cảm xúc của người ấy sai trật thì lời nói của người ấy cũng sẽ sai trật. Nếu những tư tưởng, đề nghị và ý kiến của người ấy sai trật thì lời nói của người ấy cũng sẽ sai trật. Nếu tâm trí, những cảm xúc, ý kiến và nhận xét của người ấy không đáng tin cậy, hay nếu lòng và linh của người ấy không đáng tin cậy, thì lời nói của người ấy cũng không đáng tin cậy. Nếu tình trạng như vậy, thì làm sao người ấy có thể tự xưng mình là người cung ứng lời Đức Chúa Trời được? Sự kiện này trình bày một nan đề căn bản. Một người phải được Đức Chúa Trời xử lý một cách triệt để đến nỗi những cảm xúc của người ấy trở nên tinh tế và mềm mại. Những cảm xúc của người ấy phải đại diện cho những cảm xúc của Đức Chúa Trời. Trong khi những cảm xúc ấy chắc chắn thuộc về người ấy và không liên quan gì đến ảnh hưởng ở bên ngoài, đồng thời chúng liên hệ chặt chẽ với Đức Chúa Trời. Lời của Phao-lô trong 1 Cô-rin-tô chương 7 không phải là một vấn đề nhỏ bé.

Trong 1 Cô-rin-tô 7:7, Phao-lô nói rằng ông ao ước. Ông lại dùng cùng một từ ngữ Hi-lạp ấy trong câu 32. Điều này cho chúng ta thấy tình trạng bên trong của Phao-lô. Bên trong ông có một niềm ao ước về một điều gì đó. Ông ao ước nhìn thấy những người Cô-rin-tô trở nên giống như ông. Khi đến với câu 40, chúng ta nhận thấy rằng đó thật ra là niềm ao ước và ước muốn của Linh Đức Chúa Trời. Niềm ao ước của Phao-lô là niềm ao ước của Đức Chúa Trời. Ước muốn của ông là ước muốn của Đức Chúa Trời. Vì vậy, Phao-lô chắc hẳn phải cẩn thận biết bao khi vận dụng ước muốn của mình. Nếu ông ao ước một cách sai trật thì điều gì sẽ xảy ra? Lời Đức Chúa Trời hẳn đã bị rối rắm. Niềm ao ước của Phao-lô là một cảm giác tinh tế trong linh ông. Nếu ông có những ao ước và ước muốn sai trật thì điều gì sẽ xảy ra? Đức Chúa Trời có trọn quyền điều khiển trên những cảm xúc tinh tế của con người ấy. Đó là lý do tại sao khi ông ao ước một điều gì đó thì thật sự đó là Thánh Linh ao ước.

Đây là một người mà những cảm xúc của người ấy ở dưới bàn tay của Đức Chúa Trời. Chúa có thể tin cậy những cảm xúc của Phao-lô. Anh em ơi, Chúa có thể dùng những cảm xúc của chúng ta không? Ngài có thể tin tưởng chúng ta không? Chúng ta cần được phá vỡ. Không có sự phá vỡ thì Chúa không thể tin tưởng những cảm xúc của chúng ta. Những cảm xúc của Phao-lô hoàn toàn ở dưới bàn tay của Đức Chúa Trời; Đức Chúa Trời có thể tin cậy những cảm xúc của ông. Những cảm xúc ấy đáng tin cậy và chính xác. Trong câu 12, Phao-lô nói: “Đến như những người khác, thì không phải Chúa, nhưng là tôi bảo họ”. Ông không có một ấn tượng rõ ràng là Đức Chúa Trời đang phán. Ông nêu rõ rằng ông đang nói chứ không phải Chúa. Tuy nhiên, cuối cùng, ông nói rằng mình có Linh của Đức Chúa Trời. Phao-lô có thể đạt đến một giai đoạn như vậy, thật là một điều tuyệt diệu!

Trong câu 25, ông chuyển đạt những cảm xúc của mình trước mặt Chúa cách rõ ràng. Ông nói: “Về kẻ đồng trinh tôi chẳng có mạng lịnh của Chúa; nhưng tôi tỏ ý kiến tôi như kẻ đã được Chúa thương xót để làm người đáng tin”. Đây là một người đã bước theo Chúa trong nhiều năm. Nhiều lần Chúa đã bày tỏ sự thương xót cho ông. Sự thương xót làm cho ông trung tín. Ông là một quản gia của Đức Chúa Trời, một người cung ứng [lời] của Đấng Christ, một quản gia về những huyền nhiệm của Đức Chúa Trời. Điều đòi hỏi nơi người quản gia là đức trung tín (4:1-2). Phao-lô trung tín với điều gì? Ông trung tín với chức vụ của mình. Ông là một quản gia về những huyền nhiệm của Đức Chúa Trời, một người cung ứng lời Đấng Christ. Đức Chúa Trời đã phó thác những huyền nhiệm cho ông; Ngài đã đặt lời Ngài trong tay ông. Điều kiện chính yếu của một người cung ứng lời là đức trung tín. Vì Phao-lô đã nhận được sự thương xót từ Chúa để làm một người cung ứng trung tín nên ông có thể nói với người khác những ý kiến của mình. Ông đã không nhận được mạng lịnh nào từ Chúa, nhưng ông bày tỏ sự ao ước của mình. Ông đã nhận được sự thương xót để làm một người cung ứng và để thi hành chức vụ quản gia cho lời Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã không ban cho ông một mạng lịnh, và ông không dám tự mình nói gì cả. Tuy nhiên, dựa trên vô số lần ông đã thi hành chức vụ quản gia về những huyền nhiệm của Đức Chúa Trời, và qua vô số lần ông đã phục vụ với tư cách là phát ngôn viên của lời Đức Chúa Trời, ông có thể cho người khác biết ý kiến của mình về những vấn đề nào đó. Ông đã nhận được sự thương xót từ Đức Chúa Trời, đã liên hệ với những điều thuộc linh, và đã xử lý những vấn đề tương tự nhiều lần trước kia. Ông đã học được một số bài học trước mặt Đức Chúa Trời và đã nhận lấy một điều gì đó từng chút một. Vào thời điểm này, ông không có mạng lịnh nào từ Chúa, nhưng ông nói với người Cô-rin-tô vài lời dựa trên những gì ông đã nhìn thấy và học tập trong suốt nhiều năm. Ông không dám nói lời của mình là mạng lịnh của Chúa. Ông chỉ cho họ biết ý kiến của mình. Nhưng cuối cùng, Đức Chúa Trời công nhận ý kiến ấy. Đức Chúa Trời công nhận ý kiến của Phao-lô là của chính Ngài. Thật là vinh hiển! Chúng ta phải ngợi khen Chúa vì điều này! Đây là một người đã nhận được sự thương xót để trở nên trung tín và ý kiến của người ấy hoàn toàn được Chúa công nhận.

BỐN

Điều này dẫn chúng ta đến một câu hỏi quan trọng cần được chú ý. Công tác của Thánh Linh ở bên trong con người là gì? Chúng ta biết gì về công tác ghi khắc của Ngài trong con người? Chúng ta phải nhận thức rằng Linh của Đức Chúa Trời không những cư ngụ trong con người mà còn đang thực hiện công tác ghi khắc và cấu tạo trong con người. Công tác cấu tạo ấy của Thánh Linh là điều gì đó không bao giờ có thể bôi xóa. Thánh Linh ở trong con người và làm một với con người. Bây giờ Ngài đang ghi khắc điều gì đó vào trong con người. Chúng ta đừng bao giờ xem việc Thánh Linh cư ngụ bên trong như là việc một người khách được tiếp đãi trong nhà của người khác, trú ngụ [tại đó] mười hay hai mươi năm, rồi để lại mọi sự trong tình trạng cũ khi rời khỏi đó. Không. Thánh Linh đang làm một công tác ghi khắc, xây dựng và cấu tạo trong con người. Từng chút một, Thánh Linh cấu tạo đặc tính của Chúa trong con người. Thậm chí căn nhà cũng tiếp nhận những đặc tính của người cư trú trong đó sau một thời gian. Sự ban cho các ân tứ trên một người có thể không tạo ra bất cứ thay đổi nào trong người ấy, nhưng sự cư ngụ của Thánh Linh chắc chắn sẽ biểu hiện những đặc tính thiên thượng khi Linh kết trái trong con người. Chính trái của Linh là những thay đổi được sinh ra trong đặc tính của một người. Đức Chúa Trời cấu tạo lại đặc tính của con người qua công tác của Thánh Linh. Khi Linh hành động trong tâm trí con người, Ngài thay đổi tâm trí ấy. Khi Linh hành động trong những cảm xúc của con người, Ngài thay đổi những cảm xúc ấy. Khi Linh hành động trong những ý kiến và nhận xét của con người, Ngài thay đổi những ý kiến và nhận xét ấy. Thánh Linh hành động và cấu tạo một điều gì đó trong con người. Kết quả của công tác ấy là có sự thay đổi trong đặc tính của con người.

Phao-lô không phục vụ như một người cung ứng lời Đức Chúa Trời chỉ vì ông để Linh có quyền tự do nói qua ông. Thật ra, Linh nhận lấy chính đặc tính của ông. Trái của Linh trong Đấng Tam Nhất Thần Thượng chính là sản phẩm được hình thành trong đặc tính của con người. Linh hành động bên trong con người, hôm nay một ít và ngày mai một ít, mỗi ngày ghi khắc và tỉa sửa thêm, cho đến khi một đặc tính nào đó được hình thành. Đặc tính ấy rõ ràng thuộc về con người, nhưng đồng thời, đó rõ ràng là một công tác của Linh. Đặc tính ấy rõ ràng thuộc về con người, nhưng đồng thời hoàn toàn được sinh ra bởi Thánh Linh; đó là kết quả công tác của Linh trong con người. Khi Linh xây dựng một điều gì đó trong con người thì tạo một sự thay đổi có tính chuyển hóa trong con người từ vinh quang đến vinh quang.

Chúng ta phải nhận thức rằng sự biến đổi là một lẽ thật cơ bản cũng như là một kinh nghiệm cơ bản trong Kinh Thánh. Phi-líp chương 3 nói về một loại kinh nghiệm căn bản, và 2 Cô-rin-tô chương 3 đề cập đến một loại kinh nghiệm căn bản khác. Chúng ta sẵn sàng nhìn nhận rằng xác thịt của chúng ta không bao giờ thay đổi. Nhưng đồng thời, chúng ta tin rằng Chúa sẽ biến đổi chúng ta; Ngài sẽ tạo ra một đặc tính mới trong chúng ta. Linh của Chúa không cư ngụ trong chúng ta như một người cư ngụ trong một căn nhà; Ngài ở trong chúng ta làm sự sống của chúng ta. Thật không tưởng tượng nổi, Chúa có thể cư ngụ trong một người, làm sự sống của người ấy trong mười hay hai mươi năm mà người ấy vẫn không thay đổi. Khi Linh của Chúa cứ ở trong chúng ta và trở nên sự sống của chúng ta, thì tâm trí, những cảm xúc, nhận xét và ý kiến của chúng ta phải thay đổi. Lòng và linh của chúng ta phải thay đổi. Trước kia, trong chúng ta không có gì cả ngoại trừ xác thịt. Bây giờ, thập tự giá đã xử lý xác thịt và đắc thắng nó. Có một sự cấu tạo mới và bông trái mới trong những cảm xúc, tư tưởng và nhận xét của chúng ta, cũng như trong tấm lòng và linh của chúng ta. Thế thì sự cấu tạo bởi Linh là gì? Đó là những gì kết quả từ công tác xây dựng và cấu tạo của Đức Chúa Trời trong con người. Điều này sẽ không bao giờ mất đi. Chúng ta cần phải nhận thức rằng công tác của Chúa ở trong con người luôn luôn vững vàng, chắc chắn và bất biến.

Phao-lô nhận được sự thương xót từ Chúa nhiều lần. Ngài liên tục hành động trong ông cho đến khi ông trở nên một người trung tín. Đức trung tín của ông chỉ về thái độ ông có đối với chức vụ của mình. Ông công nhận là mình không có mạng lịnh của Chúa, nhưng ông cho người Cô-rin-tô biết ý kiến của mình. Ý kiến của ông là kết quả từ sự cấu tạo bởi Thánh Linh. Những lời của Phao-lô không phải là sự cảm thúc tầm thường, mà phát xuất từ sự cấu tạo bề trong bởi Đức Chúa Trời. Cuối cùng, những lời ra từ sự cấu tạo ấy trở thành những lời ra từ sự cảm thúc. Điều này thật kỳ diệu! Khi ở dưới sự cảm thúc của Thánh Linh, một người có ý thức về lời Đức Chúa Trời. Khi một người phát ngôn [trong tình trạng] ở dưới sự cấu tạo bởi Thánh Linh, có thể người ấy không có ý thức rằng Đức Chúa Trời đang phán. Có thể người ấy cảm thấy mình đang nói và bày tỏ ý kiến riêng của mình. Nhưng vì sự cấu tạo bởi Thánh Linh đã được tôi luyện vào trong người ấy nên những lời của người ấy trở nên những lời của Thánh Linh. Đó là lý do tại sao Phao-lô nói: “Tôi nghĩ tôi cũng có Linh của Đức Chúa Trời”. Chúng ta cần sự cấu tạo bởi Thánh Linh. Chúng ta cần công tác ghi khắc của Linh trên chúng ta. Chúng ta cần Ngài hành động trên chúng ta đến mức độ những ý kiến, lời nói, tư tưởng và cảm xúc không còn trái ngược với lời Đức Chúa Trời nữa. Khi đạt đến tình trạng ấy, chúng ta có đủ tư cách làm một người cung ứng lời Đức Chúa Trời.

Đặc tính mà Thánh Linh cấu tạo bên trong con người thì khác nhau trong mỗi người. Sự rao giảng của Phao-lô mang những nét đặc trưng của ông. Sứ điệp của Phi-e-rơ mang hương vị riêng biệt của ông. Về phong cách, các Thư-tín của ông rất khác so với các Thư-tín của Phao-lô. Những bài viết của Giăng cũng khác biệt so với những bài viết của người khác. Mỗi người đều có phong cách riêng của mình. Các phong cách đều có tính cá nhân. Nhưng điều lạ lùng là Linh chấp nhận phong cách của những người đã được Ngài cấu tạo. Nếu tất cả sáu mươi sáu sách trong Kinh Thánh đều có cùng một phong cách, thì Kinh Thánh thật là nhàm chán. Vinh quang của Đức Chúa Trời được biểu hiện qua những phong cách khác nhau của con người. Điều này chỉ có thể xảy ra khi có sự cấu tạo bởi Thánh Linh. Một lời có thể được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, nhưng đó vẫn là lời của Thánh Linh. Khi một người thuận phục sự sửa trị của Thánh Linh, người ấy được tự do bày tỏ những đặc tính của mình. Không có hai điều nào trong cõi sáng tạo của Đức Chúa Trời lại giống nhau y hệt. Mỗi một cọng cỏ đều khác nhau. Mỗi một cái cây đều khác nhau. Không có hai khuôn mặt nào giống nhau. Vinh quang của ngôi sao này khác với vinh quang của ngôi sao kia. Tương tự như vậy, sự cấu tạo bởi Thánh Linh khác nhau trong mỗi người. Phao-lô đầy dẫy tình yêu thương của Linh, và Giăng cũng vậy. Nhưng những người đã được Đức Chúa Trời dạy dỗ đều nhận biết rằng tình yêu thương của Linh được biểu hiện trong Phao-lô khác với tình yêu thương được biểu hiện trong Giăng. Mỗi người đều bày tỏ tình yêu thương của Thánh Linh, nhưng theo một cách khác biệt. Đức Chúa Trời không cần sự đồng nhất. Mỗi người đều có đặc tính riêng của mình, và sự cấu tạo bởi Thánh Linh khác nhau trong mọi người.

Xin anh em đừng hiểu lầm tôi. Tôi không nói tất cả chúng ta đều có thể theo gương mẫu trong 1 Cô-rin-tô chương 7. Trong toàn bộ Kinh Thánh, chỉ có 1 Cô-rin-tô chương 7 trình bày một tấm gương cao quý như vậy. Tuy nhiên, nếu Chúa không hướng dẫn chúng ta nói theo cách như vậy mà chúng ta lại nói như vậy thì thật là một lỗi lầm lớn. 1 Cô-rin-tô chương 7 cho chúng ta thấy Phao-lô là loại người thế nào. Điều này giúp chúng ta hiểu các sách Ê-phê-sô, Cô-lô-se, Rô-ma và Ga-la-ti. 1 Cô-rin-tô chương 7 bày tỏ con người của Phao-lô; chương ấy cho chúng ta thấy con người viết các sách Ê-phê-sô, Ga-la-ti, v.v... Chúng ta đều biết sách Cô-lô-se rất cao diệu, nhưng 1 Cô-rin-tô chương 7 cho chúng ta biết về con người viết sách Cô-lô-se. Sách Rô-ma chứa đựng một bài luận giải rõ ràng về phúc-âm, nhưng 1 Cô-rin-tô chương 7 cho chúng ta biết về con người viết sách Rô-ma. Đó là điều làm cho 1 Cô-rin-tô chương 7 trở nên quí báu.

Trong chương này chúng ta thấy rõ một con người mà những cảm xúc, tư tưởng, ý kiến và lời nói của người ấy đều đáng được Đức Chúa Trời tin cậy. Khi lời Đức Chúa Trời được đặt trong ông, lời ấy trở nên khải thị cao diệu nhất, mà tuyệt nhiên không bị tổn hại. Nếu không có 1 Cô-rin-tô chương 7 thì chúng ta chỉ có thể biết những gì Thánh Linh đã thực hiện qua Phao-lô mà không biết được những gì Thánh Linh đã thực hiện trong Phao-lô. 1 Cô-rin-tô chương 7 cho chúng ta thấy một người mà những cảm xúc, tư tưởng và lời nói của người ấy đều đáng tin cậy. Khi lời Đức Chúa Trời đến trên một người như vậy, thì không có gì cản trở lời, y như không có gì cản trở trong những thời điểm mà lời Đức Chúa Trời không hoạt động trong người ấy. Nếu chúng ta không đáng tin cậy thì chúng ta trở nên chướng ngại vật thậm chí khi chúng ta có lời Đức Chúa Trời. Chúa không thể phó thác khải thị và ánh sáng của Ngài cho một số người vì họ không đáng tin cậy. Ngài không thể thừa nhận họ là những người cung ứng lời vì những tư tưởng, cảm xúc, ý kiến và lời nói của họ không đáng tin cậy.

Anh em ơi, một vài Thư-tín của Phao-lô như Rô-ma, Ga-la-ti và Cô-lô-se cho chúng ta thấy những khải thị cao diệu. Thậm chí Thư gửi cho người Ê-phê-sô bày tỏ cho chúng ta khải thị cao diệu nhất. Nhưng trong hai Thư-tín cho người Cô-rin-tô, chúng ta tìm thấy loại người mà Đức Chúa Trời phó thác cho họ khải thị của Ngài. Phao-lô hội đủ điều kiện nhận được những khải thị ấy vì ông là loại người đó. Nếu chúng ta chỉ có các Thư-tín khác của ông, mà không có 1 Cô-rin-tô chương 7, thì chúng ta sẽ không biết Phao-lô là loại người như thế nào. Ông là một người trung tín và đáng tin cậy. Đó là lý do tại sao khải thị của Đức Chúa Trời tuyệt nhiên không bị hư hoại trong ông. Thật ra, trong sự cấu tạo của ông có quá nhiều vinh quang đến nỗi phong cách của ông được chấp nhận để làm cho lời Đức Chúa Trời được hoàn hảo. Nhân cách và những lối diễn đạt của Phao-lô đều đã đóng góp vào lời Đức Chúa Trời, làm cho lời Đức Chúa Trời vinh hiển và phong phú hơn. Thật vinh hiển biết bao, con người có thể được Đức Chúa Trời sử dụng và các yếu tố con người của người ấy có thể được Ngài sử dụng mà không làm suy yếu tính hoàn hảo của lời Đức Chúa Trời, nhưng thay vào đó lại nâng cao vinh quang, sự phong phú và sự hoàn hảo của lời ấy!

Nguyện Đức Chúa Trời thương xót chúng ta để Ngài có thể sử dụng chúng ta và truyền đạt lời Ngài qua chúng ta. Ngày nay, không nhu cầu nào lớn hơn là nhu cầu về lời [Chúa]. Nguyện tất cả anh em đều nhận thấy rằng có một con đường phải theo để trở nên một người cung ứng lời Đức Chúa Trời. Chúng ta phải khẩn nài Đức Chúa Trời ban cho chúng ta ánh sáng, lời và những sự xử lý ở bên trong ấy. Chúng ta cần những sự xử lý sâu xa và sâu đậm. Chúng ta cần được nhào nặn ở bên trong một cách sâu xa và thấu đáo. Thậm chí những cảm xúc tinh tế nhất của chúng ta cũng phải trung tín đối với Đức Chúa Trời. Khi những cảm xúc ấy được bày tỏ, chúng sẽ được xem chính là những cảm xúc riêng của Chúa. Khi những thiên hướng của chúng ta được bày tỏ, chúng sẽ được xem là kết quả công tác của Thánh Linh. Tình yêu thương và tính kiên nhẫn của riêng chúng ta sẽ tuôn ra, nhưng tình yêu thương và tính kiên nhẫn ấy sẽ là trái của Thánh Linh. Trái ấy là kết quả của công tác thường xuyên, sâu xa và thấu đáo của Thánh Linh trong chúng ta. Qua sự hành động của Ngài ở bên trong mình, chúng ta có thể kết trái ấy. Khi chúng ta được cấu tạo bằng Thánh Linh, trái sẽ tự phát biểu hiện. Anh em ơi, trong khi Thánh Linh thực hiện công tác của Ngài ở trong chúng ta và trong khi chúng ta được Linh cấu tạo, những cảm xúc của chúng ta tự phát trở nên những cảm xúc của Linh, những tư tưởng của chúng ta trở nên những tư tưởng của Ngài, và những ý kiến của chúng ta trở nên những ý kiến của Ngài. Khi đạt đến tình trạng đó thì Đức Chúa Trời sẽ phó thác lời Ngài cho chúng ta và để chúng ta truyền đạt lời ấy cho những người khác. Họ sẽ công nhận đó là lời Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời sẽ nhận được vinh quang lớn lao nhất.

Ngày nay, vấn đề căn bản là Đức Chúa Trời có thể phó thác chính Ngài cho chúng ta hay không. Chúng ta phải nhận thấy rằng nan đề không phải ở nơi lời Ngài mà ở nơi những người cung ứng. Nếu không có những người cung ứng thì không có lời Đức Chúa Trời. Ngày nay, Đức Chúa Trời vẫn đang phán cũng như Ngài đã phán trong những ngày đầu. Ngài không có ý định hủy bỏ chức vụ tiên tri trong hội-thánh. Ngài cũng không có ý định lấy đi chức vụ giảng dạy và chức vụ truyền giảng khỏi hội-thánh. Ngày nay, nan đề lớn nhất là thiếu những người cung ứng lời. Có chức vụ trong hội-thánh hay không và chức vụ ấy có được gia tăng bội phần hay không tùy thuộc nơi chúng ta; trách nhiệm ấy đang ở trên vai chúng ta. Nguyện chúng ta thức tỉnh để thấy sự thật rằng sự nghèo nàn và tối tăm của hội-thánh liên quan đến chúng ta. Nguyện chúng ta nghiêm túc hứa với Chúa rằng: “Thưa Chúa! Con bằng lòng chịu phá vỡ. Xin phá vỡ con để lời Ngài có thể đi qua con”. Nguyện Chúa đầy ân điển đối với chúng ta.