Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 3

Untitled Document

CHƯƠNG BA

CUỘC ĐUA VÀ CHỨC VỤ CỦA PHAO-LÔ

Chúng ta đã bàn về tính chất của lời Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời hàm chứa nhiều yếu tố con người, tuy vậy đó vẫn là lời Đức Chúa Trời. Lời ấy không bị các yếu tố con người làm cho hư hoại. Lời ấy vẫn có tính đời đời, tuyệt hảo, siêu việt, thần thượng, thánh khiết và thuần khiết. Chúng ta cũng đã nhận thấy rằng chức vụ cung ứng lời bao gồm lời đã dầm thấm tính chất con người và được truyền đạt qua những quan năng con người như trí nhớ, sự hiểu biết, tư tưởng, tấm lòng, linh và sự diễn đạt. Đó là lý do tại sao một người cung ứng lời cần phải ở trong tình trạng đúng đắn trước mặt Đức Chúa Trời khi rao giảng là điều rất quan trọng. Nếu tình trạng của người ấy không đúng đắn, lời Đức Chúa Trời sẽ bị hư hoại.

Chúng ta hãy xem xét Phao-lô, là người được Chúa đại dụng trong Tân Ước. Chúng ta sẽ nhìn thấy cách ông phục vụ [Chúa] với tư cách là một người cung ứng lời Đức Chúa Trời.

MỘT

Phao-lô nói: “Ta đã chạy xong cuộc đua” (2 Ti. 4:7). Chữ cuộc đua trong tiếng Hi-lạp chỉ về một cuộc hành trình. Cuộc đua của Phao-lô dựa vào một lộ trình; cuộc đua ấy được đánh dấu từ trước. Đức Chúa Trời ấn định một cuộc đua cụ thể cho mọi người. Cuộc đua này được đánh dấu và tính toán từ trước. Cuộc đua ấy không những được đánh dấu để cho biết chiều hướng mà còn được đánh dấu để cho biết khoảng cách. Phao-lô nhận được sự thương xót từ Đức Chúa Trời và có thể chạy cuộc đua đã được ấn định cho mình. Ông hoàn tất cuộc đua của mình đúng thời điểm. Khi đến lúc rời khỏi thế gian, ông nói: “Ta đã chạy xong cuộc đua”. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời đặt cuộc đua này trước mặt Phao-lô vào ngày ông tin Chúa.

Chúng ta đều biết rằng trước khi một người được cứu thì Đức Chúa Trời đã bắt đầu công tác của Ngài trên người ấy rồi. Phao-lô cũng nói như vậy với người Ga-la-ti: “Nhưng khi Đức Chúa Trời, là Đấng đã biệt riêng tôi từ trong lòng mẹ và lấy ân điển gọi tôi, vui lòng bày tỏ Con của Ngài trong tôi, hầu cho tôi giảng Con ấy giữa người Ngoại-bang, tức thì tôi chẳng bàn với thịt và huyết” (Ga. 1:15-16). Trong phần đầu của phân đoạn này Phao-lô nói: “Đức Chúa Trời, là Đấng đã biệt riêng tôi từ trong lòng mẹ và lấy ân điển gọi tôi”. Điều này cho thấy Phao-lô đã được biệt riêng từ trong lòng mẹ. Rồi ông nói với chúng ta rằng ông trở nên một người cung ứng lời Đức Chúa Trời. Trong khi ông vẫn còn ở trong lòng mẹ, Đức Chúa Trời đã biệt riêng ông, và cuộc đua của ông đã được ấn định. Khi được cứu, ông bắt đầu cuộc đua ấy. Điều này cho thấy rằng sự chuẩn bị và khởi đầu [cuộc đua] của một người cung ứng [lời] được Đức Chúa Trời định đoạt khi người ấy còn ở trong lòng mẹ.

Mọi kinh nghiệm chúng ta có trước khi được cứu đều ở dưới sự sắp đặt tể trị của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những đặc tính riêng biệt, những tính khí, xu hướng và mỹ đức của mình. Đức Chúa Trời chuẩn bị tất cả những điều ấy. Không ai ngẫu nhiên trải qua bất cứ kinh nghiệm nào. Mỗi kinh nghiệm đều là một phần trong sự sắp đặt tể trị của Đức Chúa Trời. Không ai ngẫu nhiên thừa hưởng một đức tính; mọi sự đều ở dưới bàn tay tể trị của Đức Chúa Trời. Từ xa xưa, Ngài đã dự trù những khả năng thiên nhiên và kinh nghiệm của chúng ta rồi, và chuẩn bị chúng ta cho sứ mạng trong tương lai. Phao-lô đã được biệt riêng ra từ trong lòng mẹ. Cuộc đua của ông đã được Đức Chúa Trời định sẵn từ lâu rồi. Thậm chí nghề nghiệp của ông trước khi được cứu cũng đã được Đức Chúa Trời định sẵn.

Phi-e-rơ đang đánh cá khi được kêu gọi. Công tác suốt cả đời ông liên quan đến việc đem người ta đến với Chúa (Mat. 4:18-20). Các chìa khóa vương quốc thiên thượng được giao cho ông; ông là người mở cửa (16:19). Ông mở cửa vào ngày lễ Ngũ tuần, và mở cửa tại nhà của Cọt-nây. Chúng ta cần phải chú ý đến sự kiện một người đánh cá đem người ta vào [vương quốc].

Giăng cũng là một người đánh cá. Nhưng khi được kêu gọi, ông không đánh cá mà đang vá lưới (4:21-22). Trong bốn sách Phúc-âm, Phúc-âm Giăng là sách được viết sau cùng. Trong sách Phúc-âm của mình, Giăng bày tỏ vấn đề sự sống đời đời. Nếu chúng ta chỉ có ba sách Phúc-âm đầu tiên và nếu Giăng chưa từng “vá thêm” những gì thiếu sót trong ba sách kia, thì ngày nay chúng ta chắc không biết sự sống đời đời là gì. Hơn nữa, các Thư-tín của Giăng được viết hàng chục năm sau các Thư-tín của Phi-e-rơ và của Phao-lô. Khi ấy, những kẻ theo Trí huệ giáo đã mang vào các triết lý của họ. Giăng dẫn người ta trở về với vấn đề sự sống đời đời. Ông cho chúng ta thấy tình trạng và biểu hiện của một người được sinh bởi Đức Chúa Trời. Trong những ngày đầu của chiều hướng bội đạo, chúng ta có một người vá lưới bằng sự sống đời đời. Sách Khải-thị của Giăng là sách cuối cùng trong sáu mươi sáu sách của Kinh Thánh. Nếu thiếu quyển sách ấy thì Kinh Thánh không trọn vẹn; nhiều vấn đề sẽ không có một kết luận thích hợp. Giăng đã vá bộ lưới và làm cho quyển Kinh Thánh trọn vẹn với sách Khải-thị. Điều này cho chúng ta thấy chức vụ của Giăng — chức vụ “vá lưới”.

Chúng ta hãy trở lại với Phao-lô. Đức Chúa Trời đã định sẵn một cuộc đua cho ông. Thậm chí nghề nghiệp của ông cũng được Đức Chúa Trời định trước. Ông là một người may lều trại chứ không phải là một thợ dệt. Ông khâu và may trên miếng vải, và tạo nên những chỗ trú ngụ thích hợp cho việc du hành. Chức vụ của ông theo sau công tác của Chúa Giê-su và công tác của Phi-e-rơ. Chức vụ của Phao-lô nằm giữa công tác của Phi-e-rơ và công tác của vương quốc tương lai. Vương quốc chưa đến. Hiện tại, người ta được cứu và xây dựng Hội thánh. Chức vụ của Phao-lô theo nguyên tắc may lều trại; ông xếp đặt vật liệu lại và tạo thành một chỗ có thể trú ngụ được. Công tác của ông không phải là dệt ra vải — một loại nguyên liệu. Công tác của ông liên quan đến những lều trại dùng để làm chỗ trú ngụ. Nghề nghiệp của Phao-lô được Đức Chúa Trời sắp đặt.

Một người cung ứng lời Đức Chúa Trời được biệt riêng từ trong lòng mẹ của mình. Do đó, đừng ai hành động dại dột trước mặt Chúa. Mọi người cần phải hiểu sự sắp đặt có tính tể trị của Đức Chúa Trời trong hoàn cảnh của mình. Bàn tay tể trị của Đức Chúa Trời ở đằng sau mọi sự — hoàn cảnh, gia đình và nghề nghiệp của người ấy. Đức Chúa Trời không có ý định vô hiệu hóa những yếu tố con người này; Ngài không có ý định cất bỏ chúng đi. Đức Chúa Trời không muốn chúng ta hành động một cách thiếu tự nhiên. Ngài hoàn toàn không muốn chúng ta tự phụ hay máy móc. Ngài muốn chúng ta giống như những đứa trẻ đơn giản. Nhưng đồng thời, Ngài muốn phá vỡ con người bề ngoài của chúng ta. Linh Đức Chúa Trời có thể tái tạo tất cả những yếu tố con người của chúng ta. Đồng thời, chính bản ngã của chúng ta (chứ không phải các yếu tố con người), tạo thành “cái vỏ” thiên nhiên của chúng ta, chẳng hạn như sự sống thiên nhiên của chúng ta cùng với sự sống thuộc tình cảm và trí tuệ của chúng ta, phải được Ngài phá vỡ. Đức Chúa Trời phải phá vỡ những điều ấy. Con người bề ngoài phải được phá vỡ và đánh đổ. Nhưng điều này không có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ hoàn toàn gạt sang một bên các yếu tố con người.

Nan đề lớn nhất là chúng ta không biết công tác ấy bắt đầu tại điểm nào và công tác ấy chấm dứt ở đâu. Chúng ta không biết bao nhiêu điều chúng ta có trong mình được phép lưu lại và bao nhiêu điều Đức Chúa Trời ghét và cần được phá vỡ. Ngay khi chúng ta thi hành chức năng trong chức vụ của mình thì người nào được Đức Chúa Trời dạy dỗ đều sẽ có một ấn tượng bên trong đó là một chức vụ thuần khiết hay ô uế. Đây không phải là một con đường đơn giản để theo. Mọi người đều phải thuận phục sự sửa trị của Đức Chúa Trời; mọi người đều phải thuận phục thập tự giá. Thập tự giá đã cất đi mọi sự Đức Chúa Trời kết án và ghét bỏ, và đã phá đổ mọi sự cần được đánh đổ. Một người phải học tập thuận phục; người ấy phải thưa với Chúa rằng: “Con có nhiều nan đề bên trong mình. Con không biết làm thế nào để xử lý tất cả những nan đề ấy. Con cầu xin sự chiếu sáng của Ngài, sự giết chết của ánh sáng Ngài. Xin xử lý con theo ánh sáng của Ngài. Xin xử lý con đến mức độ các yếu tố con người của con không trở nên chướng ngại vật cản trở công tác Ngài mà là một phương tiện để bày tỏ công tác của Ngài”. Từ đầu đến cuối, trọn cuộc đời của Phao-lô đều ở dưới bàn tay của Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi của ông là một khuôn mẫu cho nhiều người (1 Ti. 1:16). Trước hết, ánh sáng của Đức Chúa Trời bắt phục ông; ông ngã xuống trước mặt Chúa. Đó là một sự cứu rỗi mạnh mẽ. Ngay sau khi ông đứng lên, lời Đức Chúa Trời đến với ông, và lời ấy không bao giờ dừng lại. Ông viết hầu hết các Thư-tín trong Tân Ước. Đức Chúa Trời vui lòng liên tục truyền đạt lời Ngài qua Phao-lô. Ông thật sự là một người cung ứng vĩ đại ở dưới bàn tay của Đức Chúa Trời.

HAI

Chúng ta hãy chuyển sang chú ý đến các Thư-tín gởi cho người Cô-rin-tô, đặc biệt là cách ông hoàn thành chức vụ cung ứng lời của mình. Có lần, một anh em nói rằng trong tất cả các sách Kinh Thánh, các Thư-tín cho người Cô-rin-tô, đặc biệt là 1 Cô-rin-tô chương 7, cho chúng ta thấy đỉnh cao của kinh nghiệm con người. Nhận xét ấy thật đúng. Kinh nghiệm của Phao-lô chứng minh điều này. Xin xem xét các ví dụ sau đây:

Câu 6 chép: “Nhưng điều này tôi nói theo cách chuẩn hứa, chớ không theo cách truyền lệnh”. Nhóm chữ điều này tôi nói cho thấy rõ ràng đó là lời của riêng Phao-lô.

Câu 7 chép: “Tuy nhiên, tôi muốn mọi người đều giống như tôi”. Mong muốn ấy là ước muốn của riêng Phao-lô. Câu 6 trình bày lời của riêng Phao-lô, trong khi câu 7 đề cập đến ước muốn của riêng ông. Ông không nói rằng Đức Chúa Trời truyền lệnh như thế này hay Đức Chúa Trời ấn định như thế kia. Câu 7 tiếp tục: “Song mỗi người đều có ân tứ riêng của Đức Chúa Trời, người này thể này, kẻ kia thể khác”. Đức Chúa Trời hành động theo những cách khác nhau. Nhưng dường như Phao-lô đưa ra ý kiến của riêng mình. Ông hi vọng mọi người đều giống như ông.

Câu 8 chép: “Vậy, tôi nói với những kẻ chưa cưới gả và kẻ góa bụa rằng, nếu họ cứ ở như tôi thì tốt”. Đây lại là lời của riêng Phao-lô.

Câu 10 chép: “Còn đối với kẻ đã cưới gả rồi, thì tôi dặn bảo, mà thật chẳng phải tôi, bèn là Chúa, rằng, vợ chớ chia lìa chồng”. Trước hết Phao-lô nói ông dặn bảo họ, nhưng sau đó ông nói đó không phải là ông mà là Chúa dặn bảo họ. Chúng ta chỉ có thể thấy những lời diễn đạt như vậy trong 1 Cô-rin-tô chương 7. Một mặt Phao-lô dặn bảo, và mặt khác ông nói đó không phải là lời dặn bảo của ông mà là lời dặn bảo của Chúa.

Câu 12 chép: “Đến như những kẻ khác, thì chẳng phải Chúa, bèn là tôi”. Đây lại là lời của Phao-lô. Các câu từ 12 đến 24 đều là lời của Phao-lô chứ không phải là lời của Chúa. Làm sao Phao-lô dám nói như vậy? Làm sao ông lại táo bạo đến thế? Bởi uy quyền gì mà ông nói ra những lời ấy? Trong các câu tiếp theo, ông trình bày nền tảng cho lời nói của mình.

Câu 25 chép: “Về kẻ đồng trinh tôi không có mạng lệnh từ Chúa”. Phao-lô không nói dối. Ông thành thật công nhận rằng mình không có mạng lệnh từ Chúa. “Song tôi tỏ ý kiến tôi như kẻ đã được Chúa thương xót để làm người đáng tin”. Đây là ý kiến của một người đã được Chúa thương xót, một người đã được Chúa làm cho mạnh mẽ để trở nên trung tín. Đức Chúa Trời đã thực hiện một công tác sâu xa trong ông và làm cho ông trở nên một người trung tín. Ông có thể tuyên bố rằng sự thương xót của Chúa đã làm cho ông trở nên một người trung tín, rằng sự thương xót ấy đã thực hiện quá nhiều công tác ở trong ông đến nỗi bây giờ ông có thể bày tỏ ý kiến của mình. Tại đây chúng ta không thấy mạng lệnh của Chúa. Thay vào đó, chúng ta thấy ý kiến của Phao-lô, đó là quan điểm của ông về một vấn đề nào đó. Tất cả những lời ấy đều là của Phao-lô. Ông cho người Cô-rin-tô biết mình cảm nghĩ thế nào.

Câu 26 chép: “Cứ như tôi tưởng thì nhơn sự gian truân hiện nay, người ở như vậy là tốt”. Phao-lô nói đó là ý kiến của ông.

Câu 28 chép: “Tôi muốn anh em khỏi sự đó”. Đó lại là ý kiến của Phao-lô.

Câu 29 chép: “Nhưng, anh em ơi, tôi bảo điều này”. Đó là lời của Phao-lô.

Câu 32 chép: “Nhưng tôi muốn anh em khỏi lo lắng”. Đó là lời của Phao-lô.

Câu 35 chép: “Tôi nói điều đó”. Đó lại là lời của Phao-lô.

Câu 40 chép: “Theo ý kiến tôi”. Đó là ý kiến của Phao-lô.

Trong câu 17, Phao-lô nói: “Ấy đó là điều tôi truyền lệnh trong hết thảy các Hội thánh”. Ông nói điều này không những cho người Cô-rin-tô mà cho tất cả các Hội thánh. Ông truyền bảo tất cả các Hội thánh về cùng những vấn đề như nhau.

Anh chị em ơi, điều này tuyệt diệu biết bao! Điều này thật trái ngược với sự hiểu biết thông thường của chúng ta. Trong Giăng 8:28, Chúa nói: “Ta nói những điều này theo như Cha đã dạy Ta”, và trong 12:50 Ngài nói: “Vậy, lời Ta nói, thì nói theo như Cha Ta đã bảo”. Nhưng Phao-lô mạnh dạn cho người khác biết rằng những lời ông nói là những ý kiến riêng, quan điểm riêng và thậm chí là lệnh truyền riêng của mình cho các Hội thánh. Điều này hoặc là kinh nghiệm cao quý nhất hoặc là kinh nghiệm tồi tệ nhất. Cảm tạ Đức Chúa Trời, đó là kinh nghiệm cao quý nhất. Không chỗ nào trong Kinh Thánh cao sâu như 1 Cô-rin-tô chương 7. Sau những lời ông nói trong phân đoạn này, Phao-lô kết luận rằng: “Tôi nghĩ mình cũng có Linh của Đức Chúa Trời” (c. 40). Ở đây chúng ta đạt đến tột đỉnh. Phao-lô biết rõ ông không có mạng lịnh của Đức Chúa Trời; ông biết rõ rằng mình không có lời từ Chúa. Lời ông nói chỉ căn cứ trên sự thương xót đã được bày tỏ cho ông. Ông không có nền tảng nào khác. Nền tảng duy nhất của ông là sự nhân từ và thương xót của Đức Chúa Trời đối với ông. Nhưng sau khi nói, ông có thể nói rằng ông nghĩ mình có Linh của Đức Chúa Trời.

Đó là “yếu tố con người” mà chúng ta đã bàn ở phần trước. Đây là một trường hợp điển hình nổi bật và đích thực về sự kiện các yếu tố của con người được sử dụng trong lời Đức Chúa Trời. Ở đây là một người đã được Chúa sửa trị, giới hạn và phá vỡ đến mức độ người ấy có thể phát ngôn thậm chí khi người ấy biết rõ rằng Chúa không nói gì cả. Nhưng cuối cùng, lời của người ấy trở nên lời của Thánh Linh. Phao-lô bày tỏ cho những người khác ý kiến riêng của mình. Nhưng cuối cùng, ý kiến của ông là ý kiến của Thánh Linh. Phao-lô nói đó là tư tưởng và ý kiến của ông.

Nhưng cuối cùng, đó là ý định của Linh Đức Chúa Trời. Đây là một người ở dưới Linh của Chúa và ở dưới sự vận hành của Ngài nhiều đến nỗi khi ông nói, Thánh Linh cũng nói. Sự khác biệt giữa tình trạng này và tình trạng con lừa của Ba-la-am lớn biết bao! Con lừa của Ba-la-am chỉ có thể nói lời Đức Chúa Trời khi lời được đặt vào miệng nó. Khi lời Đức Chúa Trời được lấy đi thì chỉ còn lại con lừa. Ngược lại, ở đây là một người bước theo Chúa, nhận được sự thương xót từ Ngài và trung tín trong nhiều năm. Cuối cùng, lời nói của người ấy trở nên sự phát ngôn của Linh. Phao-lô nói rõ đó là ý kiến của ông. Nhưng rốt cuộc, đó là ý kiến của Chúa. Đức Chúa Trời đã hành động trong ông đến mức độ ông hầu như có thể nói ra lời Đức Chúa Trời khi không có lời Đức Chúa Trời. Đó là gì? Đó là một người cung ứng lời.

Đối với nhiều đầy tớ của Chúa, lời Đức Chúa Trời chỉ có thể được tìm thấy trong họ khi nào lời được đặt vào trong miệng họ, và khi lời không được đặt vào trong miệng họ, thì họ không có lời nào [để nói] cả. Nhưng Phao-lô đã đạt đến một giai đoạn mà tại đó ông có lời Đức Chúa Trời dầu lời ấy có được đặt vào miệng ông hay không. Đây là một người được huấn luyện thuần thục đến nỗi người ấy có thể được Chúa tin tưởng. Ở đây là một người được Đức Chúa Trời huấn luyện và tin tưởng đến nỗi lời nói của người ấy trở nên lời phán của Đức Chúa Trời. Về vấn đề này, chúng ta không thể làm gì ngoại trừ khẩn cầu sự thương xót. Anh em ơi, chúng ta không thể chỉ là một con lừa. Chúng ta không thể thỏa lòng đối với tình trạng Đức Chúa Trời chỉ đặt lời vào trong miệng mình. Nếu đó là tình trạng của chúng ta thì có nghĩa là chính chúng ta không liên hệ gì đến lời Đức Chúa Trời cả. Phao-lô là một người liên hệ mật thiết với lời Đức Chúa Trời. Thậm chí những ý kiến riêng của ông trở thành ý kiến của Đức Chúa Trời. Một ít tư tưởng mà ông có trở nên tư tưởng của Thánh Linh. Ông rất hiệp một với Linh của Đức Chúa Trời! Chính lời nói của ông đại diện cho lời phán của Đức Chúa Trời. Ông thật sự đạt tới tột đỉnh.

Một người cung ứng lời không chỉ là một người truyền đạt lời Đức Chúa Trời. Người ấy phải là một người có một mối quan hệ nào đó với lời Đức Chúa Trời. Người ấy có những tư tưởng và ý kiến của Đức Chúa Trời, và đã đạt đến giai đoạn mà tại đó những ước muốn của người ấy trở nên những ước muốn của Đức Chúa Trời. Người ấy không hành động theo một cách nào đó vì đã đạt đến một nhận thức riêng biệt về ước muốn của Đức Chúa Trời đối với một vấn đề nào đó. Trái lại, người ấy được Đức Chúa Trời giới hạn đến mức độ Đức Chúa Trời tin cậy những tư tưởng và ý niệm của người ấy. Đức Chúa Trời có thể công nhận những tư tưởng và ý niệm của người ấy là của chính Ngài. Đó là điều chúng tôi đã nói đến trong nhiều năm qua; đó là điều chúng tôi gọi là công tác cấu tạo của Thánh Linh. Đức Chúa Trời cấu tạo chính Ngài vào trong chúng ta. Ngài hành động và tôi luyện chính Ngài vào trong chúng ta. Chân đèn bằng vàng được làm ra bởi công tác đánh giát (Xuất. 25:31). Chúng ta phải ghi nhớ rằng một mặt, Chúa ban cho chúng ta một điều gì đó, trong khi mặt khác, Đức Chúa Trời cũng đang đánh giát chính điều ấy vào trong chúng ta. Chúng ta giống như một thỏi vàng chưa được đẽo gọt. Đức Chúa Trời đánh đập chúng ta từng đòn một cho đến khi chúng ta được tạo thành hình thể của một chân đèn. Thánh Linh không những đặt lời thần thượng vào trong miệng của chúng ta mà cũng đánh giát lời ấy vào trong bản thể chúng ta cho đến khi chúng ta được đồng hóa theo hình thể rõ nét của Đức Chúa Trời. Đó không phải là vấn đề chúng ta có lời Đức Chúa Trời ở trong miệng mình hay không mà là vấn đề chúng ta có được đánh giát đến độ Đức Chúa Trời có thể giao thác lời Ngài cho chúng ta hay không. Phao-lô được cấu tạo bởi Chúa đến mức độ ý kiến của ông được xem là đáng tin cậy; Chúa đã hành động trong ông đến mức độ những tư tưởng của ông đáng tin cậy đến nỗi có thể chuyển đạt lời Đức Chúa Trời. Khi lời Đức Chúa Trời được đặt trong một người như vậy và người ấy được gọi làm một người cung ứng lời thì không có nguy cơ gây tổn hại.

Một người cung ứng lời là người Đức Chúa Trời có thể phó thác sự tin tưởng và thành tín của Ngài. Chức vụ cung ứng lời có nghĩa là không những có lời mà còn có con người, tức chính người phục vụ với tư cách là người cung ứng lời. Một người như vậy đã được làm cho trở nên rất hoàn hảo đến nỗi lời Đức Chúa Trời sẽ không bị tổn hại hay bị hiểu lầm qua người ấy. Người ấy là người Đức Chúa Trời có thể sử dụng, tức người có thể phục vụ với tư cách là người cung ứng lời. Một người cung ứng lời là người được cấu tạo bởi Đức Chúa Trời đến nỗi Đức Chúa Trời có thể phó thác cho người ấy những ý kiến, tư tưởng và ước muốn của chính Ngài. Các yếu tố con người của chính người ấy có thể được tham dự vào trong sự phát ngôn; các yếu tố ấy sẽ không gây nan đề gì cho lời thần thượng. Anh chị em ơi, đừng nghĩ rằng chúng tôi phủ nhận những gì mình đã rao giảng trước kia. Trước kia, chúng tôi nêu lên rằng những yếu tố con người bị ngăn cấm [không được tham dự vào] trong công tác của Đức Chúa Trời. Thế thì, tại sao bây giờ chúng tôi nói lời Đức Chúa Trời hàm chứa các yếu tố con người? Chúng tôi không chấp nhận mọi loại yếu tố con người; chúng tôi nói rằng chỉ những loại yếu tố nào đó của con người mới có thể được tham dự vào lời Đức Chúa Trời. Những người có những yếu tố như vậy sẽ khám phá thấy lời Đức Chúa Trời tự do tuôn ra từ họ. Đức Chúa Trời có thể hoàn toàn tin tưởng họ.

Chúng ta cần phải dành một ít thời giờ để suy xét lời của Phao-lô. Ông nói mình đã nhận được sự thương xót để trở nên trung tín. Sự thương xót thuộc về Đức Chúa Trời, và kết quả của sự thương xót là đức trung tín. Điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời đã thực hiện một công tác cấu tạo nào đó trong Phao-lô. Ngài hành động trong Phao-lô đến một mức độ chính bản thể của Phao-lô giống như lời Đức Chúa Trời. Do đó, Phao-lô có thể truyền đạt lời Đức Chúa Trời ở bất cứ nơi nào ông đến. Phao-lô có thể nói “tôi muốn”, “tôi nói”, hay “tôi chỉ dẫn trong mọi Hội thánh” vì ông là một người từng gặp Đức Chúa Trời; ông biết Đức Chúa Trời. Khi ông nói lời của mình, thì đó là lời Đức Chúa Trời tuôn ra. Chúng ta phải ghi nhớ rằng lời Đức Chúa Trời không được truyền đạt một cách siêu nhiên, mà được truyền đạt qua con người và với các yếu tố con người. Nếu con người không đúng đắn thì lời Đức Chúa Trời không thể được truyền đạt, và người ấy không thể làm một người cung ứng lời. Đừng bao giờ nghĩ rằng một người có thể rao giảng một sứ điệp chỉ nhờ thuộc lòng bài giảng ấy. Lời Đức Chúa Trời phải tạo một sự thay đổi ở bên trong con người rồi lời ấy mới có thể được truyền đạt. Nếu anh em không phải là người đúng đắn thì lời Đức Chúa Trời sẽ bị tổn hại ngay khi lời ấy đi qua anh em. Hễ sự phù phiếm và tính xác thịt của con người dính dấp vào thì lời Đức Chúa Trời bị ô uế. Con người phải đạt đến giai đoạn mà tại đó công tác cấu tạo của Đức Chúa Trời được hình thành đầy đủ trong người ấy. Khi đó, lời Chúa có thể xuyên qua người ấy mà không bị tổn hại vì con người của người ấy.

Trong 1 Cô-rin-tô chương 7, lời Đức Chúa Trời tuyệt nhiên không bị tổn hại trong Phao-lô. Đây là một người đã được trưởng thành. Nếu ông nói theo ý kiến riêng của mình thì chúng ta tin chắc rằng ý kiến ấy đúng đắn. Nếu ông nói một điều gì đó thì chúng ta có lòng tin rằng những gì ông nói là đúng. Khi ông chỉ dẫn tất cả các Hội thánh làm những công việc nào đó, chúng ta tin chắc sự chỉ dẫn ấy là đúng. Tại đây có một người đang chỉ dẫn những người khác, nhưng lời Đức Chúa Trời được truyền đạt qua ông; ông không hoạt động một cách độc lập. Đó là một người Đức Chúa Trời có thể tin cậy. Người ấy đã đạt đến đỉnh cao nhất. Một người cung ứng lời phải đạt tới một đỉnh cao như vậy rồi lời Đức Chúa Trời mới có thể được truyền đạt qua người ấy. Lượng sửa trị và giới hạn một người nhận được từ Chúa định đoạt mức độ thuần khiết của lời Đức Chúa Trời được truyền đạt qua người ấy. Mức độ được phá vỡ trước mặt Chúa định đoạt mức độ thuần khiết trong lời nói của người ấy. Một người càng ít nhận được và ít học được từ Chúa, lời Đức Chúa Trời càng có thể bị ô uế và ô nhiễm khi được truyền đạt qua người ấy. Một người càng nhận được nhiều sự giới hạn, sửa trị, những cú đấm và sự phá vỡ thì lời Đức Chúa Trời sẽ càng thuần khiết khi được truyền đạt qua người ấy. Chức vụ cung ứng lời căn cứ vào chức vụ một người sở hữu trước mặt Chúa. Nếu chức vụ của chúng ta trước mặt Chúa thất bại thì lời nói của chúng ta cũng thất bại.

BA

Chúng ta hãy chuyển sang xem xét 1 Cô-rin-tô 14:29-32, các câu ấy chép: “Người tiên tri cũng chỉ nên có hai hoặc ba người nói mà thôi, còn những kẻ kia thì biện biệt. Song nếu có kẻ khác ngồi đó được sự khải thị thì người đương nói trước phải nín lặng. Bởi vì anh em thảy đều có thể từng người một mà nói tiên tri, để ai nấy đều được học tập, ai nấy đều được khuyên lơn. Vả, linh của tiên tri phải thuận phục tiên tri”. Chức vụ tiên tri là chức vụ cao trọng nhất trong tất cả những chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời. Thánh Linh ban lời cho các tiên tri, và cũng một Linh đó đang ở trong các tiên tri ấy. Đó là linh của các tiên tri làm cho các tiên tri nói ra lời Đức Chúa Trời. Nhưng có một điều khác cũng được nói đến: Một người phát ngôn phải quan sát xem những người khác có nhận được lời Đức Chúa Trời nữa hay không. Nếu họ đã nhận được thì người ấy phải để họ nói. Mặc dầu có thể người thứ nhất có lời Đức Chúa Trời trong miệng mình, người ấy nên dừng lại và để những người đã nhận được khải thị nói. Nếu có tới bốn năm người nhận được khải thị thì họ không nên nói một lượt; nhiều nhất là hai ba người nói, trong khi những người kia cần phải im lặng, vì linh của tiên tri thuận phục tiên tri. Khi Thánh Linh ngự trên một người, và người ấy đang phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời Đức Chúa Trời, linh của người ấy thuận phục người ấy. “Linh của tiên tri phải thuận phục tiên tri” — đó chính là lời của Đức Chúa Trời.

Ở đây, chúng ta tìm thấy một nguyên tắc cơ bản: Trong việc truyền đạt lời Đức Chúa Trời, Thánh Linh quyết định những gì cần phải được nói ra, nhưng các tiên tri định đoạt lời ấy nên được nói ra khi nào và bằng cách nào. Trong một buổi nhóm, nếu hai ba người nhận được khải thị và cùng nói một lượt thì người thứ tư và thứ năm nên ngậm miệng lại cho dầu họ cũng nhận được khải thị. Mặc dầu lời họ nhận được là từ Thánh Linh, họ phải quyết định khi nào mình nên nói ra. Họ không thể tùy thích nói bất cứ lúc nào. Trong khi họ đang nói nếu người khác nhận được một khải thị, thì họ phải dừng lại và để người khác nói. Vậy nên, lời được Linh ban cho, nhưng thời điểm và phương cách trình bày thì được các tiên tri định đoạt. Linh của các tiên tri thuận phục tiên tri. Khi Linh của Đức Chúa Trời muốn anh em nói, anh em cần phải nhớ rằng linh của anh em phải thuận phục anh em. Thời điểm và cách nói thì được các tiên tri định đoạt. Một người không nói bất cứ khi nào lời đến với mình.

Trách nhiệm của người cung ứng lời thật lớn lao. Nhiều trách nhiệm đè nặng trên vai của những người cung ứng lời chứ không phải trên vai của Đức Chúa Trời. Nếu những người cung ứng lời không đúng đắn, lời Đức Chúa Trời sẽ bị tổn hại. Những lời nói có thể là những lời nói đúng, nhưng thái độ của người nói hay thời điểm có thể sai trật. Do đó, lời Đức Chúa Trời sẽ chịu thiệt thòi. Nếu không đúng đắn thì chúng ta không thể truyền đạt một lời đúng đắn. Hay nếu chúng ta không đáng tin cậy thì lời ấy sẽ thất bại thậm chí khi lời ấy vẫn còn ở trong chúng ta. Nếu linh của tiên tri thuận phục tiên tri thì trách nhiệm của các tiên tri lớn lao biết bao! Nói khi lời đến trên chúng ta là điều tương đối dễ. Ngừng nói khi lời không đến trên chúng ta cũng là điều dễ dàng. Nhưng khi Chúa ban cho chúng ta lời, chúng ta vẫn phải quyết định mình nên nói lời ấy bằng cách nào và khi nào. Nếu chúng ta chưa từng được Chúa xử lý hay giới hạn và nếu trong chúng ta không có sự cấu tạo bởi Thánh Linh hay sự hiểu biết về đường lối của Ngài, thì lời Ngài sẽ bị tổn hại trong bàn tay của chúng ta. Chúa phó thác lời Ngài cho chúng ta, và chúng ta phải suy xét mình nên trình bày lời ấy cách nào và khi nào. Đó là một trách nhiệm trọng đại, và chúng ta không được xem nhẹ điều này.

Chúng ta cần phải nhận thức rằng chức vụ cung ứng lời có nghĩa là Đức Chúa Trời đã giao thác lời Ngài cho con người. Lời ấy không phải là lời phát trở lại từ một chiếc máy ghi âm cát xét, mà là lời được đặt bên trong con người. Làm như vậy là để giành chỗ cho con người suy xét phải trình bày lời ấy theo phương cách và thời điểm nào. Linh của tiên tri thuận phục tiên tri. Chúa định rằng những linh như vậy phải thuận phục các tiên tri. Thời điểm và phương cách trình bày lời hoàn toàn là trách nhiệm của các tiên tri, chứ không phải là trách nhiệm của Linh. Nếu một tiên tri chưa kinh nghiệm được những sự xử lý, sửa trị và giới hạn thích hợp, thì linh của người ấy sẽ hoạt động cách hỗn loạn, và gây ra rắc rối. Vấn đề trọng yếu ngày nay không liên hệ đến việc một người có phải là tiên tri hay không mà vị tiên tri ấy là loại người thế nào. Sự khác biệt không phải là giữa các tiên tri và những người không phải là tiên tri, mà giữa tiên tri này với tiên tri kia, tức là sự khác biệt giữa tiên tri này với một tiên tri khác. Nói cách khác, sự khác biệt giữa Giê-rê-mi và Ba-la-am là gì? Chúng ta phải thấy rõ nguyên tắc cơ bản này trước mặt Chúa. Ngày nay cần đến lời Đức Chúa Trời, và cần đến chức vụ cung ứng lời. Nếu không có lời Đức Chúa Trời thì không có chức vụ cung ứng lời, và nếu không có một người đúng đắn thì cũng không có chức vụ cung ứng lời.

Nan đề cơ bản trong Hội thánh là thiếu những người cung ứng lời thích hợp. Điều này không có nghĩa là lời Đức Chúa Trời hiếm hoi hay khải tượng hoặc ánh sáng không được sáng tỏ mà có nghĩa là thiếu những người Đức Chúa Trời có thể sử dụng. Đức Chúa Trời mong muốn linh của tiên tri thuận phục tiên tri. Ai là các tiên tri mà linh của tiên tri thuận phục? Linh của tiên tri có thể thuận phục những người bước đi theo ý muốn riêng của mình, nhường chỗ cho xác thịt, và bướng bỉnh trong tâm trí và tình cảm của mình không? Nếu một người không mang dấu vết thập tự giá trong linh mình, người ấy sẽ là một người phóng túng và kiêu ngạo. Có thể người ấy đã chịu đựng nhiều năm tháng sửa trị, nhưng vẫn chưa bị đánh bại. Bàn tay đánh đập của Chúa có thể ở trên người ấy một lần, hai lần hay thậm chí mười lần, nhưng người ấy vẫn chưa bị đánh bại. Cho dù bị Chúa sửa trị nhiều lần, người ấy vẫn không chịu nhượng bộ. Một người như vậy tự chứng minh mình là một bình chứa vô dụng. Nan đề trước mắt có phải là chúng ta thiếu khải tượng, ánh sáng hay lời không? Không. Nan đề là thiếu các tiên tri mà Đức Chúa Trời có thể sử dụng.

Một đặc tính của Phao-lô là Đức Chúa Trời có thể sử dụng ông và sẵn lòng phó thác cho ông. Nếu Đức Chúa Trời không thể sử dụng một người, Ngài không thể phó thác lời Ngài cho người ấy. Nếu Đức Chúa Trời phó thác lời Ngài cho anh em và truyền anh em nói ra, anh em sẽ nói thế nào? Anh em phải nói ra theo những gì anh em “là”. Khi Đức Chúa Trời để anh em nói ra lời Ngài, tâm trí anh em sẽ cản trở lời Ngài nếu nó không hoạt động một cách đúng đắn. Nếu tình cảm của anh em không đúng đắn, nó sẽ làm ô nhiễm lời Đức Chúa Trời. Nếu động cơ của anh em không đúng đắn, nó sẽ làm tổn hại lời Đức Chúa Trời. Nếu ý kiến của anh em không đúng đắn, nó sẽ làm ô nhiễm lời Đức Chúa Trời. Nếu linh anh em không đúng đắn, anh em sẽ gây cho người khác có ấn tượng về một linh không đúng đắn mặc dầu mọi lời nói của anh em đều chính xác. Nan đề căn bản ngày nay là lời Đức Chúa Trời chịu nhiều tổn hại trong bàn tay của con người! Lời Ngài đã chịu nhiều thiệt hại trong bàn tay của con người! Đó là lý do tại sao Đức Chúa Trời không thể phó thác lời Ngài cho con người.

Chúng ta càng được Chúa xử lý và sự xử lý của Ngài chạm đến bản thể chúng ta càng sâu xa thì chúng ta càng tiến gần đến chỗ có được một khải thị. Khi tình cảm, tâm trí, ý chí và linh của một người đều được xử lý, Thánh Linh sẽ đặt lời Ngài trong miệng người ấy, và lời diễn đạt của người ấy sẽ là một sự cảm thúc, một khải thị. Sự cảm thúc mà Kinh Thánh nói đến xảy ra khi các yếu tố con người được giữ ở dưới sự điều khiển của Thánh Linh và được ngăn chặn không cho đi theo đường lối riêng. Khi lời được đặt vào môi miệng một người như vậy, kết quả chức vụ cung ứng lời là khải thị, tức sự cảm thúc. Đây là lý do tại sao chúng tôi nói rằng chúng ta càng nhận được sự xử lý thì chúng ta sẽ càng có nhiều sự cảm thúc. Tâm trí, tình cảm và ý chí của chúng ta đều phải trải qua những sự xử lý của Đức Chúa Trời. Thậm chí trí nhớ của chúng ta cũng phải trải qua những sự xử lý của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, sự hiểu biết của chúng ta liên hệ rất nhiều đến lời Đức Chúa Trời. Vậy nên, sự hiểu biết của chúng ta cũng phải trải qua những sự xử lý của Đức Chúa Trời nữa. Tấm lòng của chúng ta cần được xử lý. Động cơ của chúng ta cũng cần được xử lý. Đức Chúa Trời phải hành động trên trọn bản thể của chúng ta. Chúng ta phải ghi nhớ rằng không thể tạo nên một người cung ứng lời mà không phải trả giá. Chúng ta đừng nên nghĩ rằng sự cấu tạo có thể xảy ra mà không phải trả giá. Một người có thể trở nên một người cung ứng lời chỉ vì người ấy có một tâm trí nhạy bén không? Không. Chúng ta đừng bao giờ suy nghĩ sai lầm rằng sự khôn ngoan, kiến thức hay tài hùng biện của con người có thể thêm bất cứ điều gì vào lời Đức Chúa Trời. Chúng ta phải được đập vỡ, đè nén và triệt hạ. Tất cả những người biết Chúa đều nhận thức rằng bàn tay của Ngài đè nặng trên những người Ngài sử dụng. Mục đích của bàn tay Ngài là làm cho một người trở thành một bình chứa hữu dụng. Chúa phải phá vỡ và triệt hạ chúng ta rồi chúng ta mới có thể trở thành một người cung ứng lời. Nếu không trả giá thì không thể có một người cung ứng lời.

Một số người đã trải qua nhiều năm tháng bị xử lý, có lẽ mười, hai mươi hay ngay cả ba mươi năm. Trong tất cả những năm tháng ấy, bàn tay của Chúa đã ở trên họ. Ngài đã xử lý họ nhiều lần và đã hành động trên họ nhiều lần. Chúng ta chậm hiểu thế sao? Chúng ta mụ mị thế sao? Chúng ta không thể cứ duy trì tình trạng của mình và hi vọng tham dự vào chức vụ cung ứng lời. Chúng ta cần phủ phục trước mặt Chúa mà thưa rằng: “Con là một chiếc bình vô dụng. Con phải tiến lên. Con phải được đập bể và phá vỡ đến mức độ con có thể trở nên hữu dụng trong tay của Ngài. Nếu không thì con không cách nào hoàn thành bất cứ điều gì cho Ngài”. Một khi chúng ta đạt đến giai đoạn ấy, lời Chúa sẽ được truyền đạt qua chúng ta một cách tự do.

Tóm lại, Thánh Linh đặt lời Đức Chúa Trời ở trong chúng ta. Trách nhiệm của Ngài là bày tỏ cho chúng ta biết những gì cần phải nói. Nhưng Ngài dành cho chúng ta quyết định nói bằng phương cách nào và vào thời điểm nào. Đức Chúa Trời giao thác cho chúng ta và tin cậy chúng ta. Ngài truyền bảo rằng linh của tiên tri phải thuận phục tiên tri. Trách nhiệm của các tiên tri nghiêm trọng biết bao! Con đường của chức vụ cung ứng lời là con đường truyền đạt lời Đức Chúa Trời qua tâm trí và lời nói của con người. Nếu sự đóng góp của chúng ta không đạt đến tiêu chuẩn đúng đắn thì lời Đức Chúa Trời sẽ không còn là lời Đức Chúa Trời nữa. Tình trạng ấy mang đến những hậu quả nghiêm trọng! Đức Chúa Trời phán từ các từng trời là điều dễ dàng. Ngài phán qua các thiên sứ cũng là điều dễ dàng. Nhưng Ngài yêu thương chúng ta và đã chọn lựa chúng ta. Nếu chúng ta cản trở Ngài khắp mọi nơi và trong mọi sự thì đó thật sự là điều đáng tiếc. Chúng ta thường được chứng tỏ là các bình chứa vô dụng. Để Đức Chúa Trời có được những người cung ứng lời, chúng ta phải khẩn nài Chúa thương xót. Chúng ta phải thưa với Ngài rằng: “Con sẽ không buông Ngài ra trừ khi con nhận được sự thương xót từ Ngài”. Nếu chúng ta không nhận được sự thương xót từ Ngài thì lời Ngài sẽ dừng lại với chúng ta. Ngày nay, toàn bộ trách nhiệm đều đặt trên vai chúng ta.

Chúng ta đã rao giảng lời hơn mười hay hai mươi năm, nhưng bao nhiêu lời chúng ta rao giảng là sự diễn đạt lời Đức Chúa Trời? Chúng ta tự xưng là rao giảng lời Đức Chúa Trời, nhưng có bao nhiêu lời Đức Chúa Trời đã thật sự được rao giảng? Nguyên tắc cơ bản của chức vụ cung ứng lời là nguyên tắc nhập thể, tức lời trở nên xác thịt. Lời không thể bỏ qua xác thịt. Ở đâu có những người cung ứng thì nơi đó có lời Đức Chúa Trời. Ở đâu không có người cung ứng thì nơi đó không tìm thấy lời Đức Chúa Trời. Nếu không tìm thấy những người cung ứng thì chúng ta không tìm thấy lời Đức Chúa Trời. Phải có những người cung ứng rồi mới có thể có lời Đức Chúa Trời. Trách nhiệm của những người cung ứng trước mặt Đức Chúa Trời lớn lao biết bao. Nếu là những người cung ứng, chúng ta phải nhận thức rằng trách nhiệm đang đặt trên vai mình. Đức Chúa Trời phải có được những người cung ứng rồi Ngài mới có thể phán. Nếu không có những người cung ứng thì Đức Chúa Trời không thể phán. Ngày nay Đức Chúa Trời không trực tiếp phán với con người, các từng trời không trực tiếp nói với con người, và các thiên sứ cũng không trực tiếp nói với con người. Nếu con người không mở miệng mình ra, thì không ai nghe lời Đức Chúa Trời, và lời Ngài sẽ bị khóa chặt. Trong hai ngàn năm qua, lời Đức Chúa Trời được truyền đạt ở bất cứ nơi nào Ngài tìm được một số người. Đôi khi Ngài tìm được một người, và lời Ngài được truyền đạt một cách mạnh mẽ. Nếu ngày nay Đức Chúa Trời tìm được một số người cung ứng, lời Ngài sẽ lại được truyền đạt một cách mạnh mẽ. Nếu Hội thánh đứng trên một chỗ đứng mới và nếu Hội thánh làm thỏa lòng Đức Chúa Trời để trở nên bình chứa của Ngài, thì lời Đức Chúa Trời sẽ lại được truyền đạt một cách mạnh mẽ. Nhưng nếu chúng ta đứng yên một chỗ thì Đức Chúa Trời sẽ không có cách nào tiến tới trên trái đất này. Tôi xin lặp lại: chính những người cung ứng đem đến lời Đức Chúa Trời. Không có những người cung ứng thì không có lời. Linh của tiên tri thuận phục tiên tri. Chúng ta phải được nâng lên để đạt đến tiêu chuẩn của Phao-lô. Khi nói lời Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải có cảm giác rằng cả chúng ta lẫn Chúa đều đang nói. Khi ấy, chúng ta sẽ nhận thấy sự phong phú. Lời Đức Chúa Trời thật là phong phú. Nguyện Ngài thương xót chúng ta và ban cho chúng ta lời [Ngài]. Nguyện chúng ta nhìn thấy nhiều người cung ứng lời được dấy lên.