Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 2

Untitled Document

CHƯƠNG HAI

NỘI DUNG CỦA LỜI VÀ SỰ TRUYỀN ĐẠT LỜI

Kinh Thánh cho thấy Đức Chúa Trời truyền đạt lời Ngài theo một cách vượt trên tất cả mọi quan niệm con người. Theo quan niệm của chúng ta thì Đức Chúa Trời có thể truyền bá và công bố lời Ngài ít nhất theo hai cách.

Thứ nhất, Ngài có thể tạo nên một điều gì đó giống như một chiếc máy ghi âm cát xét để chuyển đạt lời Ngài cho loài người. Nếu con người có thể sáng chế máy ghi âm cát xét thì Đức Chúa Trời chắc chắn có thể tạo ra một điều gì đó trong vũ trụ để chuyển đạt lời Ngài cho loài người đúng từng chữ một cách trung thực. Với một dụng cụ như vậy, mọi lời của Đức Chúa Trời đều có thể được thâu lại. Rồi thỉnh thoảng, có thể bật nó lên và lời Đức Chúa Trời có thể được phát trở lại cho con người nghe. Nếu Đức Chúa Trời chuyển đạt lời Ngài cho con người theo cách ấy thì những lỗi lầm sẽ không còn có thể xảy ra; mọi người đều có thể nghe lời thuần khiết của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã không chọn cách ấy.

Thứ hai, Đức Chúa Trời có thể ủy thác các thiên sứ truyền bá lời Ngài. Kinh Thánh nói với chúng ta rằng các thiên sứ có thể mang các sứ điệp của Đức Chúa Trời đến với con người. Tuy nhiên, đó là những chuyện hiếm xảy ra. Trong những trường hợp đó, Đức Chúa Trời làm như vậy vì không còn cách nào khác. Dùng các thiên sứ là trường hợp ngoại lệ; đó không phải là cách thông thường Đức Chúa Trời liên lạc với con người. Nếu Đức Chúa Trời có ý định dùng các thiên sứ làm sứ giả của Ngài thì Ngài có thể đã truyền lời Ngài như những qui định giống như Mười Điều Răn. Những tài liệu hay qui định như vậy sẽ không pha chút kinh nghiệm nào của con người; chúng sẽ không chứa đựng những lỗi lầm của con người. Một số người có thể nghĩ rằng loại phát ngôn như vậy sẽ loại trừ nhiều cuộc bàn cãi, tranh luận và tà thuyết về thần học. Họ nghĩ rằng nếu lời Đức Chúa Trời trình bày từng hàng rõ ràng thì không khó cho con người hiểu những điều ấy. Nếu Đức Chúa Trời trình bày lời Ngài rõ ràng trong năm hay sáu trăm điều khoản giống như luật pháp thì thật là đơn giản. Nhưng Đức Chúa Trời chúng ta không làm như vậy. Một số người ao ước Kinh Thánh được viết thành 1.189 giáo điều được sắp đặt rõ ràng thay vì 1.189 chương. Khi một người cầm lên quyển Kinh Thánh như vậy, người ấy có một quyển sách giáo khoa về Đạo Đấng Christ; người ấy chỉ cần nhìn phớt qua sách đó cũng biết mọi sự về Đạo Đấng Christ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã không chọn cách ấy.

Nếu Đức Chúa Trời sử dụng một điều gì đó giống như một chiếc máy ghi âm cát xét để truyền đạt lời Ngài thì sẽ có rất ít cơ hội lầm lỗi, và Đức Chúa Trời có thể liên tục lặp lại lời Ngài. Lời Ngài sẽ không trở nên hiếm hoi, và không ai có thể nói rằng khải tượng của Ngài đang mờ dần. Lời Ngài có thể tiếp tục được truyền bá trên đất. Nhưng nan đề căn bản đối với một lời như vậy là lời ấy không mang theo yếu tố con người nào cả, và chỉ Đức Chúa Trời mới có thể hiểu lời ấy một cách trọn vẹn. Tuy lời ấy thuộc về Đức Chúa Trời, nhưng không có nền tảng để liên lạc hỗ tương; sẽ không còn mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời và con người. Đức Chúa Trời chỉ nói ra lời Đức Chúa Trời, và con người không hiểu lời ấy. Nếu lời Đức Chúa Trời không chứa đựng những đặc tính của con người, thì đối với chúng ta, lời ấy cũng giống như tiếng sấm; chúng ta sẽ không biết ý nghĩa của lời ấy.

NỘI DUNG CỦA LỜI

Rõ ràng là Đức Chúa Trời không bao giờ có thể nói với chúng ta như vậy. Hơn nữa, Đức Chúa Trời không sắp xếp lời Ngài theo các giáo lý và qui định. Trong khi có những giáo lý trong lời Đức Chúa Trời, nhưng lời Ngài không chỉ được viết ra để con người hiểu. Nhiều người thích chọn lấy những phần giáo lý trong lời phán của Đức Chúa Trời. Họ nâng niu những phần ấy. Nhiều người vô tín nhận thấy Kinh Thánh thật vô vị, đầy dẫy những chữ thông thường như chúng ta, anh em và họ. Đối với họ, Mười Điều Răn thú vị hơn nhiều. Con người luôn luôn muốn sắp đặt lời Đức Chúa Trời thành từng phần, phần được các thiên sứ nói ra, phần được Đức Chúa Trời phán, và phần được mặc khải nhờ sấm chớp, mà hoàn toàn không có yếu tố con người. Nhưng chúng ta phải ghi nhớ rằng lời Đức Chúa Trời luôn luôn mang dấu vết về những nét đặc trưng của con người. Đó là một đặc tính của lời Đức Chúa Trời. Không quyển sách nào có tính cá nhân bằng Lời của Đức Chúa Trời. Khi viết các Thư-tín của ông, Phao-lô dùng đại danh từ tôi nhiều lần. Thông thường chúng ta tránh dùng đại danh từ tôi quá thường xuyên trong một bức thư, bằng không bức thư ấy trở nên quá riêng tư. Nhưng Kinh Thánh đầy dẫy các yếu tố con người. Đức Chúa Trời đã chọn loài người để làm những người cung ứng lời Ngài, và Ngài muốn lời Ngài chứa đựng các yếu tố con người. Đó là một nguyên tắc căn bản.

Ở đây chúng ta phải giải thích các yếu tố con người là gì. Nói về mặt nội dung thì Kinh Thánh đầy dẫy các yếu tố con người. Nếu chúng ta lấy đi các yếu tố con người khỏi Kinh Thánh thì Kinh Thánh không còn lại bao nhiêu. Các yếu tố con người chiếm một vị trí trọng yếu trong lời Đức Chúa Trời. Ví dụ, sách Ga-la-ti đề cập đến lời hứa của Đức Chúa Trời bằng cách nêu lên câu chuyện của Áp-ra-ham. Nếu lấy đi câu chuyện của Áp-ra-ham khỏi Kinh Thánh, chúng ta sẽ không hiểu lời hứa của Đức Chúa Trời là gì. Chúa Giê-su là Chiên Con của Đức Chúa Trời để cứu chuộc con người khỏi tội (Gi. 1:29), và Cựu Ước nhiều lần nói đến việc người ta dâng bò đực và dê làm sinh tế. Từ sinh tế của A-bên trong Sáng-thế Ký đến nhiều của lễ trong sách Lê-vi Ký, chúng ta nhận thấy người ta dâng các sinh tế lên cho Đức Chúa Trời nhiều lần. Đó là một hình ảnh về việc Chúa Giê-su trở nên Chiên Con của Đức Chúa Trời để vãn hồi cho các tội nhân. Hãy xem xét trường hợp của Đa-vít trong Cựu Ước. Ông chiến đấu ở các mặt trận và đã chiến thắng. Ông vâng phục Đức Chúa Trời, và là một người theo đuổi lòng Đức Chúa Trời. Ông chuẩn bị những vật liệu cho nhà của Đức Chúa Trời, và Sa-lô-môn xây dựng đền thờ bằng vàng, bạc và các đá quí mà Đa-vít đã chuẩn bị sẵn. Chúng ta thấy Đa-vít, và thấy Sa-lô-môn. Hai người ấy cho chúng ta thấy thế nào Chúa Giê-su đã đánh trận, thế nào Ngài đã chiến thắng, thế nào Ngài đã thăng thiên, và thế nào Ngài được đăng quang. Nếu câu chuyện về Đa-vít và Sa-lô-môn bị lấy đi, chúng ta không thể nhìn thấy Chúa Giê-su một cách trọn vẹn. Kinh Thánh nói rằng Chúa Giê-su lớn hơn Đa-vít và Sa-lô-môn (Mat. 22:43-44; 12:42). Trước khi Chúa Giê-su đến thì trước hết phải có Đa-vít và Sa-lô-môn. Nếu không thì chúng ta không nhìn thấy gì cả. Hãy xem xét trường hợp Môi-se dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập qua đồng vắng. Các chi tiết về lịch sử ấy được ghi chép trong Kinh Thánh, bao gồm việc thể nào Giô-suê dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào miền đất Ca-na-an và thể nào họ đắc thắng ba mươi mốt vị vua ở xứ Ca-na-an. Nếu câu chuyện của Môi-se và Giô-suê bị lấy đi thì các sách Xuất Ê-díp-tô Ký, Dân-số Ký và Giô-suê còn lại rất ít. Nếu chúng ta không có sách Giô-suê thì khó mà hiểu được sách Ê-phê-sô. Những trường hợp ấy cho chúng ta thấy các yếu tố con người hiện diện trong toàn bộ Lời của Đức Chúa Trời.

Một đặc tính của lời Đức Chúa Trời là đầy dẫy các yếu tố con người. Lời Đức Chúa Trời không được truyền đạt qua một bầu không khí loãng mà được truyền đạt qua con người. Đức Chúa Trời mặc khải lời Ngài qua con người và những sự kiện liên quan đến con người. Điều này làm cho lời Ngài đơn giản và có thể hiểu được. Bất cứ khi nào Đức Chúa Trời phán thì Ngài phán để con người có thể hiểu. Lời Đức Chúa Trời không phải chỉ là một điều gì đó Đức Chúa Trời diễn đạt, nhưng là điều gì đó con người có thể hiểu. Điều đó không những siêu nhiên mà cũng rất thiên nhiên. Điều đó không những thuộc linh mà cũng rất thuộc con người. Qua tác phẩm có tính chất con người của lời Đức Chúa Trời, chúng ta có thể hiểu những gì Đức Chúa Trời đang làm mà nhờ đó hiểu những gì Ngài đang phán. Sách Công-vụ cung cấp rất ít giáo lý; sách ấy chủ yếu là một bản ký thuật về những hoạt động của các sứ đồ dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh. Những hoạt động của Phi-e-rơ trở nên một phần của Lời Đức Chúa Trời, và những hoạt động của Phao-lô cũng trở nên một phần của Lời Đức Chúa Trời. Sự khởi đầu của Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem trở nên một phần của Lời Đức Chúa Trời, và sự khởi đầu của các Hội thánh tại Sa-ma-ri cùng Hội thánh tại An-ti-ốt cũng trở nên một phần của Lời Đức Chúa Trời. Những sự kiện ấy không chỉ là lịch sử, mà là một phần của Lời Đức Chúa Trời. Qua lịch sử, con người thi hành lời Đức Chúa Trời. Nhờ phương tiện lịch sử mà con người tuyên bố lời Đức Chúa Trời. Thánh Linh mặc khải lời Đức Chúa Trời qua con người bằng phương tiện lịch sử. Lời Đức Chúa Trời đầy dẫy các yếu tố con người. Đó là một đặc tính của Kinh Thánh. Đó không phải là một quyển sách về các giáo điều. Đó là một quyển sách về việc con người thi hành lời Đức Chúa Trời. Khi lời phán của Đức Chúa Trời được con người thực hiện, thi hành và sống bày tỏ thì chúng ta có lời Đức Chúa Trời.

Một nguyên tắc cơ bản trong Kinh Thánh là nguyên tắc nhập thể. Nếu một người chưa hiểu được nguyên tắc nhập thể, tức nguyên tắc lời trở nên xác thịt, thì người ấy khó mà hiểu được lời Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời không trừu tượng, và không thuộc linh đến độ mọi hương vị con người đều bị lấn át. Lời Đức Chúa Trời không phải là xa vời, và không ở lãnh vực không thể thấy được, không chạm đến được và không đến gần được. “Ban đầu có Lời... Ban đầu Ngài ở với Đức Chúa Trời” (Gi. 1:1-2). Nhưng Lời ấy đã trở nên xác thịt và đóng trại giữa vòng loài người, đầy dẫy ân điển và thực tại (c. 14). Đó là lời Đức Chúa Trời. Lời Ngài đóng trại giữa vòng loài người. Chúng ta phải ghi nhớ rằng sự nhập thể của Chúa Giê-su bày tỏ nguyên tắc cơ bản về chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời. Nếu muốn hiểu chức vụ cung ứng lời Đức Chúa Trời thì chúng ta phải hiểu sự nhập thể của Chúa Giê-su. Chức vụ cung ứng lời là gì? Đó là lời trở nên xác thịt. Đó là điều hoàn toàn có tính chất thiên thượng nhưng không ở trên trời, mà ở dưới đất. Điều đó có tính chất thiên thượng một trăm phần trăm, nhưng không phải là không có xác thịt, mà được hiện thân trong xác thịt. Điều đó thật sự có tính chất thiên thượng nhưng không thiếu các yếu tố con người, mà được biểu hiện qua loài người. Điều đó có tính chất rất thiên thượng, nhưng đồng thời được người ta nhìn thấy và chạm đến. Đó là lời chứng của các sứ đồ. 1 Giăng 1:1 chép: “... điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã ngắm và tay chúng tôi đã rờ...” Lời Đức Chúa Trời có thể được thấy, được ngắm và được rờ.

Hãy xét đến vấn đề thánh khiết. Trước khi Chúa đến, không ai biết thánh khiết là gì. Nhưng ngày nay, sự thánh khiết không còn trừu tượng nữa, vì chúng ta có thể nhìn thấy sự thánh khiết được sống bày tỏ ra trên đất trong Chúa Giê-su. Sự thánh khiết bước đi giữa vòng loài người. Khi nhìn thấy Chúa Giê-su, chúng ta biết sự thánh khiết là gì. Lời trở nên xác thịt có nghĩa là sự thánh khiết đã trở nên xác thịt. Chúng ta đã không biết sự nhẫn nhục là gì. Nhưng ngày nay, chúng ta có thể nhìn thấy sự nhẫn nhục trong Chúa Giê-su. Đức Chúa Trời là tình yêu thương, nhưng chúng ta không biết tình yêu ấy như thế nào. Ngày nay, tình yêu ấy có thể được nhìn thấy trong Giê-su người Na-xa-rét. Có thể chúng ta nghĩ rằng một người thuộc linh không cười, không khóc hay hoàn toàn mất hết mọi cảm xúc. Nhưng khi nhìn thấy Giê-su người Na-xa-rét thì chúng ta biết ý nghĩa của sự thuộc linh.

Nếu chúng ta chỉ có sự thánh khiết của Đức Chúa Trời thì chúng ta không biết sự thánh khiết là gì. Nhưng bây giờ chúng ta có thể hiểu được sự thánh khiết là gì vì chúng ta có sự thánh khiết của Chúa Giê-su. Nếu chúng ta chỉ có tình yêu thương của Đức Chúa Trời thì chúng ta không biết tình yêu thương là gì. Nhưng bây giờ chúng ta hiểu được tình yêu thương là gì vì chúng ta có tình yêu thương của Chúa Giê-su. Nếu chúng ta chỉ có sự nhẫn nhục của Đức Chúa Trời thì chúng ta không biết sự nhẫn nhục là gì. Nhưng bây giờ chúng ta có thể hiểu sự nhẫn nhục vì chúng ta có sự nhẫn nhục của Chúa Giê-su. Nếu chúng ta chỉ có vinh quang của Đức Chúa Trời thì chúng ta chưa biết vinh quang là gì. Nhưng bây giờ chúng ta có thể hiểu vinh quang là gì vì chúng ta có vinh quang của Chúa Giê-su. Nếu chúng ta chỉ có sự thuộc linh của Đức Chúa Trời thì chúng ta chưa biết sự thuộc linh là gì. Nhưng bây giờ chúng ta có thể hiểu sự thuộc linh là gì vì chúng ta có sự thuộc linh của Chúa Giê-su. Đó là ý nghĩa của sự kiện lời trở nên xác thịt. Khi lời trở nên xác thịt, thì vinh quang trở nên xác thịt, tình yêu thương trở nên xác thịt, và sự nhẫn nhục cùng sự thánh khiết trở nên xác thịt. Khi chúng ta chạm đến xác thịt này, chúng ta chạm đến Đức Chúa Trời. Tình yêu của Giê-su là tình yêu của Đức Chúa Trời. Vinh quang của Ngài là vinh quang của Đức Chúa Trời, sự thánh khiết của Ngài là sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, và tính thuộc linh của Ngài là tính thuộc linh của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta chỉ có Đức Chúa Trời thì chúng ta không biết được những điều ấy. Nhưng bây giờ, vì đã nhìn thấy Chúa Giê-su nên chúng ta có thể hiểu tất cả những điều ấy.

Nguyên tắc nhập thể là một nguyên tắc cơ bản. Công tác của Đức Chúa Trời trên con người và sự thông công của Ngài với con người đều được nguyên tắc nhập thể cơ bản chi phối. Tuy không có sự nhập thể trong Cựu Ước, nhưng chúng ta nhìn thấy Đức Chúa Trời chuyển động theo chiều hướng ấy. Mặc dầu bây giờ Đấng được nhập thể đã thăng thiên lên các từng trời, Đức Chúa Trời vẫn hành động theo nguyên tắc ấy. Công tác của Đức Chúa Trời trong con người và mối tương giao của Ngài với con người hoàn toàn căn cứ trên nguyên tắc nhập thể. Ngày nay Đức Chúa Trời không là một Đức Chúa Trời trừu tượng, siêu trần hay ẩn giấu nữa. Ngài đã nhập thể; Ngài đã bước ra. Nhiều lúc khi rao giảng phúc-âm, chúng ta thích tuyên bố rằng Đức Chúa Trời chúng ta đã bước ra. Trong Cựu Ước, Ngài không bước ra. Thi-thiên 18:11 chép rằng “Ngài nhờ sự tối tăm làm nơi ẩn núp mình”. Ngày nay Đức Chúa Trời ở trong ánh sáng; Ngài đã bước ra. Ngài đã tự bày tỏ chính mình trong ánh sáng, và chúng ta có thể nhìn thấy Ngài. Khi Đức Chúa Trời ẩn núp trong bóng tối, chúng ta không thể nhìn thấy Ngài hay biết Ngài. Nhưng ngày nay Ngài ở trong ánh sáng, chúng ta có thể thấy Ngài và biết Ngài. Ngài đã bước ra. Ngài đã bước ra trong thân-vị Giê-su là Con Ngài. Sự nhập thể là một nguyên tắc rất cơ bản. Nội dung của lời Đức Chúa Trời đầy dẫy các yếu tố con người.

TRUYỀN ĐẠT LỜI

Vì lời Đức Chúa Trời đầy dẫy các yếu tố con người nên Ngài cũng bao gồm con người trong việc truyền đạt lời Ngài. Vì lời Đức Chúa Trời đầy dẫy các yếu tố con người nên Đức Chúa Trời không thể sử dụng máy ghi âm cát xét, sấm chớp hay các thiên sứ để truyền đạt lời Ngài. Các yếu tố con người phải được tham gia vào sự truyền đạt lời Ngài. Vì nội dung quá đầy dẫy các yếu tố con người nên Đức Chúa Trời phải chuyển đạt nội dung ấy qua các yếu tố con người. Đó không phải là vấn đề nhận được tiếng nói từ Đức Chúa Trời rồi phát ra tiếng nói ấy. Lời Đức Chúa Trời phải đi qua linh chúng ta và thậm chí đi qua tâm trí, những cảm xúc và sự hiểu biết của chúng ta và sau đó được chuyển thành những lời riêng của chúng ta rồi lời ấy mới có thể được truyền đạt. Làm một người cung ứng lời có nghĩa là vậy. Đó không phải là vấn đề lời Ngài lọt vào tai là vội nói ra ở cửa miệng. Đó không phải là chức vụ cung ứng lời. Nếu nhận được một lời từ Đức Chúa Trời và phát ra cùng một lời ấy đúng từng chữ, thì chúng ta chỉ hành động như một chiếc máy ghi âm cát xét. Đức Chúa Trời không muốn chúng ta truyền đạt lời Ngài như một chiếc máy. Ngài muốn chúng ta tiếp nhận lời ấy, suy gẫm lời ấy, cảm nhận lời ấy, bị lời ấy quấy rầy, vui mừng về lời ấy và nghiền ngẫm lời ấy rồi mới phát ra lời ấy.

Giăng 7:37 chép: “Ngày chót, là ngày trọng thể trong kỳ lễ, Giê-su đứng lên kêu rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng Ta mà uống”. Nếu khát thì tôi có thể đến với Chúa mà uống. Nhưng vấn đề không ngừng lại tại đó. Trong câu 38, Chúa nói: “Kẻ nào tin Ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng người ấy...”. Khi tôi khát, tôi có thể đến với Chúa Giê-su mà uống. Nhưng nếu những người khác đang khát thì tôi có thể đơn giản rót nước cho họ uống không? Không, Lời của Đức Chúa Trời nói rằng sau khi một người uống nước thì nước ấy vào trong bản thể sâu thẳm nhất của người ấy rồi các dòng sông nước sống tuôn ra từ bản thể sâu thẳm nhất của người ấy. Chức vụ cung ứng lời là lời của Đức Chúa Trời vào trong chúng ta rồi tuôn ra từ bản thể sâu thẳm nhất của chúng ta để giải cơn khát của những người khác. Con đường gián tiếp này cấu thành chức vụ cung ứng lời. Đó không phải là vấn đề chúng ta thuộc lòng bao nhiêu câu Kinh Thánh và có thể chia sẻ bao nhiêu bài giảng. Đó là vấn đề nước sống gián tiếp chuyển hướng và tuôn ra từ bản thể sâu thẳm nhất của chúng ta. Nhu cầu về một sự chuyển hướng ở bên trong bản thể sâu thẳm nhất của chúng ta và sau đó là một dòng chảy ra từ bản thể bề trong của chúng ta cho chúng ta biết rằng có một giá phải trả. Đôi khi nước sống chảy vào trong chúng ta nhưng không thể chảy ra. Những lúc khác, dòng chảy không còn sống động sau khi vào trong chúng ta. Những lần khác nữa, khi nước sống tuôn ra, thì nó mang theo nhiều tạp chất từ bản thể bề trong của chúng ta. Khi tình trạng đó xảy ra, thì chúng ta không có chức vụ cung ứng lời.

Chức vụ cung ứng lời không liên quan gì đến những bài giảng được chuẩn bị kỹ lưỡng. Khi lời ấy vào trong chúng ta, lời ấy nghiền nát và khuấy động bên trong chúng ta. Khi lời ấy đi qua chúng ta như vậy, các yếu tố con người được thêm vào lời. Lời ấy không bị ô nhiễm hay tổn hại, mà được nâng cao lên. Có chức vụ cung ứng lời có nghĩa là như vậy. Chúa đang làm cho chúng ta trở nên những ống dẫn nước sống; nước phải được tuôn ra từ chính bản thể của chúng ta. Bản thể sâu thẳm nhất của chúng ta là ống dẫn. Để nước sống tuôn ra từ chúng ta, chính bản thể của chúng ta phải đúng đắn. Nếu chúng ta không đúng đắn thì lời Đức Chúa Trời không thể tuôn ra từ chúng ta. Chúng ta không nên nghĩ rằng quyền năng của một bài giảng phát xuất từ trí thông minh hay tài hùng biện. Không, trí thông minh và tài hùng biện không phải là then chốt. Then chốt là các yếu tố con người của chúng ta có nâng cao và làm cho lời Đức Chúa Trời trở nên trọn vẹn khi lời ấy đi qua chúng ta hay không. Lời ấy có mang tính chất con người trong khi vẫn thần thượng, hay chúng ta làm tổn hại lời Đức Chúa Trời khi các yếu tố con người của chúng ta được thêm vào lời ấy? Đây là câu hỏi cơ bản mà một người cung ứng lời phải đối diện.

Đối với nhiều người, nan đề lớn là nước sống không còn là nước sống nữa khi nước ấy đi qua bản thể sâu thẳm nhất của họ! Đó là lý do tại sao chúng tôi nhấn mạnh đến sự sửa trị của Thánh Linh. Nếu một người chưa thấy tầm quan trọng của việc được Chúa xử lý và nếu các thói quen, cá tính và nếp sống của người ấy chưa được xử lý, thì đối với lời Đức Chúa Trời người ấy sẽ vô dụng. Nếu một người nghĩ rằng làm một người cung ứng lời chỉ là vấn đề hùng biện và khôn khéo, thì người ấy còn cách xa lẽ thật! Thật ra, không gì có thể cách xa lẽ thật hơn tình trạng ấy! Trước hết lời Đức Chúa Trời phải đến với chúng ta, đi qua chúng ta, đổ đầy chúng ta, và thậm chí quấy rầy chúng ta, nghiền nát chúng ta, chà xát chúng ta và xử lý chúng ta. Trước hết chúng ta phải chịu những thử nghiệm này và trả giá ấy rồi mới có thể được mang đến chỗ nhận thức rõ ràng về lời Đức Chúa Trời. Nhờ đó, lời Đức Chúa Trời được thêm vào chúng ta từng chút một. Lời ấy phải được kết cấu và được đan dệt vào trong chúng ta từng mũi một như một chiếc mền len. Sau đó, khi lời tuôn ra từ chúng ta, thì lời ấy bao gồm việc tuôn ra linh chứ không chỉ là lặp lại những từ ngữ. Nước tuôn ra sẽ trong suốt và thuần khiết, hoàn toàn phát xuất từ Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ chỉ làm gia tăng sự hoàn hảo của lời ấy chứ không làm tổn hại tính chất hoàn hảo của nó. Chúng ta chỉ thêm vào sự thánh khiết của lời ấy chứ không làm suy giảm đi. Khi chúng ta phát ngôn, nước sống sẽ được tuôn ra. Khi chúng ta nói, Đức Chúa Trời cũng sẽ nói. Đó là ý nghĩa của chức vụ cung ứng lời.

Chức vụ cung ứng lời giống như một dòng chảy do hai con sông kết hợp lại chứ không phải là một con sông riêng lẻ. Để có được điều đó, Thánh Linh cần hành động trong chúng ta. Chúng ta cần Linh điều khiển hoàn cảnh để sửa trị chúng ta bằng nhiều cách. Khi Thánh Linh hành động trên chúng ta, phá vỡ, lột bỏ và nhào nặn chúng ta, thì chúng ta được tạo thành một ống dẫn mà qua đó nước sống có thể tuôn chảy. Người bề ngoài của chúng ta phải được Đức Chúa Trời phá vỡ và lột bỏ, và cần được Đức Chúa Trời xử lý một cách thông suốt và triệt để. Linh chúng ta sẽ có được sự hiểu biết, và chỉ sau khi Thánh Linh hoàn thành công tác như vậy thì Thánh Linh mới tự do tuôn ra lời Đức Chúa Trời qua chúng ta. Lời Đức Chúa Trời sẽ mang theo yếu tố con người của chúng ta, nhưng sẽ không bị yếu tố con người của chúng ta làm ô nhiễm. Trái lại, lời Ngài và lời chúng ta sẽ là một dòng chảy do hai con sông kết hợp.

Chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ ý nghĩa chức vụ cung ứng lời. Chức vụ cung ứng lời là sự tuôn ra Linh của Đức Chúa Trời trong lời thần thượng của Ngài qua con người. Đó không phải là sự tuôn ra Linh của Đức Chúa Trời trong lời Ngài một cách độc lập mà là sự tuôn ra Linh của Đức Chúa Trời trong lời Ngài cùng với con người. Đó là ý nghĩa của chức vụ cung ứng lời. Đó là điều hàm chứa lời Đức Chúa Trời cũng như chức vụ của con người. Lời Đức Chúa Trời có ở trong sự phát ngôn này và chức vụ của con người cũng bao gồm trong đó. Trước hết, lời Đức Chúa Trời đến với con người. Sau đó, chức vụ của con người được thêm vào lời ấy. Cả hai cùng tuôn đổ ra. Nếu chỉ có lời Đức Chúa Trời mà không có chức vụ của con người thì chúng ta không có sự tuôn ra của lời Ngài.

Một số người nghĩ rằng hễ thâu nhặt một vài câu đây đó thì họ có thể truyền đạt lời Đức Chúa Trời một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, việc đó không bao giờ đơn giản như vậy. Chức vụ cung ứng lời là một dòng chảy kết hợp chứ không phải là một dòng chảy đơn độc. Một dòng chảy đơn độc sẽ không có hiệu quả. Đức Chúa Trời không hành động như vậy, vì làm như thế thì trên căn bản là mâu thuẫn với nguyên tắc chức vụ cung ứng lời. Chúng ta phải nhận thức rằng không có lời của con người thì lời Đức Chúa Trời không thể tuôn ra; Ngài phải dùng đến con người. Nói về bản tính và tính chất thì chúng ta thật bướng bỉnh, ô uế và phản loạn. Đức Chúa Trời dùng một con lừa còn dễ hơn là sử dụng chúng ta, nhưng Ngài vẫn chọn con người. Trong chức vụ cung ứng lời của Ngài và trong việc tuôn ra lời Ngài, Đức Chúa Trời mong muốn yếu tố của con người được tham dự vào. Đức Chúa Trời đã chọn con người để truyền đạt lời Ngài. Chúng ta phải ghi nhớ rằng lời Đức Chúa Trời chỉ hiện diện ở nơi nào có những người cung ứng lời. Nếu không có những người cung ứng lời thì chúng ta không thể có lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phải có được những người cung ứng rồi Ngài mới có thể truyền đạt lời Ngài; nếu không có những người cung ứng thì không thể có lời. Nếu trông đợi Đức Chúa Trời truyền đạt lời Ngài mà không cung cấp cho Ngài những người cung ứng thích hợp thì chúng ta chỉ hi vọng hão. Đường lối được Đức Chúa Trời ấn định trước hết là đặt lời Ngài vào trong những người cung ứng, tức những người đã kinh nghiệm những sự xử lý của Thánh Linh. Chúng ta đều đồng ý rằng Linh của Đức Chúa Trời ở trong lời Ngài. Nhưng Linh Ngài cũng ở trong chúng ta. Nói cách khác, Linh Đức Chúa Trời vừa ở trong Lời Ngài vừa ở trong những người cung ứng. Linh Đức Chúa Trời ở ngay trong lời. Nhưng nếu chỉ lời ấy được truyền đạt thì Linh Ngài sẽ không làm gì cả. Ngài chỉ hành động khi nào lời cư ngụ ở bên trong và được kết hợp với những người cung ứng. Bảy con trai của Sê-va thử đuổi quỉ trong danh Giê-su mà Phao-lô rao giảng, nhưng không thể đuổi chúng ra. Không những các quỉ cứ ở lại, mà chúng còn đánh bại hai người trong bọn họ (Công. 19:13-16). Những người con trai ấy có lời lẽ đúng đắn, nhưng Linh không làm gì cả. Chỉ nói ra những lời đúng đắn thì chưa đủ, nhưng cũng cần làm những người đúng đắn, tức những người cung ứng thích hợp. Trước hết, Linh của Đức Chúa Trời phải kết hiệp chính Ngài với những người cung ứng lời. Rồi nước sống sẽ tuôn ra khi Linh Ngài được truyền đạt qua lời.

Tôi xin lặp lại: Lời Đức Chúa Trời không hành động một cách độc lập, mà được diễn đạt qua các yếu tố con người. Con người là ống dẫn, ống dẫn của Đức Chúa Trời. Không thể nào lật đổ nguyên tắc này bằng cách cho là chỉ một mình lời Đức Chúa Trời là đủ và không cần xét đến tình trạng con người. Nếu không có sự vận hành của Linh Đức Chúa Trời ở đằng sau lời Ngài thì lời ấy sẽ là một cái vỏ vô dụng, trống rỗng. Vấn đề trọng yếu ngày nay là những người cung ứng lời. Trọng tâm nằm nơi những người cung ứng lời. Những người cung ứng lời phải có Linh. Linh của Đức Chúa Trời phải đi cùng với những người cung ứng của Ngài rồi lời ấy mới có hiệu quả. Do đó, nan đề căn bản nằm nơi những người cung ứng lời. Chức vụ cung ứng lời không chỉ là vấn đề lời. Nếu một người nhấn mạnh đến lời mà không chú trọng đến những người cung ứng thì điều người ấy có không phải là lời. Một lời như vậy sẽ gây thiệt hại, và không phải là một chức vụ cung ứng.

Nan đề ngày nay hoàn toàn nằm nơi những người cung ứng lời. Khải tượng, ánh sáng hay lời Đức Chúa Trời thì không hiếm. Nan đề ngày nay là Đức Chúa Trời không thể tìm ra những người cung ứng thích hợp. Nhiều khi ánh sáng của Đức Chúa Trời không còn được những người khác nhìn thấy nữa khi ánh sáng ấy được đặt vào miệng chúng ta. Nhiều người nói về Thánh Linh trong bài giảng của mình, nhưng người nghe lại không chạm đến Thánh Linh. Ngược lại, họ chạm đến xác thịt. Nhiều người nói về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, nhưng người nghe không cảm nhận được một chút thánh khiết nào trong họ, mà chỉ chạm đến một linh phù phiếm. Một số người nói về thập tự giá trên bục giảng, nhưng người nghe có thể cảm nhận rằng họ chưa từng trải qua sự xử lý nào cả. Trong họ thậm chí không có chút dấu vết của thập tự giá. Vài người thích nói về tình yêu thương, nhưng chỉ có tính nóng giận thay vì tình yêu thương được biểu lộ qua họ. Tất cả những trường hợp ấy nói lên một nan đề căn bản — có điều gì đó sai trật đối với những người cung ứng [lời]. Nếu mọi sự rao giảng ngày nay trên đất này đều ở trong nguyên tắc chức vụ [cung ứng lời], thì Hội thánh sẽ rất phong phú. Thật đáng tiếc, có rất ít lời Đức Chúa Trời dầu có đủ mọi loại giảng dạy! Đó là nan đề căn bản trong Hội thánh ngày nay. Nếu không có những người cung ứng thì không có sự cảm thúc và khải thị. Đối với nhiều người, họ càng rao giảng thì lời giảng của họ càng không phải là sự cảm thúc, càng không phải là sự tuôn đổ ánh sáng, và càng không xứng đáng được gọi là khải thị. Nan đề nằm nơi những người rao giảng; họ không phải là những người Đức Chúa Trời có thể sử dụng. Đức Chúa Trời không thể dùng những người như vậy, nhưng Ngài không muốn tự mình phát ngôn. Đó là một nan đề. Ngài có lời, nhưng Ngài không muốn tự mình truyền đạt lời ấy. Ngài không muốn làm người cung ứng lời, mà muốn con người làm người cung ứng lời Ngài.

Anh em ơi, Đức Chúa Trời sẽ không tự phát ngôn. Nếu những người cung ứng không thể nói ra lời Ngài, thì tình trạng của Hội thánh sẽ ra sao? Hội thánh sẽ hoang tàn, nghèo nàn và đổ nát vì các yếu tố con người không đạt đến tiêu chuẩn của lời Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời có thể tìm thấy một người đã được Ngài xử lý, được phá vỡ và phủ phục thì lời Đức Chúa Trời sẽ tuôn ra qua người ấy. Chúng ta luôn luôn tìm kiếm lời Đức Chúa Trời, nhưng Ngài luôn luôn tìm kiếm những người Ngài có thể sử dụng. Chúng ta tìm kiếm lời Đức Chúa Trời trong khi Ngài tìm kiếm những người cung ứng lời.

Nếu không bằng lòng để được xử lý thì chúng ta không thể công tác cho Đức Chúa Trời. Chúng ta đừng nghĩ rằng mình có thể chọn những sự xử lý ấy hay không tùy ý. Chúng ta không nên cho là sau khi nghe một số bài giảng thì mình có thể truyền đạt cùng một lời ấy. Không! Nếu một người không đúng đắn thì bài giảng của người ấy sẽ không đúng đắn. Con người có thể cản trở lời Đức Chúa Trời. Thánh Linh không chỉ được truyền đạt qua lời. Khi lời Đức Chúa Trời đến với chúng ta, chúng ta phải được tự do không bị điều gì cản trở. Chúng ta phải bị phá vỡ, và phải mang dấu vết thập tự giá. Linh chúng ta phải là một linh đã bị đập vỡ. Đức Chúa Trời chỉ có thể dùng những người như vậy, và Thánh Linh sẽ chỉ tuôn chảy qua những người như vậy. Nếu Thánh Linh bị khóa chặt ở bên trong chúng ta thì sự ngăn cản và trở ngại chính là con người bề ngoài, tình cảm và tính khí của chúng ta. Khi những điều như vậy hiện diện bên trong chúng ta, thì lời Đức Chúa Trời chắc chắn không thể tuôn chảy qua chúng ta. Cho dầu chúng ta giảng một bài tuyệt diệu, nhưng trên thực tế thì đó không là gì khác hơn là những từ ngữ, sự dạy dỗ và giáo lý suông mà không có lời Đức Chúa Trời.

Lời Đức Chúa Trời phải xuyên thấu trọn bản thể của chúng ta — cảm xúc, sự hiểu biết, tấm lòng và linh của chúng ta. Lời ấy phải chảy vào và tuôn ra từ chúng ta; lời ấy phải được đồng nhất với chúng ta, rồi phải được tuôn ra từ chúng ta do bị nghiền nát, đập nát và đè nén. Nếu tình cảm chúng ta không quân bình, nếu tâm trí chúng ta bị hư hoại, hay nếu sự hiểu biết, tấm lòng và linh của chúng ta sai trật thậm chí chỉ một chút, thì chúng ta sẽ làm tổn hại lời Đức Chúa Trời. Không những lời của chúng ta sai sót, mà Hội thánh cũng chịu thiệt thòi nữa. Chúng ta sẽ làm tổn hại lời Đức Chúa Trời và ảnh hưởng đến Hội thánh. Đó là con đường của chức vụ cung ứng lời, và nan đề của chúng ta nằm ở đó. Chúng ta phải học tập để lời Đức Chúa Trời đi qua chúng ta mà tuyệt nhiên không bị cản trở hay ô nhiễm. Nếu Đức Chúa Trời thương xót chúng ta, chúng ta sẽ tìm thấy ánh sáng trong vấn đề này.