Thông tin sách

Chức Vụ Lời Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Ministry of God's Word
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 1

Untitled Document

PHẦN MỘT: NGƯỜI CUNG ỨNG LỜI

CHƯƠNG MỘT

BA LOẠI NGƯỜI CUNG ỨNG LỜI

Công vụ 6:4 chép: “Còn chúng tôi thì cứ chuyên lo cầu nguyện và giảng đạo (cung ứng lời – RcV)”. Nhóm chữ chức vụ cung ứng lời có thể được dịch là “sự phục vụ bằng lời”. Công tác phục vụ người ta bằng lời Đức Chúa Trời được gọi là chức vụ cung ứng lời, và những người tham gia vào sự phục vụ này được gọi là những người cung ứng lời. Chức vụ cung ứng chỉ về công tác, trong khi người cung ứng chỉ về con người. Chức vụ cung ứng lời chiếm một vị trí rất quan trọng trong công tác của Đức Chúa Trời. Công bố lời Đức Chúa Trời và cung ứng lời ấy cho người ta theo những nguyên tắc cụ thể, và các đầy tớ của Đức Chúa Trời cần phải học kỹ những nguyên tắc ấy.

Đức Chúa Trời đã phán qua suốt Cựu Ước và Tân Ước. Ngài đã phán trong Cựu Ước. Ngài cũng phán trong Tân Ước vào thời Chúa Giê-su và qua Hội thánh. Kinh Thánh cho chúng ta thấy rằng công tác quan trọng nhất của Đức Chúa Trời trên đất là phán ra lời Ngài. Nếu chúng ta lấy lời Ngài ra khỏi công tác của Ngài thì trên thực tế công tác của Ngài không còn gì nữa. Điều chủ yếu trong công tác của Ngài trên thế gian này là sự phát ngôn của Ngài. Nếu không có lời thì không có công tác. Hễ lời Ngài bị lấy đi thì công tác của Ngài trở nên vô hiệu. Chúng ta phải nhận thức được vị trí lời Ngài chiếm giữ trong công tác của Ngài. Hễ chúng ta lấy đi lời Ngài khỏi công tác của Ngài thì công tác sẽ chấm dứt. Công tác Đức Chúa Trời được thi hành qua lời Ngài. Thật ra, lời Ngài là công tác của Ngài. Công tác của Ngài không có gì ngoài ra là lời Ngài.

Làm thế nào Đức Chúa Trời truyền lời Ngài ra? Thật lạ lùng và phi thường khi nhận biết lời Đức Chúa Trời được nói ra qua môi miệng của con người. Đó là lý do tại sao Kinh Thánh không những nói đến lời Đức Chúa Trời mà còn đề cập đến những người cung ứng lời. Nếu Đức Chúa Trời làm trọn công tác phát ngôn thì không cần đến người cung ứng lời nào cả. Tuy nhiên, Ngài quyết định phát ngôn qua con người. Điều này đưa đến vấn đề người cung ứng. Chúng ta phải được sáng tỏ trước mặt Chúa rằng công tác của Đức Chúa Trời được truyền đạt qua lời Ngài và lời Ngài được nói ra qua con người. Điều này lập tức đem chúng ta đến vị trí trọng yếu của con người trong công tác của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không nói ra lời Ngài qua bất cứ phương tiện nào khác hơn là môi miệng của con người. Ngài cần những người cung ứng lời, và cần những người truyền đạt lời Ngài.

Trong suốt Cựu và Tân Ước, chúng ta thấy có ba loại người. Nói cách đơn giản là có ba loại người cung ứng lời tham gia vào việc truyền bá lời Đức Chúa Trời. Trong Cựu Ước, lời Đức Chúa Trời được nói ra qua các tiên tri, tức qua chức vụ của các tiên tri. Khi Chúa Giê-su ở trên đất, lời của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, và có chức vụ của Chúa Giê-su. Trong phần còn lại của Tân Ước, lời Đức Chúa Trời được nói ra qua các sứ đồ, tức là qua chức vụ của các sứ đồ.

NHỮNG NGƯỜI CUNG ỨNG LỜI TRONG CỰU ƯỚC – CÁC TIÊN TRI

Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời chọn nhiều tiên tri để nói ra lời Ngài. Những tiên tri ấy nhận được khải tượng và nói ra. Thậm chí những người như Ba-la-am cũng phát ngôn cho Đức Chúa Trời. Ba-la-am là một tiên tri. Lời tiên tri của ông là một trong những lời tiên tri lớn lao nhất trong Cựu Ước (Dân. 23–24). Là những người cung ứng lời Đức Chúa Trời, các tiên tri trong Cựu Ước nói ra khi lời Đức Chúa Trời đến trên họ. Ba-la-am nói tiên tri khi Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống trên ông; sự kiện đó có nghĩa là ông nói ra những gì Linh bảo ông nói mà không ý thức mình nói gì. Những cảm xúc riêng và tư tưởng riêng của ông tạm thời bị Đức Chúa Trời đình chỉ. Khải thị và lời diễn đạt mà ông nhận được từ Đức Chúa Trời hoàn toàn không liên quan gì đến tình trạng của chính ông; những lời ấy đơn giản được nói ra từ miệng của ông. Ông không có phần trong lời Đức Chúa Trời. Những ý kiến, cảm xúc và tư tưởng của ông tuyệt nhiên không dính dấp đến. Nói cách khác, Đức Chúa Trời dùng miệng của ông như thể đó là miệng của Ngài. Ba-la-am là một ví dụ điển hình về người cung ứng lời trong Cựu Ước. Thánh Linh ban lời, Đức Chúa Trời ban sự diễn đạt. Dưới quyền năng thúc đẩy và kiềm chế của Thánh Linh, lời Đức Chúa Trời được nói ra qua môi miệng của người cung ứng trong Cựu Ước. Lầm lỗi không thể nào xảy ra. Đức Chúa Trời dùng con người, nhưng những người ấy chỉ là những người chuyển đạt lời. Trong những khải thị ấy, yếu tố con người bị kiềm giữ ở mức tối thiểu. Không gì thuộc con người được thêm vào lời diễn đạt thần thượng. Vai trò của con người chỉ là làm môi miệng.

Trong Cựu Ước, chúng ta cũng thấy những người như Môi-se, Đa-vít, Ê-sai và Giê-rê-mi; đó là những người được Đức Chúa Trời dùng để phát ngôn cho Ngài trong công tác của họ. Tuy nhiên, họ không đơn giản chỉ là môi miệng của Đức Chúa Trời; họ tiến bộ hơn một chút so với Ba-la-am hay một vài vị tiên tri khác. Hầu hết những văn phẩm của Môi-se đều là những lời được Đức Chúa Trời ban. Ông nói ra theo những lời chỉ dẫn của Đức Chúa Trời, nhưng theo một ý nghĩa thì sự phát ngôn của ông cũng theo cùng một nguyên tắc như sự phát ngôn của Ba-la-am. Khi Ê-sai nhìn khải tượng này đến khải tượng khác, ông ghi chép những khải tượng ấy trong các bài viết của mình. Theo một ý nghĩa thì các bài viết của ông cũng ở trong cùng một nguyên tắc như sự phát ngôn của Ba-la-am. Đức Chúa Trời đặt lời Ngài trong miệng của Ba-la-am, và cũng đặt lời Ngài trong miệng của Môi-se và Ê-sai. Theo nguyên tắc thì họ đều kinh nghiệm cùng một điều, nhưng giữa nhóm Môi-se cùng Ê-sai và nhóm của Ba-la-am có một sự khác biệt. Khi Ba-la-am nói ra vì chính mình, thì ông bày tỏ điều gì đó theo cảm xúc riêng tư của mình. Loại phát biểu như vậy thật sai trật, và bị Đức Chúa Trời kết án. Khi nói ra dưới sự cảm thúc thần thượng, ông nói ra lời Đức Chúa Trời. Khi ông tự mình nói ra, thì kết quả đem đến là tội lỗi, lầm lạc và tối tăm. Môi-se thì khác. Cho dầu hầu hết những lời nói của ông đều được Đức Chúa Trời truyền bảo, thế nhưng khi ông nói theo cảm xúc riêng của mình trong sự hiện diện của Chúa, thì lời nói của ông được Đức Chúa Trời công nhận và được xem là một phần của sự phát ngôn thần thượng. Điều này có nghĩa Môi-se là công cụ của Đức Chúa Trời, ông có giá trị hơn so với Ba-la-am. Đối với Ê-sai cũng có thể nói như vậy. Hầu hết những lời tiên tri của Ê-sai đều phát xuất từ những khải tượng ông trực tiếp nhận được từ Chúa. Tuy nhiên, có một vài lần trong sách Ê-sai cho thấy ông tự mình nói ra. Đa-vít và Giê-rê-mi nói theo những cảm xúc riêng tư của mình thậm chí còn hơn Môi-se và Ê-sai. Họ giống những người cung ứng lời của Tân Ước hơn. Tuy nhiên, theo nguyên tắc thì họ cũng như những tiên tri trong Cựu Ước, tức những người chỉ nói ra khi lời Đức Chúa Trời ngự xuống trên họ.

NGƯỜI CUNG ỨNG LỜI TRONG CÁC SÁCH PHÚC ÂM – CHÚA GIÊ-SU

Chúa Giê-su là Lời trở nên xác thịt ở trên đất. Ngài là Lời của Đức Chúa Trời. Ngài mặc xác thịt vào và trở nên một người bằng xương bằng thịt. Mọi sự Ngài làm và nói cấu thành một phần của lời Đức Chúa Trời. Sự phục vụ của Chúa Giê-su là sự phục vụ của lời Đức Chúa Trời. Trong Ngài, lời Đức Chúa Trời được nói ra một cách hoàn toàn khác biệt so với sự phát ngôn qua các tiên tri trong Cựu Ước. Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời chỉ sử dụng tiếng nói của con người để biểu đạt lời Ngài. Thậm chí với tư cách là vị tiên tri cuối cùng, Giăng Báp-tít chỉ là tiếng kêu trong đồng vắng. Lời Đức Chúa Trời chỉ được chuyển đạt qua tiếng nói của ông. Nhưng Chúa Giê-su chính là lời trở nên xác thịt ở trên đất. Nói cách khác, Ngài là lời được hiện thân trong xác thịt; Ngài là lời trở thành con người. Chúng ta có thể nói đây là con người, và cũng có thể nói đây là lời của Đức Chúa Trời. Khi lời của Đức Chúa Trời ngự xuống trên con người trong Cựu Ước, lời là lời, và con người là con người. Lời chỉ được chuyển đạt qua tiếng nói của con người. Tuy trường hợp của Môi-se và Đa-vít có hơi khác biệt, nhưng theo nguyên tắc thì tiếng nói của con người chỉ là một công cụ chuyển đạt trong thời Cựu Ước. Nhưng khi Chúa Giê-su đến, thì lời không còn ngự xuống trên một người nữa, tức tình trạng lời vẫn là lời và con người vẫn là con người. Lời của Đức Chúa Trời mặc xác thịt con người vào; lời trở nên con người. Lời Đức Chúa Trời không còn nói ra qua tiếng nói con người là phương tiện chuyển đạt nữa, mà lời mặc con người vào. Lời có những cảm xúc, tư tưởng và ý kiến thuộc con người, nhưng vẫn là lời Đức Chúa Trời.

Trong Cựu Ước, khi ý kiến của con người được thêm vào lời Đức Chúa Trời, thì lời ấy không còn là lời Đức Chúa Trời. Ngay khi những cảm xúc, tư tưởng và ý kiến thuộc con người thêm vào lời Đức Chúa Trời thì đó không còn là lời hoàn hảo, thuần khiết và không pha trộn của Đức Chúa Trời nữa. Lời Đức Chúa Trời đã bị hư hoại. Sự thuần khiết của lời Đức Chúa Trời chỉ có thể được duy trì khi nào lời ấy không bị làm ô nhiễm với những cảm xúc, tư tưởng và ý kiến thuộc con người. Khi lời Đức Chúa Trời chỉ được nói ra qua tiếng nói của Ba-la-am, thì đó là một lời tiên tri. Nhưng khi Ba-la-am xen vào những cảm xúc riêng và ý kiến riêng của mình thì lời ấy không còn chỉ là lời Đức Chúa Trời; lời Đức Chúa Trời đã bị sửa đổi. Đó là Cựu Ước. Tuy nhiên, trong trường hợp của Chúa Giê-su thì lời của Đức Chúa Trời không những được chuyển đạt qua tiếng nói của con người mà còn được truyền đạt qua những tư tưởng, cảm xúc và ý kiến của người ấy nữa. Tư tưởng của con người trở nên tư tưởng của Đức Chúa Trời, cảm xúc của con người trở nên cảm xúc của Đức Chúa Trời, và ý kiến của con người trở nên ý kiến của Đức Chúa Trời. Đó là chức vụ cung ứng lời mà Đức Chúa Trời đã có được trong Chúa Giê-su. Chúa Giê-su phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời theo một nguyên tắc hoàn toàn khác với những người cung ứng lời trong Cựu Ước. Theo nguyên tắc thì những người cung ứng lời trong Cựu Ước hầu việc Đức Chúa Trời bằng tiếng nói của mình. Đối với một vài người thì Đức Chúa Trời không chỉ dùng tiếng nói của họ; họ hành động theo nguyên tắc giống trong Tân Ước hơn. Nhưng, trên thực tế, họ vẫn đứng trên nền tảng Cựu Ước. Nhưng trong trường hợp Chúa Giê-su thì Ngài chính là Lời của Đức Chúa Trời. Lời của Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt. Do đó, chúng ta có thể nói rằng cảm xúc của Chúa Giê-su là cảm xúc của lời Đức Chúa Trời, các tư tưởng của Ngài là tư tưởng của lời Đức Chúa Trời, và những ý kiến của Ngài là ý kiến của lời Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su chính là lời Đức Chúa Trời trở nên xác thịt. Đức Chúa Trời không muốn lời Ngài cứ chỉ là lời mà thôi; Ngài muốn lời Ngài mặc lấy hình dạng con người. Ngài không thỏa lòng khi chỉ có một mình lời; Ngài muốn lời Ngài trở nên xác thịt. Đó là huyền nhiệm lớn lao nhất trong Tân Ước. Chỉ có lời thì Đức Chúa Trời không thỏa lòng; Ngài muốn lời Ngài trở nên một lời được nhân cách hóa mang được những cảm xúc, tư tưởng và ý kiến thuộc con người. Chúa Giê-su là một người cung ứng lời như vậy.

Trong Thân vị của Chúa Giê-su, lời của Đức Chúa Trời không còn là một điều gì đó khách quan, mà trở nên một điều gì đó chủ quan. Trong lời ấy, chúng ta tìm thấy những cảm xúc, tư tưởng và ý kiến thuộc con người. Tuy nhiên, lời vẫn là lời của Đức Chúa Trời. Ở đây chúng ta tìm thấy một nguyên tắc tuyệt diệu trong Kinh Thánh: Lời Đức Chúa Trời có thể không bị cảm xúc của con người ảnh hưởng. Thậm chí dầu có cảm xúc con người, lời Đức Chúa Trời không nhất thiết bị ô nhiễm. Vấn đề là cảm xúc thuộc con người ấy có đạt đến tiêu chuẩn hay không. Điều đó không có nghĩa là mỗi khi cảm xúc thuộc con người hiện diện thì lời Đức Chúa Trời bị hư hoại. Không có chuyện đó. Đây là một vấn đề rất sâu nhiệm! Ở đây chúng ta khám phá ra một nguyên tắc kỳ diệu: Yếu tố thuộc con người không nhất thiết ngăn trở lời Đức Chúa Trời. Trong Chúa Giê-su, chúng ta nhận thấy rằng khi Lời trở nên xác thịt, tư tưởng của xác thịt ấy trở nên tư tưởng của Đức Chúa Trời. Chúng ta vốn chỉ có thể nói rằng tư tưởng của xác thịt là tư tưởng của con người. Nhưng trong thời đại Tân Ước, lời đã trở nên xác thịt. Nói cách khác, lời đã trở nên con người; tư tưởng của con người ấy là tư tưởng của lời Đức Chúa Trời. Trong Chúa Giê-su, chúng ta tìm thấy tư tưởng thuộc con người đạt đến tiêu chuẩn. Có một loại tư tưởng thuộc con người mà khi thêm vào lời Đức Chúa Trời thì không làm ô nhiễm lời ấy nhưng ngược lại làm trọn vẹn lời ấy. Lời Đức Chúa Trời không bị yếu tố thuộc con người của Chúa Giê-su cản trở. Ngược lại, lời ấy được hoàn thành qua những tư tưởng của Chúa Giê-su. Trong Chúa Giê-su, chúng ta nhận thấy lời Đức Chúa Trời đạt đến mức độ cao hơn mức độ được tìm thấy trong Cựu Ước. Ma-thi-ơ 5:21 chép: “Các ngươi đã nghe phán cho người xưa...” Đó là lời nói của Đức Giê-hô-va với Môi-se. Đó là sự cảm thúc mà Môi-se nhận được trực tiếp từ Đức Chúa Trời. Nhưng Chúa Giê-su nói tiếp trong câu 22 rằng: “Song Ta nói cùng các ngươi...” Ở đây chúng ta nhận thấy Chúa tự mình nói; Ngài nói nhiều điều theo tư tưởng riêng và ý kiến riêng của Ngài. Nhưng lời nói này không lật đổ quyền tể trị của Đức Chúa Trời, mà bổ sung vào quyền tể trị của Ngài. Lời ấy không lật đổ lời của Đức Chúa Trời, mà đạt đến độ cao không thể nào đạt tới trong Cựu Ước.

Ở đây chúng ta nhìn thấy chính đặc tính của Chúa Giê-su với tư cách là người cung ứng lời Đức Chúa Trời. Trong Ngài, lời Đức Chúa Trời được làm cho trọn vẹn. Trong con người không có tội ấy không những có tiếng nói mà còn có cảm xúc và tư tưởng nữa. Trong Chúa Giê-su, lời Đức Chúa Trời không còn chỉ là một khải thị nữa mà trở nên chính Chúa Giê-su. Lời Đức Chúa Trời không còn chỉ chuyển đạt qua tiếng nói con người nữa mà đã trở nên một người. Lời ấy được nhân cách hóa. Lời của Đức Chúa Trời đã được kết hợp với lời của con người, và sự phát ngôn của con người đã trở nên sự phát ngôn của Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời được kết hợp với con người có nghĩa là lời Ngài đã được kết hợp với lời con người. Đó là một sự kiện vinh hiển nhất! Khi Giê-su người Na-xa-rét nói, ấy là Đức Chúa Trời phán! Đó là một người có những lời nói vô song so với các thời đại trước và sau Ngài. Chưa từng ai nói như Giê-su người Na-xa-rét. Ngài hoàn toàn không có tội. Ngài là Đấng thánh của Đức Chúa Trời, và tuyệt đối thuộc về Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời ở trong Ngài, và Ngài là hiện thân của lời Đức Chúa Trời trong con người. Lời Đức Chúa Trời là chính Ngài, và Ngài là Lời Đức Chúa Trời. Khi Ngài nói, ấy là Đức Chúa Trời phán. Đó là một người cung ứng lời mà trong người ấy lời Đức Chúa Trời hoàn toàn chủ quan. Lời Đức Chúa Trời là một thực thể rất chủ quan trong Ngài. Lời ấy quá chủ quan đến nỗi Ngài chính là lời Đức Chúa Trời.

Trong Cựu Ước, chúng ta thấy các tiên tri phát ngôn cho Đức Chúa Trời. Trong các sách Phúc âm, chúng ta thấy Chúa Giê-su mà chính Thân vị của Ngài là lời Đức Chúa Trời. Vào thời các tiên tri trong Cựu Ước, chúng ta chỉ có thể chỉ vào các tiên tri và nói: “Đó là lời của Đức Chúa Trời” khi họ mở miệng [nói ra lời Ngài]. Nhưng đối với Chúa Giê-su thì chúng ta có thể chỉ vào chính con người của Ngài mà nói: “Người này là lời của Đức Chúa Trời”. Cảm xúc của Ngài là cảm xúc của lời Đức Chúa Trời, và tư tưởng của Ngài là tư tưởng của lời Đức Chúa Trời. Khi Ngài mở miệng mình ra thì có lời Đức Chúa Trời, và khi Ngài không mở miệng mình ra thì vẫn có lời Đức Chúa Trời. Chính Thân vị của Ngài là lời Đức Chúa Trời. Người cung ứng lời Đức Chúa Trời đã tiến lên từ [chỗ lời được] khải thị đến [chỗ lời được] nhân cách hóa. Đối với các tiên tri trong Cựu Ước thì lời Đức Chúa Trời là vấn đề khải thị. Nhưng trong Chúa Giê-su, lời Đức Chúa Trời là vấn đề nhân cách hóa. Trong Cựu Ước, lời và con người là hai điều khác biệt. Lời là lời, và con người là con người. Lời được truyền dẫn qua con người, nhưng người ấy vẫn chỉ là một con người. Nhưng trong Chúa Giê-su, lời của Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt. Một người đã trở nên lời Đức Chúa Trời. Khi người ấy nói là Đức Chúa Trời phán. Ngài không cần khải thị nào cả vì Ngài là lời Đức Chúa Trời. Ngài không cần lời Đức Chúa Trời từ bên ngoài đến với Ngài rồi mới phán lời thần thượng, vì hễ chính Ngài nói thì đó là Đức Chúa Trời phán. Ngài không cần thêm lời của Đức Chúa Trời vì chính Ngài là lời Đức Chúa Trời. Khi Ngài nói, thì Đức Chúa Trời phán. Khi Ngài cảm thấy một điều gì đó, thì cảm giác ấy là cảm giác của lời Đức Chúa Trời. Ý kiến của Ngài là ý kiến của Đức Chúa Trời. Trong con người ấy, lời Đức Chúa Trời không bị các yếu tố loài người ảnh hưởng hay giới hạn. Khi người ấy mở miệng mình ra, thì lời thuần khiết của Đức Chúa Trời tuôn ra. Tuy Ngài là một con người, nhưng lời Đức Chúa Trời không bị thiệt hại gì khi truyền qua Ngài. Thật ra, lời Đức Chúa Trời hoàn toàn được bày tỏ qua Ngài. Đó là chức vụ của Giê-su người Na-xa-rét.

NHỮNG NGƯỜI CUNG ỨNG LỜI THỜI TÂN ƯỚC – CÁC SỨ ĐỒ

Có một loại người cung ứng lời khác trong Tân Ước là các sứ đồ. Chức vụ cung ứng lời trong Cựu Ước hoàn toàn có tính khách quan. Chức vụ cung ứng lời trong Chúa Giê-su hoàn toàn có tính chủ quan. Trong Cựu Ước, chức vụ cung ứng lời được nhận biết khi lời ngự xuống trên một người và tiếng nói của người ấy được dùng làm công cụ chuyển đạt. Trong Chúa Giê-su, chức vụ cung ứng lời không phải bởi lời thăm viếng mà bởi lời hiện thân làm một con người. Lời ấy không những nhận lấy tiếng nói con người mà còn nhận lấy những tư tưởng, cảm xúc và ý kiến con người nữa. Mọi sự thuộc về người ấy đều được lời sử dụng, vì mọi phương diện của con người ấy đều hòa hợp với lời Đức Chúa Trời. Người ấy là Chúa Giê-su.

Khi đến với các sứ đồ trong chức vụ cung ứng lời thời Tân Ước, chúng ta tìm thấy một chức vụ với cùng một bản chất như chức vụ của Chúa Giê-su. Chúng ta cũng tìm thấy yếu tố của khải thị trong Cựu Ước được hòa lẫn với tính chất chức vụ của Chúa Giê-su. Sự khác biệt giữa chức vụ cung ứng lời trong Tân Ước và chức vụ cung ứng lời của Chúa là như sau: Trong trường hợp Chúa Giê-su, tức lời Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, thì trước hết có lời Đức Chúa Trời và sau đó có xác thịt tương xứng với lời ấy. Mọi cảm xúc, tư tưởng và ý thức của người ấy đều hòa hợp với lời Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, trong trường hợp chức vụ cung ứng lời thời Tân Ước thì trước hết có xác thịt. Chúng ta đều có xác thịt. Muốn xác thịt ấy trở nên người cung ứng lời thì nó phải được biến đổi để tương xứng với sự đòi hỏi của lời Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là những tư tưởng, cảm xúc và ý kiến của xác thịt đều phải được biến đổi. Xác thịt phải tương xứng với lời Đức Chúa Trời. Do đó, chúng ta có thể nói rằng chức vụ cung ứng lời trong Tân Ước vừa khác với chức vụ tương ứng của nó trong Cựu Ước vừa khác với chức vụ của Chúa. Chức vụ của Chúa Giê-su một trăm phần trăm có tính chủ quan; chính Ngài là lời. Mặt khác, chức vụ thời Tân Ước là chức vụ của các tiên tri cộng với chức vụ của Chúa Giê-su. Trong chức vụ ấy vừa có sự thăm viếng của lời Đức Chúa Trời, vừa có khải thị của Đức Chúa Trời, nhưng cũng có những cảm xúc, tư tưởng và ý kiến thuộc con người. Nói chung, chúng ta có thể gọi những phương diện này là các yếu tố thuộc con người. Chức vụ cung ứng lời thời Tân Ước là khải thị thần thượng cộng với các yếu tố thuộc con người.

Những người được Đức Chúa Trời chọn lựa trong Tân Ước khác với Chúa Giê-su, là “Con thánh” của Đức Chúa Trời (Lu. 1:35) và là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời. Trong Ngài không có một dấu vết pha trộn nào cả; lời Ngài chính là lời của Đức Chúa Trời. Đối với những người được Đức Chúa Trời chọn trong Tân Ước lại là chuyện khác. Ngoài việc ký thác lời Ngài vào trong bản thể họ, Đức Chúa Trời phải xử lý chính con người họ; Ngài phải gây dựng họ. Một mặt, Đức Chúa Trời đặt lời Ngài vào trong những người như vậy. Mặt khác, Ngài xử lý họ. Đức Chúa Trời sử dụng những tư tưởng, cảm xúc và đặc tính của họ, nhưng đồng thời Ngài xử lý họ. Đức Chúa Trời xử lý những người cung ứng lời thời Tân Ước trong kinh nghiệm, lời nói, cảm xúc, tư tưởng, ý kiến và đặc tính của họ. Ngài xử lý họ trước khi sử dụng họ để bày tỏ lời Ngài. Một người cung ứng lời trong Tân Ước không những có lời Đức Chúa Trời và không những truyền ra lời Đức Chúa Trời bằng tiếng nói con người của mình mà còn bày tỏ lời Đức Chúa Trời qua cuộc sống nhân loại của người ấy trong mọi phương diện. Đức Chúa Trời vui lòng đặt lời Ngài vào trong một người và để người ấy bày tỏ lời Ngài. Chúa Giê-su là lời trở nên xác thịt, trong khi những người cung ứng lời thời Tân Ước là những người bày tỏ lời qua một xác thịt đã được Đức Chúa Trời xử lý.

YẾU TỐ CON NGƯỜI Ở TRONG SỰ CẢM THÚC THẦN THƯỢNG

Một số người cho là yếu tố con người tuyệt nhiên không thể được hàm chứa trong sự cảm thúc thần thượng. Họ nghĩ rằng một khi yếu tố con người tham dự vào thì sự cảm thúc thần thượng không còn thần thượng nữa. Ý nghĩ ấy thật sai lầm. Những người nghĩ như vậy chưa hiểu tính chất của sự cảm thúc. Sự cảm thúc của Đức Chúa Trời thật sự hàm chứa những yếu tố con người. Thật ra, lời Ngài được diễn đạt nhờ các yếu tố con người. Tuy những yếu tố con người trong chức vụ tiên tri thời Cựu Ước ở mức tối thiểu, nhưng chúng ta không thể nói các yếu tố con người hoàn toàn không có. Ít nhất Đức Chúa Trời cũng sử dụng môi miệng con người để chuyển đạt sứ điệp của Ngài. Chúa Giê-su là Lời trở nên xác thịt. Mọi yếu tố thuộc con người ở trong Ngài là lời Đức Chúa Trời. Ngày nay, trong thời đại Tân Ước, Đức Chúa Trời có được những người cung ứng lời Ngài bằng cách diễn đạt lời Ngài qua những con người bằng các yếu tố con người.

Nếu một người đọc Tân Ước kỹ càng thì sẽ [thấy] rõ là Phao-lô thường dùng những từ ngữ mà Phi-e-rơ không bao giờ dùng đến. Giăng sử dụng một số từ ngữ mà Ma-thi-ơ không bao giờ dùng. Một số từ ngữ chỉ được tìm thấy trong những tác phẩm của Lu-ca, trong khi những từ ngữ khác chỉ được tìm thấy trong tác phẩm của Mác. Trong khi nghiên cứu Kinh Thánh, chúng ta nhận thấy rằng mỗi người viết đều có những đặc tính riêng của mình. Phúc âm Ma-thi-ơ khác với Phúc âm Mác, và Phúc âm Mác khác với Phúc âm Lu-ca hay Phúc âm Giăng. Các Thư-tín của Phao-lô được viết theo một phong cách, trong khi các Thư-tín của Phi-e-rơ được viết theo một phong cách khác. Phúc âm và các Thư-tín của Giăng hàm chứa cùng một chủ đề; các sách ấy có liên hệ với nhau. Ví dụ, câu đầu tiên trong Phúc âm Giăng chép: “Ban đầu...” Câu đầu tiên trong Thư-tín thứ nhất của ông thì chép: “Điều đã có từ ban đầu...” Một câu nói về ban đầu, và câu kia nói về điều đã có từ ban đầu. Sách Khải-thị, là sách cũng được Giăng viết, phản ảnh Phúc âm và các Thư-tín của ông và hàm chứa cùng một phong cách. Hơn nữa, chúng ta có thể nhận xét thấy rằng mỗi người viết đều dùng những thành ngữ đặc biệt của riêng mình. Lu-ca là một y sĩ. Khi mô tả những bệnh tình, ông dùng thuật ngữ y học cách lưu loát. Ba người viết các sách Phúc âm kia chỉ mô tả những bệnh tình ấy bằng những từ ngữ khái quát. Sách Công vụ cũng được Lu-ca viết nữa, và chúng ta lại thấy thuật ngữ y học được dùng cách lưu loát. Mỗi sách Phúc âm đều có những thuật ngữ và chủ đề đặc biệt. Ví dụ, Mác đặc biệt dùng chữ lập tức, Ma-thi-ơ đặc biệt dùng nhóm chữ nước Trời (hay: vương quốc thiên thượng), và Lu-ca đặc biệt dùng nhóm chữ nước Đức Chúa Trời (hay: vương quốc Đức Chúa Trời). Tất cả những điều đó đều là đặc tính riêng của từng người viết. Mỗi sách trong Kinh Thánh đều thấm nhuần những tính cách đặc thù của người viết, nhưng mỗi sách vẫn là lời của Đức Chúa Trời.

Tân Ước đầy dẫy những yếu tố con người, nhưng toàn thể đều là lời của Đức Chúa Trời. Mỗi người viết đều có phong cách riêng, cách diễn đạt và đặc tính riêng của mình, và Đức Chúa Trời dùng những đặc tính ấy để bày tỏ lời Ngài qua họ. Lời Ngài không bị tổn hại bởi tiến trình ấy. Có những tính cách đặc thù và đặc tính thuộc con người, nhưng đó vẫn là lời Đức Chúa Trời. Đó là chức vụ Tân Ước. Trong chức vụ Tân Ước, Đức Chúa Trời phó thác lời Ngài cho con người, và dùng chính yếu tố của con người để diễn đạt lời Ngài. Ngài không tạo con người thành một chiếc máy thâu thanh, thâu vào lời nói của Ngài đúng từng chữ một và phát trở lại một cách khách quan. Đức Chúa Trời không muốn làm như vậy. Chúa Giê-su đã đến, và Thánh Linh đã thi hành công tác của Ngài trong con người. Mục tiêu của công tác Ngài là giữ lại các yếu tố con người nhưng đồng thời không làm tổn hại sự phát ngôn thần thượng. Đó là nền tảng của chức vụ Tân Ước. Thánh Linh biến điệu, điều chỉnh và hành động trên con người đến mức độ các yếu tố của con người lưu lại nhưng lời Đức Chúa Trời không phải bị hi sinh mà còn được bổ sung. Nếu lời Đức Chúa Trời không có các yếu tố con người thì có nghĩa là con người đã trở nên một chiếc máy thâu thanh. Ngày nay, lời của Đức Chúa Trời hàm chứa các yếu tố con người và thật ra được các yếu tố con người bổ sung. Chúng ta đều biết rằng nói các thứ tiếng [lạ] là một ân tứ từ Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Phao-lô không khuyến khích mọi người nói các thứ tiếng [lạ] trong buổi nhóm, vì khi một người nói các thứ tiếng [lạ], tâm trí của người ấy không được ích lợi gì (1 Cô. 14:14, 27-28). Nói cách khác, tâm trí con người không tham dự vào. Điều này liên quan đến chức vụ Cựu Ước hơn, và khác với chức vụ Tân Ước. Khi một người nói các thứ tiếng [lạ], miệng của người ấy chuyển đạt lời nói thần thượng, mà không thể hiểu được. Nhưng Đức Chúa Trời muốn có các yếu tố thuộc con người trong chức vụ Tân Ước của Ngài. Nhờ sự giới hạn, điều khiển và hành động của Thánh Linh, mọi sự của con người đều có thể được Đức Chúa Trời dùng đến, và Đức Chúa Trời có thể truyền đạt lời Ngài qua con người. Đó thật sự là lời Đức Chúa Trời, nhưng đồng thời đầy dẫy các yếu tố thuộc con người. Một người cung ứng lời Đức Chúa Trời thời Tân Ước phải được Đức Chúa Trời chiếm hữu đến một mức độ như vậy.

Hãy xem xét ví dụ về một nhạc sĩ. Người ấy có thể chơi đàn dương cầm, đại phong cầm và vĩ cầm rất điêu luyện. Người ấy có thể chơi cùng một giai điệu bằng những nhạc cụ khác nhau. Mỗi nhạc cụ đều có các đặc tính riêng của nó, và âm nhạc mỗi nhạc cụ tạo ra mang những đặc tính riêng biệt. Người ta có thể nhận ra âm thanh từ dương cầm hay vĩ cầm. Cũng cùng một giai điệu nhưng âm thanh nghe khác nhau. Mỗi nhạc cụ đều có âm sắc riêng biệt của nó. Dương cầm có đặc tính riêng của nó, đại phong cầm và vĩ cầm cũng vậy. Mỗi nhạc cụ đều khác biệt, nhưng tất cả những đặc tính ấy kết hợp lại thì tạo nên những tình cảm và âm điệu trong âm nhạc. Có những điểm tương tự giữa sự kiện ấy và những người cung ứng lời thời Tân Ước. Một số người giống như dương cầm, trong khi những người khác thì giống như đại phong cầm hay vĩ cầm. Có thể có cùng một giai điệu nhưng âm thanh được tạo ra lại khác nhau. Một người truyền đạt lời Đức Chúa Trời, và chúng ta tìm thấy các yếu tố con người trong chính lời nói của người ấy. Một người khác truyền đạt lời Đức Chúa Trời, và chúng ta tìm thấy các yếu tố thuộc con người trong lời nói ấy. Mỗi người Đức Chúa Trời sử dụng đều có các yếu tố con người của chính mình. Dưới sự điều chỉnh, chỉ dẫn và làm hoàn hảo của Thánh Linh, các yếu tố con người không trở nên những chướng ngại vật ngăn trở lời Đức Chúa Trời. Thay vào đó, các yếu tố con người tôn vinh lời Đức Chúa Trời trong quá trình truyền đạt lời ấy.

Vì lời Đức Chúa Trời phải đi qua con người và phải nhận lấy các yếu tố con người, nên những người chưa từng kinh nghiệm sự xử lý của Đức Chúa Trời không thể trông mong các yếu tố con người của mình trở nên hữu dụng. Nếu các yếu tố riêng của một người đáng ngờ đối với Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời không thể truyền đạt lời Ngài qua một người như vậy. Một người như vậy không thể phục vụ với tư cách là một người cung ứng lời Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời không thể sử dụng người ấy. Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời dùng một con lừa để nói cho Ngài. Tuy nhiên, bây giờ là thời đại Tân Ước, và chức vụ cung ứng lời trong Tân Ước khác với chức vụ cung ứng lời trong Cựu Ước. Trong Tân Ước, lời Đức Chúa Trời được diễn đạt qua các yếu tố con người. Đó là lý do tại sao Đức Chúa Trời rất kén chọn; Ngài quyết định người nào Ngài có thể dùng và người nào Ngài không thể dùng. Nếu các yếu tố con người của chúng ta chưa được xử lý một cách thích hợp thì chúng ta không thể làm một người cung ứng lời. Chúng ta không có quyền lựa chọn chuyển đạt lời Đức Chúa Trời như một chiếc máy thâu thanh. Đức Chúa Trời cần nhìn thấy những thay đổi trong chúng ta. Nếu chúng ta không thể đạt đến tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời thì Ngài không thể dùng chúng ta. Nếu chúng ta muốn làm ống dẫn của lời Đức Chúa Trời thì chúng ta cần được sửa chữa và điều chỉnh rất nhiều. Nếu Đức Chúa Trời gạt sang một bên các yếu tố con người của chúng ta thì việc chuyển đạt lời Ngài là một vấn đề đơn giản. Nhưng Đức Chúa Trời muốn có các yếu tố con người, và [vì vậy] chính những người Ngài sử dụng trở nên một vấn đề lớn. Một số yếu tố con người bị ô nhiễm bởi sự ô uế, tính xác thịt và những dấu vết của sự sa ngã. Đức Chúa Trời không thể sử dụng những người ấy; Ngài phải để họ sang một bên. Một số người chưa từng được Chúa phá vỡ. Những người khác có một tâm trí đầy dẫy sự lừa đảo bất chính. Một số người tranh luận với Đức Chúa Trời, trong khi những người khác thì chưa bao giờ được xử lý trong tâm trí hay tình cảm của mình. Họ vẫn cứng cổ. Lời Đức Chúa Trời không bao giờ có thể được truyền đạt qua những người như vậy. Cho dầu nhận được lời Đức Chúa Trời, họ vẫn không thể chuyển đạt. Cho dầu tự ép buộc mình chuyển đạt lời ấy, họ vẫn không thể làm như vậy một cách có hiệu quả. Sự suy xét cơ bản đối với một người cung ứng lời Đức Chúa Trời thời Tân Ước là chính tình trạng của người ấy trước mặt Chúa.

Ngày nay, Đức Chúa Trời không muốn lời Ngài vẫn chỉ là lời của một mình Ngài; Ngài muốn lời Ngài được nói ra qua môi miệng của con người sao cho lời nói ấy được nhận thấy là lời của con người. Điều Đức Chúa Trời muốn là lời thật sự thần thượng nhưng đồng thời cũng mang tính chất con người. Khi đọc Tân Ước, chúng ta có thể tìm thấy một lời nào không được con người viết ra không? Đặc tính nổi bật của Tân Ước từ đầu đến cuối cho thấy đó là bản ký thuật lời con người nói ra. Những lời đó hoàn toàn mang tính chất con người; không gì có thể mang tính chất con người hơn là sự phát ngôn của con người. Tuy nhiên, những lời đó đồng thời cũng hoàn toàn thần thượng, một trăm phần trăm là lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không chỉ thỏa lòng vì lời Ngài được diễn đạt mà Ngài còn muốn lời Ngài được diễn đạt qua lời lẽ của con người, để lời được truyền đạt ấy thật sự mang tính chất con người và đồng thời thực sự thần thượng. Đó là chức vụ cung ứng lời trong Tân Ước.

Trong 2 Cô-rin-tô 2:4, Phao-lô nói: “Vì ấy là do sự hoạn nạn lớn và lòng quặn thắt với nước mắt dầm dề mà tôi đã viết cho anh em”. Khi viết cho người Cô-rin-tô, Phao-lô cung ứng lời Đức Chúa Trời cho họ. Ông viết ra từ hoạn nạn lớn và lòng quặn thắt. Ông truyền lời Đức Chúa Trời với nước mắt dầm dề. Đó là người đặt trọn bản thể của mình vào lời nói của mình. Trọn bản thể của người ấy cấu thành lời nói của người ấy. Các Thư tín của ông đầy dẫy những cảm xúc con người. Khi lời Đức Chúa Trời đến với ông, ông đầy dẫy hoạn nạn và lòng quặn thắt, và ông viết với nước mắt dầm dề. Trong khi ông viết, các yếu tố con người của ông được hòa lẫn với lời Đức Chúa Trời, và ông truyền đạt lời Đức Chúa Trời như vậy. Các yếu tố con người của ông nâng cao lời Đức Chúa Trời và làm cho lời ấy trở nên lời Đức Chúa Trời hơn nữa. Phao-lô không thiếu những cảm xúc và tư tưởng. Ông không như một người nói các thứ tiếng [lạ], tức người nhận được một lời và chuyển đạt lời ấy mà tâm trí tuyệt nhiên không tác động gì đến chính lời ấy. Phao-lô viết lời Đức Chúa Trời với nhiều cảm xúc và hết sức vận dụng tư tưởng. Khi lời Đức Chúa Trời được diễn đạt, ông trải qua hoạn nạn lớn với lòng quặn thắt, và ông viết với nước mắt dầm dề. Đó là một người cung ứng lời thời Tân Ước.

Lời Đức Chúa Trời được diễn đạt qua con người, con người toàn diện. Vì vậy, những đặc tính, thành ngữ diễn đạt, tiếng nói và những kinh nghiệm có tính chủ quan của con người trước mặt Đức Chúa Trời đều truyền đạt qua lời. Qua lời nói, chúng ta có thể khám phá ra mức độ người ấy đã được Đức Chúa Trời dạy dỗ, sửa trị và thử nghiệm. Khi lời Đức Chúa Trời đến với con người, lời ấy có thể được diễn đạt qua các yếu tố con người của người ấy mà không làm tổn hại đến lời Đức Chúa Trời. Lời ấy không nhất thiết phải bị ô nhiễm. Làm một người cung ứng lời thời Tân Ước có nghĩa là như vậy. Một người cung ứng lời thời Tân Ước là một người đã được Đức Chúa Trời dạy dỗ trong nhiều năm và là một người Đức Chúa Trời có thể tự do sử dụng. Khi lời tìm đến một người như vậy, lời ấy có thể tự do tuôn chảy qua người ấy. Lời thần thượng sẽ bị ô nhiễm chỉ khi nào các yếu tố con người tương tác với lời Đức Chúa Trời mà còn thuộc xác thịt hay thiên nhiên.

Chỉ khi nào lời Đức Chúa Trời được dầm thấm với những yếu tố con người thì lời như vậy mới trọn vẹn. Xin đừng lầm lẫn; lời Đức Chúa Trời không chỉ là một mạng lịnh hay mười mạng lịnh. Kinh Thánh cho chúng ta thấy rõ ràng rằng có một hương vị và các yếu tố con người ở trong lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã đặt lời Ngài vào trong con người và ủy thác con người nói ra lời Ngài. Hơn nữa, Ngài đòi hỏi tình trạng của con người phải đúng đắn để Ngài có thể bao gồm người ấy trong lời nói của Ngài. Nguyên tắc cơ bản về sự phát ngôn của Đức Chúa Trời là nguyên tắc Lời trở nên xác thịt. Đức Chúa Trời không thỏa lòng với việc chỉ có lời của mình; Ngài muốn lời Ngài trở nên xác thịt, trở nên một phần thuộc lời của con người. Điều này không có nghĩa là lời Đức Chúa Trời đã bị hạ thấp xuống mức độ chỉ là lời của con người, mà có nghĩa là lời Đức Chúa Trời đã được nêm bằng hương vị của con người. Tuy nhiên, lời ấy được bảo tồn làm lời thuần khiết của Đức Chúa Trời. Lời ấy thật sự là lời của con người và đồng thời cũng thật sự là lời của Đức Chúa Trời. Lời ấy đích thực là lời của Đức Chúa Trời và đồng thời cũng đích thực là lời của con người. Chức vụ cung ứng lời trong Tân Ước là con người nói ra lời Đức Chúa Trời. Khi đọc sách Công vụ cũng như thư Cô-rin-tô thứ nhất và thứ nhì, chúng ta thấy có những người nói ra lời Đức Chúa Trời. Khi đọc thư Ti-mô-thê thứ nhất và thứ nhì, Tít và Phi-lê-môn, chúng ta cũng thấy một người nói ra lời Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời được bày tỏ qua lời của con người và được diễn đạt qua các yếu tố con người. Đó là con người phát ngôn, nhưng Đức Chúa Trời thừa nhận đó là lời Ngài.

Nếu là vậy thì trách nhiệm của những người nói ra lời Đức Chúa Trời lớn lao biết bao! Nếu một người lầm lẫn hay thêm những yếu tố bất khiết vào lời nói của mình, lời Đức Chúa Trời sẽ bị ô nhiễm và chịu tổn hại. Chúng ta phải nhận thức rằng nhân tố trọng yếu trong việc nói ra lời Đức Chúa Trời không phải là vốn liếng kiến thức về Kinh Thánh mà một người sở hữu. Nếu một người chỉ có những giáo lý và kiến thức trống rỗng về Kinh Thánh thì cũng vô dụng. Rất có thể những điều ấy hoàn toàn chỉ là những vấn đề có tính khách quan đối với một người. Một người có thể rao giảng về những điều ấy tùy thích, nhưng có thể người ấy vẫn hoàn toàn tách biệt với chúng. Chúng ta không thể như Chúa Giê-su; Ngài là lời trở nên xác thịt. Tuy nhiên, là những người cung ứng lời, chúng ta cần phải nhận thức rằng lời Đức Chúa Trời được bày tỏ qua xác thịt của chúng ta; Ngài cần đến xác thịt của chúng ta. Đó là lý do tại sao xác thịt cần được Đức Chúa Trời xử lý. Hằng ngày chúng ta phải “giao dịch” với Đức Chúa Trời; chúng ta cần kinh nghiệm những sự xử lý của Ngài. Nếu chúng ta khiếm khuyết ở bất cứ mặt nào, lời Đức Chúa Trời sẽ bị tổn hại ngay khi lời ấy truyền qua chúng ta và hòa lẫn với những lời của chúng ta.

Đừng nghĩ rằng người nào cũng có thể nói ra lời Đức Chúa Trời. Chỉ một loại người có thể nói ra lời Đức Chúa Trời, ấy là những người đã trải qua những sự xử lý của Ngài. Thách thức lớn nhất đối với một người nói ra lời Đức Chúa Trời không phải là chủ đề có thích hợp hay không hay từ ngữ có chọn lọc đúng đắn hay không mà là chính con người của người phát ngôn. Nếu con người sai trật thì mọi sự khác đều sai trật. Nguyện Đức Chúa Trời dạy dỗ chúng ta phương cách đích thực để phục vụ trong chức vụ cung ứng lời. Chúng ta phải ghi nhớ rằng rao giảng không phải là một vấn đề đơn giản; đó là phục vụ dân Đức Chúa Trời bằng lời Đức Chúa Trời. Nguyện Chúa thương xót chúng ta. Vì trọn bản thể của chúng ta tham dự vào lời ấy nên bất cứ yếu tố không thích hợp nào trong tư tưởng, sự bày tỏ cùng thái độ của chúng ta, và bất cứ khiếm khuyết nào trong sự huấn luyện và kinh nghiệm của chúng ta đều sẽ vô tình làm tổn hại lời Ngài. Chính bản thể của chúng ta phải được Chúa xử lý. Nếu chúng ta được Chúa xử lý thì lời Ngài sẽ không bị chúng ta làm ô nhiễm khi chúng ta phục vụ với tư cách là những người cung ứng [lời] của Ngài. Chúng ta sẽ có thể truyền đạt lời Ngài một cách thuần khiết. Chúng ta có thể nhìn thấy điều này trong Phao-lô, Phi-e-rơ, Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng, và chúng ta có thể nhìn thấy điều này trong nhiều đầy tớ của Chúa. Các yếu tố con người hiện hữu trong lời Đức Chúa Trời. Nhưng trong khi các yếu tố con người hiện hữu, chúng không bày tỏ xác thịt. Ngược lại, người ta nhận thấy vinh quang trong sự bày tỏ lời ấy. Thật kỳ diệu – lời Đức Chúa Trời trở nên lời con người, và lời con người trở nên lời Đức Chúa Trời.