Thông tin sách

Đức Tin Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Normal Christian Faith
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 14

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI BỐN

ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN

Chúng ta đã bàn đến sự phục sinh của Đấng Christ và được thấy thế nào chúng ta có thể tiếp nhận sự sống mới trong sự phục sinh này. Nhưng còn có một vấn đề trọng yếu khác đóng vai trò quyết định trong nếp sống Cơ-đốc của chúng ta. Chúng ta phải dành chương này để nghiên cứu về vấn đề ấy. Nếu thiếu điều này, chúng ta sẽ thiếu mất một phương diện trọng yếu trong đức tin của chúng ta. Ngoài ra, chúng tôi muốn bổ sung một số điểm liên quan đến đức tin cho những bài giảng trước. Chúng tôi sẽ kết hợp tất cả trong cùng một chương này.

MỤC ĐÍCH CỦA SỰ SỐNG MỚI

Trước hết, chúng tôi hỏi là tại sao Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự sống mới. Chúng ta phải xem xét vấn đề này từ đầu. Tôi cho là tất cả anh em đều là những Cơ-đốc-nhân; vì vậy, tôi sẽ bàn đến toàn bộ vấn đề từ quan điểm Kinh-thánh. Trong Cựu Ước có những luật pháp cùng với mọi qui định. Luật pháp không những chỉ có Mười Mạng Lịnh, mà còn bao gồm hàng trăm qui định và luật lệ. Có những luật chi phối cách anh em ăn mặc. Có những luật cho người ta biết khi nào trồng trọt và khi nào gieo giống. Có những luật chi phối việc dùng những con bò hay con la. Việc dệt vải và nấu ăn cũng có những qui định riêng. Mọi sự đều được điều hành một cách rất khắt khe. Toàn bộ những điều lệ về cách cư xử này là luật pháp. Chúng ta muốn biết tại sao lại cần đến tất cả những luật ấy. Tại sao Đức Chúa Trời lại đặt ra tất cả những qui định này trong Cựu Ước?

LUẬT PHÁP CÓ PHẢI ĐỂ VÂNG GIỮ KHÔNG?

Nếu anh em kiểm tra mọi quốc gia trên thế giới xem tại sao họ đặt ra nhiều luật lệ, mỗi quốc gia chắc chắn sẽ trả lời rằng luật pháp là để các công dân vâng giữ. Đây có phải cũng là lý do khiến Đức Chúa Trời lập ra bộ luật của Ngài không? Có phải Đức Chúa Trời đặt ra luật cấm thờ hình tượng vì Ngài không muốn chúng ta thờ các hình tượng không? Có phải Ngài ban luật pháp cho chúng ta vì Ngài muốn chúng ta tôn trọng cha mẹ hoặc đừng tham lam, giết người hay trộm cắp không? Nếu anh em hỏi bất cứ người nào câu hỏi này, câu trả lời chắc chắn sẽ là “phải”. Họ sẽ nói rằng Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những luật pháp, mạng lịnh và qui định để chúng ta vâng giữ và tuân theo, cũng như mỗi quốc gia đều đòi hỏi người dân phải thuận phục pháp luật.

Nhưng Cơ-đốc-nhân đừng bao giờ nên trả lời câu hỏi này như vậy. Tôi xin thành thật nói rằng nếu bạn nghĩ rằng Đức Chúa Trời đưa ra những luật pháp ấy để bạn vâng giữ, thì bạn không biết gì về đức tin Cơ-đốc cả. Bạn vẫn là người ngoài.

Tự nhiên bạn có thể hỏi rằng: “Nếu mục đích Đức Chúa Trời ban luật pháp cho chúng ta không phải là để vâng giữ, thì ban luật pháp cho chúng ta để làm gì?” Câu trả lời của tôi là để chúng ta phạm những luật ấy! Tất cả những qui định được viết trong bộ luật pháp là để chúng ta vi phạm! Đây là lẽ thật phù hợp với Kinh-thánh. Sách La Mã và Ga-la-ti rõ ràng nói với chúng ta điều ấy.

LUẬT PHÁP LÀ ĐỂ PHƠI BÀY CON NGƯỜI

Tại đây, chúng ta cần một lời giải thích. Tại sao Đức Chúa Trời ban cho chúng ta luật pháp? Linh của Đức Chúa Trời đã đưa ra lời giải đáp qua những lời của Phao-lô: “Vả, luật pháp đã xen vào, hầu cho sự vi phạm thêm lên” (La. 5:20). Vì sự hiện diện của tội mà luật pháp được thêm vào. Phao-lô cũng cho chúng ta biết rằng luật pháp phơi bày những tội lỗi của con người (La. 3:20). Nói cách khác, mục đích của luật pháp không phải để cất đi tội lỗi, mà để phơi bày chúng ra. Nếu luật pháp là để cất đi những tội lỗi, thì chúng ta phải vâng giữ luật pháp. Nhưng luật pháp không có ý định như vậy. Luật pháp ở đó để phơi bày chúng ta. “Luật pháp đã xen vào” với mục đích cho chúng ta thấy những tội lỗi của mình.

Đức Chúa Trời biết rất rõ chúng ta là loại người nào. Ngài biết quá rõ những yếu đuối và sự hư hoại của chúng ta. Ngài nhận biết hành vi và phẩm hạnh của chúng ta thuộc loại mà dầu chúng ta có muốn làm lành, cũng không thể làm được. Bên trong chúng ta thật hư hoại, còn bên ngoài thì suy đồi. Gốc rễ vấn đề là chúng ta không những có một phẩm hạnh xấu xa mà còn có một sự sống gian ác.

Đây là nan đề: Đức Chúa Trời biết sự đồi bại của chúng ta, nhưng chúng ta lại không biết điều đó. Ngài thừa biết chúng ta hoàn toàn suy đồi, nhưng chúng ta thì chưa mất hi vọng về chính mình. Chúng ta nghĩ rằng nếu có thể mạnh mẽ thêm một chút hay có thêm một ít năng lực ý chí thì chúng ta có thể vâng giữ lời của Đức Chúa Trời. Hay chúng ta có thể nghĩ rằng những gì mình thiếu là cần thêm nỗ lực, thêm những giáo lý cao diệu hơn hay loại giúp đỡ nào đó từ Đức Chúa Trời. Chúng ta nghĩ mình có thể làm được điều gì đó, nhưng Đức Chúa Trời biết chúng ta không thể làm được gì cả! Vì lý do ấy Đức Chúa Trời ban cho con người một bản luật pháp dài, không phải để con người vâng giữ mà để vi phạm. Nhờ đó, con người sẽ bị phơi bày bởi sự xấu xa của mình mà nhận thức rằng sự cứu rỗi không bao giờ có thể đến bởi luật pháp.

Đức Chúa Trời biết chúng ta quá rõ. Nhưng chúng ta lại không biết chính mình. Đức Chúa Trời biết chúng ta chỉ là những đứa nhỏ, chạy giỡn như vậy chúng ta sẽ ngã. Nhưng chúng ta lại không nhận thức được điều đó. Sau cùng, chúng ta ngã, rồi mới tin rằng mình có thể sai lầm. Chúng ta không biết chính mình.

Vì lý do ấy, Kinh-thánh nói rằng luật pháp đã nhốt tất cả chúng ta ở dưới tội lỗi (Ga. 3:22). Trải qua các thế kỷ, Đức Chúa Trời đã và đang dạy chúng ta một bài học, để chúng ta biết việc vâng giữ luật pháp không thể thực hiện được. Chúng ta không bao giờ có thể thành công. Không có mạng lịnh nào là để chúng ta vâng giữ. Những mạng lịnh ấy có là để chúng ta vi phạm. Kết quả là chúng ta sẽ hiểu biết chính mình. Khi đã hiểu biết chính mình, chúng ta sẽ nói: “Đức Chúa Trời ơi, con chịu thua! Bây giờ, con mới biết Ngài muốn làm gì cho con!”

PHẢI LÀM GÌ?

Khi Đấng Christ ở trên đất, một người Do-thái trẻ tuổi đến với Ngài. Đó là một người rất cao quí và thanh lịch. Người ấy hỏi: “Tôi phải làm gì để thừa hưởng sự sống đời đời?” (Lu. 18:18). Hôm ấy, Chúa không nói với ông điều chúng ta thường nghe, tức là nếu tin Ngài thì người ấy sẽ có sự sống đời đời. Trái lại, Ngài phán: “Ngươi biết các mạng lịnh: ‘Đừng gian dâm, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng dối, hãy hiếu kính cha mẹ ngươi’ rồi chứ?” (c. 20).

Sau khi người thanh niên nghe lời ấy, anh nói một cách tự tin rằng: “Mọi điều ấy tôi đã vâng giữ từ thuở nhỏ” (c. 21). Chúa biết rằng anh ta không biết chính mình. Ngài phán: “Ngươi còn thiếu một điều”. Dường như Ngài nói: “Thế thì ngươi nghĩ mình thật hoàn hảo. Để xem có phải thật như vậy hay không”. Ngài nói tiếp: “Hãy bán hết của cải ngươi, phân phát cho người nghèo, thì ngươi sẽ có của báu ở trên trời; rồi hãy đến theo Ta” (c. 22). Đối với những lời này, người thanh niên ấy phản ứng thế nào? Anh bắt đầu nhận thức rằng điều Đức Chúa Trời yêu cầu anh không bao giờ có thể thực hiện được. Điều được thêm vào ấy lại là điều anh không bao giờ có thể thực hiện. Vì vậy, anh buồn rầu ra đi. Anh cần phải biết chính mình; anh cần nhận thức rằng mình không có khả năng.

ĐỐI VỚI LOÀI NGƯỜI THÌ BẤT NĂNG

Đấng Christ đã nói gì? Ngài phán: “Kẻ có tiền của vào vương quốc Đức Chúa Trời khó là dường nào! Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào vương quốc Đức Chúa Trời” (cc. 24-25). Đây là mục đích nằm sau việc Đấng Christ gây bối rối cho người thanh niên. Ngài muốn chúng ta nhận thức rằng đối với loài người, những điều đó không thể làm được. Tôi không nói rằng Chúa đòi hỏi mọi người phải bán đi tất cả những vật sở hữu của mình trước khi người ấy có thể được cứu. Ngài làm cho tất cả những người nghĩ rằng mình có khả năng có thể nhận thức được tình trạng thật của mình. Chúa chỉ muốn cho con người thấy rằng mình bất năng. Sự sống của con người là một sự sống bất lực. Con người không thể nào trở nên có khả năng.

Nếu con người thừa nhận sự bất năng của mình và chịu thua trước mặt Đức Chúa Trời, mọi sự sẽ đều ổn thỏa. Này anh bạn trẻ! Này vị quan trẻ tuổi! Tại sao anh phải buồn rầu ra đi? Nhận thức được sự bất năng của mình là đúng, nhưng buồn rầu ra đi thì sai. Đáng lẽ anh phải nói là: “Chúa ơi, tôi không thể làm điều đó. Tôi không có cách nào cả. Xin cứu tôi”. Nếu anh nói như vậy thì mọi sự đều sẽ khác. Mục đích của Chúa không phải để anh bỏ đi, mà để làm cho anh thấy rằng mình không có khả năng.

Khi một người nói: “Tôi có khả năng”, Đức Chúa Trời trở nên bất năng trong người ấy. Nhưng mỗi khi con người trở nên bất năng, Đức Chúa Trời sẽ trở nên khả năng. Khi chúng ta đã dốc cạn sức lực của mình, Đức Chúa Trời sẽ biểu lộ quyền năng cùng vinh quang của Ngài.

LỊCH SỬ DÂN Y-SƠ-RA-ÊN

Chúng ta hãy xem xét thêm một ít về lịch sử Y-sơ-ra-ên. Sau khi Đức Chúa Trời ban luật pháp, con dân Y-sơ-ra-ên dường như đáp ứng một cách tốt đẹp. Họ nói rằng tất cả những gì Chúa đòi hỏi họ, họ sẽ thực hiện (Xuất. 19:8). Mạng lịnh đầu tiên Đức Chúa Trời ban là không được có Đức Chúa Trời nào khác ngoài Ngài (20:3). Môi-se nhận được mạng lịnh này trên núi. Nhưng thậm chí trước khi ông xuống núi, con dân Y-sơ-ra-ên đã tự đúc cho chính họ một bò con bằng vàng, và nói: “Đây là Đức Chúa Trời của chúng ta”. Họ dễ dàng hứa nguyện sẽ tuân theo những mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Trời cho họ thấy rằng họ không có khả năng làm như vậy. Điều này đã xảy ra cho con dân Y-sơ-ra-ên, đã xảy ra cho vị quan trẻ tuổi, và cũng đang xảy ra cho chúng ta. Nhiều lần, Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy rằng chúng ta không có khả năng.

AI CÓ THỂ VÂNG GIỮ LUẬT PHÁP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI?

Như vậy, ai có thể vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời? Đây là câu hỏi trọng yếu thứ hai chúng ta phải nêu lên. Xin ghi nhớ rằng mỗi mạng lịnh trong Kinh-thánh đều đòi hỏi một cách vô lý. Mọi người giàu có đều phải bán tất cả những vật sở hữu của mình mà phân phát cho dân nghèo, rồi bước theo Giê-su người Na-xa-rét. Thế là thế nào? Điều đó có vô lý không? Những đòi hỏi của Đấng Christ rất khe khắt; chúng lấy đi mạng sống của bạn! Ngài nói rằng bất cứ người nào yêu cha, mẹ hay con cái của mình hơn Ngài thì không xứng đáng làm môn đồ của Ngài. Những người không vác thập tự giá của mình để theo Ngài cũng không xứng đáng cho Ngài (Mat. 10:37-38). Đó có phải là đòi mạng sống của anh em không? Mệnh đề liên quan đến việc vác thập tự giá thì đặc biệt là như vậy. Thời nay, hình thức tương đương với thập tự giá là trói tay chân một tội phạm lôi đến pháp trường rồi kéo người ấy qua những con đường để công chúng chế diễu. Nếu không thể giống như tội phạm ấy, anh em không xứng đáng làm môn đồ của Ngài! Không phải Ngài đòi hỏi mạng sống của chúng ta sao?

Một lần nữa, Ngài phán: “Hãy yêu những kẻ thù của các ngươi” (5:44). Chỉ nội việc tha thứ gần như chúng ta đã không thể làm được, vậy mà Ngài lại nói đến việc yêu thương. Như thế, chúng ta phải nhận thấy rằng mọi mạng lịnh của Đức Chúa Trời đều không thể vâng giữ được.

DUY CHÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI

Chính Đức Chúa Trời mới là Đấng có khả năng. Những mạng lịnh của Đấng Christ chỉ có thể được chính Đấng Christ thực hiện. Anh em cũng như tôi không thể làm gì cả. Vậy, câu trả lời cho câu hỏi thứ hai của chúng ta là chỉ Con Đức Chúa Trời mới có thể thực hiện những đòi hỏi của Đức Chúa Trời. Tất cả chúng ta đều bất năng. Chỉ duy Đức Chúa Trời mới có khả năng.

Vì vậy, hễ một anh em trong Chúa nói với tôi rằng anh thấy tuyệt vọng, ngay khi đứng lên anh té xuống, và anh càng cố gắng thì lại càng thất bại, tôi vô cùng vui mừng. Anh ấy càng khóc lóc vì những vi phạm cùng thất bại của mình, tôi càng cười vui trong lòng. Tôi sẽ nói: “Hôm nay, anh biết mình là một kẻ thất bại. Đây là điều đáng chúc mừng. Mặc dầu lẽ ra anh nên biết điều này từ trước, nhưng bây giờ biết cũng chưa muộn”. Chúng ta không thể tuân theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Ý muốn của Đức Chúa Trời chỉ có thể được chính Đức Chúa Trời thực hiện, và những mạng lịnh của Đấng Christ có thể được thi hành không bởi ai khác hơn là Đấng Christ.

TIN MỪNG

Phúc-âm của chúng ta cũng được gọi là tin mừng. Tại sao lại gọi là tin mừng? Đó có phải là vì Kinh-thánh hàm chứa những mạng lịnh có một tiêu chuẩn cao hơn tất cả những tôn giáo khác không? Nếu vậy thì chúng ta đang rao giảng tin buồn. Trong một cuộc trắc nghiệm thể lực, nếu chỉ bị đòi hỏi nhảy ba tấc, mọi người đều có thể dễ dàng vượt qua. Nhưng nếu bị đòi hỏi phải nhảy mười thước, thì chúng ta thật có một tin buồn.

Tin mừng Đức Chúa Trời ban cho chúng ta là gì? Đó là Con Ngài được ban cho chúng ta. Bởi sự sống lại của Ngài, chúng ta được phục sinh. Bây giờ, Ngài đang sống ở bên trong chúng ta để làm sự sống của chúng ta, để chúng ta có thể sống bày tỏ Ngài và thực hiện những sự đòi hỏi của Ngài. Đó là tin mừng. Tin mừng là Đức Chúa Trời thực hiện những mạng lịnh của Ngài ở bên trong chúng ta! Phúc-âm không phải là một loạt những điều nên làm và không nên làm. Anh em không cần phải ngày đêm bò trên mặt đất như những con cua, rồi cứ tự nói đi nói lại với mình rằng mình không được phép phạm tội. Đó không phải là một tin mừng, mà là tin buồn. Phúc-âm là Đức Chúa Trời vào trong chúng ta để sống và vâng phục thay cho chúng ta.

NGÀI LÀM CHO CHÚNG TA CÓ KHẢ NĂNG

Không những chúng ta cần phải nhận thấy mình bất năng, mà còn phải nhận thức Đức Chúa Trời có khả năng! (Lu. 18:27). Vị quan trẻ tuổi chỉ nhận thấy mình bất năng và kết luận rằng Đức Chúa Trời cũng vậy nên buồn rầu ra đi. Nhưng Đức Chúa Trời có khả năng! Đừng nghĩ rằng khi anh em bất năng, mọi sự đều chấm dứt đối với anh em. Sự bất năng của con người là khởi đầu khả năng của Đức Chúa Trời. Đó là thời điểm Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng của Ngài. Không phải chúng ta có khả năng, nhưng công tác Ngài thực hiện thay cho chúng ta làm cho chúng ta có khả năng.

Ý nghĩa của việc Đấng Christ là sự sống của chúng ta là thế này: trước kia, con người sống bằng sự sống của riêng mình, nhưng sự sống thiên nhiên ấy đã bị trục xuất bởi sự sống phục sinh của Đấng Christ bước vào. “Cái tôi” trước kia sống không còn nữa, và sự sống của Đấng Christ bước vào để thế chỗ. Khi ấy, tôi không còn sống nữa. Khi sự sống ở bên trong được hoán đổi, cách cư xử ở bên ngoài không thể vẫn như cũ. Vì sự sống của chúng ta là Đấng Christ, chúng ta có thể thực hiện những mạng lịnh của Đấng Christ. Đó không phải là quyền năng của Đấng Christ giúp chúng ta tuân theo những qui định của Ngài. Trái lại, đó là sự sống của Đấng Christ thay thế sự sống của chúng ta để sống bày tỏ những mạng lịnh của Ngài. Khi sự sống bề trong của Ngài hành động, chúng ta có thể vâng giữ luật pháp của Ngài.

GIAO ƯỚC CŨ — MỘT THẤT BẠI

Chúng ta phải xem xét cẩn thận một phân đoạn Kinh-thánh khác. Hê-bơ-rơ 8:8-9 nói: “Vì tìm thấy lỗi lầm nơi họ, Ngài nói: ‘Chúa phán: Kìa, ngày đến, Ta sẽ cùng nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa lập một giao ước mới, không phải theo như giao ước mà Ta đã lập với tổ phụ họ trong ngày Ta cầm tay họ dắt ra khỏi xứ Ai-cập; vì họ không tiếp tục ở trong giao ước Ta, nên Ta không kể đến họ, ấy là lời Chúa phán”.

Làm thế nào Đức Chúa Trời lập giao ước của Ngài với con dân Y-sơ-ra-ên? Ngài làm việc ấy bằng cách cầm tay dắt họ. Ấy là điều gì đó ở bên ngoài. Luật pháp được viết trên bảng bằng đá. Luật pháp thuộc về bên ngoài. Kết quả là con dân Y-sơ-ra-ên không tiếp tục ở trong giao ước của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời không kể đến họ. Những mạng lịnh của Đức Chúa Trời là một chuyện. Sự tuân theo của chúng ta là một chuyện khác. Kết quả toàn bộ thí nghiệm ấy là một sự thất bại.

GIAO ƯỚC MỚI Ở BÊN TRONG

Bây giờ, chúng ta hãy nhìn đến giao ước thứ hai. Hê-bơ-rơ 8:10 và 11 nói: “Chúa lại phán: Vì đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó: Ta sẽ truyền luật pháp Ta vào trong tâm trí họ, ghi tạc nó vào lòng họ; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, họ sẽ làm dân Ta. Họ sẽ chẳng cần mỗi người dạy người lân cận và anh em mình rằng: Hãy nhận biết Chúa, vì tất cả họ, từ kẻ nhỏ cho đến người lớn giữa vòng họ, đều sẽ biết Ta”.

Bây giờ, luật được đặt bên trong con người. Luật pháp không còn được ghi khắc trên những tảng đá nữa, cũng không chỉ được ghi chép trong Kinh-thánh, nhưng được viết trong lòng của chúng ta. Ích lợi của việc có luật đặt bên trong chúng ta là gì? Ê-xê-chi-ên 36:27 nói: “Ta sẽ đặt Linh Ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ Ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh Ta và làm theo”. Xin lưu ý đến chữ “khiến”. Đó là một chữ mạnh mẽ trong tiếng Hê-bơ-rơ. Kết quả việc Đức Chúa Trời đặt Linh của Ngài trong chúng ta là khiến chúng ta có thể tuân theo những qui định của Ngài và bước đi trong những luật lệ của Ngài.

Dưới giao ước cũ, con người đã phải phấn đấu tuân theo những mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Bây giờ, Linh của Đức Chúa Trời đang ở trong chúng ta. Ngài khiến cho chúng ta vâng lời. Khi ấy, Đức Chúa Trời ban những mạng lịnh, và họ phải tự lực thực hiện những điều ấy. Bây giờ, Đấng đòi hỏi là Đức Chúa Trời, nhưng Đấng cung ứng cũng là Đức Chúa Trời. Sau sự phục sinh, Đấng Christ đã vào trong chúng ta để trở nên sự sống của chúng ta. Kết quả là chúng ta có khả năng thực hiện những mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Đây là phúc-âm. Sự đầy đủ của Đấng Christ đã trở nên khả năng của chúng ta. Vì Đấng Christ sống cho chúng ta, mọi nan đề đều được giải quyết.

TÔI ĐƯỢC ĐÓNG ĐINH VỚI ĐẤNG CHRIST

Bây giờ, tôi xin quay sang hỏi anh em. Anh em đã mất hi vọng nơi chính mình chưa? Anh em còn cố gắng tự cải thiện và sửa đổi để có một tình trạng tốt hơn không? Tôi đã hoàn toàn mất hi vọng nơi chính mình! Tôi được đóng đinh trên thập tự giá. Sự tốt lành cũng như sự xấu xa của tôi đều được kết liễu. Bây giờ, mọi sự đều là Đấng Christ. Đó là cách duy nhất. Phao-lô nói: “Tôi đã bị đóng đinh với Đấng Christ; ấy không phải tôi còn sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; và sự sống mà tôi hiện giờ đang sống trong xác thịt thì tôi sống trong đức tin, tức đức tin vào trong Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu thương tôi và phó chính mình vì tôi” (Ga. 2:20).

Anh em có tin rằng Đức Chúa Trời đã đóng đinh anh em không? Anh em có tin rằng người cũ của anh em bị vô hiệu hóa và Đấng Christ ở trong anh em không? Nếu vậy thì anh em phải thực thể hóa tất cả những sự kiện ấy. Khi đó, anh em sẽ có thể nói rằng từ nay trở đi, Đấng Christ sống ở trong tôi.

KHÔNG CẦN CHỜ ĐỢI

Một lần kia, tôi được mời dự bữa ăn chiều tại nhà của một giáo sĩ. Chúng tôi ngồi nói chuyện một hồi lâu về vấn đề trên. Tôi hỏi vị giáo sĩ: “Anh có thể nói rằng anh đã đắc thắng tất cả những tội lỗi của mình không?” Anh đáp: “Tôi phải đợi xem liệu điều ấy có công hiệu không đã”. Điều ông nói có nghĩa là: “Phao-lô nói mình đã chết và được sống lại. Nhưng tôi không thể nói như vậy, vì nếu nói điều đó và rồi sau đó nổi nóng lên, thì tôi sẽ phải làm gì? Không phải tôi vẫn còn sống sao? Vì vậy, tôi phải đợi vài ngày xem điều ấy có công hiệu không đã”.

Tôi nói với anh rằng: “Đức Chúa Trời đã đặt anh vào trong Con Ngài; bây giờ anh đã chết với Ngài. Đức Chúa Trời cũng đã đặt anh vào trong sự phục sinh của Ngài để Ngài có thể làm sự sống ở bên trong anh. Điều anh cần làm là tin, thay vì chờ đợi. Anh có tin thật không? Anh chưa tin vì nếu tin thì anh sẽ ngợi khen Đức Chúa Trời vì Đấng Christ là sự sống của anh. Thậm chí anh sẽ không lo ngại là điều ấy có hiệu nghiệm hay không. Đức Chúa Trời chịu trách nhiệm về điều ấy, và Ngài không bao giờ thất bại. Tất cả những công tác đã hoàn thành của Ngài trở nên thật khi anh vận dụng đức tin của mình. Anh đang chờ đợi điều gì? Phải chăng anh nghi ngờ Lời Đức Chúa Trời?”

TIN NHỮNG SỰ KIỆN

Một lần nữa, đó là vấn đề đức tin. Đức tin luôn luôn liên quan đến những sự kiện đã hoàn thành. Bất cứ điều gì dành cho ngày mai không phải là đức tin. Bất cứ điều gì trong hi vọng cũng không phải. Sau khi nghe những bài giảng như vậy, nhiều người nói rằng họ có đức tin. Nhưng việc họ có thật sự sở hữu đức tin hay không vẫn còn là một câu hỏi mở ngỏ.

Tôi xin minh họa quan điểm của mình bằng một câu chuyện có thật. Tôi có hai người đồng công. Một người là anh Nee, còn người kia là chị Lee. Gần đây, cả hai đều bắt đầu công tác hầu việc Chúa của họ và cả hai đều cận thị. Rồi cả hai đều đeo kính cận. Chị Lee đến với Chúa cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, Ngài đã chữa lành người mù. Ngài không thể cũng làm như vậy cho con sao? Đi rao giảng tại những làng mạc với cặp kính này đối với con thật bất tiện. Chúa ơi, xin chữa lành cho con”. Chị dâng lên lời cầu nguyện này đang khi ở trên một chiếc tàu nhỏ chạy bằng hơi nước để đến một làng nọ. Sau khi cầu nguyện, chị biết rằng Đức Chúa Trời đã đáp ứng lời yêu cầu của chị. Chị có đức tin bên trong mình nên ném cặp kính xuống sông. Kết quả là đôi mắt của chị được chữa lành.

ĐỨC TIN KHÔNG PHẢI DÀNH CHO TƯƠNG LAI

Tin này đến tai anh Nee. Một ngày kia, anh đến nói với tôi: “Đức Chúa Trời đã chữa lành mắt cho chị Lee. Tôi tin rằng Ngài cũng làm cho tôi như vậy”. Tôi đáp: “Anh nói rằng Đức Chúa Trời sẽ chữa lành cho anh. Điều này chứng minh rằng anh chưa có đức tin. Anh sẽ không được chữa lành”. Tuy nhiên, anh khẳng định rằng Đức Chúa Trời sẽ thực hiện một phép lạ và anh có một đức tin như vậy.

Hai ngày sau, đang khi ở trên tàu chạy bằng hơi nước, anh gỡ cặp kính ra và ném xuống nước. Một tháng sau tôi gặp lại anh, anh nói với tôi rằng đôi mắt của anh không tốt hơn chút nào cả. Dường như Đức Chúa Trời vẫn chưa chữa lành cho anh. Tôi nói: “Nếu khôn thì anh nên bỏ ra hai chục đô-la mua một cặp kính khác”. Anh nói rằng anh sẽ rao giảng tại Ku-tien và sẽ trở lại trong bốn tháng. Anh có đức tin rằng khi ấy anh sẽ được chữa lành. Tôi đáp: “Nếu anh nghĩ rằng bốn tháng tới Đức Chúa Trời sẽ chữa lành cho anh thì anh đặt đức tin của mình ở tương lai. Đó không phải là đức tin thật”.

ĐỨC TIN ĐÚNG ĐẮN

Bây giờ anh em thấy được điều này chưa? Chị Lee có đức tin thật. Chị nói: “Chúa ơi, con cảm tạ Ngài vì con không còn cận thị nữa. Vì lý do này, con ném đi cặp kính của con”. Nhưng anh Nee lại nói: “Khi con ném cặp kính của con đi, con sẽ được chữa lành”. Chị Lee tin rằng Đức Chúa Trời đã chữa lành cho chị rồi. Đó là điều đức tin thật đòi hỏi. Đó là một đức tin tin rằng Đức Chúa Trời đã hoàn thành và thực hiện tất cả ý muốn của Ngài.

Cùng một nguyên tắc ấy áp dụng cho sự cứu rỗi của chúng ta và việc sống một đời sống đắc thắng. Chúng ta không hi vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu chúng ta. Tôi e rằng một số người vẫn nuôi hi vọng thậm chí sau khi xuống âm-phủ. Chúng ta cũng không hi vọng chiến thắng sẽ đến trong hai ngày nữa. Điều chúng ta nên nói là: “Chúa ơi, con cảm ơn Ngài. Những tội lỗi của con đã được tha. Cảm ơn Ngài, Chúa ơi, con không còn sống nữa, nhưng Ngài sống trong con”. Chúng ta phải tin những gì “là” và những gì “đã là”. Khi làm như vậy, chúng ta sẽ được cứu.

TIẾP NHẬN NHỜ ĐỨC TIN

Có một phân đoạn Kinh-thánh khác liên quan đến đức tin. Chúng ta cần đọc cẩn thận Mác 11:24: “Vì lý do ấy, Ta nói cùng các ngươi, tất cả điều gì các ngươi cầu nguyện và nài xin, hãy tin đã nhận được, thì các ngươi chắc có điều ấy”.

Chữ trọng yếu trong câu này là “đã nhận được”. Tôi đã gạch dưới câu này trong quyển Kinh-thánh của tôi. “Hãy tin đã nhận được, thì các ngươi chắc được điều ấy”. Mệnh đề thứ nhất ở thì quá khứ, trong khi mệnh đề thứ hai lại là tương lai. Kinh-thánh chỉ ban cho loại đức tin như vậy. Đó là đức tin tin đã nhận được, chứ không phải đức tin hi vọng nhận được. Chỉ sự nhận lãnh nhờ đức tin mới là sự nhận lãnh thật. Nếu không có sự nhận lãnh trong đức tin thì không có sự nhận lãnh trên thực tế.

Đôi khi những người đồng công của tôi hay tôi xức dầu cho người bệnh và cầu nguyện cho họ. Tôi thường hỏi người bệnh rằng: “Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu nguyện của anh chưa?” Những người có đức tin đáp: “Có chứ, Đức Chúa Trời thật đã đáp lời cầu nguyện. Bệnh tật của tôi không còn nữa”. Có thể loại bệnh nhân ấy vẫn còn lên cơn sốt và bệnh tình không có vẻ khả quan lắm, nhưng sau cùng sẽ hết bệnh. Còn những người khác thì đáp: “Đức Chúa Trời sẽ chữa lành tôi”, hay “Tôi sẽ được lành bệnh”. Đối với những người này, chúng tôi phải cầu nguyện một lần nữa cho họ vì chúng tôi nhận thấy họ không có đức tin. Điều họ có không phải là đức tin, mà chỉ là hi vọng. Hi vọng được chữa lành và tin mình được chữa lành rất khác biệt. Những ai tin là mình đã nhận được sẽ nhận được.

CHIẾN THẮNG

Cuộc sống đắc thắng cũng vậy. Nếu tin rằng mình đã đắc thắng rồi, thì anh em sẽ kinh nghiệm hết chiến thắng này đến chiến thắng khác. Nhưng nếu đặt hi vọng ở tương lai, anh em chỉ có thể kinh nghiệm chiến thắng trong tương lai. Thì quá khứ chiếm một địa vị quan trọng trong những lời cầu nguyện của chúng ta. Đó là những gì tôi có chứ không phải là những gì tôi muốn. Muốn một điều gì đó là dấu hiệu của sự vô tín. Chữ muốn thường ngăn chận Chúa đáp lời cầu nguyện của chúng ta. Lời của Chúa thật rõ ràng: ai tin rằng mình đã nhận được sẽ nhận được.