Thông tin sách

Đức Tin Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Normal Christian Faith
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 13

Untitled Document

PHẦN BỐN: ĐẤNG CHRIST VÀ CƠ ĐỐC NHÂN

CHƯƠNG MƯỜI BA

Ý NGHĨA CỦA ĐỨC TIN

Cơ-đốc-nhân là một người đã tiếp nhận Đấng Christ và sự cứu rỗi vĩ đại của Ngài. Làm thế nào một người có thể tiếp nhận Ngài và công tác Ngài đã hoàn thành? Có thể câu hỏi này dường như khó, nhưng câu trả lời lại rất đơn giản. Chỉ có một cách để tiếp nhận Đấng Christ, và đó là bởi đức tin. Thật ra, tiếp nhận chỉ là tin.

MỘT TRĂM NĂM MƯƠI LẦN

Có người đã đếm chữ “đức tin” trong Tân Ước. Từ ngữ này xuất hiện một trăm năm mươi lần. Chữ này được dùng làm danh từ trong ba mươi lần, và phần còn lại là động từ. Khi dùng làm động từ thì được dịch là “tin”. Lý do chữ này được nói đến và nhấn mạnh nhiều lần vì đức tin là cách duy nhất và trọng yếu để tiếp nhận Đấng Christ.

Vị trí đức tin chiếm trong đức tin Cơ-đốc hết sức quan trọng. Không một tôn giáo nào khác nhấn mạnh đến đức tin bằng Đạo Đấng Christ. Thích Ca Mâu Ni chưa từng nói: “Hãy tin ta”. Bạn cũng chưa từng nghe Khổng Tử nói như vậy. Bạn cũng không thể tìm thấy bất cứ điều gì có tính chất như thế trong những tác phẩm của Lão Tử, Trang Tử hay của bất cứ nhà hiền triết nào khác. Nhưng giữa vòng các Cơ-đốc-nhân, đức tin lại luôn được nhắc đi nhắc lại. Kinh-thánh lặp đi lặp lại một trăm năm mươi lần rằng chúng ta phải tin Đấng Christ. Không có cách nào khác ngoại trừ tin. Tân Ước đề cập đến những điều khác như sự ăn năn, báp-têm, vương quốc các từng trời, cách cư xử, v.v... Tuy nhiên, so với đức tin, những điều ấy xuất hiện ít hơn nhiều. Kinh-thánh phải lặp lại và nhấn mạnh đến điểm này vì nó liên hệ đến việc chúng ta tiếp nhận Đấng Christ và sự cứu rỗi của Ngài. Khi một người tin, người ấy tiếp nhận. Nếu không, người ấy vẫn trống rỗng.

ĐỊNH NGHĨA VỀ ĐỨC TIN

Trước hết chúng ta hãy xem xét ý nghĩa của đức tin. Chúng tôi sẽ cố gắng tìm ra một định nghĩa cho từ ngữ này. Điều đáng lưu ý là mặc dầu chữ “đức tin” đã được dùng một trăm năm mươi lần trong Tân Ước và nhiều hơn nữa trong Cựu Ước, nhưng định nghĩa của đức tin chỉ được nói đến một lần. Từ ngữ này chỉ được giải thích trong một câu. Chúng ta phải xem xét cẩn thận lời giải thích duy nhất ấy. Chúng ta hãy đọc Hê-bơ-rơ 11:1. Câu Kinh-thánh ấy cho chúng ta lời giải thích độc đáo về đức tin. “Đức tin là sự tin chắc của điều mình hi vọng, bằng cớ của điều mình chưa thấy”.

SỰ TIN CHẮC LÀ GÌ

Nếu đọc phớt qua câu trên, chúng ta có thể nghĩ rằng mình đã hiểu định nghĩa về đức tin. Đức tin là sự tin chắc của những điều mình hi vọng, bằng cớ của những điều mình chưa thấy. Nhưng khi cẩn thận suy nghĩ về định nghĩa này, chúng ta sẽ khám phá ra rằng nó không dẫn mình đến đâu cả. Tôi phải thừa nhận rằng bản thân tôi đã bỏ ra nhiều năm để nghiên cứu về chữ “sự tin chắc” này. Tôi đã suy đi nghĩ lại về từ ngữ này nhưng không thể đạt đến một lời giải nghĩa thích đáng nào cả.

Tôi đã dành nhiều thì giờ so sánh các bản dịch tiếng Anh khác nhau về câu này. Sau khi xem xét ít nhất mười hai bản dịch khác nhau, tôi kết luận rằng chữ này tốt nhất nên được dịch là thực chất. Vậy thì, câu này sẽ đọc là: “Đức tin là thực chất của những điều mình hi vọng”. Tuy nhiên, dịch như vậy vẫn không truyền đạt sức mạnh trọn vẹn của chữ ấy.

VIỆC THỰC THỂ HÓA

Sau đó tôi dành thì giờ nghiên cứu tiếng Hi-lạp. Cuối cùng, tôi có thể nắm vững tác động trọn vẹn của chữ này. Nhưng tôi không thể tìm ra một chữ nào thích hợp để dịch chữ ấy. Đối với tôi, ngụ ý ở đây thật rõ ràng. Nhưng tôi không thể nghĩ ra một chữ nào thích hợp để diễn tả điều ấy.

Cuối cùng, tôi tìm được một chữ thích đáng từ bản dịch của J.N. Darby. Ông Darby là một chuyên gia người Anh nổi tiếng trong lãnh vực luận giải Kinh-thánh. Ông đã dịch chữ này là “việc thực thể hóa”. Chữ thực chất thật dễ hiểu. Chúng ta đều biết rằng thực chất của cái bàn này là gỗ, và thực chất của kim loại này là sắt. Nhưng việc thực thể hóa là gì? Chúng ta phải dành ít thì giờ giải thích chữ này.

Tôi tin rằng việc thực thể hóa là khả năng làm cho chúng ta nhận thức một thực chất. Chẳng hạn, khi trông thấy một cái bàn, chúng ta nhận thức rằng thực chất của nó là gỗ. Hay hãy xem lớp phủ mặt bàn này. Sau khi xem xét, chúng ta có thể nói rằng thực chất của lớp phủ này là kim loại. Chính khả năng này là năng lực thực thể hóa.

CHỨC NĂNG CỦA NĂM GIÁC QUAN

Thế giới chung quanh chúng ta bao gồm vô số vật thể với màu sắc và hình dạng khác nhau. Cũng có rất nhiều hình ảnh và vật thể ở bên trong chúng ta. Chúng tạo ra một thế giới hoàn toàn của riêng chúng. Giữa thế giới bên trong và bên ngoài có một sự truyền thông qua lại liên tục. Những sự kích thích của thế giới bên ngoài được truyền đến thế giới bên trong, và thế giới bên trong phản ứng và phản ảnh ra thế giới bên ngoài. Những cơ quan trung gian liên hệ đến hai thế giới này chủ yếu là năm giác quan. Qua năm giác quan này, những sự kích thích của thế giới bên ngoài được truyền vào trong chúng ta để sinh ra những nhận thức nào đó, và qua cùng năm cơ quan ấy, chúng ta truyền đạt điều ở bên trong chúng ta cho thế giới bên ngoài.

Nếu một người bị lấy đi năm giác quan này, thì bất cứ điều gì của thế giới bên ngoài cũng sẽ vô cùng khó khăn để xâm nhập vào trong người ấy. Có đủ mọi màu sắc trong thế giới chung quanh chúng ta. Nhưng nếu một người bị khiếm thị thì người ấy không nhận được những màu sắc ấy vào trong mình. Người ấy không thể thưởng thức vẻ đẹp của những màu sắc ấy, vì người ấy không có khả năng thực thể hóa màu sắc. Nếu bạn nói với người ấy là tuyết thật đẹp, người ấy sẽ hỏi bạn rằng: “Tại sao tuyết lại tuyệt đẹp?” Nếu bạn trả lời rằng màu trắng là điều làm cho tuyết hấp dẫn, người ấy sẽ nói: “Vậy màu trắng là gì?” Và nếu bạn nói rằng màu trắng là ngược với màu đen, người ấy sẽ đáp: “Tôi không biết màu đen như thế nào?” Có mọi loại màu sắc trên thế giới. Nhưng chúng chỉ có thể vào trong chúng ta qua khả năng thực thể hóa của đôi mắt. Những người khiếm thị thì không có một khả năng như vậy. Thế giới bên trong họ thiếu vắng mọi màu sắc.

Có một số điều đòi hỏi chúng ta phải có khả năng nghe. Chúng ta nhận được những điều ấy nhờ thính giác của mình. Nếu chúng ta bị điếc thì âm thanh không ảnh hưởng gì đến mình cả. Có một số điều cần đến vị giác và khứu giác của chúng ta. Chức năng của năm giác quan chúng ta là để chuyển mọi điều ở bên ngoài vào trong chúng ta để trở nên kinh nghiệm của chúng ta ở bên trong. Nếu chúng ta không có năm giác quan này, mọi vật thể ở bên ngoài sẽ vẫn ở bên ngoài chúng ta; chúng sẽ không bao giờ có thể vào trong chúng ta. Mãi mãi sẽ có một sự ngăn cách giữa hai phía. Công việc mà năm giác quan thực hiện là công việc thực thể hóa.

CHUYỂN VÀO

Tôi xin giải thích thêm chút ít về điều này. Tôi muốn dùng lại ví dụ về màu sắc. Xanh dương là một thực chất. Nó luôn luôn có đó. Nhưng khi nhìn đến nó, đôi mắt của bạn bắt đầu chuyển màu xanh vào trong bạn. Đó là ý nghĩa của sự thực thể hóa. Bây giờ, bạn có thể nói rằng bạn đã thực thể hóa màu xanh dương vào trong mình. Bây giờ bạn biết là có một màu được gọi là xanh dương.

Thật ra, hằng ngày mỗi người trong chúng ta đều thực thể hóa. Ngay bây giờ tôi có thể trông thấy anh Chang ngồi ở đây và anh Lee ngồi ở đó. Có một cái đèn ở phía trên tôi và một con đường ở phía trước tôi. Tất cả những điều này đều được đôi mắt của tôi thực thể hóa. Hằng ngày, tôi thực thể hóa hàng triệu vật thể vào trong tôi qua những cơ quan thực thể hóa của tôi. Nhờ đó, chúng ta được tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Trong cùng một ý nghĩa, chúng ta nói rằng đức tin là việc thực thể hóa những điều mình hi vọng. Tôi không thể tìm ra chữ nào thích đáng hơn chữ này.

ĐỨC TIN TRONG NHỮNG ĐIỀU THUỘC LINH

Đức Chúa Trời dùng chữ “việc thực thể hóa” để cho chúng ta thấy ý nghĩa của đức tin. Kinh-thánh cho chúng ta biết về nhiều điều, một số điều chúng tôi đã bàn đến ở phần trước. Những điều ấy cho đến nay không liên quan gì đến chúng ta; chúng hiện hữu độc lập ở bên ngoài chúng ta. Chúng ta gọi những điều ấy là những vấn đề thuộc linh. Làm thế nào những vấn đề thuộc linh ấy có thể được thực thể hóa vào trong chúng ta? Tại đây đức tin bước vào hành động.

Tôi xin nói thêm một ít về chức năng của năm giác quan, và sau đó chúng ta sẽ bàn đến chức năng của đức tin. Chiều nay, một số người trong chúng ta đã được đi ngắm cảnh tại Pali-tai. Nơi đó thật sự là một thắng cảnh, và chúng ta say mê phong cảnh ấy. Anh Jan nói với chúng ta rằng vài ngày nữa khi hoa mận nở, thì quang cảnh thậm chí sẽ còn ngoạn mục hơn. Một người khác nhận xét rằng một vài ngày trước, tuyết cũng tạo nên một cảnh tượng thật lộng lẫy. Tất cả những phong cảnh tuyệt đẹp này chỉ có thể truyền đạt vào trong chúng ta nhờ thị giác của mình. Đối với một người mù, tất cả những vẻ đẹp ấy đều không hiện hữu.

Đây là một đóa hoa thơm ngát. Khi đưa đóa hoa lên mũi, bạn có thể nhận ra hương thơm của nó, nhưng nếu bạn không có mũi hay đang bị cảm, bạn sẽ không có khả năng để ngửi. Bạn sẽ không biết bông hoa ấy thơm như thế nào. Đối với bạn, hương thơm là một thực chất không hiện hữu. Đây là một cây đàn dương cầm. Nó phát ra những âm thanh tuyệt diệu. Người chơi đàn thật điêu luyện và diễn cảm. Nhưng những khúc nhạc du dương này không thể đến với một người điếc. Đối với người ấy, âm nhạc không hiện hữu vì người ấy thiếu khả năng để nghe.

ĐỨC TIN THỰC THỂ HÓA

Lý do tôi đã bỏ nhiều công sức giải thích những điều này cho bạn là để bạn hiểu ý nghĩa của đức tin trong Kinh-thánh. Đó là một vấn đề tối quan trọng. Cũng như mắt để nhìn thấy, tai để nghe, và mũi để ngửi, thì đức tin là cơ quan mà nhờ đó chúng ta thực thể hóa mọi sự thuộc linh vào trong chúng ta. Nếu không có đức tin thì mọi vấn đề thuộc linh đều không hiện hữu đối với chúng ta. Đó là lý do tại sao Kinh-thánh gọi đức tin là việc thực thể hóa những điều chúng ta hi vọng.

NGOÀI TẦM NĂM GIÁC QUAN

Những vấn đề thuộc linh có thật hay không? Bạn không thể xác minh chúng bằng năm giác quan của mình. Đức Chúa Trời đã đặt chúng ta vào trong Đấng Christ; chúng ta được đóng đinh với Ngài. Tất cả những tội lỗi của chúng ta đều được Ngài gánh chịu. Ngày nay, Đấng Christ đã được phục sinh và ở trong Thánh Linh. Nhưng chúng ta có thể thực thể hóa điều nào trong những điều này bằng năm giác quan của mình không? Về khía cạnh ấy, năm giác quan trở nên vô dụng. Khi tiếp xúc với những vấn đề này, mắt thì mù, tai thì điếc, mũi thì tê liệt, lưỡi thì vô vị, và tất cả những cảm giác đều đờ đẫn. Nếu chỉ vận dụng năm giác quan của mình, chúng ta phải kết luận rằng Đức Chúa Trời không hiện hữu, không có Đấng Christ, và sự tha tội cùng sự cứu chuộc dành cho các tội nhân đều không được thực thể hóa, không có điều được gọi là sự sống mới, và tất cả những vấn đề thuộc linh chỉ là ảo tưởng. Sự thật là thực chất có đó, nhưng khả năng thực thể hóa lại thiếu vắng.

Giả sử, một người mù đứng lên tuyên bố rằng: “Không có cái gì được gọi là màu sắc. Tất cả những cảnh tượng và phong cảnh đẹp mà người ta nói đến đều là ảo ảnh cả. Tất cả những lời mô tả về những bức tranh linh động và rực rỡ chỉ là những thực thể trừu tượng không hiện hữu”. Bạn sẽ không ngạc nhiên khi nghe những lời như vậy. Bạn nhận thấy rằng người ấy không có quan năng để thấy. Đối với người ấy, tất cả những điều đó thật sự không hiện hữu. Lý thuyết của người ấy là lý thuyết của người mù. Chỉ người mù mới chấp nhận và chứng minh điều đó là đúng.

THIẾU MỘT GIÁC QUAN THỰC THỂ HÓA

Có thể bạn nghĩ đây chỉ là chuyện đùa. Nhưng có những người chỉ trích người khác mà nói rằng: “Hãy nghe tất cả những cuộc nói chuyện ấy về những vấn đề thuộc linh, về việc Đấng Christ tha thứ tội lỗi, sự phục sinh và việc tiếp nhận sự sống mới. Chúng chỉ là một mớ từ ngữ rỗng tuếch”. Sự thật là những vấn đề thuộc linh hiện hữu, nhưng những người ấy lại thiếu điều gì đó. Họ bị đui mù đối với những vấn đề thuộc linh. Điều họ thiếu là điều lẽ ra họ phải có nhưng lại không có; đó là giác quan để thực thể hóa mọi vấn đề thuộc linh. Nếu không có giác quan ấy, mọi điều thuộc linh đều là bóng tối đối với họ. Giác quan này là đức tin. Đức tin làm cho mọi sự trong lãnh vực thuộc linh trở nên cụ thể và rõ ràng.

Vũ trụ vật chất là thật. Thế giới thuộc linh cũng vậy. Tuy nhiên, bạn cần một cơ quan đặc biệt để thấy và nghe thế giới thuộc linh. Cơ quan hay giác quan này là đức tin mà chúng tôi đã bàn đến. Đức tin là việc thực thể hóa những điều hi vọng, và là bằng cớ của những điều chưa thấy. Dầu không thể thấy, chúng lại biểu lộ cho chúng ta một cách xác thực. Làm thế nào một điều thuộc linh dường như trừu tượng lại có thể được thực thể hóa trong chúng ta? Không có cách nào khác hơn là nhờ đức tin. Chúng ta có đức tin ấy không? Nếu có thì tất cả những điều ấy sẽ trở nên thật đối với chúng ta.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VÀ XÁC THỰC

Năm giác quan thực thể hóa mọi sự trong thế giới vật chất cho chúng ta. Đức tin là quan năng thực thể hóa mọi sự trong thế giới thuộc linh cho chúng ta. Đó là một giác quan thêm vào năm giác quan kia của chúng ta. Vấn đề là chúng ta có vận dụng giác quan ấy hay không. Anh Chang đang ngồi đối diện với tôi. Qua đôi mắt của tôi, anh trở nên thật đối với tôi. Tuy nhiên, tôi có thể làm chứng với bạn rằng Đấng Christ bên trong tôi còn thật hơn so với anh Chang. Không những sự cư ngụ của Ngài là một thực tại, mà sự cứu chuộc của Ngài, việc người cũ của tôi bị đóng đinh với Ngài và việc tôi sống lại với Ngài cũng thật. Đối với tôi những điều ấy còn xác thực hơn là anh Chang. Bên trong tôi có một cơ quan làm cho tôi nhận thức được tất cả những điều ấy. Không thể phủ nhận những điều ấy, và những điều ấy là xác thực. Không những tôi, mà vô số những Cơ-đốc-nhân khác cũng đã nhận thấy những điều kể trên. Những điều này được làm cho trở nên thật nhờ quan năng độc nhất vô nhị là đức tin.

ĐỨC TIN LÀ TIẾP NHẬN

Đức Chúa Trời đã chuẩn bị và hoàn thành mọi sự trong Đấng Christ. Ngài cũng đã đặt Đấng Christ vào trong Thánh Linh để từ nay trở đi mọi người có thể vui hưởng Ngài trong mọi nơi mọi lúc. Điều duy nhất một người cần làm là tiếp nhận Ngài. Nhưng người ấy phải làm thế nào để tiếp nhận Ngài? Bởi đức tin. Tin là tiếp nhận. Khi một người tin, người ấy nhận được mọi sự của Đấng Christ vào trong mình.

Thật ra, năm giác quan cũng tiếp nhận. Đôi tai tiếp nhận âm thanh nhờ lắng nghe, và đôi mắt tiếp nhận màu sắc nhờ ngắm nhìn. Bằng cách liên tục tiếp xúc với thế giới bên ngoài, năm giác quan tiếp nhận mọi sự vào thế giới bên trong.

Như vậy, đức tin là một hành động tiếp nhận. Đấng Christ đã đổ huyết của Ngài ra để cất đi những tội lỗi của chúng ta. Khi tin như vậy, chúng ta tiếp nhận những điều ấy vào trong mình. Đức Chúa Trời đã đặt chúng ta vào trong sự chết của Đấng Christ. Bởi đức tin, giải pháp cho người cũ này được tiếp nhận vào trong chúng ta. Những sự kiện khác như sự phục sinh của Ngài và sự khởi đầu một cuộc sống mới đều nhận được bởi đức tin. Tôi không biết làm thế nào những điều này vào trong chúng ta. Nhưng tôi biết rằng khi chúng ta tin lời Đức Chúa Trời và những công tác của Ngài, thì những điều ấy vào trong chúng ta. Đó là chức năng của đức tin.

ĐỨC TIN KHÔNG PHẢI LÀ SỰ ĐỒNG Ý

Tôi phải nói đến một điểm quan trọng: đức tin và sự đồng ý là hai vấn đề khác nhau. Đức tin là cuộc sống, trong khi đồng ý là sự vận dụng tâm trí. Chỉ đức tin mới thừa hưởng mọi sự trong thế giới thuộc linh. Sự chấp nhận thuộc tâm trí không có phần gì trong đó. Nhận thức những điều thuộc linh bằng sự chấp nhận thuộc tâm trí cũng giống như dùng mắt để thấy âm thanh hay dùng lưỡi để nếm màu sắc. Bạn sẽ không bao giờ có thể nhận được bất cứ điều gì bằng cách ấy.

Ví dụ, mọi người đều đồng ý rằng núi Hoàng Sơn là một cảnh rất đẹp. Các sách đều nói như vậy, và chúng ta đã thấy ngọn núi ấy trong những bức tranh. Chúng ta chấp nhận và đồng ý rằng ngọn núi ấy rất ngoạn mục. Nhưng núi Hoàng Sơn chưa từng được tiếp nhận vào trong chúng ta. Không vẻ đẹp nào ở đó là thật đối với chúng ta. Tiếp nhận những vấn đề thuộc linh không phải là vấn đề chấp nhận nhưng là vấn đề đức tin. Chúng ta cần có đức tin nơi lời Đức Chúa Trời. Chúng ta phải hòa lẫn những lời của Ngài với đức tin của chúng ta. Đừng nghi ngờ hay tranh luận chống lại lời Đức Chúa Trời. Trái lại, chúng ta nên đồng hóa chính mình với lời Ngài và được cứu.

Nếu có đức tin sống động như vậy, bạn có thể được cứu dầu ở nhà hay ở hội-thánh, ở tại đồng vắng hay ở bất cứ nơi nào. Ngày nay, Đấng Christ ở trong Thánh Linh. Ngài có mặt khắp nơi. Bất cứ ở đâu, bạn cũng có thể được cứu bởi đơn giản chạm đến Ngài bằng đức tin. Điện trong phòng này được bắt một cách hoàn chỉnh và sẽ bật sáng choang khi bạn chạm đến công tắc, thì cũng vậy, sự cứu rỗi sẽ lập tức trở thành hiện thực khi bạn vận dụng đức tin của mình tiếp nhận Ngài.

XƯNG NHẬN

Có lẽ hơn mười năm bạn đã nghe những giáo lý về Đấng Christ. Nhưng lúc nào bạn cũng chỉ lưu trữ chúng trong tâm trí của mình. Đó chỉ là một sự chấp nhận của tâm trí. Cho đến ngày nay, bạn vẫn là một người sa ngã. Sự chấp nhận của bạn không hiệu quả gì cả. Bạn phải xưng nhận rằng mình tin. Bạn phải tuyên bố: “Tôi tin Giê-su người Na-xa-rét là Con Đức Chúa Trời. Tôi tin bây giờ Ngài ở trong Thánh Linh. Tôi cũng tin rằng trên thập tự giá, Ngài đã cất đi những tội lỗi của tôi, Ngài đã đóng đinh người cũ của tôi và ban cho tôi một sự sống mới”. Với đức tin như vậy, bạn sẽ được đem vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Bạn sẽ chạm đến Ngài, và sự cứu rỗi sẽ được hoàn thành trong bạn. Đó là vấn đề đức tin chứ không phải là vấn đề đồng ý.

LÃO BẢY MƯƠI

Vài năm về trước, một tàu chiến của Ý thả neo tại Gibraltar. Tối đến, tất cả thủy thủ lên bờ đánh bạc, chè chén và phá phách. Trong bọn họ có một người biệt danh là Lão Bảy Mươi. Anh ta luôn luôn là người cầm đầu của đoàn.

Đêm ấy, trong khi đi lang thang quanh cầu tàu, anh trông thấy một ngôi nhà, trong nhà ấy có một vài phụ nữ chơi đàn pianô, hát thánh ca và rao giảng. Anh chưa từng thấy một nơi nào như vậy. Vì tính hiếu kỳ, anh bước vào. Một người nữ truyền giáo tiến đến và bắt đầu giảng đạo cho anh. Chị không quan tâm đến việc anh có say hay không, nhưng bắt đầu nói cho anh biết về việc Đấng Christ chết vì những tội nhân, sự tha tội của Ngài và việc Ngài ban cho một sự sống mới. Cuối cùng chị nói với anh rằng điều duy nhất anh cần thực hiện để được cứu là tin. Lão Bảy Mươi rất cảm động. Anh cầu nguyện với Chúa Giê-su, tin Ngài, và tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình.

Sau đó, anh trở về tàu. Lúc sắp sửa đi ngủ, anh cảm thấy mình nên cầu nguyện một lần nữa, vì vậy anh quì gối trước giường của mình. Trong phòng có hơn hai mươi thủy thủ khác. Khi trông thấy anh làm như vậy, họ bắt đầu hò hét: “Thật là chuyện mới lạ! Lão Bảy Mươi có một trò bịp mới! Ối chào! Hắn thật sự làm như đang cầu nguyện. Được lắm. Bây giờ anh có thể ngồi dậy được rồi”. Nhưng Lão Bảy Mươi vẫn tiếp tục cầu nguyện.

Đám bạn bắt đầu ném giày dép vào anh. Nhưng anh không quan tâm đến giày dép ấy. Sau khi cầu nguyện, anh đứng lên và nghiêm nghị tuyên bố với mọi người rằng anh đã tin Đấng Christ. Nghe thế, mọi người đều cười phá lên và vỗ tay hoan hô cuộc trình diễn tuyệt hay của anh.

KHÔNG CÒN NHƯ CŨ

Sáng hôm sau, trong khi anh đang lau chùi boong tàu, một thủy thủ lớn tuổi hơn đến nói với anh rằng mình cũng là một Cơ-đốc-nhân. Anh ấy hỏi Lão Bảy Mươi có cảm thấy một sự vui mừng và bình an khác lạ bên trong mình hay không. Nếu không có thì anh e rằng đó không phải là sự cứu rỗi thật. Lão Bảy Mươi đáp: “Những người Mỹ ấy chỉ nói với tôi rằng khi tôi tin Đấng Christ, tội lỗi của tôi sẽ được tha. Họ không nói gì với tôi về sự vui mừng và bình an cả. Tôi phải hỏi họ điều này mới được”. Anh xin nghỉ và lên bờ hỏi những bà ấy tại sao mình không có sự bình an và vui mừng sau khi được cứu, và đức tin của anh có phải là một trò lừa phỉnh hay không.

Một bà cao tuổi mời anh ngồi và nói: “Đừng lo ngại về việc anh cảm thấy thế nào. Tôi chỉ xin hỏi anh một câu hỏi. Anh có thấy mình khác trước không?” Lão Bảy Mươi đáp: “Tôi hoàn toàn không như trước kia”. Yên lặng một chốc, anh lớn tiếng lặp lại: “Không, tôi không còn như cũ. Tôi từng là một người huyên náo và ranh mãnh nhất giữa đám bạn của tôi. Nói về sự xấu xa gian ác, tôi luôn luôn là người dẫn đầu. Sau buổi tối hôm qua, tôi không còn có thể thốt lên những lời văng tục nữa. Khi nghe những người khác dùng ngôn ngữ thô tục, không những tôi không thể hòa nhập họ, mà thậm chí tôi còn xấu hổ về họ. Đêm qua, họ ném giày dép vào tôi. Nếu như trước kia thì tôi đã đứng dậy và cho mỗi đứa một trận nên thân. Nhưng tôi đã cảm thấy dường như không có gì xảy ra cả. Thậm chí tôi không muốn đánh họ. Chắc chắn tôi không còn như cũ nữa! Không, tôi không thể như cũ được!” Nói đến đây, anh quay lại và chạy về tàu.

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẤNG CHRIST

Nếu một người chưa tin Đấng Christ, không có điều gì sẽ xảy đến cho người ấy. Nhưng một khi người ấy tin thì mọi sự trong Đấng Christ đều sẽ vào trong người ấy. Dầu người ấy không cảm thấy có gì khác, nhưng trên thực tế người ấy không còn như cũ. Có người nói đó là tác động của cảm xúc. Đây không phải là tác động của cảm xúc, mà là tác động của Đấng Christ!

Khi ở tại Kaifeng, tôi từng gặp trưởng phòng của một bộ trong chính quyền. Trước kia, anh chỉ là một người chấp nhận Đạo Đấng Christ. Nhưng nay, anh tin Đấng Christ. Anh nói với tôi: “Tôi từng nghĩ rằng tin và đồng ý không khác nhau gì mấy. Nhưng một vụ xảy ra gần đây cho tôi thấy rằng tôi không còn là một người như trước nữa. Tôi đã được trao quyền điều hành một câu lạc bộ gồm một sân quần vợt để các viên chức cao cấp của chính phủ thường xuyên đến chơi. Những người ấy thường cho câu lạc bộ một số tiền để trang bị dụng cụ chơi quần vợt. Mới đây, do lệnh của chính quyền, nhiều viên chức đã được chuyển đi. Họ để lại khá nhiều tiền và những vật dụng tại câu lạc bộ.

“Vì họ đã ra đi và không ai biết họ ở đâu, nên tiền bạc và những vật dụng tự nhiên trở nên vật sở hữu của tôi. Họ sẽ không bao giờ trở lại lấy lại những vật ấy, và không ai sẽ thắc mắc về điều này. Nhưng không biết làm sao tôi cảm thấy rằng mình không thể lấy những vật ấy. Tôi đã phải bỏ nhiều công sức tìm kiếm địa chỉ của từng người và gởi những vật ấy trả lại họ. Trước kia, sự việc như vậy chưa bao giờ xảy đến với tôi. Tôi rõ ràng đã được thay đổi”.

QUYỀN NĂNG TRONG ĐỨC TIN

Một người từng gặp Đấng Christ trong đức tin thật khác biệt. Chỉ những ai đã chạm đến Đấng Christ mới có quyền năng của Ngài biểu lộ qua họ. Mọi tội lỗi bẩn thỉu và bó buộc đều được rũ sạch khỏi chúng ta khi chúng ta chạm đến Đấng Christ. Ngay giây phút chúng ta tin Ngài, sự sống phục sinh của Ngài vào trong chúng ta. Bởi đức tin, tất cả những điều ấy đều trở nên thật trong chúng ta.

Không những cuộc sống của chúng ta được đức tin thay đổi, mà còn có một quyền năng rất vĩ đại bên trong đức tin này thúc đẩy hàng ngàn người trở nên những giáo sĩ và những người tuận đạo. Quyền năng vĩ đại bên trong này không thể đè nén được và vô hạn. Đức tin làm cho con người sẵn lòng chịu khổ vì Chúa, vượt qua hiểm nguy và sau cùng là chịu tuận đạo. Tất cả những khả năng ấy đều bắt nguồn từ đức tin. Khi chúng ta chạm đến Đấng Christ, mọi sự thuộc về Ngài sẽ được truyền vào chúng ta.