Thông tin sách

Đức Tin Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Normal Christian Faith
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 5

Untitled Document

PHẦN HAI: ĐẤNG CHRIST VÀ ĐẠO ĐẤNG CHRIST

CHƯƠNG NĂM

ĐẤNG CHRIST ĐỐI KHÁNG VỚI NHỮNG GIÁO LÝ

Đức tin Cơ-đốc của chúng ta đặt nền tảng trên khải thị về Đức Chúa Trời. Điều này khác với mọi tôn giáo khác, là những tôn giáo có được nhờ suy gẫm, lý luận và tìm hiểu. Chúng ta tin Kinh-thánh là khải thị của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta. Nói cách khác, đó là lời Ngài nói với chúng ta. Chúng ta cũng tin rằng Đức Chúa Trời đã trở nên một người, là Giê-su người Na-xa-rét. Đức Chúa Trời, Kinh-thánh và Giê-su Christ cấu tạo nên nền tảng cho đức tin của chúng ta.

VỊ THẾ CỦA ĐẤNG CHRIST

Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách xem xét vị thế của Đấng Christ trong đức tin của chúng ta, hay chúng ta có thể nói, trong Đạo Đấng Christ. Tuy nhiên, Đạo Đấng Christ đã bị thay đổi, và không phải là Đạo Đấng Christ đúng nghĩa. Hiện tại chúng ta không đề cập đến việc Đạo Đấng Christ phải thế nào. Trái lại, chúng ta sẽ chỉ rút ra một sự so sánh giữa Đạo Đấng Christ và những tôn giáo khác để nhận thấy sự khác biệt trong đức tin của chúng ta. Chúng tôi sẽ không cố ý tán dương Đạo Đấng Christ và hạ thấp những tôn giáo khác. Chúng tôi sẽ chỉ rút ra một sự so sánh khách quan giữa các tôn giáo ấy.

Trước hết, chúng ta hãy xét đến Khổng giáo. Thật ra, những môn đệ của Khổng Tử chưa từng chính thức tuyên bố điều họ theo là một tôn giáo. Khổng giáo chỉ ảnh hưởng lớn trên nền văn hóa, giáo dục, luân lý và triết lý Trung Hoa. Tuy nhiên, một điều chắc chắn là những sự dạy dỗ và giáo lý của Khổng Tử vô cùng quan trọng, trong khi chính con người Khổng Tử lại không mấy quan trọng. Tôi không có ý nói là Khổng giáo không quan tâm gì đến Khổng Tử. Khổng Tử thật sự là một người phi thường. Tuy nhiên, để trở nên một phần của Khổng giáo, một người chỉ cần hiểu những giáo lý của Khổng Tử, theo sát những sự dạy dỗ của ông, và thấu triệt những quyển sách của ông. Hiểu con người Khổng Tử hay không thì không phải là vấn đề. Những nguyên tắc, giáo lý và sự dạy dỗ của Khổng Tử mới là tinh túy của tôn giáo ấy.

NHỮNG GIÁO LÝ CỦA PHẬT GIÁO

Kế đến, chúng ta hãy xét đến Phật giáo. Người sáng lập Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni. Có lần, ông giảng cho những đồ đệ của mình về việc những người gian ác sau khi chết được đầu thai bởi sự luân hồi. Đây là điều thu hút sự chú ý của con người. Nhưng trong toàn bộ Phật giáo, điểm nổi bật là những giáo lý và giáo thuyết. Về con người Thích Ca Mâu Ni, mặc dầu Phật giáo có tiểu sử của ông, nhưng đó chỉ là điều phụ. Đó không phải là then chốt của Phật giáo. Trung tâm của tôn giáo ấy không phải là con người Thích Ca Mâu Ni. Đối với Phật giáo ngày nay, có một người như vậy hay không thì không mấy quan trọng. Điều thiết yếu cần đến là những giáo lý và giáo điều.

NHỮNG NGƯỜI SÁNG LẬP CHỈ ĐỂ LẠI GIÁO ĐIỀU CỦA HỌ

Những tôn giáo khác như Lão giáo hay Hồi giáo tất cả đều có chung một nguyên tắc. Sau khi người sáng lập đã thiết lập một tôn giáo và để lại những giáo điều, giáo lý và các qui định của mình làm nội dung của tôn giáo ấy, bản thân người sáng lập lại bị tách rời và có quan hệ rất ít với tôn giáo ấy.

ĐẠO ĐẤNG CHRIST ĐƯỢC LẬP TRÊN ĐẤNG CHRIST

Nhưng đức tin của chúng ta hoàn toàn khác biệt. Ngay từ ban đầu, Đạo Đấng Christ đã được lập trên một người là Đấng Christ, chứ không phải được lập trên những giáo lý hay sự dạy dỗ của Đấng Christ. Điều lạ lùng là khi mở Kinh-thánh ra, bạn sẽ không tìm thấy có quá nhiều chương về giáo lý. Các phân đoạn luận giải về những vấn đề thuần giáo lý thì thật hiếm thấy và ít được người ta quan tâm đến. Điều người ta quan tâm đến nhất là bản thân Con Người ấy và chính Con Người ấy như thế nào. Mọi người đã đọc Kinh-thánh đều biết rằng những sự dạy dỗ của Giê-su người Na-xa-rét không nhiều lắm. Con người của Ngài thu hút sự chú ý của chúng ta. Chỉ duy Ngài là nền tảng của đức tin chúng ta.

Chữ Christ bắt nguồn từ Hi-văn, có nghĩa là Đấng được xức dầu. Theo người Hoa, khi một người nhận việc, người ấy được trao cho một bức thư nhận làm việc. Đối với người Do-thái, tương đương với điều ấy là sự xức dầu. Khi Đức Chúa Trời sai một người làm một công tác, Ngài đổ dầu trên người ấy để xác định sứ mạng. Đấng Christ là chính Đức Chúa Trời, đã được biệt riêng để xuống trần làm người nhằm biểu hiện Đức Chúa Trời, hầu con người có thể nhận biết Đức Chúa Trời. Đấng Christ là Đấng được xức dầu. Ngài được ủy quyền làm một công việc như vậy.

ĐẤNG CHRIST ĐÒI HỎI NHỮNG NGƯỜI KHÁC TIN NGÀI

Do sự khác biệt cơ bản này, Đấng Christ khác với những người sáng lập của các tôn giáo khác. Một lần kia, Ngài hỏi các môn đồ rằng: “Các ngươi nói Ta là ai?” Nhiều lần Ngài yêu cầu các môn đồ tin Ngài. Ngài phán rằng ai tin Con thì có sự sống đời đời. Ngài lại phán: “Ai yêu mến cha hoặc mẹ hơn Ta, không đáng cho Ta; ai yêu mến con trai hoặc con gái hơn Ta, cũng không đáng cho Ta” (Mat. 10:37). Trừ phi một người yêu mến Ngài như vậy, người ấy không đáng làm môn đồ của Ngài. Chỉ có Ngài thốt ra những lời như vậy. Không giáo chủ nào khác từng nói như thế. Khổng Tử chưa từng nói với Yen-weh hay Tze-lu rằng: “Hãy tin ta”, cũng chưa từng nói: “Hãy yêu mến ta”. Hay bất cứ những giáo chủ nào khác như Thích Ca Mâu Ni hoặc Mohammed cũng không đòi hỏi các môn đồ của họ phải có đức tin nơi chính họ. Điều duy nhất cần thiết để làm môn đồ của những người ấy là tin tưởng những giáo lý của họ.

VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ VIỆC GIÊ-SU LÀ AI

Như vậy, đức tin Cơ-đốc thật được đặt nền tảng trên một người, được lập trên Đấng Christ chứ không phải trên một số giáo lý. Điểm mấu chốt của đức tin Cơ-đốc chân thật liên quan đến sự việc Giê-su là ai! Ngài chỉ là một người Do-thái? Chỉ là một tiên tri? Hay Giê-su là Con của Đức Chúa Trời hằng sống? Toàn bộ vấn đề tùy thuộc vào sự việc Giê-su người Na-xa-rét là ai. Sự khác biệt giữa một Cơ-đốc-nhân thật và một Cơ-đốc-nhân giả không phải dựa vào kiến thức về những giáo lý của Đấng Christ, mà dựa vào sự nhận biết Giê-su là ai!

CÂU TRẢ LỜI Ở TRONG KINH-THÁNH

Người từ Na-xa-rét này là ai? Vì đây là một câu hỏi trọng yếu liên hệ đến đức tin của chúng ta, chúng ta phải tìm kiếm câu trả lời trong Kinh-thánh. Chúng ta sẽ chú ý đến Phúc-âm Giăng nhiều hơn và khám phá ra rằng chỉ chính Đấng Christ mới là trung tâm của Kinh-thánh và là tiêu điểm của toàn bộ Đạo Đấng Christ.

Trước khi đến với Phúc-âm Giăng, chúng ta phải xem qua bối cảnh của sách này. Trước khi Đấng Christ đến, một người mở đường được Đức Chúa Trời sai đến để dọn đường cho Đấng Christ hầu con người sẵn sàng công nhận Đấng Christ. Người đi trước là Giăng Báp-tít. Bởi lời rao giảng đầy quyền năng của ông, nhiều người nhận biết tội mình. Kết quả, nhiều người tưởng ông là Đấng Christ, tức Đấng phải đến.

Nhưng Giăng 1:8 nói: “Người ấy không phải là sự sáng, nhưng đã đến để làm chứng về sự sáng”. Sự sáng chỉ về Đấng Christ. Ngài được gọi là sự sáng vì sự sáng bày tỏ và biểu lộ. Giăng không phải là Đấng Christ. Ông chỉ làm chứng cho Đấng Christ.

Về sự sáng này, câu 9 nói: “Ấy là sự sáng thật, đến thế gian soi sáng mọi người”. Trong thế gian tăm tối này, nếu một người có Đấng Christ, người ấy sẽ biết mọi điều về Đức Chúa Trời. Khi sự sáng này chiếu rọi, con người sẽ nói: “Đây là Đức Chúa Trời”. Họ sẽ nhận biết sự sáng là Đức Chúa Trời.

Đến câu 9, chúng ta vẫn chưa biết sự sáng là ai. Xin đọc tiếp từ câu 10 đến câu 15: “Ngài ở trong thế giới, và thế giới hiện hữu bởi Ngài, nhưng thế giới không biết Ngài. Ngài đến trong nơi thuộc về mình, nhưng những người thuộc về Ngài không tiếp nhận Ngài. Nhưng hễ ai tiếp nhận Ngài, Ngài ban thẩm quyền cho họ để trở nên con cái Đức Chúa Trời, tức là cho những người tin vào danh Ngài, những người ấy không sinh bởi máu huyết, hay bởi ý muốn của xác thịt, hay bởi ý người, nhưng bởi Đức Chúa Trời. Lời đã trở nên xác thịt và đóng trại giữa chúng ta (chúng ta đã ngắm xem vinh quang Ngài, như vinh quang của Con độc sinh từ Cha), đầy dẫy ân điển và thực tại. Giăng làm chứng về Ngài và kêu lên rằng: Đây là Đấng tôi đã nói: Đấng đến sau tôi đã trở nên trước tôi, vì Ngài vốn trước tôi”. Bạn có nhận thức rằng sau khi đọc những câu trên, tất cả những điều được ghi chép tại đây đều là những sự kiện thật, chứ không phải là các giáo lý không?

GIÊ-SU LÀ

Giăng Báp-tít nói gì về Đấng Christ? Ông nói: “Đấng đến sau tôi”. Tuy nhiên, Đấng đến sau Giăng lại có trước ông. Ấy là vì Đấng Christ vốn có trước ông. Đây là khởi đầu lời chứng của Giăng Báp-tít.

Giăng 1:27: “Ngài là Đấng đến sau tôi, tôi không đáng mở dây dép Ngài”. Lời giảng của Giăng là khởi đầu đức tin của chúng ta. Ông đến chỉ để cho những người khác biết Giê-su người Na-xa-rét là ai. Không những Đấng Christ vốn có trước Giăng, mà Ngài còn vĩ đại hơn Giăng nhiều đến nỗi ông không đáng mở dây dép của Ngài và làm nô lệ của Ngài.

Giăng 1:29: “Qua hôm sau ông thấy Giê-su đến với mình, thì nói: Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội của thế gian đi!”

Câu 30: “Đây là Đấng mà tôi đã nói: Một người đến sau tôi đã trở nên trước tôi, vì Ngài vốn trước tôi”. Khi giới thiệu Giê-su, Giăng nói: “Đây là Đấng”! (c. 30). Sách Phúc-âm bắt đầu bằng cách cho chúng ta thấy Giê-su là ai!

GIÁO LÝ VỀ SỰ TÁI SINH

Đó là lời của người dọn đường. Nhưng còn Đấng Christ thì thế nào? Ngài đã nói gì? Chúng tôi thừa nhận rằng trong Kinh-thánh có một vài giáo lý cơ bản. Chẳng hạn như sự tái sinh là một trong những lẽ thật cơ bản. Phật giáo và Hồi giáo cũng nói về sự tái sinh. Trong những sự dạy dỗ của họ, họ dạy rằng bất cứ những gì đã qua đều được xem như đã chết ngày hôm qua, và những điều đến sau đó được xem như được sinh ra ngày hôm nay. Nhưng Giê-su đã nói gì về sự tái sinh? Chúng ta hãy xem bản ký thuật trong Giăng chương 3. “Nhưng có một người thuộc phái Pha-ri-si tên Ni-cơ-đem, là người lãnh đạo dân Do-thái. Vào ban đêm, người này đến với Ngài” (cc. 1-2a).

Ni-cơ-đem là một vị quan. Ông cũng là một người lớn tuổi và có học thức. Ông đến thảo luận vài nan đề với Giê-su, và Giê-su nêu lên vấn đề tái sinh.

“Thật vậy, thật vậy, Ta nói với ngươi, nếu một người không được tái sinh, thì người ấy không thể thấy được vương quốc của Đức Chúa Trời” (c. 3).

Giê-su cho Ni-cơ-đem thấy vấn đề tái sinh, Ngài nói với ông là ông cần được sinh lại. Sau khi Ni-cơ-đem nghe điều này, ông thật bối rối. Ông tự hỏi là làm thế nào một người già lại có thể được sinh lại. Có phải điều ấy nghĩa là ông phải trở vào tử cung của người mẹ và lại được sinh ra không? Giê-su nói với ông rằng đó không phải là sinh bởi xác thịt, mà là sinh bởi linh. Nếu một người không được sinh bởi Linh, thì dầu người ấy có vào trong tử cung người mẹ một lần nữa thì xác thịt sẽ vẫn sinh ra xác thịt. Chỉ có Linh mới sinh ra linh. Tại đây, bạn có thể nhận thấy rằng thậm chí đối với một vấn đề cơ bản và thiết yếu như vậy, Giê-su cũng không luận giải nhiều về giáo lý. Ngài chỉ nói đến một sự thật rất đơn giản, đó là nhu cầu được sinh lại.

SỰ TÁI SINH ĐƠN GIẢN LÀ TIN

Không có gì đáng ngạc nhiên khi Ni-cơ-đem hỏi: “Làm sao lại như vậy được?” Giê-su nói với ông rằng đó không phải là một vấn đề thuộc trần thế mà là điều thuộc về thiên thượng. Đó là lý do tại sao ông không thể tin. Làm thế nào một người có thể được sinh lại? “Chưa có ai từng lên trời, nhưng Đấng từ trời xuống, là Con Loài Người ở trên trời. Như Môi-se treo con rắn lên trong đồng vắng, Con Loài Người cũng phải bị treo lên như vậy, để hễ ai tin Ngài không bị hư mất nhưng có sự sống đời đời. Vì Đức Chúa Trời đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con độc sinh của Ngài, để ai tin vào Con ấy không bị diệt vong nhưng có sự sống đời đời. Vì Đức Chúa Trời không sai Con vào trong thế gian để định tội thế gian, nhưng để thế gian nhờ Ngài mà được cứu. Ai tin vào Ngài thì không bị định tội, nhưng ai không tin đã bị định tội rồi, vì không tin vào danh Con độc sinh của Đức Chúa Trời” (cc. 13-18). Bạn đã thấy điều này chưa? Đây là sự tái sinh!

Giê-su nói rằng sự tái sinh không phải là một giáo lý. Sự tái sinh là tin vào Ngài. Được sinh lại là tin vào Ngài. Nếu không tin vào Ngài thì một người không thể được tái sinh. Sau khi nói rất nhiều, tất cả đều được đem trở lại với “Ngài”.

Khái niệm của chúng ta về sự tái sinh là gì? Chúng ta nghĩ rằng nếu hôm qua người kia là một tên trộm và hôm nay người ấy trả lại của cải cướp được cho nạn nhân thì đó là sự tái sinh. Hay nếu một người hôm qua nghĩ đến việc lấy vợ bé nhưng hôm nay lại bỏ ý nghĩ ấy thì đó là sự tái sinh. Chúng ta nghĩ rằng hễ mình không còn làm những điều xấu xa trong quá khứ nữa, xem chúng như đã chết, và từ đây phấn đấu làm điều tốt, thì chúng ta được sinh lại. Nhưng đó là quan niệm của con người. Đó không phải là sự tái sinh mà Đấng Christ trình bày.

Phương cách của Giê-su tùy thuộc vào việc bạn có tin vào Ngài không. Ai tin vào Ngài thì có sự sống đời đời! Đức Chúa Trời ban Con độc sinh của Ngài để những ai tin vào Ngài sẽ không bị diệt vong, mà có được sự sống đời đời. Ai tin thì không bị định tội, nhưng ai không tin thì bị định tội. Đây không phải là một giáo lý, mà là vấn đề về một thân-vị. Đó là mối liên hệ giữa Ngài và con người.

THỎA MÃN KHÁC VỚI BẰNG LÒNG

Ngoài sự tái sinh còn có một vấn đề trọng yếu khác, mà chúng tôi gọi là sự thỏa mãn của Cơ-đốc-nhân. Một Cơ-đốc-nhân thật cảm thấy rằng những hi vọng của mình được thực hiện, những khát vọng của mình được thành tựu; người ấy không thiếu thốn gì; người ấy hoàn toàn thỏa mãn. Nhưng sự thỏa mãn này rất khác so với sự bằng lòng mà người ta thường nói đến. Bằng lòng là nhìn nhiều điều một cách lạc quan, để nhiều điều tự trong bản chất của chúng đến và qua đi mà không nhất định đòi hỏi bất cứ điều gì. Có thể không giàu có lắm hay không có địa vị cực cao. Có thể không có nhiều vinh dự hay không có danh tiếng gì. Nhưng bao lâu một người có thể sống an bình và không bị quấy rầy thì cũng đủ mãn nguyện rồi! Đó là bằng lòng. Nhưng đây không phải là sự thỏa mãn. Khi được thỏa mãn, một người cảm thấy rằng mình có những gì mình muốn và không còn khao khát nữa.

AI UỐNG NƯỚC NÀY SẼ KHÁT NỮA

Có một bản ký thuật rất hay trong Giăng chương 4. Tại đó Giê-su đã nói gì với người đàn bà Sa-ma-ri? “Ai uống nước này vẫn còn khát nữa” (c. 13). Nếu ao ước vinh quang, danh tiếng, giàu sang, địa vị, v.v... thuộc thế gian, bạn sẽ không bao giờ thỏa mãn. Khi có mười ngàn đô la, bạn sẽ muốn một trăm ngàn, và khi đã có được một trăm ngàn, bạn sẽ bắt đầu mơ ước về một triệu. Sẽ không bao giờ có sự thỏa mãn. Ai uống nước này sẽ còn khát nữa.

Làm thế nào bạn giải cơn khát này? Chúa Giê-su phán: “Nhưng ai uống nước Ta cho, thì đời đời không hề khát nữa” (c. 14). Một điều lạ lùng là Khổng Tử cũng như bất cứ giáo chủ nào khác đều chưa từng bày tỏ một điều như vậy. Những sự dạy dỗ của Khổng Tử và Mạnh Tử chỉ bảo bạn hãy thỏa lòng và cứ ở trong tình trạng nghèo khổ. Con người Khổng Tử hay Mạnh Tử đều không liên quan gì đến sự thỏa mãn của bạn. Tuy nhiên, con người Giê-su có liên quan mật thiết đến việc bạn được giải cơn khát.

Tự nhiên người đàn bà ấy ao ước uống nước giải cơn khát ấy. Khi bà xin Ngài nước sống này, “Giê-su trả lời và phán cùng bà rằng: Nếu ngươi đã biết sự ban cho của Đức Chúa Trời, và [biết] Người nói với ngươi rằng: ‘Hãy cho Ta uống’ là ai, thì ngươi chắc đã xin Người, và Người chắc đã cho ngươi nước sống” (c. 10).

Có phải Giê-su đang rao giảng một giáo lý không? Không. Không có giáo lý gì cả. Điều duy nhất Ngài làm là chỉ vào chính Ngài như thể nói rằng: “Nếu biết Ngài là ai, ngươi sẽ lập tức xin Ngài, và Ngài sẽ ban cho ngươi nước sống để ngươi không còn khát nữa”. Bạn có thấy điều này không? Toàn bộ vấn đề là Giê-su người Na-xa-rét là ai.

Người đàn bà Sa-ma-ri không phải là một người đứng đắn. Sự kiện bà có sáu đời chồng cho thấy bà là một người thế nào. Có lẽ bà đã không thỏa lòng với người này và người kia. Người chồng này không thể làm cho bà hạnh phúc; người khác cũng không thể làm thỏa lòng bà. Kết quả là bà đổi chồng hết người này đến người khác, rồi đến người chồng thứ ba và thứ tư, cho đến khi bà đến với người thứ sáu. Một ngày kia bà ra đi lấy nước, đó là một dấu hiệu cho thấy sự việc bà uống mà vẫn khát. Điều đáng chú ý là từ ngày đó, cuộc sống của bà được thay đổi. Bà được thỏa mãn! Bà đã làm gì? Bà không làm gì cả! Ngày đó, bà nhận thức được Giê-su người Na-xa-rét là ai, và đã được cứu. Chúng ta hãy xem một lần nữa tiến trình qua đó bà tiến đến chỗ nhận biết Giê-su và tin Ngài.

NHẬN BIẾT NGÀI LÀ AI

“Người đàn bà nói với Ngài: Thưa Ông, tôi nhận biết Ông là một tiên tri” (c. 19). Vì Đấng Christ bày tỏ với bà mọi điều bà đã làm, nên bà nhận thức đây không phải là một người thường. Ngài phải là một tiên tri. Giê-su nói thêm vài lời để cho bà thấy rằng Ngài không chỉ là một tiên tri: “Hãy tin Ta” (c. 21). Người đàn bà đáp rằng: “Tôi biết Đấng Mê-si-a sắp đến (Đấng được gọi là Christ); khi Ngài đến, Ngài sẽ công bố mọi sự cho chúng ta” (c. 25). Giê-su đã trả lời bà thế nào? Ngài phán: “Ta, người đang nói với ngươi đây, là Đấng đó” (c. 26). Điều đầu tiên một tội nhân cần làm không phải là ăn năn và thay đổi hành vi của mình, mà nhận thức Giê-su là ai. Mọi sự đều tốt đẹp nếu người ấy nhận thức được Giê-su là ai.

Sau đó, người đàn bà trở về thành mà bảo người ta rằng: “Hãy đến, xem người đã bày tỏ cho tôi mọi việc tôi đã làm. Đó không phải là Đấng Christ sao?” (c. 29). Tôi không thích chữ “không”. Vì bà biết người ấy là Đấng Christ, tại sao còn nói chữ “không”? Dầu thế nào đi nữa, bà tin và đi nói với những người khác là Đấng Christ đã đến. Bạn có thể thấy rõ rằng toàn bộ vấn đề không phải là về giáo lý mà về một con người! Mối quan tâm căn bản của chúng ta không phải là những giáo lý, mà là nhìn biết Giê-su là ai! Một khi có Chúa Giê-su, chúng ta sẽ có sự thỏa lòng thật; chúng ta sẽ cảm nhận đầy trọn là mình đã có mọi sự.

Chúng ta sẽ thấy thêm trong Giăng chương 5. Dường như trong chương năm Chúa Giê-su nói đến một vài giáo lý. Nhưng thật ra không có nhiều điều được luận giải. Một lần nữa đó là một lời mời tiếp nhận sự hiểu biết rằng Giê-su người Na-xa-rét là ai. Ngài nói vài lời, nhưng mục đích là hướng dẫn chúng ta tin vào Ngài. Chúa Giê-su nói rằng người Do-thái tra cứu Kinh-thánh. Nhưng Chúa chỉ ra rằng Kinh-thánh làm chứng cho Ngài. Những điều được viết trong đó là chỉ về Ngài. Biết Kinh-thánh là một điều quan trọng. Nhưng điều quan trọng hơn là hiểu biết Giê-su người Na-xa-rét là ai. Vấn đề không phải là Ngài dạy loại giáo điều nào, mà Ngài là loại người thế nào.

TA LÀ

Khi chúng ta đến với Giăng chương 6, vấn đề được nêu lên thậm chí còn sáng tỏ hơn. “Giê-su nói với họ: Ta là bánh sự sống, ai đến với Ta không hề đói, và ai tin Ta không hề khát” (c. 35). Ngài đã không rao giảng giáo lý nào cả. Ngài chỉ phán: “Ta là bánh sự sống, ai đến với Ta không hề đói”. Bạn có thấy ngụ ý tại đây không? Nếu tôi nói rằng tôi là bánh sự sống và ai ăn tôi sẽ không bao giờ đói, thì bạn chắc chắn sẽ nói rằng ông Nghê là một người điên đến từ Thượng Hải. Các giáo chủ chỉ có thể truyền cho những người khác giáo lý. Họ không thể truyền chính họ cho người khác. Nhưng Giê-su thì lại khác. Ngài là bánh sự sống. Ngài cũng là nước để giải cơn khát. Nan đề nằm nơi sự vô tín của người ta đối với Ngài. Nếu ai tin Ngài thì mọi sự đều tốt đẹp.

“Ta là bánh của sự sống. Tổ phụ các ngươi ăn ma-na trong đồng vắng rồi họ chết. Đây là bánh từ trời xuống để ai ăn đến thì không chết” (cc. 48-50). Đó là những lời mà không ai khác có thể nói được. Duy Giê-su mới có thể phán điều ấy. Ngài không phải là một tên điên cũng không phải một kẻ nói dối; và bất cứ những gì Ngài nói luôn luôn quay lại chỉ về chính Ngài. Người này là bánh sự sống. Ai ăn Ngài sẽ không chết!

Như vậy, đức tin Cơ-đốc của chúng ta đặt nền tảng trên sự việc Giê-su là ai. Chúng ta không dùng thì giờ để chỉ nghiên cứu những sự dạy dỗ của Ngài. Chúng ta chỉ được yêu cầu trả lời một câu hỏi: Ngài là ai? Điều Đấng Christ liên tục tuyên bố trên đất không phải là những giáo lý của Ngài mà là chính Ngài. Trọng tâm không phải là giáo lý mà là thân-vị. Về mặt giáo lý, những quyển sách của Khổng Tử và Mạnh Tử đầy dẫy các triết lý, luân lý và đạo lý; những sách ấy vượt xa Kinh-thánh về mặt triết lý, luân lý và đạo lý. Nhưng chỉ có một vấn đề: Giê-su người Na-xa-rét là ai? Bạn có biết [Đấng ấy] không? Giê-su người Na-xa-rét này là ai?

NGÀI LÀ BÁNH SỰ SỐNG

Chúng ta hãy đọc tiếp. Giăng 6:51: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống, nếu ai ăn bánh này thì người ấy sẽ sống đời đời; bánh mà Ta sẽ ban cho là thịt Ta, được ban cho vì sự sống của thế giới”.

Tại đây, lời Ngài càng lúc càng trở nên kỳ dị. Nói rằng Ngài là bánh sự sống xuống từ trời cũng đủ kỳ lạ rồi. Bây giờ Ngài lại nói rằng ai ăn Ngài sẽ không chết mà sẽ sống đời đời. Điều này thật lạ thường. Thậm chí những lời nói rằng bánh Ngài ban cho chính là thịt của Ngài còn kỳ dị hơn nữa. Nên không có gì lạ khi những người Do-thái bấy giờ nói rằng lời ấy khó nghe. Ai có thể chấp nhận điều đó được? Đúng vậy! Trước đây chúng ta chưa hề nghe những lời như vậy. Chúng ta chưa từng nghe những lời ấy từ Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Trang Tử hay bất cứ nhà hiền triết nào khác. Chúng tôi chưa từng nghe những lời ấy tại Trung Quốc hay tại những quốc gia khác. Chưa hề có ai từng nói những lời như vậy.

Sau khi Đấng Christ phán những lời ấy, câu 52 nói: “Người Do-thái tranh luận với nhau: Làm sao người này cho chúng ta ăn thịt của người được?” Giê-su đã giảng giáo lý gì? Không có giáo lý nào cả. Điều duy nhất Ngài phán là hãy ăn thịt Ngài. Câu 55 và 56 nói: “Vì thịt Ta là thức ăn thật và huyết Ta là thức uống thật. Ai ăn thịt Ta và uống huyết Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong người ấy”. Bạn có thể nhận thấy rằng Ngài chỉ nhấn mạnh đến chính mình. Đây không phải là một bộ giáo lý. Nhưng đó là ăn thịt Ngài và uống huyết Ngài. Những ai ăn và uống sẽ sống mãi mãi.

NGÀI LÀ NƯỚC SỰ SỐNG

Khi đến với Giăng chương 7, chúng ta thấy ngày sau chót của một kỳ lễ lớn. Giê-su nói vài lời trước những người dự lễ ấy. “Bấy giờ là ngày sau cùng, là ngày trọng thể của kỳ lễ, Giê-su đứng kêu lên rằng: Nếu ai khát, hãy đến cùng Ta và uống. Ai tin vào Ta, các sông nước sống sẽ tuôn chảy từ trong bản thể sâu thẳm nhất của người ấy, như Lời Thánh đã nói” (cc. 37-38). Hãy hình dung như sau: tại một trong những ngày hội náo nhiệt của bạn, tôi, là Nghê Thác Thanh, đứng giữa đám đông mà kêu lớn lên rằng: “Nếu các bạn khát, hãy đến với tôi mà uống. Ai tin tôi thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong phần sâu thẳm nhất của người ấy”. Bạn sẽ nói gì? Chắc chắn bạn sẽ nói rằng tôi là một thằng khùng ngu ngốc từ Thượng Hải đến đang nói chuyện vô lý. Nhưng Giê-su đã làm và nói y như vậy. Thật sự không có giáo lý nào cả; chỉ có con người là Đấng Christ.

Vào ngày Giê-su phán những lời ấy, một sự tranh luận nổi lên giữa vòng những người Do-thái. Có người nói rằng đây thật sự phải là Đấng Christ. Những người khác lại lý luận rằng làm thế nào Đấng Christ lại có thể xuất thân từ Ga-li-lê được. Trong khi cố gắng xét xem người này là ai, một cuộc tranh luận nổi lên giữa vòng những người Do-thái. Cuộc tranh luận ấy tập trung vào một điều: Giê-su người Na-xa-rét này là ai? Cơ-đốc-nhân thật là người tin Giê-su là Đấng Christ.

NGÀI LÀ ÁNH SÁNG SỰ SỐNG

Hơn nữa trong Giăng 8:12, Giê-su bảo đám đông rằng: “Ta là sự sáng của thế gian; ai theo Ta, sẽ không hề bước đi trong sự tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống”. Bạn có thể thấy rằng một lần nữa lời của Ngài không phải là giáo lý. Điểm nhấn mạnh tại đây là “sự sáng” và “Ta”. Không phải việc thực hành những sự dạy dỗ của Ngài tạo nên một Cơ-đốc-nhân. Nhưng mối liên hệ với Đấng Christ làm cho chúng ta đủ điều kiện trở nên một Cơ-đốc-nhân. Chỉ nhờ tin vào Ngài mà chúng ta nhận được ánh sáng của sự sống. Chỉ nhờ tiếp nhận Ngài mà chúng ta không bước đi trong tối tăm.

NGÀI RA TỪ TRÊN

Giăng 8:21-22 nói: “Vì vậy, Ngài lại nói với họ: Ta đi, các ngươi sẽ tìm Ta và sẽ chết trong tội mình. Nơi Ta đi, các ngươi không thể đến. Người Do-thái nói: Không phải Người sẽ tự tử sao, vì Người nói: Nơi Ta đi, các ngươi không thể đến được?” Người Do-thái lại bối rối. Nơi Ngài đến mà chúng ta không thể đến được ở đâu? Họ nghĩ rằng có lẽ Ngài sẽ tự tử. Thật ra, nếu nhờ tự tử mới có thể đến được nơi ấy, người Do-thái vẫn không thể đến nơi ấy được bằng cách tự tử. Làm thế nào Chúa có thể đến một nơi mà họ không thể đến? Câu 23 nói: “Ngài phán rằng: Các ngươi ra từ dưới, Ta ra từ trên; các ngươi thuộc về thế gian này, Ta không thuộc về thế gian này”. Vì lý do ấy, nơi Chúa đến họ không thể đến.

TIN HAY KHÔNG TIN NGÀI “LÀ”

Hơn nữa, họ không chết trong tội lỗi của mình vì họ là những tên sát nhân hay những kẻ ngoại tình. Câu 24 thật trọng yếu, đặt biệt là ở nửa phần sau: “Vì vậy, Ta nói với các ngươi, các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi không tin Ta là, các ngươi sẽ chết trong các tội lỗi mình”. Bản Kinh-thánh King James thêm chữ “Đấng ấy” sau “Ta là”. Chúng ta hãy trích lời theo nguyên bản. Chúa phán: “Các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi không tin Ta là, các ngươi sẽ chết trong các tội lỗi mình”. Vấn đề là bạn tin hay không tin Ngài “là”. Điều này nghĩa là gì? Điều này có nghĩa là giữa hàng triệu người trong nhân loại, bạn chọn lấy một người và nói: “Đây là Đấng ấy! Đây là Đức Chúa Trời!” Chúng ta cần xét xem Giê-su người Na-xa-rét có phải thật sự “là” hay không! Nếu tin Ngài “là” thì chúng ta sẽ không chết trong tội lỗi mình. Nhiều người đang tin một Đạo Đấng Christ méo mó, nhưng chúng ta cần tin theo những gì Đạo Đấng Christ thật sự là. Câu hỏi đầu tiên chúng ta phải đặt ra là Giê-su người Na-xa-rét có phải “là” hay không.

Một lần nữa, người Do-thái bắt bẻ lại rằng: “Thầy là ai?” (c. 25). Câu trả lời của Giê-su dường như là: “Đây không phải là lần đầu tiên Ta nói với các ngươi Ta ‘là’. Về vấn đề này, Ta chưa từng nhượng bộ. Ta đã nói với các ngươi Ta ‘là’; Ta là Đấng ấy”. Nhiều lần, Ngài chứng minh với người khác rằng Ngài “là”; Ngài là Con Đức Chúa Trời.

TINH TÚY CỦA ĐỨC TIN CHÚNG TA

Mục đích những công tác của Đấng Christ là gì? Đó là đem con người đến chỗ tin nhận Ngài là Con Đức Chúa Trời. Trong Giăng chương 9, Đấng Christ mở mắt cho một người bẩm sinh bị mù. Những người Pha-ri-si khởi xướng một cuộc tranh luận khác về điều này. Họ gọi người được chữa lành đến và chất vấn người ấy mọi loại câu hỏi. Sau khi không nhận được gì từ những câu trả lời của người ấy, họ đuổi người ấy ra. Về sau Chúa gặp người ấy. Ngài hỏi người được chữa lành ấy một câu hỏi độc nhất: “Ngươi có tin vào Con của Đức Chúa Trời không?” (c. 35). Người ấy đáp lại rằng: “Lạy Chúa, Người ấy là ai để con tin vào Người?” (c. 36). “Giê-su nói với người ấy: Ngươi đã thấy Người, và Người là Đấng đang nói với ngươi. Người ấy nói: Chúa ôi, con tin, và người ấy thờ phượng Ngài” (cc. 37-38). Không gì sáng tỏ hơn điều này. Đây là công tác của Chúa Giê-su. Công tác của Ngài chỉ là đem con người đến chỗ nhận thức Ngài là ai. Ngài không bao giờ từ bỏ sự kiện mình là Con Đức Chúa Trời. Đây là tinh túy của đức tin chúng ta. Điều này tuyên bố Giê-su là Con Đức Chúa Trời.

CHỈ MỘT ĐIỂM NÀY

Nếu đọc qua Phúc-âm Giăng, chúng ta sẽ nhận thấy rằng mỗi phân đoạn đều liên hệ đến điểm này: Giê-su là Đấng Christ. Trong Giăng chương 10, những người Do-thái nhóm quanh Ngài mà nói rằng: “Thầy để chúng tôi trong tình trạng hoang mang cho đến chừng nào? Nếu thầy là Đấng Christ, thì nói tỏ tường cho chúng tôi” (c. 24). Vấn đề vẫn còn treo lơ lửng ở điểm ấy.

Giê-su đã trả lời thế nào? Ngài phán: “Ta đã bảo các ngươi mà các ngươi không tin... Các ngươi không tin, vì các ngươi không phải chiên của Ta” (cc. 25-26). Bất cứ những ai không tin rằng Giê-su là Con Đức Chúa Trời và Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể làm người, thì người ấy không phải là Cơ-đốc-nhân. Những ai không thừa nhận Ngài là Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống của Đấng Christ trong họ; họ không phải là chiên của Ngài. Toàn bộ nền tảng của đức tin Cơ-đốc đặt trên vấn đề này.

Trong Giăng chương 11, Giê-su lại phán: “Ta là sự sống lại và sự sống; ai tin vào Ta, dầu đã chết, cũng sẽ sống” (c. 25). Một người thường có thể phát biểu những lời như vậy không?

ĐỨC CHÚA TRỜI LIÊN QUAN CHẶT CHẼ VỚI NGÀI

Trong Giăng chương 12, Giê-su kêu lên rằng: “Ai tin vào Ta không phải tin vào Ta, nhưng tin vào Đấng đã sai Ta. Và ai thấy Ta, là thấy Đấng đã sai Ta. Ta đã đến như sự sáng vào trong thế gian, để ai tin vào Ta sẽ không ở trong tối tăm” (cc. 44-46). Bạn có thể nhận thấy rằng Đấng sai Ngài liên quan chặt chẽ với Ngài. Tin vào Ngài là tin vào Đấng đã sai Ngài. Trông thấy Ngài là trông thấy Đấng đã sai Ngài. Sự sáng cũng liên quan chặt chẽ với Ngài. Ở trong sự sáng là tin vào Ngài. Mọi sự liên quan chặt chẽ với Ngài.

Sau đó, trong Giăng chương 14, Chúa phán: “Đừng để lòng mình bối rối, hãy tin vào Đức Chúa Trời, cũng hãy tin vào Ta” (c. 1). Ngài muốn chúng ta tin vào Ngài giống như cách chúng ta tin vào Đức Chúa Trời. Một điều Ngài luôn luôn nhất định đòi hỏi là tin vào Ngài.

Giăng chương 15 nói về một số người ghét Chúa. Ngài nói: “Ai ghét Ta cũng ghét Cha Ta” (c. 23). Một lần nữa, Ngài lại bày tỏ rằng Ngài và Cha là một.

KHÔNG TIN NGÀI LÀ MỘT TRỌNG TỘI

Trong Giăng chương 16, Chúa phán rằng một ngày kia, Thánh Linh sẽ đến và kết án thế gian về tội, về sự công chính và về sự đoán xét. Tại sao lại kết án về tội? Lời giải thích nằm trong câu 9: “Về tội, vì họ không tin Ta”, vì không tin Ngài là Con Đức Chúa Trời. Đó là một tội, một tội rất nghiêm trọng. Khi Thánh Linh đến, Ngài sẽ kết tội loài người, và họ sẽ nhận thức được mức độ nghiêm trọng của tội không tin Giê-su là Con Đức Chúa Trời.

Một phân đoạn nữa trong Phúc-âm Giăng sẽ minh chứng đầy đủ. Giăng 17:3: “Đây là sự sống đời đời, để họ nhìn biết Cha, là Đức Chúa Trời chân thật duy nhất, và Đấng mà Ngài đã sai, là Giê-su Christ”. Tại đây chúng ta được cho thấy sự sống đời đời là gì. Chúa định nghĩa sự sống đời đời là nhận biết Đức Chúa Trời. Tin Đức Chúa Trời đời đời và tin Đấng đã được Ngài sai đến, tức Giê-su Christ, là sự sống đời đời. Sự sống đời đời tùy thuộc vào thân-vị này.

Tôi hi vọng chúng ta đều nhận thức được Giê-su người Na-xa-rét là ai. Đức tin của chúng ta không phải là sở hữu những giáo lý trống rỗng, mà là đặt nền tảng trên sự kiện Giê-su là Đấng Christ, là Con Đức Chúa Trời. Nhận lấy Giê-su Christ là nhận lấy Đức Chúa Trời.