Thông tin sách

Đức Tin Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Normal Christian Faith
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 4

Untitled Document

CHƯƠNG BỐN

ĐỨC CHÚA TRỜI TRỞ NÊN CON NGƯỜI (2)

SỰ RA ĐỜI CỦA GIÊ-SU

Nếu Đức Chúa Trời muốn làm một con người thì Ngài phải đến thế gian một cách rất khác biệt so với tất cả những người tầm thường khác. Chúng ta đã ra đời nhờ cha mẹ của mình và được mẹ thụ thai. Để xác định xem Giê-su người Na-xa-rét là một người tầm thường hay Đức Chúa Trời được nhập thể, chúng ta cần xem xét sự ra đời của Ngài. Nếu sự ra đời của Ngài không khác gì với sự ra đời của chúng ta thì chúng ta phải kết luận rằng Ngài chỉ là một con người không hơn không kém. Ngài không những phải hội đủ điều kiện thứ nhất, mà cũng cần hội đủ điều kiện thứ hai. Đừng vội tin một người đơn giản chỉ vì người ấy tự xưng là Đức Chúa Trời; chúng ta phải trắc nghiệm người ấy bằng tiêu chuẩn thứ hai. Nếu thật sự là Đức Chúa Trời thì người ấy phải được sinh ra một cách phi thường.

Nếu nghiên cứu sự ra đời của Giê-su, chúng ta sẽ thấy rằng sự ra đời ấy rất khác so với sự ra đời của chúng ta. Người ấy đã được sinh bởi một trinh nữ. Cả Phúc-âm Ma-thi-ơ lẫn Phúc-âm Lu-ca trong Tân Ước đều cho chúng ta biết sự kiện này. Giê-su đã được sinh bởi trinh nữ Ma-ri.

SINH BỞI MỘT TRINH NỮ

Trước khi tiếp tục, chúng ta phải thấy có hai cách nhận biết Đức Chúa Trời: bằng sự suy luận tự nhiên hay bằng khải thị. Theo suy luận tự nhiên, một người suy gẫm và phỏng đoán về Đức Chúa Trời. Trong sự khải thị, Đức Chúa Trời phán với con người. Chúng ta muốn nhìn vào khải thị về Đức Chúa Trời. Chúng ta muốn biết Đức Chúa Trời phán những gì.

Phúc-âm Ma-thi-ơ và Lu-ca cho thấy Giê-su đã được sinh bởi trinh nữ Ma-ri. Sự kiện quan trọng này giúp cho chúng ta có thể kết luận rằng Ngài không phải là một người tầm thường, và điều này biện minh cho việc chúng ta làm một Cơ-đốc-nhân.

Tâm trí thiên nhiên không sẵn sàng chấp nhận sự thật này. Vài năm về trước, một cuộc thảo luận lớn được tổ chức tại Anh Quốc. Một bên là những nhà lãnh đạo có danh tiếng của nền thần học tân phái. Bên kia là một nhà thần học kiêm mục sư thuộc giáo phái Trưởng-lão. Bốn đề tài trọng yếu được nêu lên. Hai lần một ngày, trong suốt bốn ngày liên tiếp, mỗi bên thay phiên nhau trình bày một bài diễn văn dài, tổng cộng là tám bài. Một trong những đề tài ấy liên quan đến chủ đề của chúng ta, đó là sự sinh ra bởi một trinh nữ. Những nhà thần học tân phái khẳng định rằng có một lý do duy nhất đủ bác bỏ việc Ngài được sinh ra bởi một trinh nữ, đó là theo sinh vật học sự kiện ấy không thể xảy ra. Theo định luật trong sinh vật học, sự sinh ra bởi một trinh nữ không thể xảy ra được.

CHUYỆN ẤY CÓ XẢY RA KHÔNG?

Trong cùng ngày ấy, đối thủ của họ đưa ra một lời biện bác. Tôi xin tóm tắt một vài lý lẽ của ông. Ông nói: “Những người bạn của chúng ta đã phủ nhận khả năng xảy ra một sự kiện như vậy căn cứ trên định luật thuộc sinh vật học. Ở đây tôi muốn hỏi sự kiện ấy có xảy ra hay không. Họ thắc mắc rằng: ‘Điều này có thể xảy ra không?’ Họ trưng dẫn cho các bạn những nguyên tắc có tính cách lý thuyết. Câu hỏi của tôi là: ‘Điều này có xảy ra không?’ Tôi chỉ vạch ra một sự kiện lịch sử. Được chứng minh theo tính cách lý thuyết là một chuyện, và được ghi nhận theo tính chất lịch sử lại là một chuyện khác”.

Trong khi đang nói, ông rút trong túi ra một tờ báo. Trong tờ báo ấy có một bài về vụ tai nạn xảy ra vài ngày trước. Một người kia lái xe trên con đường núi ngoằn ngoèo. Do bất cẩn, chiếc xe bị trượt dốc và lăn xuống một hẻm núi sâu thẳm. Chiếc xe bị hư hỏng hoàn toàn. Thậm chí không có được ba tấc vuông nào của chiếc xe còn nguyên vẹn. Chiếc xe ấy hư hại hoàn toàn. Nhưng người nằm dưới đất lại tuyệt đối không bị chút thương tích nào. Thế rồi, người ấy đứng dậy bước đi. Nhà thần học ấy đọc lớn bài báo này và nói: “Chiếc xe ấy lăn xuống hơn ba trăm mét đến nỗi nát tan. Thậm chí các bạn không thể tìm thấy ba tấc vuông kim loại còn nguyên vẹn, thế nhưng người lái xe lại không bị thương. Những người bạn của tôi sẽ thắc mắc: ‘Liệu người ấy có thể sống sót không?’ Nhưng câu hỏi của tôi là: ‘Người đó có đang sống không?’ Người ấy vẫn sống! Nếu các bạn suy xét khả năng xảy ra thì không thể nào có được. Nhưng nếu các bạn xét đến sự kiện thì rành rành ra đó!”

Điều chúng ta có là một sự kiện lịch sử. Nếu cố gắng nghiên cứu sự sinh ra bởi một trinh nữ từ quan điểm khoa học, thì có thể chúng ta kết luận đó là một sự kiện không thể xảy ra được. Nhưng câu hỏi của tôi là sự kiện như vậy đã có xảy ra hay không. Phúc-âm Ma-thi-ơ nói rằng Giê-su đã được sinh bởi một trinh nữ. Phúc-âm Lu-ca cũng nói như vậy. Ít nhất bạn phải công nhận rằng những bản tường trình này đã nói lên điều đó và một sự kiện như vậy đã được chép trong lịch sử. Tối thiểu bạn phải tin là có một sự kiện lịch sử.

ĐƯỢC VIẾT SAU KHI ĐIỀU TRA CẨN THẬN

Không phải tôi đang khẳng định rằng Ma-thi-ơ và Lu-ca đã được Thánh Linh cảm thúc khi họ viết những sách của mình. Những sách ấy có được cảm thúc cách thần thượng hay không, tạm thời chúng ta để sang một bên. Chúng tôi nói rằng có một vài người đã đi theo Giê-su. Họ đã viết tiểu sử Ngài. Cả Ma-thi-ơ lẫn Lu-ca đều là những người đồng thời với Giê-su. Hơn ba năm, Ma-thi-ơ đã đi theo Ngài. Lu-ca không gần gũi Ngài như Ma-thi-ơ, nhưng ông “đã cẩn thận điều tra mọi sự” (Lu. 1:3). Tôi tin là khi ông viết sách Phúc-âm của mình, mẹ của Giê-su vẫn còn sống. Họ đã nói gì về sự ra đời của Giê-su? Họ đều làm chứng rằng Giê-su đã được sinh bởi nữ đồng trinh Ma-ri. Sự ra đời của Ngài hoàn toàn khác với sự ra đời của chúng ta. Ngày nay, sau gần hai ngàn năm, một vài người chưa từng trông thấy Giê-su, chưa từng nói chuyện với Ma-ri là mẹ Ngài và chưa từng gặp mặt Giô-sép là cha Ngài, lại kết luận Ngài đã không được sinh bởi một trinh nữ. Làm sao bạn có thể nói là Ngài không được sinh ra theo phương cách như vậy? Các bạn bác bỏ khả năng xảy ra của một sự kiện như vậy và kết luận là điều đó chưa hề xảy ra vì vài lý lẽ bạn nêu lên trong thư phòng của mình hay vì vài lý thuyết được tạo thành trong phòng thí nghiệm sao?

ĐƯỢC SINH BỞI MA-RI

Có lẽ chúng ta nên đọc gia phả của Giê-su trong Phúc-âm Ma-thi-ơ. Có bốn mươi hai thế hệ trong gia phả ấy. Bắt đầu từ thế hệ đầu tiên, điều được lặp lại nhiều lần là: “Ông này sanh ông kia”. Nhóm chữ như vậy được dùng suốt đến câu 15, câu ấy nói: “Ê-li-út sanh Ê-lê-a-xa, Ê-lê-a-xa sanh Ma-than, Ma-than sanh Gia-cốp”. Câu 16 tiếp tục chép rằng: “Và Gia-cốp sanh Giô-sép”. Điều đáng ngạc nhiên là phần tiếp theo trong câu này không tiếp tục với “Giô-sép sanh Giê-su”. Thay vào đó lại chép rằng: “Giô-sép là chồng của Ma-ri, còn Ma-ri thì sanh Giê-su, gọi là Đấng Christ”. Khi đến Giô-sép, mẫu câu dùng ở phần trước không còn nữa. Lý do là vì Giê-su Christ đã được sinh bởi trinh nữ Ma-ri. So với chúng ta, cách Ngài ra đời rất khác.

BIẾT TRƯỚC VỀ SỰ CHẾT CỦA NGÀI

Chúng ta đã thấy phương cách Ngài đến thế gian là một phương cách phi thường. Bây giờ, chúng ta muốn xem xét cách Ngài lìa thế gian. Như chúng ta sẽ thấy, điều này cũng trái ngược với những sự chết thông thường của chúng ta. Chưa từng ai có thể tiên đoán nơi chốn, thời gian và cách thức mình sẽ chết. Một trăm năm sau kể từ hôm nay, tất cả chúng ta tại đây đều sẽ chết. Nhưng không ai biết được chúng ta sẽ chết thế nào. Tuy nhiên, Giê-su người Na-xa-rét lại thấy trước sự chết của chính mình. Ngài biết một cách đích xác thời gian, nơi chốn và cách thức sự chết sẽ xảy ra.

CHẾT TRÊN THẬP TỰ GIÁ

Một lần kia, khi có người nói Ngài sẽ bị giết, Ngài trả lời rằng một tiên tri bị diệt mất ở ngoài Giê-ru-sa-lem là điều không thể chấp nhận được (Lu. 13:33). Ngài biết mình sẽ chết tại Giê-ru-sa-lem. Một ngày kia, Ngài bảo các môn đồ Ngài rằng giờ đã đến. Không những Ngài cảm nhận sự chết của mình sắp đến, mà Ngài còn nói với những người khác là giờ chết của Ngài đã đến. Ngài cũng biết mình sẽ chết thế nào. Một vài lần, Ngài nói rằng mình sẽ bị đóng đinh. Điều này được chép ít nhất ba lần trong sách Ma-thi-ơ. Không những phương cách người này bước vào thế gian khác biệt mà cách người ấy ra đi cũng không kém phi thường. Cả sự ra đời và sự chết của người ấy đều khác thường. Đây có phải là Con Đức Chúa Trời không?

KHÔNG CÓ TỘI

Chúng ta hãy xem xét điều kiện thứ ba. Tiêu chuẩn đạo đức của Giê-su người Na-xa-rét thì thế nào? Ngài có giống như chúng ta không? Ngài có phạm tội bao giờ chưa?

Tôi thích câu Giê-su phán trong Giăng chương 8. Bấy giờ, nhiều người chống đối Ngài. Họ bao quanh và chất vấn Ngài. Ngài hỏi lại rằng: “Trong các ngươi ai có thể kết tội Ta?” (c. 46). Đây là một thách đố phi thường! Ai trong chúng ta dám đứng trước mặt mọi người mà thách thức họ kết tội mình? Người nào dám làm như vậy sẽ bị nhục nhã ngay giây phút vợ người ấy đứng lên làm chứng buộc tội anh. Có lẽ, không tới năm phút, bảy tám người sẽ lập tức đứng lên phơi bày những sự dối trá và bất trung của anh. Nhưng khi Giê-su đưa ra một lời công bố như vậy, không ai có thể kết tội Ngài. Trải qua các thời đại đã có vô số những thánh nhân và nhà hiền triết, nhưng không ai đủ can đảm tự xưng là hoàn hảo và vô tội. Tại sao chỉ duy Giê-su dám đưa ra một lời tuyên bố như vậy?

Điều duy nhất tôi có thể nói là người này hoặc cực kỳ kiêu ngạo hay vô cùng thánh khiết. Một kẻ kiêu ngạo có thể ba hoa một cách lố lăng vì anh ta không biết chính mình; người ấy không nhận thức được mình là người thế nào. Nhưng khi Giê-su thách thức: “Trong các ngươi ai có thể kết tội Ta”, thì không có cách nào Ngài có thể khiêm nhường hay lịch sự về điều này được. Ngài không có tội, và vô cùng thánh khiết.

Khổng Tử là người đã nói rằng nếu có thêm thì giờ thì ông sẽ trừ bỏ những khiếm khuyết lớn về mặt đạo đức của mình. Giê-su người Na-xa-rét thì không như Khổng Tử; Ngài vô tội. Khi đưa ra lời tuyên bố ấy, Ngài ở trước mặt những kẻ thù của mình. Nếu Ngài có một hành vi sai trái nhỏ nào, những người Do-thái đã lập tức bắt lỗi rồi. Người Do-thái không phải là những nhà văn viết nhiều; ngoài Kinh-thánh, họ không xuất bản nhiều sách khác. Nhưng sau thời Giê-su, người Do-thái đã viết nhiều sách để phủ nhận Ngài. Tất cả những quyển sách này đều phủ nhận thần tính của Ngài, nhưng không quyển nào đụng chạm đến vấn đề đạo đức của Ngài. Trong tất cả những tác phẩm chống đối, không quyển nào có thể chứng minh là Giê-su đã phạm tội.

KHÔNG CẦN ĂN NĂN

Ở một thời điểm nào đó, mọi triết gia hay những nhà sáng lập tôn giáo đều đã nói: “Tôi ăn năn”, hay “Tôi hối hận về vấn đề này và vấn đề kia. Từ nay, tôi sẽ làm tốt hơn”. Nhưng Giê-su người Na-xa-rét lại không bao giờ ăn năn. Một tội nhân cần phải ăn năn. Nhưng một người vô tội phải ăn năn về điều gì? Giê-su chưa bao giờ phải xin lỗi bất cứ người nào; Ngài chưa bao giờ phạm lỗi với bất cứ ai.

Khi tôi ở tại Anh Quốc, vài bạn hữu người Anh đã hỏi ý kiến tôi về dân tộc của họ. Tôi nói rằng: “Giữa vòng các bạn, tôi rất thường nghe nói: ‘Xin lỗi’ và ‘Xin cảm phiền’ ”. Đối với người Anh, ai không biết dùng hai câu ấy phải là một người vô cùng hèn hạ, vì người ấy không tự biết lỗi. Mọi người đều có thể phạm lỗi, nhưng khi một người không chịu nhận lỗi, thì người ấy tự làm cho mình thành người khiếm nhã. Vì thế, chúng ta phải luôn luôn nói: “Xin lỗi” và “Xin cảm phiền”.

Điều lạ lùng là Giê-su người Na-xa-rét chưa từng nói “xin lỗi” với ai. Ngài không bao giờ phải xin lỗi. Phải chăng Ngài quá xấu xa đến nỗi hoàn toàn không để ý đến lương tâm của mình? Có phải Ngài không nhận thấy những lỗi lầm của mình không? Hay Ngài thật sự vô tội? Nếu như vậy thì Ngài không thể nói “xin lỗi”. Đối với Ngài, đây không phải là vấn đề khiêm nhường hay lễ phép, mà là vấn đề duy trì vị thế của Ngài.

RỜ CHỨ KHÔNG LẤN ÉP

Tôi thích câu chuyện kể về việc Giê-su một lần kia đang đi trên đường. Nhiều người vây quanh Ngài, hi vọng nhìn thấy sự sống lại của một người chết. Có rất đông người đến nỗi người ta lấn ép nhau. Một người đàn bà bị bệnh xuất huyết trong nhiều năm nghĩ rằng Giê-su chắc chắn có khả năng chữa lành cho mình vì Ngài đã làm mọi loại phép lạ. Bà ấy đã không trực tiếp đến với Chúa, mà chỉ đơn giản rờ viền áo của Ngài, và bệnh bà lập tức được lành (Mác 5:25-29).

Giê-su cảm thấy một điều gì đó, xoay lại hỏi rằng: “Ai rờ đến Ta?” Các môn đồ phản ứng thế nào? Họ thưa rằng: “Thầy thấy quần chúng lấn ép thầy mà thầy còn hỏi rằng: Ai rờ đến Ta?” (c. 31). Lẽ ra Ngài nên hỏi: “Ai lấn ép Ta?” thay vì “Ai rờ đến Ta?” Nếu là Giê-su, tôi sẽ nói theo cách của một người lịch thiệp rằng: “Xin lỗi”. Nhưng Giê-su không cần nói như vậy. Khi Ngài nói đó là một sự đụng chạm nhẹ, Ngài có ý nói đó là một sự đụng chạm nhẹ chứ không phải là sự lấn ép. Các môn đồ chỉ biết là nhiều người lấn ép chung quanh Ngài. Nhưng Ngài thì biết có một người nào đó “rờ” Ngài. Ngài biết mình đang làm gì. “Xin lỗi” thì không cần thiết. Ngài không biết tội vì Ngài không có tội.

VƯỢT QUA GIỮA HỌ

Tôi xin nêu lên một câu chuyện khác về Giê-su. Một ngày kia, Ngài vào nhà hội tại quê hương của mình. Có một người đưa cho Ngài quyển chép Lời Thánh, và Ngài bắt đầu đọc một phân đoạn về chính Ngài. Tuy nhiên, những người ở đó lại khinh thường Ngài. Ngài đã bình luận rằng một tiên tri luôn luôn bị khinh thường tại quê hương của mình. Vì lý do này nên Đức Chúa Trời không chọn họ mà đến với những người khác. Sau khi nghe điều này, họ rất phẫn nộ. Họ mang Ngài ra bên ngoài và định quăng Ngài xuống vách đá. Tôi rất thích điều Giê-su đã làm khi ấy. Ngài đã vượt qua giữa họ (Lu. 4:16-30). Nếu người nào đó định đẩy chúng ta xuống từ một vách đá, chúng ta sẽ vùng vẫy để thoát thân. Nhưng Ngài không phải là một người tầm thường. Ngài chỉ đơn giản qua khỏi giữa những người bắt bớ. Họ không thể làm gì khác hơn là để Ngài vượt qua! Ngài không có tội.

Bạn lại thấy cùng một Giê-su ấy giảng cho một nhà lãnh đạo tại một căn nhà vào giữa đêm (Gi. 3:2), trong khi Ngài lại quyết định nói chuyện với một người đàn bà bên giếng nước vào giữa trưa (4:5-7). Mọi điều Ngài làm đều rất đúng đắn. Không ai có thể nói bất cứ điều gì chống lại Ngài. Bạn không thể tìm thấy lỗi lầm trong Ngài.

CHƯA TỪNG LÀM ĐIỀU GÌ SAI LẦM

Một lần khác, một số người chống đối đến thử Ngài. Họ hỏi nộp thuế cho Sê-sa có phải là việc hợp pháp hay không. Như bạn biết, khi ấy quốc gia Do-thái không còn tồn tại, và Sê-sa tại La-mã là vua của họ. Nếu Ngài trả lời là “không”, thì Giê-su đã phải liên can đến vấn đề chính trị, và những người chống đối sẽ có cớ để buộc tội Ngài. Nếu Ngài nói “có” thì mọi người Do-thái sẽ xem Ngài là người theo phe bọn La-mã và căm ghét Ngài. Tất nhiên, kết quả sẽ có lợi cho những kẻ chống đối. Đây là một câu hỏi không thể trả lời “có” hay “không” được.

Giê-su trả lời thế nào? Ngài nói: “Hãy cho Ta xem đồng bạc để đóng thuế” (Mat. 22:19). Ngài thật khôn ngoan. Thậm chí Ngài khiến những kẻ chống đối lấy tiền ra từ chính túi của mình. Rồi Ngài hỏi: “Hình và hiệu này của ai?” (c. 20). Họ phải thừa nhận đó là của Sê-sa. Giê-su đưa ra một câu trả lời thật xuất sắc: “Vậy, hãy nộp vật gì của Sê-sa cho Sê-sa, vật gì của Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Trời” (c. 21). Với câu trả lời ấy, Ngài đã giải quyết toàn diện tình huống khó xử. Vẻ uy nghi của Ngài là nằm ở đây. Ngài không bao giờ phạm lỗi. Bạn không bao giờ có thể đặt Ngài vào một hoàn cảnh khó xử được.

SỰ ĐIỀM TĨNH VÀ VẺ UY NGHI

Tôi không thể liệt kê hết mọi hành động của Ngài. Mọi sự Ngài làm đều mang một vẻ trang trọng nói lên rằng tuyệt đối không có khuyết điểm trong cách cư xử của Ngài. Tôi sẽ vắn tắt nêu lên một ví dụ cuối cùng về việc Ngài bị phản. Đó là vào một đêm rất khuya, có nhiều người được trang bị bằng đuốc, giáo và gươm để đến bắt một Giê-su tay không. Ngài hỏi họ: “Các ngươi tìm ai?” Chúng đáp: “Giê-su người Na-xa-rét” (Gi. 18:7). Giê-su lại phán: “Ta đã nói với các ngươi rằng Ta là [người ấy]” (c. 8). Nghe những lời này, bọn côn đồ, gồm những người quyết chí bắt Ngài, đã lùi lại, té xuống đất. Nếu Giê-su không tự nguyện nộp chính Ngài cho chúng, thì chúng đã không bao giờ bắt Ngài được. Một sự điềm tĩnh và vẻ uy nghi như vậy chỉ có thể thấy được trong Ngài!

Đối với kẻ phản bội, từ ngày đầu tiên Giê-su đã biết ý định của hắn. Tuy vậy, Ngài để người ấy đi theo Ngài và thậm chí để người ấy làm thủ quỹ. Trong suốt thời gian này, Giê-su biết rằng tiền bạc đã bị hắn ăn cắp. Ai có thể biểu lộ một sự kiên nhẫn chịu đựng và ngay thẳng như vậy? Đây là một người hoàn toàn khác biệt so với tất cả những người khác. Trong mọi phương diện, Ngài đã được chứng minh là Con Đức Chúa Trời.

THỰC HIỆN NHỮNG VIỆC KHÔNG THỂ LÀM ĐƯỢC

Điều kiện thứ tư chúng tôi đã nêu lên rằng một người xưng mình là Đức Chúa Trời nhập thể phải có khả năng làm những điều mà người thường không thể làm được. Giê-su người Na-xa-rét có thực hiện những hành động siêu nhiên nào không? Chúng ta không phải là những người cùng thời với Ngài; Ngài đã bước đi trên đất gần hai ngàn năm trước. Tự nhiên, chúng ta không phải là những chứng nhân của Ngài. Nhưng có một điều chắc chắn là các sứ đồ đi theo Giê-su đã ghi chép, rao giảng và làm chứng nhiều điều liên quan đến Ngài. Cả bốn sách Phúc-âm đều được hoàn tất trong vòng ba mươi năm sau khi Ngài ra đi. Hầu hết những người Do-thái còn sống khi ấy đã từng thấy Giê-su. Nếu những bản ký thuật của các sứ đồ sai lầm thì họ đã bị cự tuyệt từ lâu rồi. Thế nhưng những người Do-thái chỉ tranh luận về việc Giê-su không phải là Con Đức Chúa Trời. Họ không bao giờ phủ nhận những việc làm của Ngài vì những việc làm ấy đều là sự thật.

Ngày nay khi đọc bốn sách Phúc-âm, chúng ta không am hiểu tính xác thực của những quyển sách này. Nếu họ đã viết một điều sai lầm nhỏ nào trong các sách ấy thì hẳn đã có những nan đề trầm trọng vì nhiều người đương thời ấy đã thật sự trông thấy và nghe Giê-su giảng dạy. Sự ngụy tạo không thể xảy ra được. Do đó, những sách này không thể là điều lừa đảo. Nếu những người Do-thái đã không thể công kích những quyển sách này, thì ngày nay nền tảng dùng để chống đối thậm chí còn yếu đuối hơn.

ĐƯỢC NHỮNG PHÉP LẠ CHỨNG MINH

Chúng ta hãy xem xét vài việc làm của Giê-su người Na-xa-rét. Ma-thi-ơ 11:2 và 3 nói: “Giăng ở trong ngục nghe về công việc của Đấng Christ, thì sai môn đồ mình đến, thưa cùng Ngài rằng: Thầy là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi một đấng khác?” Giăng muốn biết chắc rằng Giê-su là Đấng Christ được Đức Chúa Trời sai đến. Nếu Ngài không phải là Đấng Christ, Giăng sẽ đợi một đấng khác.

Câu 4 và 5 nói: “Giê-su đáp và phán với họ rằng: Hãy về báo cáo cho Giăng điều các ngươi nghe và thấy: kẻ mù được sáng, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, và kẻ nghèo được phúc-âm công bố cho họ”. Giê-su không trả lời “phải” hay “không”. Ngài chỉ yêu cầu người đưa tin thuật với Giăng những điều đã nghe và thấy. Ngài muốn Giăng suy nghĩ về những điều ấy và tự quyết định xem Giê-su có phải là Đấng Christ không. Giê-su chứng minh thần tính của Ngài bằng những phép lạ Ngài đã làm. Đây là một người thực hiện được những điều mà loài người không thể làm. Bạn không có sự lựa chọn nào khác trừ ra phải thừa nhận Ngài là Đức Chúa Trời.

Giăng 7:31 nói: “Nhưng nhiều người trong đám đông tin vào Ngài, nói rằng: Khi Đấng Christ đến, Ngài sẽ làm nhiều dấu lạ hơn người này đã làm không?” Nhiều người làm chứng rằng Ngài đã làm mọi loại phép lạ mà không người nào có thể làm được.

LỜI TUYÊN BỐ VỀ THẦN TÍNH

Giăng 10:24 nói: “Vì thế, người Do-thái vây quanh Ngài mà nói rằng: Thầy để hồn chúng tôi trong tình trạng hoang mang cho đến khi nào? Nếu thầy là Đấng Christ, hãy nói tỏ tường cho chúng tôi”. Một mặt, người Do-thái cứng lòng và không chịu thừa nhận thần tính của Ngài, và mặt khác, họ bị nhiều phép lạ siêu nhiên mà Ngài đã thực hiện làm cho bối rối. Họ vây quanh và đòi Ngài trả lời. Có một điều Giê-su không bao giờ nhượng bộ, đó là lời Ngài tuyên bố về thần tính. Ngài làm nhiều điều mà những người thường không thể làm được. Những hành động này làm chứng cho thần tính của Ngài. Ngài nói với người ta cách rõ ràng rằng: “Những việc Ta làm trong danh Cha Ta đều làm chứng cho Ta” (c. 25). Một mặt, Ngài đưa ra lời tuyên bố, và mặt khác, Ngài làm nhiều phép lạ để minh chứng lời tuyên bố của Ngài.

TIN NGÀI VÌ CÔNG VIỆC CỦA NGÀI

Trong Giăng 14:11, Ngài phán với các môn đồ Ngài rằng: “Hãy tin Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta”. Nói vậy cũng giống như nói Ngài là Cha mà mắt không thể nhìn thấy được. “Nếu không thì hãy vì việc ấy mà tin Ta”. Nếu Ngài không làm bất cứ điều gì phi thường, thì lời ấy sẽ không có giá trị gì cả. Nếu Ngài không làm một hành động phi thường nào, thì họ sẽ hỏi lại rằng: “Ngài đã làm những công việc gì? Chúng tôi không biết Ngài đang nói gì”. Nhưng các môn đồ lại biết về những công việc Ngài đã làm. Tất cả những công việc này chứng minh rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời.

NGÀI CHO THẤY ĐỨC CHÚA TRỜI THẾ NÀO

Chúng ta phải xác minh Giê-su người Na-xa-rét bằng điều kiện thứ năm. Nếu là Đức Chúa Trời thì Ngài phải cho chúng ta thấy Ngài thế nào. Ngài là Đấng nhân từ hay khắc nghiệt? Ngài hòa nhã hay hung dữ? Đức Chúa Trời chúng ta là Đấng thế nào? Thật sự, Giê-su đã cho chúng ta thấy Đức Chúa Trời thế nào.

Đó là một điều vô cùng kỳ diệu. Bây giờ, Đức Chúa Trời vĩnh hằng, vô hình được chúng ta trông thấy. Không cần phải hình dung ra một Đức Chúa Trời siêu việt và không thể chạm đến hay tưởng tượng ra Ngài như thế nào; Ngài đã bày tỏ chính Ngài cho chúng ta. Ngài cư ngụ và bước đi giữa vòng chúng ta. Giê-su người Na-xa-rét là chính Đức Chúa Trời đang cư ngụ giữa vòng con người và sống với con người. Ngài đã biểu lộ bản chất và những thuộc tính của Đức Chúa Trời cho chúng ta. Không cần phải tìm kiếm Đức Chúa Trời nữa vì Ngài đã bày tỏ chính Ngài. Tâm trí chúng ta còn quá giới hạn. Cánh tay chúng ta còn quá ngắn, và quan điểm của chúng ta còn quá hạn hẹp. Nếu để chúng ta tự do nghiên cứu và tìm kiếm Đức Chúa Trời, chúng ta có thể chỉ kết luận Ngài là Đấng bí ẩn. Bây giờ chúng ta biết Đức Chúa Trời mong muốn bày tỏ chính Ngài. Thật ra, Ngài đã bày tỏ chính Ngài cho chúng ta rồi.

ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ PHÁN TRONG CON NGÀI

Chúng tôi đã nói hai phương tiện mà nhờ đó Đức Chúa Trời liên lạc với chúng ta là chữ viết và lời nói. Do đó, Kinh-thánh và Giê-su người Na-xa-rét là hai nhân tố thiết yếu cho niềm tin của chúng ta. Khi bạn lấy đi bất cứ điều nào trong hai điều ấy, Đức Chúa Trời trở nên một bài toán khó giải nhất trên thế giới. Hê-bơ-rơ 1:1 nói: “Đời xưa Đức Chúa Trời đã nhờ các tiên tri phán cùng tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách”. Những lời phán như vậy cấu thành Kinh-thánh. “Đến những ngày sau rốt này Ngài phán cùng chúng ta trong Con” (c. 2). Đây là Giê-su người Na-xa-rét. Bây giờ bất cứ người nào ở trong Đấng Christ đều có thể biết Ngài. Nghe những lời của Giê-su người Na-xa-rét có nghĩa là nghe những lời của Đức Chúa Trời.

Bạn đọc thân mến, thái độ của bạn đối với Giê-su người Na-xa-rét thế nào? Thô-ma xưng nhận rằng: “Chúa của tôi và Đức Chúa Trời của tôi!” (Gi. 20:28). Phi-e-rơ tuyên bố: “Ngài là... Con của Đức Chúa Trời hằng sống!” (Mat. 16:16). Ma-thê nói: “Tôi đã tin Ngài là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời” (Gi. 11:27). Ngay cả một đội trưởng La-mã cũng đã thốt lên trước cảnh Giê-su bị treo trên thập tự giá rằng: “Người này thật là Con Đức Chúa Trời” (Mat. 27:54b). Tôi hi vọng bạn cũng sẽ xưng nhận như vậy.