Thông tin sách

Đức Tin Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Normal Christian Faith
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 3

Untitled Document

CHƯƠNG BA

ĐỨC CHÚA TRỜI TRỞ NÊN CON NGƯỜI (1)

LỜI NÓI LÀ PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG TỐT HƠN

Đức Chúa Trời mong muốn bày tỏ chính Ngài cho chúng ta. Ngài thực hiện điều này qua những phương tiện mà con người có thể hiểu được. Những phương tiện ấy là chữ viết và lời nói. Chúng ta đã thấy thế nào Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài qua chữ viết. Bây giờ chúng ta hãy xem xét sự khải thị của Ngài qua lời nói.

Giả sử bạn thư từ qua lại với một người trong nhiều năm mà chưa bao giờ gặp mặt người ấy. Lẽ tự nhiên là bạn muốn biết người ấy nhiều hơn bằng cách tiếp xúc trực tiếp. Chỉ qua thư từ thì không thể hiểu một người nào đó một cách trọn vẹn. Tiếp xúc trực tiếp có thể giúp hiểu nhau rõ hơn. Dường như liên lạc với nhau bằng lời nói thì thân mật và thông suốt hơn so với thư từ. Khi lời nói được thêm vào chữ viết, sự liên lạc được hoàn hảo thêm. Nếu mất đi một trong hai phương tiện ấy thì sẽ thiếu sót. Tất nhiên, nếu bạn lấy đi cả hai, sự liên lạc sẽ hoàn toàn mất công hiệu. Sự truyền thông hiệu quả luôn luôn được thực hiện nhờ hai phương tiện này.

Nếu ý định của Đức Chúa Trời là bày tỏ chính Ngài cho chúng ta, Ngài nhất thiết phải làm điều đó qua sự phát ngôn. Nhưng Đức Chúa Trời phán bằng cách nào? Có phải Ngài thổi kèn loan báo từ các từng trời chăng? Nếu vậy thì chúng ta đều sẽ hoảng sợ đến chết. Chúng ta đều sẽ bỏ chạy, và sẽ chẳng ai dám nghe. Có một vực sâu giữa Ngài và chúng ta. Là Đấng quá cao cả và vĩ đại, Ngài sẽ xua đuổi chúng ta khỏi sự thánh khiết của Ngài. Thế thì Ngài phán bằng cách nào?

MỘT MÙA ĐÔNG TRÊN NÚI

Tôi xin thuật lại một câu chuyện. Một mùa đông nọ, tôi ở trên núi Lu-shan để dưỡng sức sau một cơn bệnh. Đó là thời kỳ ngay sau chiến tranh, và thật không ai sống trên núi ấy cả. Tại vùng phụ cận nơi tôi cư trú, suốt ngày tôi khó tìm thấy được một bóng người. Theo bản tính, tôi là một người im lặng. Môi trường như vậy rất hấp dẫn đối với tôi. Không những nơi ấy im lặng mà thời tiết còn lạnh lẽo nữa. Từ sáng đến tối, người duy nhất tôi thấy là một cậu bé đem thức ăn cho tôi mỗi ngày ba lần. Ban đầu, tôi thật dễ chịu. Nhưng sau ít lâu, ngay cả một người như tôi cũng bắt đầu cảm thấy cô độc.

Một ngày kia, sau bữa ăn trưa, tôi chợp mắt một lúc. Ngoài cửa sổ phòng ngủ của tôi có một ban công. Khi thức dậy, tôi thấy vài con vật nhỏ nhắn tụ tập chung quanh ban công. Một ít đồ ăn của tôi bị rơi vãi tại đó, và những con chim rộn rịp tíu tít chung quanh những mảnh vụn. Trong khi nhảy nhót chung quanh, chúng hót líu lo và tạo ra nhiều âm thanh vui vui. Tôi tự nhủ: “Tốt lắm. Tại đây mình không thể tìm thấy người nào. Mình thử làm bạn với các chú chim nhỏ này”.

Tôi đứng dậy và đi ra đón chào chúng. Nhưng lập tức chúng liền vỗ cánh bay xa. Một sáng kiến đến với tôi. Tôi lấy một phần cơm còn lại và bắt đầu sắp chúng thành nhiều hàng, hàng đầu tiên có một ít cơm, còn những hàng sau càng gần cửa ra vào thì càng nhiều cơm. Tôi nấp ở phía sau cánh cửa và nhìn chúng đi đến. Không bao lâu, chúng tụ tập lại. Tôi tự nhủ: “Cơ hội của mình đã đến”. Tôi bước ra và bắt đầu làm bạn với chúng. Nhưng ngay giây phút chúng thấy tôi, tất cả đều phân tán. Vài con đậu trên các cành cây đối diện ban công chăm chú nhìn tôi như thể cố xem xét ý định của tôi là gì. Mỗi khi tôi đến gần chúng thì chúng lại bay đi, và mỗi khi tôi bỏ đi thì chúng trở lại. Điều ấy xảy ra một vài lần.

KHÔNG CHỊU ĐẾN

Tôi muốn rao giảng cho những chú chim ấy. Tôi muốn nói với chúng rằng: “Hỡi những chú chim bé nhỏ, tôi làm điều đó mà không có ý xấu nào cả. Hiện giờ là mùa đông, lại ở trên núi, và thức ăn thật khan hiếm. Tôi có đủ thức ăn, và chỉ muốn chia sẻ thức ăn với các bạn. Xin hãy bình tĩnh mà xuống đây. Tôi chỉ xin ngồi giữa vòng các bạn trong khi các bạn ăn. Tôi muốn nghe những bài hát của các bạn và xem các bạn chơi đùa. Hãy đến. Chúng ta hãy làm bạn với nhau...” Nhưng những con chim ấy vẫn không đến. Chúng không hiểu lời tôi nói. Thế rồi tôi phải từ bỏ ý định ấy.

Về sau, tôi có một nhận thức cụ thể ở bên trong. Tôi bắt đầu tự giảng cho chính mình rằng: “Thân thể này của tôi quá to lớn. Nếu tôi có thể thâu nhỏ lại từ một mét tám thành kích thước của con chim, và thậm chí thay đổi chính mình thành một con chim, thì chúng sẽ không sợ hãi sự hiện diện của tôi. Khi ấy, tôi có thể nói với chúng ý định của lòng tôi, và chúng tôi có thể trải qua mùa đông trên núi Lu-shan với nhau”.

ĐỨC CHÚA TRỜI PHẢI TRỞ NÊN GIỐNG NHƯ CHÚNG TA

Ngày nay, chúng ta cũng có một nan đề tương tự. Nếu Đức Chúa Trời vẫn là Đức Chúa Trời thì chúng ta không bao giờ có thể hiểu Ngài. Nếu Ngài nói với chúng ta bằng ngôn ngữ của Ngài, chúng ta sẽ hoàn toàn mù mịt. Nếu Đức Chúa Trời muốn bày tỏ chính Ngài qua lời nói và có mối tương giao với loài người, Ngài phải tự thu nhỏ mình lại đến mức độ Ngài và chúng ta giống nhau. Chỉ khi ấy Ngài mới có thể phán với chúng ta và cho chúng ta biết về chính Ngài cùng những huyền nhiệm của vũ trụ. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể hiểu Ngài.

Đức Chúa Trời đã trở nên con người để bày tỏ chính Ngài qua sự phát ngôn của Ngài chưa? Một lần nữa, chúng ta hãy dùng đến phương cách giả định. Nếu Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài qua ngôn ngữ loài người thì sao? Nếu Ngài đã trở nên con người và tương giao với con người thì như thế nào? Điểm được ngụ ý tại đây thật là phi thường! Điều này có nghĩa là trên thế giới, giữa vòng tất cả những con người trong suốt quá trình lịch sử, đã có một người không những là con người mà còn là Đức Chúa Trời nữa! Nếu công nhận Đức Chúa Trời đã trở nên con người thì đã phải có một con người phàm mà cũng là thần thượng. Chúng ta cần tìm hiểu về Đấng ấy.

NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ MỘT NGƯỜI CÓ THỂ LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI

Đây là một công việc đầy chông gai. Nhưng chúng ta sẽ sử dụng đến phương cách hữu hiệu mà chúng ta đã dùng, đó là đặt ra vài nguyên tắc. Sau đó, chúng ta sẽ dò tìm theo những điều kiện và chiều hướng này. Chúng ta muốn đánh giá một người căn cứ trên cung cách sống và những điều kiện nào mà một người phải có nếu người ấy là Đức Chúa Trời.

Điều kiện thứ nhất người ấy phải có là phải xưng mình là Đức Chúa Trời khi ở trên đất. Người ấy không được ngượng ngùng về điều này, mà phải mạnh dạn tuyên bố mình là Đức Chúa Trời. Chỉ khi ấy, chúng ta mới có thể biết người ấy là ai. Nếu không có lời tuyên bố này thì chúng ta không có cách nào nhận diện người ấy. Thế nên, lời tuyên bố là điều kiện thứ nhất của chúng ta.

Thứ hai, cách người ấy đến thế gian cũng phải khác với chúng ta. Nếu tôi nói rằng mình là Đức Chúa Trời, nhưng lại được sinh ra giống như mọi con người khác, thì lời tôi nói không có hiệu lực. Về mặt khác, nếu tôi rơi từ trời xuống thì sự khẳng định của tôi sẽ được chấp nhận một cách nghiêm túc. Cách thức người này hiện hữu phải thật phi thường. Người ấy phải đến theo một kiểu cách hoàn toàn khác biệt; nếu không, lời của người ấy sẽ không đủ mạnh.

Thứ ba, người này phải có một tiêu chuẩn đạo đức vượt trổi tiêu chuẩn của tất cả những người khác. Người ấy phải có sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, và cuộc sống của người ấy phải mang dấu ấn sự công chính của Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như nếu tôi trở nên một con chim và sống y hệt như những con chim khác, mà không cho chúng thấy bất cứ điều gì phi thường, thì tôi không thể thuyết phục chúng rằng tôi thật ra là một con người. Nếu Đức Chúa Trời trở nên một người thì cách cư xử có tính đạo đức của Ngài phải có phẩm chất cao nhất. Đây là phương cách duy nhất mà chúng ta có thể nhận diện người ấy là Đức Chúa Trời.

Hơn nữa, nếu một người là Đức Chúa Trời thì người ấy phải nhất thiết có khả năng thực hiện nhiều điều mà không người thường nào có thể làm. Nếu người ấy có thể thực hiện những gì chúng ta không thể thực hiện và biết được những gì chúng ta không thể biết, chúng ta có thể nói người ấy thực sự là Đức Chúa Trời.

Cuối cùng, người ấy phải có khả năng cho chúng ta biết mục đích thần thượng liên quan đến con người. Mục đích của Đức Chúa Trời trong việc tạo dựng vũ trụ và con người là gì? Làm thế nào Ngài chăm sóc giải quyết những đau đớn và buồn khổ của con người? Nguồn gốc và giải pháp sau cùng của mọi sự trong vũ trụ là gì? Thái độ của chúng ta đối với Đức Chúa Trời nên thế nào? Người ấy phải mặc khải tất cả những điều đó cho chúng ta. Trừ phi người ấy bày tỏ cho chúng ta những gì chúng ta chưa từng thấy, chúng ta không thể nói người ấy đã bày tỏ cho chúng ta một khải thị.

MỘT NGƯỜI THỎA ĐÁP CẢ NĂM ĐIỀU KIỆN

Chúng ta sẽ đưa ra năm điều kiện này và đem toàn thể nhân loại vào cuộc trắc nghiệm này. Chúng ta hãy tìm kiếm xem có ai thỏa đáp năm điều kiện ấy không. Một người như vậy chắc chắn có đủ điều kiện để làm Đức Chúa Trời.

Chính bạn là người đầu tiên được trắc nghiệm. Tất nhiên, bạn không phải là Đức Chúa Trời, vì chưa từng tuyên bố mình là Đức Chúa Trời. Tôi cũng chưa từng tuyên bố mình là Đức Chúa Trời. Nên bạn và tôi bị loại ra. Tốt lắm, bây giờ chúng ta sẽ giới thiệu Khổng Tử. Nếu đọc các sách của Khổng Tử, bạn sẽ khám phá ra rằng ông sống một cuộc sống rất đạo đức và đúng đắn. Nhưng Khổng Tử cũng chưa bao giờ tuyên bố mình là Đức Chúa Trời cả. Thế nên, ông đã không vượt qua được bước đầu tiên.

Còn Thích Ca Mâu Ni, là người sáng lập Phật giáo, thì sao? Đối với ông không những không có lời tuyên bố về thần tính, mà chính triết lý của ông cũng không có chỗ cho thần cách. Ông không tin Đức Chúa Trời hiện hữu. Vì ông không có Đức Chúa Trời, nên ông cũng không thể là Đức Chúa Trời.

Kế đến là Mohammed. Ông tin Đức Chúa Trời, nhưng chưa bao giờ tuyên bố mình là Đức Chúa Trời. Ông gọi Đức Chúa Trời là Allah và tự xưng là tiên tri của Allah. Nếu bạn xét đến từng người trong lịch sử, bạn sẽ khám phá ra rằng không ai tự xưng là Đức Chúa Trời ngoại trừ một Người. Người ấy là Giê-su người Na-xa-rét. Ngài xưng là Đức Chúa Trời hằng sống. Không ai khác đưa ra một lời tuyên bố như vậy.

XƯNG LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI — MỘT VẤN ĐỀ NGHIÊM TRỌNG

Làm sao Giê-su người Na-xa-rét lại có thể xưng là Đức Chúa Trời? Trước khi tiếp tục, chúng ta phải dừng lại một lúc để xem xét vấn đề một cách nghiêm túc. Xưng là Đức Chúa Trời không phải là một chuyện đùa. Một người tự xưng như vậy rơi vào một trong ba loại người. Người ấy phải thuộc về một trong ba loại, chứ không thể thuộc về cả ba. Trước hết, nếu người ấy xưng mình là Đức Chúa Trời mà thật ra không phải là Đức Chúa Trời thì người ấy phải là một người điên hay người mất trí. Thứ hai, nếu người ấy không phải là Đức Chúa Trời, cũng không phải là người điên, thì người ấy phải là một tên nói dối, lừa gạt những người khác bằng lời dối trá của mình. Thứ ba, nếu người ấy không phải thuộc hai loại người trên thì người ấy phải là Đức Chúa Trời. Bạn chỉ có thể chọn một trong ba điều có thể xảy ra ấy. Nếu không tin người ấy là Đức Chúa Trời thì bạn phải xem người ấy là một tên điên rồ. Nếu bạn không thể xem người ấy là Đức Chúa Trời hay một người điên, thì bạn phải coi người ấy là kẻ nói dối. Chúng ta không cần phải chứng minh Giê-su người Na-xa-rét có phải là Đức Chúa Trời hay không. Điều duy nhất chúng ta cần phải làm là xét xem Ngài là một tên điên hay một kẻ nói dối. Nếu Ngài không phải là người nào trong hai người ấy thì Ngài phải là Con Đức Chúa Trời. Đó là ba điều chúng ta phải lựa chọn chứ không có điều thứ tư.

CON VÀ CHA LÀ MỘT

Giê-su người Na-xa-rét đã nói gì về chính mình? Trong Giăng 10:30, Ngài nói: “Ta và Cha là một”. Tại đây chúng ta cần được giải thích. Trong Kinh-thánh có một Đức Chúa Trời vô hình được gọi là Cha. Con biểu lộ và bày tỏ Cha. Đấng ẩn giấu là Cha, và Đấng bày tỏ là Con. Con là Đấng có thể thấy và chạm được. Sau lưng, bạn có Cha. Trước mặt, bạn có Con. Hai thật ra là một. Cha và Con ấy là hai mặt của cùng một thực tại. Khi nói về hai Đấng, chúng tôi chỉ về sự kiện một Đấng ẩn giấu trong khi Đấng kia thì được bày tỏ. Khi nói đến một Đấng, chúng tôi [có ý] nói rằng Đấng được bày tỏ trong sự biểu lộ đơn giản là Đấng ẩn giấu. Đây là sự luận giải về Cha và Con theo Kinh-thánh.

Vì vậy, một ngày kia, khi Giê-su người Na-xa-rét nói: “Ta và Cha là một” thì đó là một lời tuyên bố mà không ai khác có thể phát biểu. Người ấy thực sự nói rằng Ngài và Đức Chúa Trời vô hình là một thực thể. Ngài là Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời là Ngài. Đức Chúa Trời là Cha vô hình, và là Con được biểu lộ. Cha và Con là một! Đấng phát biểu một lời tuyên bố như vậy có thể là ai? Ngài là một người điên ư? Phải chăng Ngài đang lừa gạt chúng ta?

Sau khi Giê-su phán một lời như vậy, chúng ta thấy có phản ứng gì? “Người Do-thái lại lấy đá để ném Ngài. Giê-su phán rằng: Ta từ Cha đã tỏ nhiều việc lành cho các ngươi; vì việc nào trong đó mà các ngươi lại ném đá Ta? Người Do-thái đáp rằng: Ấy chẳng phải vì một việc lành mà chúng tôi ném đá ngươi đâu, nhưng vì phạm thượng, và vì ngươi, vốn là người, mà lại tự tôn là Đức Chúa Trời” (cc. 31-33). Người Do-thái hiểu rất rõ rằng những lời của Giê-su ngụ ý Ngài xưng mình là Đức Chúa Trời. Sau khi nghe những lời ấy, họ muốn ném đá giết Ngài. Cả lời tuyên bố của Giê-su lẫn sự buộc tội của người Do-thái đều liên quan đến thần tính của Ngài. Giê-su có mất trí không? Có phải Ngài nói điều hoàn toàn vô lý để làm cho người ta giết Ngài không? Hay Ngài là một tên bịp bợm sắp đặt một mưu đồ nào đó? Nếu vậy thì điều Ngài muốn đạt được là gì? Có phải Ngài muốn chết không?

CON BÀY TỎ CHA

Có lẽ chúng ta sẽ trở lại một chút với những phần đầu trong Phúc-âm Giăng và xem những gì được chép tại đó. Giăng 1:18 nói: “Không ai từng thấy Đức Chúa Trời bao giờ; chỉ Con độc sinh ở trong lòng Cha, là Đấng giải bày Cha”. Tại sao không ai từng thấy Đức Chúa Trời? Lý do là vì Đức Chúa Trời thì vô hình. Giê-su phán Ngài là Con độc sinh của Cha; Ngài bày tỏ Cha [là Đấng] vô hình. Khi thấy Con độc sinh, bạn thấy Cha.

Một lần nữa, Ngài nói về chính mình: “Không ai từng lên trời, trừ ra Đấng từ trời xuống, tức là Con Loài Người, Đấng vẫn ở trên trời” (3:13). Bạn có từng nghe ai nói những lời như vậy chưa? Tôi không thể nói rằng: “Chưa có ai từng đến Thượng Hải, ngoại trừ người từ Thượng Hải đến Tientsien, tức tôi là Nghê Thác Thanh vẫn ở Thượng Hải”. Nếu nói như vậy thì tôi sẽ là một người nói chuyện vô lý. Nhưng Giê-su đang nói một ngôn ngữ thiên thượng. Ngài nói rằng Ngài phát xuất từ trời và vẫn ở trên trời. Nếu một người có thể đồng thời ở hai nơi thì người ấy là người thế nào? Hoặc Ngài là Đức Chúa Trời hay là một kẻ mất trí hay là một tên nói dối. Nếu bạn chưa tin Đấng Christ, xin hãy phán quyết về vấn đề này. Người này là ai?

PHÁN NHIỀU ĐIỀU TỪ TRỜI

Chúng ta hãy đọc Giăng 3:31-32: “Đấng từ trên mà đến thì trên tất cả; người từ đất mà ra thì thuộc về đất, và nói cũng thuộc về đất. Đấng từ trời đến thì trên tất cả. Ngài làm chứng về điều Ngài đã thấy và nghe, nhưng không ai tiếp nhận lời chứng của Ngài”. Ngài nói rằng Ngài từ trời đến và trên tất cả. Một lúc sau, Ngài lặp lại cùng một điều này. Chúng ta hãy xem mục đích ẩn sau những lời này là gì. Ngài đến rao giảng những điều thiên thượng, nhưng không ai tiếp nhận lời Ngài. Ngài đề cập đến những từ ngữ như “trời”, “trên tất cả”, “từ trời”, v.v... Ngài là loại người thế nào? Khổng Tử chưa từng nói như vậy, và Thích Ca Mâu Ni hay Mo ham med cũng không. Giê-su người Na-xa-rét là một người điên, một kẻ nói dối hay Con Đức Chúa Trời?

Giăng 5:17 nói: “Nhưng Giê-su đáp lời họ rằng: Cha Ta đang làm việc cho đến bây giờ, Ta cũng đang làm việc nữa”. Ngài luôn luôn tự đặt chính mình đồng một vị trí như Cha. Câu 18 nói: “Vì cớ đó người Do-thái lại càng tìm cách để giết Ngài, không những vì Ngài phạm ngày Sa-bát, mà cũng vì Ngài gọi Đức Chúa Trời là Cha mình, làm cho mình bình đẳng với Đức Chúa Trời”. Bây giờ, khi đọc những lời Ngài nói, có thể chúng ta xem chúng như những lời bình luận thông thường. Nhưng người Do-thái biết ý nghĩa lời Ngài nói. Họ biết rằng Ngài đặt chính mình ngang hàng với Đức Chúa Trời. Thật ra, những lời ấy có nghĩa rằng Đức Chúa Trời là Cha Ngài và Ngài đến bày tỏ Đức Chúa Trời. Đấng không nhìn thấy được là Đức Chúa Trời, và Đấng nhìn thấy được là Ngài. Vì vậy, những người Do-thái kiếm cách giết Ngài. Chúng ta nên làm gì đối với một người phi thường như vậy?

BIẾT CON LÀ BIẾT CHA

Giăng 6:46 nói: “Ấy không phải ai đã thấy Cha, trừ ra Đấng từ Đức Chúa Trời [đến], Đấng ấy đã thấy Cha”. Lời tại đây sáng tỏ hơn. Ngài nói rằng không ai ngoại trừ chính Ngài đã từng thấy Đức Chúa Trời. Chỉ duy Ngài biết Cha như thế nào. Tôi chỉ có thể nghiêm trang và kính cẩn nói rằng Giê-su người Na-xa-rét là Con Đức Chúa Trời. Hãy đọc Giăng 8:18. Ngài đã nói gì? “Ta là Đấng làm chứng về Ta, và Cha Ta là Đấng đã sai Ta cũng làm chứng về Ta nữa”. Câu hỏi trong câu 19 là điều thú vị nhất: “Chúng hỏi Ngài rằng: Cha của Thầy ở đâu? Giê-su đáp rằng: Các ngươi không biết Ta, cũng không biết Cha Ta; nếu các ngươi biết Ta, thì các ngươi cũng biết Cha Ta nữa”. Bạn thấy được điều Ngài đang nói không? Họ đã thấy Ngài, nhưng không biết Ngài. Tất nhiên, họ cũng không biết Cha, là Đấng họ chưa thấy. Nếu con người biết Ngài thì họ biết Đức Chúa Trời. Thế thì Ngài là ai? Nếu biết Ngài cũng như biết Đức Chúa Trời, thì đó có phải giống như nói Ngài là Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời là Ngài không?

Xin đọc Giăng 8:23: “Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi ra từ dưới, Ta ra từ trên; các ngươi thuộc về thế gian này, Ta không thuộc về thế gian này”. Trong tiếng Hi-lạp, giới từ “từ” trong câu này là ek, có nghĩa là “ra từ”. Chữ này nên được dịch như vậy. Ngài nói: “Các ngươi ra từ thế gian này, và Ta không phải ra từ thế gian này”. Người này tuyên bố là ra từ trên; Ngài không ra từ thế gian này. Vậy Ngài là ai?

LỚN HƠN ÁP-RA-HAM

Những người Do-thái rất lúng túng. Họ hoàn toàn bối rối. Người này là ai? Tổ tiên của những người Do-thái là Áp-ra-ham. Họ tự hào là con cháu của Áp-ra-ham cũng như người Hoa hãnh diện là con cháu của Hoàng Đế. Danh Áp-ra-ham rất được tôn kính giữa vòng người Do-thái. Đến đây họ mang Áp-ra-ham ra. Xin đọc Giăng 8:53: “Thầy lớn hơn Áp-ra-ham tổ phụ chúng ta, là người đã chết sao? Các tiên tri cũng đã chết! Thầy tự cho mình là ai?” Giê-su đã trả lời họ thế nào? Ngài lớn hơn hay thấp kém hơn Áp-ra-ham? Trong câu 56, Giê-su nói: “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã hớn hở thấy ngày của Ta; người đã thấy rồi và vui mừng”. Thế là thế nào? Ngay cả Áp-ra-ham cũng phải ngóng trông Giê-su! Do đó, câu 57 chép: “Người Do-thái nói với Ngài rằng: Ngươi chưa đầy năm mươi tuổi, mà đã thấy Áp-ra-ham sao?” Bây giờ, xin hãy chú ý đến câu trả lời của Giê-su trong câu 58: “Thật vậy, thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, Ta là”. Xin cho tôi biết người này là ai. Nếu tôi bảo bạn rằng trước khi có Hoàng Đế, tôi là Nghê Thác Thanh đã ở đó, thì bạn sẽ lập tức kể tôi là người điên. Một số người sẽ nói tôi là một tên nói dối. Những lời Giê-su phán làm cho Ngài hoặc là một tên điên hay một kẻ nói dối hoặc là Đức Chúa Trời. Không thể có sự lựa chọn thứ tư.

NGÀI Ở TRONG ĐỨC CHÚA TRỜI

Chúng ta phải đọc tiếp. Trong Giăng 10:37-38, Giê-su nói: “Nếu Ta không làm các công việc của Cha Ta, thì đừng tin Ta. Nhưng nếu Ta làm các công việc ấy, dầu các ngươi không tin Ta, thì hãy tin các công việc ấy, để các ngươi có thể đạt đến sự hiểu biết và tiếp tục biết...” Biết gì? Mệnh đề theo sau rất quan trọng. Đó là một lời tuyên bố lớn lao: “... rằng Cha ở trong Ta và Ta ở trong Cha”. Thế thì người này là ai? Người ấy nói rằng Ngài ở trong Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời ở trong Ngài.

Trong Kinh-thánh, những phân đoạn như trên có nhiều vô số. Tôi sẽ đề cập đến một phân đoạn nữa. Xin đọc kỹ Giăng 14:6-7: “Giê-su phán cùng ông rằng: Ta là đường đi, lẽ thật (thực tại) và sự sống; không bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha. Nếu các ngươi đã biết Ta, thì các ngươi cũng đã biết Cha Ta nữa; từ nay các ngươi biết Ngài, và đã thấy Ngài”. Phân đoạn này nói rõ rằng nếu biết Giê-su người Na-xa-rét thì bạn cũng đã biết Đức Chúa Trời không thấy được. Tại sao lại như vậy? Đó là vì Ngài là Đức Chúa Trời.

KHÔNG CẦN XIN THẤY CHA

Một người trong các môn đồ bối rối. Giăng 14:8 nói: “Phi-líp thưa với Ngài: Thưa Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi, thì đủ cho chúng tôi rồi”. Phi-líp xin được thấy Cha, là Đấng đã được Giê-su nói đến nhiều lần. Câu 9 nói: “Giê-su phán cùng ông rằng: Phi-líp ơi, Ta ở cùng các ngươi đã lâu như thế này, mà ngươi không biết Ta sao? Ai đã thấy Ta, tức là đã thấy Cha; sao ngươi lại nói rằng: Xin chỉ Cha cho chúng tôi?” Tại đây, Giê-su trình bày rất rõ rằng thấy Ngài là thấy Đức Chúa Trời. Về sự thật này, Ngài không rút lại lời của Ngài. Ngài là Đức Chúa Trời. Không cần phải thấy Cha nữa. Nếu thấy Ngài thì bạn đã thấy Đức Chúa Trời!

LỜI XÉT XỬ

Giê-su người Na-xa-rét là ai? Bạn sẽ nói gì? Có phải Ngài chỉ là người sáng lập Đạo Đấng Christ không? Ngài có phải chỉ là một tấm gương về lòng hi sinh và nhân ái không? Ngài là một nhà cải cách xã hội chăng? Phải chăng Ngài là một người ủng hộ tự do, hòa bình và bác ái đại đồng? Hãy nghe những gì Ngài nói về chính mình. Ngài nói rằng Ngài là Đức Chúa Trời. Bạn kết luận thế nào? Ngài là một người điên hay một kẻ nói dối? Ngài là một tên lừa bịp, hay là Đức Chúa Trời? Đây là một câu hỏi trọng yếu.

Có lẽ Ngài là một người điên chăng? Nếu bạn đọc tiểu sử của Ngài trong các sách Phúc-âm và nhận xét cuộc sống và cung cách của Ngài, bạn sẽ nhận thức rằng Ngài không những sáng suốt và hợp lý mà còn rất điềm đạm và cương quyết. Nếu có một người hoàn toàn lành mạnh trên thế giới này thì Ngài phải là người ấy. Tâm trí Ngài sáng suốt và tinh thần Ngài minh mẫn. Nếu nghiên cứu những việc làm và lời nói của Ngài một cách kỹ càng, bạn phải thừa nhận rằng tư tưởng của Ngài rất hợp lý và nhất quán, và cung cách của Ngài rất hòa nhã và đúng đắn. Đối với những người chống đối, Ngài chỉ cần trả lời một vài câu thì những lý lẽ họ dùng chống lại Ngài đều bị đánh bại. Không có một dấu hiệu điên rồ nào trong Ngài. Một người điên không bao giờ có thể làm được những điều Ngài đã thực hiện.

Vậy thì Ngài là một kẻ nói dối chăng? Một kẻ nói dối luôn luôn nói dối để được lợi. Nếu không có lợi thì Ngài nói dối với mục đích gì? Tại sao Giê-su bị đóng đinh? Không vì lý do nào khác hơn ấy là Ngài tự xưng là Đức Chúa Trời. Vào lần xét xử cuối cùng, là giờ phút quyết định Ngài sẽ bị đóng đinh hay được thả, Ngài đã bị tra hỏi xem Ngài là ai. Ngài trả lời thế nào? Ngài nói rằng Con Loài Người sẽ được thấy ngồi bên hữu Đấng Quyền Năng, ngự xuống trên mây trời trong vinh quang (Mat. 26:64). Thậm chí khi ấy, Ngài cũng xưng mình là Đức Chúa Trời. Kết quả là Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá. Có một kẻ nói dối nào lại hi sinh mạng sống mình vì một lời nói dối không?

LỜI NGÀI LÀ THẬT

Một lần kia tôi gặp một người muốn nói chuyện với tôi về đức tin của chúng ta. Người ấy đã đọc vài quyển sách về Giê-su và công nhận là Ngài có một chuẩn mực đạo đức cao. Người ấy có thể xem Giê-su là một người hoàn hảo, một tấm gương cho nhân loại. Nhưng người ấy không thể tin Giê-su là Đức Chúa Trời. Tôi nói: “Nếu anh thừa nhận Ngài có một tiêu chuẩn đạo đức cao, thì ít nhất Ngài không phải là một kẻ nói dối. Nếu đồng ý Ngài không phải là một kẻ nói dối, thì anh phải chấp nhận lời tuyên bố của Ngài liên quan đến thần tính là sự thật. Ngài đã khẳng định nhiều lần rằng Ngài là Đức Chúa Trời. Nếu khâm phục tính đạo đức của Ngài, thì anh cũng phải thừa nhận thần tính của Ngài nữa. Giê-su người Na-xa-rét là Đức Chúa Trời!”

LỜI ĐÃ TRỞ NÊN XÁC THỊT

Xin đọc Giăng 1:1: “Ban đầu có Lời, Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Lời là Đức Chúa Trời”. Câu 14 nói: “Lời đã trở nên xác thịt và đóng trại giữa chúng ta (chúng ta đã ngắm xem vinh quang Ngài, như vinh quang của Con độc sinh từ Cha), đầy dẫy ân điển và thực tại”. “Lời” được nêu trong câu 1 và 14 là gì? Câu 1 nói đến mối liên hệ giữa Lời với Đức Chúa Trời. Nói về thời gian thì Lời đã hiện hữu từ ban đầu. Nói về nơi chốn thì Lời ở cùng Cha. Nói về bản thể thì Lời là Đức Chúa Trời. Ngày nay Lời đã trở nên xác thịt; Ngài đã mặc thân thể con người và cư ngụ giữa vòng loài người. Còn Ngài cư ngụ thế nào thì Kinh-thánh nói rằng Ngài “đầy ân điển và lẽ thật (thực tại)”, và “chúng ta đã ngắm xem vinh quang của Ngài, thật như vinh quang của Con độc sinh từ Cha”. Đấng này là ai? Ngài là Giê-su người Na-xa-rét.

Tại đây, chúng ta chỉ mới xem xét một trong năm điều kiện được nêu lên ở phần trước. Chỉ duy Giê-su người Na-xa-rét đáp ứng được điều kiện đầu tiên này. Điều này chứng minh Ngài là Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ tiếp tục xem xét bốn điều kiện kia. Giê-su người Na-xa-rét phải hội đủ bốn điều kiện còn lại trước khi chúng ta có thể kết luận Ngài là Đức Chúa Trời.