Thông tin sách

Đức Tin Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Normal Christian Faith
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 1

Untitled Document

PHẦN MỘT: ĐẤNG CHRIST VÀ ĐỨC CHÚA TRỜI

CHƯƠNG MỘT

TÌM KIẾM ĐỨC CHÚA TRỜI

CÂU HỎI THỨ NHẤT

Chúng ta hãy xem xét đức tin Cơ-đốc từ chính nền tảng của nó. Chủ đề đầu tiên chúng ta bàn đến là Đức Chúa Trời (Thượng Đế).

Xin chúng ta đọc vài câu Kinh-thánh. Thi-thiên 14:1 trong Cựu Ước chép: “Người ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời”. Câu này cũng có thể được dịch là: “Trong lòng mình, người ngu dại không muốn có Đức Chúa Trời”. Kết quả của lời nói này được tìm thấy trong phần thứ hai của cùng một câu Kinh-thánh ấy: “Chúng nó đều bại hoại; đã làm những việc gớm ghiếc”.

Chúng ta cũng hãy đọc một đoạn trong Kinh-thánh phần Tân Ước. Hê-bơ-rơ 11:6 chép: “Vì người đến cùng Đức Chúa Trời cần phải tin rằng Ngài là [thực hữu]”.

BA LOẠI NGƯỜI

Dầu bạn tự xưng là một Cơ-đốc-nhân, một người vô tín hay một người tìm kiếm chân lý, chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách xem xét đề tài về Đức Chúa Trời. Trên phương diện này, thế gian được chia ra thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất là những người vô thần, tức những người không tin một Đức Chúa Trời. Nhóm thứ hai gồm những người theo thuyết bất khả tri. Họ không biết chắc chắn về Đức Chúa Trời. Một mặt, họ không dám nói là không có Đức Chúa Trời, nhưng mặt khác, họ không rõ Đức Chúa Trời có hiện hữu hay không. Chúng ta thuộc về loại thứ ba, tức những người tin nơi Đức Chúa Trời.

SỰ TRUY TỐ

Có một Đức Chúa Trời hay không? Đối với câu hỏi này, tôi sẽ không trả lời “có” hay “không”. Trái lại, tôi sẽ biến nơi này thành một tòa án pháp luật. Tôi sẽ yêu cầu các bạn làm thẩm phán, và tôi sẽ là công tố viên. Công việc của thẩm phán là quyết định, chấp thuận hay bác bỏ tính chân thật của những lời được trình bày; công việc của công tố viên là trình bày mọi bằng chứng và lý lẽ mà người ấy có thể thu thập được.

Trước khi tiến hành, chúng ta phải được sáng tỏ về một sự thật là tất cả những công tố viên đều không phải là những người chứng kiến các tội ác. Họ không phải là cảnh sát. Cảnh sát có thể đích thân chứng kiến một sự kiện, nhưng trái lại công tố viên chỉ nhận được các thông tin cách gián tiếp. Người ấy đặt mọi lời buộc tội, bằng chứng và lý lẽ thu thập được trước mặt thẩm phán. Tương tự như vậy, tôi sẽ trình bày trước mặt các bạn mọi điều tôi có thể tìm thấy. Nếu bạn hỏi tôi đã thấy Đức Chúa Trời chưa thì tôi sẽ trả lời là “chưa”. Tôi đọc ra hay bày tỏ những gì tôi đã thu thập. Công việc của tôi là tìm kiếm những sự thật và trình diện các nhân chứng. Bạn phải tự kết luận cho chính mình.

NHỮNG ĐIỀU KIỆN

Nhiều người khẳng định rằng không có Đức Chúa Trời. Là một công tố viên, tôi yêu cầu bạn trước hết hãy xác minh tư cách của những người này. Họ có đủ điều kiện nêu lên những lời tuyên bố như vậy không? Những người khẳng định rằng không có Đức Chúa Trời là những người đạo đức hay đồi bại? Đừng chỉ lắng nghe những lý luận của họ. Ngay cả những tên cướp và kẻ lừa đảo cũng có những lý lẽ của chúng. Có thể đề tài họ tranh luận rất cao quí; họ có thể nói về tình trạng quốc gia và hạnh phúc của xã hội, nhưng những ý kiến của họ không thể được xem xét cách nghiêm túc. Họ không xứng đáng nêu lên những lời phán đoán như vậy. Nếu hành vi và phán đoán đạo đức của một người là đúng đắn thì chúng ta có thể tín nhiệm lời nói của người ấy, nhưng nếu không được như vậy thì lời nói của người ấy không đáng tin. Điều này đặc biệt đúng khi liên hệ đến vấn đề về Đức Chúa Trời. Thật thú vị khi để ý thấy rằng tiêu chuẩn đạo đức của con người trực tiếp liên hệ đến quan niệm của họ về Đức Chúa Trời. Những người thừa nhận sự thiếu hiểu biết của mình có một tiêu chuẩn tạm được, trong khi những người vô thần với thái độ khăng khăng thì luôn luôn có tinh thần trách nhiệm đạo đức thấp kém. Tôi không tuyên bố là biết tất cả những người vô thần, nhưng trong một vài ngàn người mà tôi biết, không ai trong họ có được một nền đạo đức đặc biệt đáng khen. Có thể bạn nói với tôi rằng đã từng có một người vô thần đạo đức, nhưng nếu đã có một người như vậy thì người ấy đã chết. Hay bạn có thể nói với tôi rằng sẽ có một người vô thần đạo đức, nhưng bất cứ người đó là ai, người ấy vẫn chưa có tại đây. Tối thiểu chúng ta có thể nói rằng hiện tại chúng ta không biết có một người vô thần nào như vậy.

KHÔNG NGƯỜI VÔ THẦN NÀO LÀ ĐẠO ĐỨC

Một lần kia, tại một buổi nhóm ở Trường Đại Học Nam Kinh, tôi bình luận rằng không người vô thần nào là đạo đức cả. Trong trường có rất nhiều sinh viên không tin Đức Chúa Trời. Những lời này làm cho họ rất bực dọc. Ngày hôm sau, trong khi tôi đang giảng, họ lại đến kéo lê bước chân để làm cho tôi và các thính giả phân tâm. Ngày tiếp theo, họ lại đến, tỏ điệu bộ và nét mặt kỳ cục đối với tôi và tiếp tục làm như vậy trong suốt buổi nhóm. Đến ngày thứ tư, hiệu phó của trường là Tiến sĩ William đến nói với tôi rằng: “Chúng ta nên thay đổi phòng nhóm. Những sinh viên này tức giận vì vào ngày đầu tiên anh khẳng định rằng những người vô thần không đạo đức. Hôm nay, chúng sẽ không chỉ dùng chân và miệng; chúng sẽ dùng đến quả đấm. Tôi nghe rằng chúng sẽ đợi anh ở cửa dẫn vào hành lang và sẽ xông vào đánh anh”. Tôi nghe theo sự sắp đặt của ông và tổ chức buổi nhóm tại một nơi khác. Trên đường đến buổi nhóm, tôi đi bên cạnh nhiều sinh viên và nghe những lời đối thoại của họ. Mặc dầu nhiều người không đồng ý và cảm thấy khó chịu về lời giảng của tôi, họ vẫn muốn trở lại. Một người trong họ nhận xét: “Ông Nghê nói rằng người không có Đức Chúa Trời thì không có ý thức về trách nhiệm đạo đức. Điều này hoàn toàn đúng. Làm thế nào người có khuôn phép đạo đức lại có thể chà lê bước chân và chế giễu trong khi người khác đang giảng được? Hôm qua họ gây rối loạn như vậy trong buổi nhóm, và hôm nay họ đến chuẩn bị đánh nhau. Đây không phải là điều một người đáng tôn trọng nên làm. Chắc chắn những người không tin Đức Chúa Trời thì không có cung cách đạo đức. Chúng ta hãy đến buổi nhóm bất chấp họ định làm gì”.

Lần nọ, một thanh niên nói với một nhà truyền giảng: “Khi còn nhỏ, tôi chân thành tin Đức Chúa Trời. Nhưng nay, tôi đã vào đại học, và không còn tin Ngài nữa”. Nhà truyền giảng năm mươi tuổi ấy vỗ vai người thanh niên và nói: “Con ơi, con không còn tin Đức Chúa Trời nữa à? Bác xin hỏi con một câu: Từ khi đổi ý làm một người vô thần, con có tiến bộ về mặt đạo đức không? Thuyết vô thần có làm cho con tốt hơn không? Thuyết ấy có làm cho tư tưởng con trong sạch hơn hay lòng con thuần khiết hơn không? Hay chỉ là ngược lại?” Thanh niên ấy thấy xấu hổ, và thừa nhận rằng về mặt đạo đức, mình đã xuống dốc từ khi phủ nhận Đức Chúa Trời. Người truyền giảng ấy nói thêm: “Bác e rằng con không thật sự nói là mình không tin có Đức Chúa Trời, mà con chỉ hi vọng là không có Đức Chúa Trời thôi”.

ĐỪNG PHÁN ĐOÁN THEO ĐIỀU MÌNH HI VỌNG

Nhiều người không thực sự được thuyết phục là không có Đức Chúa Trời; họ chỉ hi vọng như vậy. Họ muốn thấy là không có Đức Chúa Trời trong vũ trụ. Đối với họ, trong nhiều phương diện, sự kiện ấy sẽ thuận tiện hơn nhiều.

Chính tôi từng là một người như vậy. Khi còn là một học sinh, tôi từng tuyên bố là không có Đức Chúa Trời. Mặc dầu tôi rất mạnh mẽ tuyên bố như vậy, nhưng có điều gì đó bên trong tôi dường như chống lại mà nói: “Có một Đức Chúa Trời”. Sâu thẳm trong lòng, tôi biết Đức Chúa Trời hiện hữu. Nhưng môi miệng tôi lại khước từ không chấp nhận điều này để tôi có thể biện minh cho việc phạm tội của mình. Nhờ tuyên bố Đức Chúa Trời không hiện hữu nên việc đi đến những nơi tội lỗi có thể bào chữa được. Nếu không có Đức Chúa Trời, tôi sẽ mạnh dạn phạm tội. Khi tin Đức Chúa Trời, bạn sẽ không dám làm một số điều nào đó. Khi thoát khỏi Đức Chúa Trời, bạn sẽ cảm thấy tự do phạm những tội lỗi xấu xa nhất mà không sợ gì cả. Nếu bạn thành thật hi vọng nâng cao tiêu chuẩn đạo đức của mình bằng cách khẳng định Đức Chúa Trời không hiện hữu, thì lý lẽ của bạn còn có thể tin tưởng được. Tuy nhiên, lý do duy nhất con người tuyên bố rằng không có Đức Chúa Trời là để bào chữa cho tình trạng vô luật pháp, vô luân, phóng túng và không đứng đắn. Vì lý do này, toàn bộ lý lẽ của họ không đáng xét đến. Câu hỏi đặt ra là: “Bạn có đủ điều kiện để tuyên bố là không có Đức Chúa Trời không?” Nếu hi vọng của bạn chỉ là để thoát khỏi công lý thì bạn đã đánh mất nền tảng của mình rồi.

CON NGƯỜI CÓ PHẢI VĨ ĐẠI NHẤT KHÔNG?

Ngày kia, một thanh niên đến nói với tôi rằng: “Tôi không tin Đấng mệnh danh là Đức Chúa Trời. Con người là vĩ đại nhất, và là loài cao quí nhất trong tất cả những tạo vật. Không có Đức Chúa Trời trong vũ trụ này; chỉ con người là mọi sự”. Lúc ấy, chúng tôi đang ngồi đối diện với nhau. Khi nghe anh nói vậy, tôi đứng dậy, đến một góc phòng, khom xuống và chăm chú nhìn anh ấy. Tôi nói: “Anh thật là vĩ đại!” Sau đó, tôi bước đến một góc khác của căn phòng và ngắm anh từ một góc cạnh khác. Tôi cố ý nói với anh: “Đúng vậy, anh thật vĩ đại! Tại tỉnh Kaingsu có ba mươi triệu người giống anh. Ít nhất có bốn trăm triệu người thuộc loại như anh tại Trung Quốc. Thế giới chỉ có hai tỷ người giống như anh. Anh có biết là mấy hôm trước có một trận lụt ở miền nam không? Con đê dọc theo bờ sông ở trong tình trạng nguy ngập. Toàn thể dân chúng tại Hsing Hwa với hai trăm ngàn người được tuyển mộ vội vã đến con đê trong mối lo sợ. Họ khiêng đất để củng cố bờ đê. Công tác sửa chữa vẫn còn đang diễn ra”.

“Giả sử thế giới được tuyển mộ để đào rỗng mặt trời. Một lỗ thủng được khoan xuyên qua bề mặt mặt trời, và mỗi người phải tải đi một khối chất liệu từ bên trong. Giả sử không ai bị thiêu trụi ra tro, anh nghĩ họ có thể thực hiện công việc này không? Dầu mọi người đều chui vào bên trong, họ cũng không làm đầy được mặt trời. Điều ấy vẫn chưa hết. Nếu anh đặt vài trăm hành tinh cỡ trái đất vào trong mặt trời và bắt đầu lắc mặt trời, anh sẽ thấy mặt trời vẫn còn rất rỗng bên trong. Có bao nhiêu mặt trời trong vũ trụ này? Anh có biết rằng số thái dương hệ lên đến hàng trăm triệu không?

VŨ TRỤ RỘNG LỚN BAO NHIÊU?

Sau đó, tôi nói với người thanh niên ấy: “Và anh ở đây! Thậm chí anh chưa từng đi khắp trái đất, mà anh còn tự xem mình vĩ đại hơn cả vũ trụ. Để tôi hỏi anh một điều, anh có biết vũ trụ rộng lớn bao nhiêu không? Hãy lấy ánh sáng làm ví dụ. Ánh sáng di chuyển với vận tốc 300.000 kilomet mỗi giây. Hãy thử tính xem ánh sáng di chuyển bao xa trong một phút, trong một giờ, trong một ngày hay trong một năm. Có một vài ngôi sao mà ánh sáng của chúng phải cần đến ba ngàn năm mới đến với chúng ta. Hãy đi tính xem chúng cách chúng ta bao xa! Và anh lại tưởng rằng mình rất vĩ đại sao? Vì vậy, tôi khuyên mọi người vô thần và những thanh niên giống như vậy công nhận sự bất lực của con người không những về mặt đạo đức, mà còn về mặt trí năng và học vấn nữa”.

CON NGƯỜI CÓ THỂ VƯỢT QUA GIỚI HẠN CỦA THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN KHÔNG?

Một lần khác, khi ở tại Kaifeng, tôi gặp một thanh niên khác là một trong những người vô thần kiên cường. Tôi bước đến vỗ vai anh và nói: “Hôm nay tôi gặp Đức Chúa Trời!” Anh ngạc nhiên nhìn tôi chằm chằm và yêu cầu giải thích thêm. Tôi trả lời: “Anh là Đức Chúa Trời! Nếu anh nhận biết rằng không có Đức Chúa Trời thì anh phải là Đức Chúa Trời”. Anh xin tôi giải thích. Tôi nói: “Vì anh được thuyết phục là không có Đức Chúa Trời nên anh hẳn đã đi khắp trái đất. Nếu Đức Chúa Trời không ở tại Thượng Hải thì Ngài có thể vẫn còn ở tại Nam Kinh. Anh hẳn đã ở cả hai nơi. Điều đó vẫn chưa hết. Nếu Đức Chúa Trời không ở tại Nam Kinh, Ngài có thể ở tại Tientsin. Anh hẳn cũng đã đến Tientsin. Nhưng anh không thể rút ra kết luận đơn giản như vậy bởi vì mình đã ở nhiều nơi tại Trung Quốc; có thể Đức Chúa Trời đang ở tại một quốc gia khác. Vì vậy, anh hẳn đã đến mọi quốc gia trên trái đất này. Nếu Đức Chúa Trời không ở tại nơi này, có thể Ngài đang ở tại một nơi khác. Vì vậy, anh hẳn đã đi khắp thế giới. Biết đâu Đức Chúa Trời đang ẩn núp ở Bắc Cực hay Nam Cực, hay đang ở trong rừng sâu hoặc sa mạc nào đó. Vậy, anh hẳn cũng đã đi khắp những vùng này. Nếu không tìm thấy Đức Chúa Trời trên trái đất, Ngài có thể được tìm thấy trên mặt trăng. Vậy nên, anh hẳn đã lên mặt trăng rồi. Cũng có thể Đức Chúa Trời đang ở tại những hành tinh khác hay ngoài không gian. Điều này có nghĩa là anh đã đi khắp không gian và tất cả những thiên hà khác. Nếu anh có thể nói là không có Đức Chúa Trời thì đó phải có nghĩa là anh đã đi khắp vũ trụ. Nếu như vậy thì anh phải là chính Đức Chúa Trời”.

“Vẫn chưa hết. Dầu anh biết Đức Chúa Trời hôm nay không hiện hữu tại Thượng Hải, còn hôm qua thì sao? Có lẽ ngày mai Đức Chúa Trời sẽ đến. Anh nói là hôm nay không có Đức Chúa Trời, nhưng còn năm ngoái thì sao? Và làm sao anh biết được năm tới Đức Chúa Trời sẽ không đến? Anh nói năm nay không có Đức Chúa Trời, nhưng còn một ngàn năm trước thì sao? Tốt lắm, anh phải là một đấng vĩnh hằng biết mọi điều về quá khứ lẫn tương lai. Anh phải là một đấng vượt trên thời gian và không gian. Anh phải ở tại Tientsin và một quốc gia khác cùng một lúc; anh phải có mặt khắp nơi từ đông sang tây, từ Bắc Cực đến Nam Cực. Có ai khác ngoài ra anh mới có thể là chính Đức Chúa Trời? Nếu anh không phải là Đức Chúa Trời, anh không bao giờ có đủ điều kiện nói rằng không có Đức Chúa Trời”.

BẰNG CHỨNG

Lập tức vài người sẽ lùi lại và nói: “Tôi chưa từng nói là mình biết không có Đức Chúa Trời. Không ai có thể xác định là có Đức Chúa Trời hay không”. Tốt, nếu bạn không thể kết luận thì tôi sẽ yêu cầu những nhân chứng mà tôi xét thấy xứng đáng để trình bày những lý lẽ cho bạn và chứng minh Đức Chúa Trời hiện hữu. Tôi xin nhắc lại một điều, bạn là thẩm phán, còn tôi là công tố viên. Tôi chỉ trình bày bằng chứng trước mặt bạn. Có Đức Chúa Trời hay không, bạn hãy tự quyết định.

VŨ TRỤ

Trước hết, hãy nhìn xem thiên nhiên; thế giới và mỗi hiện tượng trong đó đều ở trước mắt chúng ta. Tất cả chúng ta đều biết rằng kiến thức khoa học là sự giải thích duy lý về những hiện tượng thiên nhiên. Chẳng hạn như quan sát độ hạ thân nhiệt của một bệnh nhân. Giảm thân nhiệt là một hiện tượng, và sự giải thích về điều này là kiến thức khoa học. Khi một trái táo từ trên cây rơi xuống, đó cũng là một hiện tượng. Tại sao trái táo không bay trong không trung? Sự giải thích hiện tượng này tạo nên kiến thức. Người có kiến thức là một người có những sự giải thích phù hợp.

CHỈ CÓ HAI CÁCH GIẢI THÍCH

Vũ trụ cho thấy vô số những hiện tượng với những trạng thái, màu sắc, hình dạng và bản chất khác biệt. Chúng ta không thể không lưu ý đến những hiện tượng này ở trước mắt mình. Sự giải thích tất cả những hiện tượng này được xem là kiến thức. Tất cả những người sâu sắc đều chỉ có hai cách giải thích về nguồn gốc của vũ trụ, chứ không có cách giải thích thứ ba. Bạn phải chấp nhận một trong hai cách giải thích này.

Hai cách giải thích ấy là gì? Cách giải thích thứ nhất nói rằng vũ trụ được hình thành nhờ sự tiến hóa tự nhiên hay tự tương tác; cách giải thích thứ hai coi nguồn gốc của vũ trụ là một Đấng được nhân cách hóa có trí tuệ và mục đích. Đây là hai cách giải thích duy nhất được mọi triết gia trên thế giới trình bày. Không có cách giải thích thứ ba.

Vũ trụ phát xuất từ đâu? Vũ trụ tự hình thành hay nhờ sự ngẫu nhiên? Hay có phải vũ trụ được thiết kế bởi Đấng mà từ đó chúng ta nhận được quan niệm về Đức Chúa Trời? Bạn phải suy nghĩ và quyết định về điều này. Mọi điều ra từ sự ngẫu nhiên đều có những đặc tính nào đó. Tôi đề nghị bạn liệt kê tất cả những điều này một cách tường tận, càng tường tận càng tốt, và sau đó so sánh tất cả những hiện tượng của vũ trụ với bản liệt kê của bạn. Cùng với việc ấy, hãy lập nên một bản liệt kê khác về những đặc điểm mà theo ý kiến của bạn là những điểm đáng chú ý nếu vũ trụ được một Đấng thông minh sáng tạo. Bây giờ, nhờ so sánh giữa thiên nhiên và hai bản liệt kê của mình, bạn sẽ dễ dàng rút ra được một kết luận hợp lý.

NHỮNG SỰ KIỆN NGẪU NHIÊN

Đặc tính của những điều xảy ra cách ngẫu nhiên là gì? Trước hết, như chúng ta biết, chúng không được tổ chức. Cùng lắm là chúng có thể hòa nhập với nhau một phần nào. Chúng không bao giờ có thể hoàn toàn được tổ chức. Một người có thể ngẫu nhiên thực hiện được một mục tiêu cụ thể chỉ một lần, nhưng không bao giờ có thể luôn luôn thực hiện một mục tiêu cụ thể cách ngẫu nhiên. Bất cứ điều gì hình thành cách ngẫu nhiên đều chỉ có thể hòa nhập với nhau một phần nào thôi, chứ không bao giờ trọn vẹn được. Chẳng hạn nếu tôi quăng cái ghế này sang bên kia phòng, nó có thể ngẫu nhiên dừng lại ở một góc độ hoàn chỉnh. Nếu tôi cũng làm như vậy với chiếc ghế thứ hai, có thể nó cũng nằm gọn gàng kế bên chiếc ghế đầu tiên. Nhưng điều này sẽ không thể tiếp tục xảy ra lần thứ ba, thứ tư và những lần sau đó. Sự ngẫu nhiên chỉ tạo nên một tổ chức không hoàn chỉnh, chứ không bảo đảm đưa đến một tình trạng hòa nhập trọn vẹn. Hơn nữa, tất cả những sự tương tác ngẫu nhiên đều không có cùng đích, vô tổ chức và vô mục đích. Chúng không có trật tự và cấu trúc nào cả; chúng rời rạc, không có hình dạng rõ rệt, rối loạn và không hướng về bất cứ mục đích có ý nghĩa nào. Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng các đặc điểm của những sự kiện có tính ngẫu nhiên là không hòa hợp, bất thường, không nhất quán, vô mục đích và tầm thường.

TÍNH NHẤT QUÁN VÀ TỔ CHỨC

Bây giờ, chúng ta hãy so sánh những sự vật trong vũ trụ với những đặc điểm ấy. Hãy lấy con người làm ví dụ. Con người được cưu mang trong tử cung người mẹ chín tháng rồi được sinh ra; con người lớn lên và cuối cùng chết đi. Chu kỳ này được lặp lại với mỗi cá nhân. Tính nhất quán có thể thấy được. Đó không phải là một trò chơi lộn xộn có tính ngẫu nhiên. Một lần nữa, hãy nhìn lên mặt trời ở trên đầu bạn. Mặt trời không hiện hữu cách vô mục đích, mà có mục đích và ý nghĩa của nó. Hãy nhìn xem mặt trăng, các ngôi sao và vô số những thiên hà qua viễn vọng kính của bạn. Những ngôi sao có các hành tinh riêng của nó. Tất cả đều chuyển theo những quỹ đạo và mẫu hình nhất định. Chúng đều được tổ chức. Cách chuyển động của chúng có thể được tính toán và dự đoán. Lịch mà bạn đang dùng được rút ra từ đó. Thậm chí lịch cho năm tới có thể được in ra trước khi năm nay đã qua. Tất cả những điều này cho thấy vũ trụ được tổ chức, có tính nhất quán và đầy mục đích.

NHỮNG VI SINH VẬT

Chúng ta hãy chuyển sang thế giới vi mô. Hãy lấy một lát cây mỏng, và đặt nó dưới kính hiển vi quan sát đường vân cùng cấu trúc của nó; tất cả đều cân đối một cách chi tiết và hài hòa. Thậm chí một cọng cỏ hay một cánh hoa đều được cấu thành một cách tinh tế. Không gì là thiếu tổ chức và hỗn loạn. Mọi sự đều ở trong kỷ luật và chức năng. Tất cả những điều này làm chứng cho bạn một sự thật: về mặt vĩ mô và vi mô, vũ trụ đầy mục đích và đầy ý nghĩa. Bạn có thể nói rằng tất cả những điều này được hình thành bởi sự ngẫu nhiên không? Chắc chắn bạn không thể nói như vậy được.

NÓ CÓ ĐƯỢC CHIẾM CỨ KHÔNG?

Lần kia tôi rao giảng phúc-âm với một anh em đồng công của tôi tại một làng nọ. Trên đường về, chúng tôi khát nước vô cùng. Không có quán giải khát hay dòng suối nào để chúng tôi có thể kiếm được nước uống. Thật ra toàn khu vực ấy không có người ở. Sau khi đi bộ một lúc, chúng tôi thấy một túp lều tranh, thì liền bước đến gõ cửa. Một hồi lâu không ai ra trả lời nên chúng tôi nghĩ đó là nơi không người ở. Khi mở cửa bước vào, chúng tôi thấy sàn nhà được quét dọn sạch sẽ. Một trong những căn phòng còn có giường với chăn gối được xếp gọn gàng. Lại có một bình trà trên bàn, và nước trà trong bình vẫn còn ấm. Tôi nói: “Chắc chắn nơi này phải có người ở. Không nghi ngờ gì nữa, mọi sự sắp đặt cho thấy nhà này có người ở. Chúng ta phải đi ra ngay, kẻo người ta tưởng mình là những tên trộm”. Chúng tôi bước ra ngoài và đợi chủ nhà trở về.

Nhờ quan sát sự sắp đặt của căn nhà, chúng tôi kết luận là có người đang sống tại đó, dầu chưa từng thấy chủ nhà. Tương tự như vậy, chúng ta biết Đức Chúa Trời đang hiện hữu nhờ thấy việc sắp đặt mọi sự trong vũ trụ, mặc dầu chúng ta không thể nhìn thấy Ngài. Mỗi một hiện tượng trong thiên nhiên đều rất quân bình, có tổ chức, đầy ý nghĩa và có chức năng. Có lẽ anh nói chúng ngẫu nhiên xuất hiện, nhưng tôi lại không thể tin rằng sự ngẫu nhiên là nguyên nhân duy nhất của vũ trụ. Kinh-thánh nói: : “Người ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời”. Chỉ những người ngu dại mới có thể nói trong lòng rằng không có Đức Chúa Trời.

NGẪU NHIÊN HAY ĐƯỢC THIẾT KẾ

Vũ trụ phải được sáng tạo bởi một Đấng nào đó với sự khôn ngoan sâu sắc, kiến thức rộng lớn và thiết kế phức tạp. Nếu không thể chấp nhận quan niệm về sự ngẫu nhiên hình thành của vũ trụ thì bạn phải công nhận là vũ trụ được một Đức Chúa Trời như vậy tạo dựng. Không thể có một sự giải thích thứ ba. Bạn được quyền lựa chọn. Bạn phải quyết định là vũ trụ được hình thành bởi sự ngẫu nhiên hay được tạo dựng bởi Đức Chúa Trời.

NHU CẦU VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA NÓ

Một nhân chứng có thể không đủ. Tôi sẽ gọi một nhân chứng khác. Lần này, chúng ta sẽ xét đến lòng người. Trước khi bắt đầu, chúng ta cũng nên quan sát một sự kiện: nếu có một nỗi khao khát nào đó thì trước hết phải có một đối tượng cho nỗi khao khát ấy. Chẳng hạn như một đứa trẻ mồ côi cha, tự nhiên nó khao khát tình yêu của người cha. Tôi đã hỏi nhiều người từng là trẻ mồ côi, tất cả đều cảm thấy một nỗi khao khát cha mẹ không thể nào kềm chế được. Nhờ đó, chúng ta có thể thấy rằng mỗi nỗi khao khát của tấm lòng đều ra từ một đối tượng trong thế giới.

Là con người, chúng ta đều cần được chấp nhận trong một xã hội. Chúng ta cần tình bè bạn và tình tương thân. Nếu anh bỏ một cậu bé trên một hoang đảo và nó lớn lên một mình, thì nó vẫn mong mỏi có bạn là những người giống mình, mặc dầu nó chưa từng thấy một người nào. Sự mong mỏi và nỗi khao khát này chính là bằng chứng bày tỏ rằng tại một nơi nào đó trên thế giới có một hữu thể được gọi là là “con người”. Đến một tuổi nào đó, con người bắt đầu suy nghĩ về thế hệ mai sau, và bắt đầu muốn có con cái và cháu chắt. Đây không chỉ là mơ mộng. Sự khao khát này xuất phát từ sự hiện hữu và khả năng có con cái. Do đó, ở đâu có nỗi khao khát thì ở đó có một đối tượng phù hợp với nỗi khao khát ấy.

CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG LÒNG

Chúng ta còn có nỗi khao khát nào khác ngoại trừ sự chấp nhận của xã hội và sự tự lưu truyền dòng giống không? Những ước muốn khác là gì? Sâu thẳm trong lòng mỗi người đều có một nỗi khao khát về Đức Chúa Trời. Dầu họ là những dân tộc có nền văn minh cao như các chủng tộc người da trắng, hay có nền văn minh cổ xưa như nền văn minh Trung Hoa, hay những người bản xứ tại Châu Phi và những thổ dân không có văn hóa, tất cả đều có một nỗi khao khát về Đức Chúa Trời. Hễ là con người thì ai cũng đều khao khát Đức Chúa Trời, bất kể thuộc chủng tộc hay quốc gia nào. Đây là một sự thật. Anh không thể bác bỏ điều này. Mọi người đều đang tìm kiếm Đức Chúa Trời. Khắp nơi, con người đang khao khát Đức Chúa Trời. Đây là điều rất rõ ràng.

Nhờ áp dụng nguyên tắc mà chúng tôi vừa nêu lên, chúng ta có thể thấy rằng vì lòng chúng ta cảm thấy cần Đức Chúa Trời nên nhất định phải có một Đức Chúa Trời trong vũ trụ. Vì lòng người cần Đức Chúa Trời, nên phải có Đức Chúa Trời hiện hữu trong vũ trụ. Nếu Đức Chúa Trời không hiện hữu thì chúng ta sẽ không bao giờ có một ước muốn như vậy trong lòng mình. Tất cả chúng ta đều thèm thức ăn. Tương tự như vậy, tất cả chúng ta đều khao khát Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể sống nếu chỉ thèm khát thức ăn mà không ăn thức ăn. Cũng vậy, chúng ta không thể sống nếu chỉ có khoảng trống dành cho Đức Chúa Trời mà không có Đức Chúa Trời.

CHƯA BAO GIỜ NGHĨ VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI?

Lần kia, một người vô thần lớn tiếng cộc cằn phản ứng với tôi rằng: “Anh nói về phương diện tâm lý con người có nhu cầu về Đức Chúa Trời. Nhưng không có chuyện đó đâu, và tôi không tin điều đó”. Tôi nói: “Được, có phải ý anh muốn nói là anh chưa bao giờ nghĩ về Đức Chúa Trời không? Thật ra, thậm chí trong khi đang nói, anh đã nghĩ về Ngài. Điều này cho thấy anh có thể chứa đựng Đức Chúa Trời. Không có người nào mà chẳng bao giờ nghĩ về Đức Chúa Trời. Một người có thể cố gắng không suy nghĩ nhiều về Ngài. Vì ý tưởng này ở trong anh nên phải có một đối tượng ở ngoài anh”.

LỜI NÓI VÀ TẤM LÒNG

Lần nọ, một thanh niên kia đến tranh luận với tôi về Đức Chúa Trời. Anh ấy quyết liệt bác bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Anh đưa ra hết lý do này đến lý do khác để nói không có Đức Chúa Trời. Trong khi anh liệt kê nhiều lý do nói lên tại sao Đức Chúa Trời không nên hiện hữu, tôi im lặng lắng nghe mà không nói một lời. Rồi tôi bảo: “Mặc dầu anh khẳng định là không có Đức Chúa Trời và viện dẫn rất nhiều lý lẽ, nhưng anh đã thua cuộc tranh luận này rồi”. Anh ấy nói: “Ý anh muốn nói gì?” Tôi tiếp tục giải thích rằng: “Miệng anh có thể nói nhiều đến đâu đi nữa tùy thích về việc không có Đức Chúa Trời, nhưng lòng anh thế nào cũng đứng về phía tôi”. Anh đã phải đồng ý với tôi về điều đó. Mặc dầu một người có thể đưa ra mọi lý do trong đầu, nhưng có một đức tin trong lòng mà không lý lẽ nào có thể đánh bại. Một người bướng bỉnh có thể nêu lên một ngàn lẻ một lý do, nhưng bạn có thể mạnh dạn nói với người ấy rằng: “Trong lòng, anh biết có Đức Chúa Trời. Tại sao anh lại khổ công tìm kiếm bằng chứng ở bên ngoài?”

KÊU CẦU ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG HIỂM NGUY

Có lần một giáo sĩ tại Nam Mỹ trông thấy một người rao giảng trước một đám đông tại khu đất trống trong rừng. Người ấy phủ nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời một cách mạnh mẽ và quyết liệt. Anh hăng hái đưa ra hơn mười lý do, hết lý do này đến lý do kia, để chứng minh Đức Chúa Trời không hiện hữu. Sau khi giảng xong, người ấy hỏi: “Quí vị nào muốn phản đối, xin lên đây”.

Sự im lặng bao trùm bầu không khí. Vị giáo sĩ quyết định là mình phải nói một điều gì đó. Ông đứng lên và bảo đám đông: “Thưa các bạn, tôi không thể nêu lên nhiều lý do. Tôi chỉ có thể đưa ra những sự kiện và xin kể cho các bạn một câu chuyện. Hôm qua, tôi đi dọc theo bờ con sông lớn, mà như các bạn đều biết, con sông ấy chảy rất nhanh và dẫn đến một thác nước nguy hiểm. Tôi ở trên bờ sông và nghe một người cầu cứu. Người ấy kêu lên rõ ràng: ‘Trời ơi! Xin cứu con!’ Tôi chạy về hướng có tiếng động và thấy một người ở giữa dòng sông đang bị cuốn về phía thác nước. Không do dự hay suy nghĩ về hiểm nguy, tôi nhảy xuống sông. Dòng nước chảy xiết, và tôi phải chật vật cố gắng giữ chính mình để khỏi bị nước cuốn. May là tôi khá mạnh. Với một cánh tay choàng quanh người ấy và tay kia bơi, tôi xoay xở kéo được anh ấy vào bờ. Sau khi thực hiện điều ấy, tôi cảm thấy rất sung sướng. Các bạn có biết ai là người đã cầu cứu Đức Chúa Trời không? Tôi xin giới thiệu người ấy cho các bạn”. Đến đây, vị giáo sĩ chỉ tay hướng về người vừa mới thuyết giảng. Ông kết luận: “Người hôm qua kêu cầu Đức Chúa Trời cũng chính là người phủ nhận Ngài hôm nay. Đây là người mà các bạn gọi là người vô thần!”

Mọi nan đề đều xuất phát từ bên trong. Khi một người ở trên ranh giới giữa sống và chết, người ấy kêu cầu Đức Chúa Trời. Khi mối nguy hiểm đã qua, người ấy lại tranh luận và phủ nhận Đức Chúa Trời. Trong lòng của mình, tất cả đều biết có một Đức Chúa Trời; chúng ta không còn thắc mắc gì nữa về điều này. Chúng ta biết thế vì có một chỗ chứa Đức Chúa Trời. Khả năng chứa đựng Đức Chúa Trời chứng minh là có Đức Chúa Trời.

LỜI CẦU NGUYỆN CÓ ĐƯỢC TRẢ LỜI KHÔNG?

Chúng ta không nên chỉ nhìn đến những hiện tượng khách quan mà không đếm xỉa gì đến kinh nghiệm chủ quan của riêng mình. Chúng ta biết Đức Chúa Trời đáp lại những lời cầu nguyện. Một lần kia, tôi nói chuyện với một người cương quyết phủ nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Tôi bảo người ấy là đừng quá táo bạo và tự phụ. Lịch sử nhân loại có từ năm đến sáu ngàn năm. Trong suốt thời gian này, vô số người ở trong lẫn ở ngoài Cơ-đốc giáo đã cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Anh có thể chứng minh rằng không có lời cầu nguyện nào trong những lời cầu nguyện đã được thốt lên trải qua nhiều năm tháng và giữa vòng nhiều dân tộc đã được trả lời sao? Thẳng tay gạt bỏ bằng chứng vững chắc về những lời cầu nguyện đã được đáp ứng, như vậy anh có quá táo bạo không? Những người ấy cầu nguyện với trời. Anh có thể nói rằng không một lời cầu nguyện nào của họ được trả lời sao? Tôi xin làm chứng rằng không chỉ có một hai lời cầu nguyện được đáp ứng, mà đã có vô số lời cầu nguyện được trả lời. Tất nhiên, một sự đáp lời cầu nguyện cũng đủ chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Bạn ơi, bạn nghĩ là chưa bao giờ cầu nguyện mà được đáp ứng sao? Anh muốn nói là mọi sự đáp ứng lời cầu nguyện đều giả tạo phải không? Riêng tôi đã có ít nhất hai ba ngàn lời cầu nguyện được trả lời. Anh có thể tưởng tượng được rằng mọi sự đáp lời cầu nguyện chỉ là những chuyện tình cờ sao? Nhiều người khác cũng có những lời cầu nguyện được trả lời. Tất cả những sự đáp ứng ấy cũng chỉ là tình cờ sao?

Lần kia, một nhà truyền đạo đang vượt qua Đại Tây Dương thì một làn sương dày đặc thình lình bao phủ con tàu. Chiếc tàu ấy không thể tiếp tục cuộc hành trình và phải bỏ neo ở giữa biển. Nhà truyền đạo ấy đến nói với viên thuyền trưởng: “Ông phải nhổ neo ngay; tôi sắp xếp chương trình để rao giảng tại Que bec vào thứ ba này”. Vị thuyền trưởng trả lời: “Ông có thấy sương mù dày đặc không? Con tàu không thể tiếp tục cuộc hành trình được. Nếu ông có thể cầu nguyện làm xua tan làn sương mù thì chắc chắn tôi sẽ nhổ neo”. Nhà truyền đạo ấy trả lời: “Hãy tiến hành đi. Tôi sẽ cầu nguyện ngay tại đây trong khi ông nhổ neo. Không nên để mất thì giờ”. Ông bắt đầu cầu nguyện. Vị thuyền trưởng bắt đầu nhổ neo trong khi người truyền đạo cầu nguyện. Khi neo được nhổ thì sương mù không còn nữa. Chiếc tàu ấy đến nơi đúng giờ. Đó có phải là một sự tình cờ không?

ĐỨC CHÚA TRỜI CHÂN THẬT TRẢ LỜI NHỮNG SỰ CẦU NGUYỆN

Lần kia, tôi cùng với một vài anh em đến một làng nọ rao giảng. Nhiều người tại đó nói: “Thần của chúng tôi là mạnh mẽ nhất; ngài được gọi là Đại Vương. Mỗi năm một lần chúng tôi tổ chức lễ rước kiệu cho ngài, và trong nhiều năm, ngày đó luôn luôn có thời tiết tốt. Vào ngày ấy, chúng tôi chưa bao giờ gặp thời tiết xấu”. Được Đức Chúa Trời thúc giục, một người trong chúng tôi nói: “Ngày mai khi lễ rước kiệu tiến hành, chắc chắn trời sẽ mưa”. Hôm sau, lễ rước kiệu được cử hành lúc mười giờ. Nhưng từ chín giờ sáng đã có một trận mưa to; vị “Đại Vương” không thể xuất hiện, và lễ rước kiệu đã dự tính phải bị hoãn lại. Sau khi thảo luận hồi lâu, họ công bố rằng theo kết quả có được nhờ tính toán cẩn thận thì họ đã chọn lầm ngày rước kiệu; lẽ ra phải là ngày mười bốn thay vì ngày mười một. Chúng tôi mạnh dạn tuyên bố rằng chắc chắn trời lại sẽ mưa vào ngày mười bốn. Ngày ấy đến, và trời lại mưa. Không còn lựa chọn nào khác, người ta khiêng tượng Đại Vương ra để rước kiệu. Trên đường đi, những người khiêng bị trợt ngã nhiều lần, và Đại Vương bị rơi xuống và vỡ ra thành nhiều mảnh. Đó có phải là một sự tình cờ không? Có vô số sự việc xảy ra có đồng một bản chất với sự kiện trên. Chúng chỉ là một phần rất nhỏ của kinh nghiệm Cơ-đốc. Nếu mọi câu trả lời cho sự cầu nguyện được liệt kê, thì không ai biết phải cần đến một quyển sách bao lớn. Những lời cầu nguyện được trả lời này là một bằng chứng mạnh mẽ về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời.

GÓI HÀNG TỪ HOA KỲ

Khi còn trẻ, tôi có một tâm trí cứng cỏi và bướng bỉnh. Không những tôi không chịu tin có một Đức Chúa Trời, mà thậm chí không chịu tin có nước Hoa Kỳ ở Châu Mỹ. Sau khi nhìn bản đồ Hoa Kỳ, tôi vẫn không tin là có một nơi như vậy. Một ngày kia, khi ba tôi đặt mua vài món hàng ở bên Mỹ, tôi hững hờ đặt mua một đôi giày và một chiếc tàu đồ chơi. Ít lâu sau, khi ba tôi mang về một gói hàng từ bưu điện và đưa cho tôi đôi giày cùng chiếc tàu đồ chơi, tôi mới bắt đầu tin Hoa Kỳ có thật vì tôi đã thấy tận mắt gói hàng từ Mỹ. Nhiều năm sau, khi đến tại Chicago, tôi cố ý thăm viếng cửa hàng bách hóa là nơi gởi món đồ chơi ấy cho tôi. Chỉ vào ngôi nhà ấy, tôi tự nhủ rằng đó là điều làm cho tôi tin có nước Hoa Kỳ.

Tôi không thể cung cấp cho bạn bằng chứng hay câu trả lời trực tiếp cho vấn nạn về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Nhưng tôi đang trình bày tất cả những bằng chứng về sự trả lời những lời cầu nguyện. Bạn không nên mạnh bạo phủ nhận Đức Chúa Trời một cách nhanh chóng và không nên dứt khoát bác bỏ sự đáng tin của những lời cầu nguyện.

TIẾP XÚC VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI QUA SỰ CẦU NGUYỆN

Một lần kia, tôi gặp một sinh viên tại trường đại học Yenching. Anh thú nhận với tôi như thế này: “Khi còn ở trung học, vị tuyên úy và các thầy giáo đều dạy tôi là có một Đức Chúa Trời, và tôi đã tin Ngài. Về sau, khi lên đại học, mọi người đều nói là không có Đức Chúa Trời. Họ nói thế giới hiện hữu nhờ sự tiến hóa tự nhiên, và vũ trụ hình thành nhờ sự ngẫu nhiên. Vì quá nhiều người cùng nói một điều, nên tôi trở nên rối trí. Nan đề này gây phiền phức cho tôi trong nhiều tháng. Tôi đã phải lựa chọn một trong hai điều có thể xảy ra. Có một Đức Chúa Trời, hay không có một Đức Chúa Trời? Thoạt tiên, tôi suy gẫm về thuyết ngẫu nhiên. Nếu có một vài điều được gom lại với nhau, khuấy lên và trộn lẫn với nhau, liệu có thể sinh ra một con người sống động không? Liệu cả thế giới và thậm chí toàn vũ trụ có phải được cấu tạo theo cùng một kiểu như vậy không? Tôi không thể đi đến kết luận bằng loại phỏng đoán này. Cuối cùng, tôi không thể không quỳ gối xuống mà nói: ‘Đức Chúa Trời ơi, con không biết Ngài có thật hiện hữu không. Càng suy nghĩ về điều này thì con càng bị rối trí. Xin cho con thấy chính Ngài’. Hai tuần sau khi cầu nguyện như vậy, tôi phủ nhận thuyết ngẫu nhiên và tin là có một Đấng Tạo Hóa. Tôi không thể nói cho anh biết tại sao tôi quyết định như vậy. Nhưng tôi tin rằng Đức Chúa Trời đã đáp lại lời cầu nguyện của tôi và dẫn tôi đến chỗ tin Ngài”. Đây là một trường hợp khác về lời cầu nguyện được trả lời. Tôi biết Đức Chúa Trời quá rõ. Tôi đã tiếp xúc với Ngài nhiều lần, và rất nhiều vấn đề liên hệ đã được giải quyết giữa Ngài và tôi. Tôi biết mình đang nói gì. Nếu bạn đã từng chạm đến Đức Chúa Trời thì bạn cũng biết tôi đang nói gì.

SỰ PHÁN ĐOÁN CẨN TRỌNG

Bây giờ bạn sẽ phải nói gì? Sau khi quan sát thiên nhiên và vũ trụ, sau khi kiểm tra lại cảm nhận bên trong của mình, và sau khi nghe lời của các nhân chứng, tùy bạn quyết định xem thật có một Đức Chúa Trời hay không. Bạn không nên thiếu tinh thần trách nhiệm; thái độ chúng ta cần phải chín chắn, vì chẳng bao lâu mọi người đều sẽ phải đối diện với Đức Chúa Trời. Một ngày kia, tất cả đều sẽ phải đứng trước mặt Ngài. Mọi điều liên quan đến chính bạn sẽ được phơi bày. Ngày đó, bạn sẽ biết Đức Chúa Trời. Nhưng bây giờ là thời điểm để bạn chuẩn bị. Tất cả chúng ta nên chuẩn bị gặp Đức Chúa Trời của mình.