Thông tin sách

Nếp Sống Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nếp sống Cơ đốc bình thường
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 13

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI BA

CON ĐƯỜNG TIẾN LÊN: VÁC THẬP TỰ GIÁ

Trong chương trước, chúng ta đã vài lần bàn đến vấn đề hầu việc Chúa. Bây giờ khi xem xét sự cung ứng mà Đức Chúa Trời đã thực hiện để đáp ứng nan đề mà sự sống hồn người đã tạo ra, chúng ta sẽ được ích lợi nếu bàn đến vấn đề này bằng cách trước hết xem xét những nguyên tắc điều chỉnh tất cả những sự phục vụ ấy. Đức Chúa Trời đã đặt những luật thuộc linh cai trị thế giới của chúng ta làm cho Ngài và từ đó không một ai muốn hầu việc Ngài có thể lạc đường. Như chúng ta biết rõ, nền tảng sự cứu rỗi của chúng ta là sự thật về sự chết và sự phục sinh của Chúa, nhưng điều kiện của sự hầu việc cũng không kém rõ ràng. Cũng y như sự thật về sự chết và sự phục sinh của Chúa là nền tảng để chúng ta được Đức Chúa Trời chấp nhận, thì nguyên tắc sự chết và phục sinh là nền tảng sự sống và sự hầu việc Chúa của chúng ta.

NỀN TẢNG MỌI CHỨC VỤ THẬT

Không ai có thể là một đầy tớ thật của Đức Chúa Trời nếu không biết nguyên tắc sự chết và nguyên tắc phục sinh. Thậm chí chính Chúa Giê-su cũng hầu việc trên nền tảng này. Trong Ma-thi-ơ chương 3, anh em thấy trước khi chức vụ công khai của Ngài bắt đầu, chính Chúa tự thuận phục chịu báp-têm. Ngài chịu báp-têm không phải vì Ngài có tội, hay có bất cứ điều gì cần được tẩy sạch. Không, chúng ta biết ý nghĩa của báp-têm, đó là hình bóng của sự chết và sự phục sinh. Về nghĩa bóng, chức vụ của Chúa không bắt đầu cho đến khi Ngài đứng tại đó. Sau khi Ngài chịu báp-têm và tình nguyện đứng ở vị trí của sự chết và sự phục sinh, Thánh Linh đến trên Ngài, và sau đó Ngài bắt đầu hầu việc.

Sự kiện này dạy dỗ chúng ta điều gì? Chúa chúng ta là một Con Người vô tội. Ngài là người duy nhất bước đi trên đất này mà không biết tội. Tuy nhiên, là Con Người, Ngài có một nhân cách tách biệt với Cha. Bây giờ chúng ta phải rất cẩn trọng khi bàn đến Chúa của mình, nhưng hãy nhớ Lời Ngài: “Ta không tìm ý chỉ của Ta, nhưng của Đấng đã sai Ta”. Điều này có nghĩa gì? Chắc chắn không có nghĩa là Chúa không có ý muốn riêng. Ngài có một ý muốn, theo như lời Ngài đã bày tỏ. Là Con loài người, Ngài có một ý muốn, nhưng Ngài không làm theo ý muốn ấy; Ngài đến để làm theo ý muốn của Cha. Cho nên đó là vấn đề. Cái yếu tố ở trong Ngài khác biệt với Cha là chính hồn người, mà Ngài nhận lấy khi Ngài “trở nên giống như một người”. Là một người trọn vẹn, Chúa chúng ta có một hồn, và dĩ nhiên Ngài có một thân thể, y như anh em và tôi có một hồn và một thân thể, như vậy, Ngài có thể hành động theo hồn, tức là tự chính Ngài.

Anh em nhớ rằng ngay sau khi chịu báp-têm, trước khi chức vụ công khai của Ngài bắt đầu, Sa-tan đến cám dỗ Ngài. Hắn cám dỗ Ngài thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của Ngài bằng cách hóa đá thành bánh; đạt được sự tôn kính ngay lập tức bằng cách xuất hiện một cách thần kỳ trong sân đền thờ; không chậm trễ, đảm nhiệm ngay quyền cai trị thế giới đã được định cho Ngài; anh em có khuynh hướng tự hỏi vì sao hắn cám dỗ Ngài làm những điều kỳ lạ như vậy. Anh em cảm thấy lẽ ra hắn có thể cám dỗ Ngài phạm tội cách sâu đậm và rõ ràng hơn. Nhưng Sa-tan không làm như vậy, hắn biết rõ hơn chúng ta. Hắn chỉ cần nói với Giê-su: “Nếu Ngài là Con Đức Chúa Trời, hãy bảo đá này trở nên bánh đi”. Điều này có nghĩa gì? Nó ngụ ý rằng: “Nếu Ngài là Con Đức Chúa Trời, Ngài phải làm một điều gì đó để chứng minh. Đây là một lời thách thức. Một vài người chắc chắn sẽ thắc mắc là lời tuyên bố của Ngài có thật hay không. Tại sao Ngài không làm cho vấn đề ngã ngũ ngay bây giờ bằng cách bước ra và chứng minh đi?”

Toàn bộ mục tiêu xảo quyệt của Sa-tan là thuyết phục Chúa hành động vì chính mình, tức là hành động theo hồn, và bởi lập trường mà Ngài đã chọn, Chúa Giê-su tuyệt đối khước từ hành động ấy. Trong A-đam, con người đã tự mình hành động tách rời khỏi Đức Chúa Trời. Đó là toàn bộ tấn thảm kịch trong vườn Ê-đen. Bây giờ trong một tình huống tương tự như vậy, Con loài người đã chọn một chỗ đứng khác. Về sau, Ngài nói rõ điều đó là nguyên tắc sống cơ bản của Ngài – tôi thích dùng từ ngữ ấy trong tiếng Hi-lạp: “Con không thể làm gì ra từ chính mình” (Gi. 5:19). Thái độ hoàn toàn từ chối ưu thế của sự sống thuộc hồn ấy phải chi phối toàn bộ chức vụ của Ngài.

Cho nên, chúng ta có thể nói cách an toàn rằng mọi việc Chúa Giê-su làm trên đất, trước khi Ngài thật sự chết trên Thập tự giá, đều được thực hiện với nguyên tắc sự chết và sự phục sinh làm nền tảng, mặc dầu lúc ấy biến cố thật sự của Gô-gô-tha vẫn còn ở trong tương lai. Mọi sự Ngài làm đều trên nền tảng ấy. Nhưng nếu như vậy – tức là nếu Con loài người phải đi qua sự chết và sự phục sinh (theo nghĩa bóng và theo nguyên tắc) để có thể làm việc, thì chúng ta có thể làm khác hơn Ngài sao? Chắc chắn không một đầy tớ nào của Chúa có thể hầu việc Ngài mà chính mình không biết sự vận hành của nguyên tắc ấy trong cuộc đời mình. Dĩ nhiên đó là điều không thể có được.

Chúa Giê-su làm sáng tỏ điều này cho các môn đồ khi Ngài lìa khỏi họ. Ngài đã chết và đã sống lại, bây giờ Ngài bảo họ hãy ở tại Giê-ru-sa-lem, chờ đợi quyền năng đến trên họ. Quyền năng của Thánh Linh, tức “quyền năng từ trên cao” mà Ngài nói đến là gì? Không là gì khác hơn là mỹ đức của sự chết, sự phục sinh và sự thăng thiên của Ngài. Theo một hình ảnh tượng trưng khác, Thánh Linh là Chiếc Bình chứa đựng mọi giá trị của sự chết, sự phục sinh và sự tôn cao của Chúa đã được gửi vào đó, để có thể đem đến cho chúng ta. Ngài là Đấng “chứa đựng” những giá trị ấy và đem chúng đến cho loài người. Đó là lý do vì sao Linh không thể ban xuống cho đến khi Chúa Giê-su được vinh hóa. Chỉ khi ấy Ngài mới có thể ngự trên những người nam và người nữ để họ thể làm chứng, vì không có những giá trị của sự chết và sự phục sinh của Đấng Christ, mọi lời chứng đều trống rỗng.

Nếu trở về Cựu Ước, chúng ta cũng tìm thấy sự kiện giống như vậy. Tôi muốn nhắc anh em một phân đoạn quen thuộc trong chương thứ mười bảy của sách Dân-số-ký. Vấn đề chức vụ của A-rôn bị tranh giành. Người ta thắc mắc không biết A-rôn có thật sự được Đức Chúa Trời lựa chọn hay không. Họ ấp ủ những ý nghĩ nghi ngờ và cuối cùng họ đã nói ra: “Chúng ta không biết người này có được Đức Chúa Trời chỉ định hay không!” cho nên Đức Chúa Trời bắt đầu chứng minh ai là đầy tớ Ngài và ai không phải đầy tớ Ngài. Ngài chứng minh bằng cách nào? Mười hai cây gậy chết được đặt trước mặt Chúa trong Nơi Chí Thánh, dựa vào hòm bảng chứng, và được để tại đó qua đêm. Sáng hôm sau, Chúa bày tỏ người phụng sự mà Ngài chọn lựa bằng cây gậy ra nụ, trổ hoa và kết trái.

Tất cả chúng ta đều biết ý nghĩa của điều đó. Cây gậy trổ nụ hạnh nhân nói lên sự phục sinh. Sự chết và sự phục sinh đánh dấu chức vụ được Đức Chúa Trời công nhận. Không có điều đó, anh em không có gì cả. Cây gậy trổ nụ của A-rôn chứng minh ông ở trên một nền tảng đúng đắn, Đức Chúa Trời chỉ công nhận những ai đã trải qua vị trí của sự chết và sự phục sinh làm người phụng sự Ngài.

Chúng ta đã thấy sự chết của Đấng Christ hành động theo nhiều cách khác nhau. Chúng ta biết thế nào sự chết của Ngài đã hành động liên quan đến sự tha thứ tội lỗi chúng ta, vì không đổ Huyết thì không có sự tha thứ. Hơn nữa, chúng ta đã thấy thế nào sự chết của Ngài hành động để giải cứu chúng ta khỏi quyền lực của tội, và con người cũ đã bị đóng đinh với Ngài để từ nay về sau chúng ta không còn hầu việc tội nữa. Đi xa hơn nữa, vấn đề ý riêng của con người dấy lên, nên nhu cầu dâng mình của chúng ta trở nên rõ ràng; chúng ta thấy sự chết hành động theo cách ấy để đem đến trong chúng ta một ý muốn buông bỏ sự lựa chọn riêng của mình và vâng lời Ngài. Điều đó thật sự tạo nên một khởi điểm cho chức vụ của chúng ta, nhưng vẫn chưa đụng đến cốt lõi của vấn đề. Có thể chúng ta vẫn chưa hiểu rõ thế nào là hồn.

Sau đó, một giai đoạn khác được trình bày trong La Mã chương 7, về vấn đề thánh khiết trong đời sống, một sự thánh khiết cá nhân và sống động. Tại đó anh em thấy một con người thật của Đức Chúa Trời cố gắng làm đẹp lòng Ngài trong sự công chính, sống dưới dưới luật pháp và bị luật pháp vạch trần. Người ấy đang cố gắng làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng năng lực xác thịt của mình, nên Thập Tự Giá phải đem người đến chỗ kêu lên: “Tôi không thể làm được điều đó. Tôi không thể làm Đức Chúa Trời thỏa lòng bằng năng lực của mình, tôi chỉ có thể tin cậy Thánh Linh làm điều đó trong tôi”. Tôi tin một vài người trong chúng ta đã trải qua những “dòng nước sâu” để học biết điều này, và khám phá được giá trị sự chết của Chúa hành động theo cách ấy.

Bây giờ tôi xin lưu ý anh em, vẫn có một sự khác biệt lớn lao giữa “xác thịt” được nói đến trong La Mã chương 7 liên quan đến sự thánh khiết của đời sống, và sự hành động của năng lực thiên nhiên của sự sống thuộc hồn trong sự hầu việc Chúa. Khi nhận biết tất cả những điều trên, về biết trong kinh nghiệm, vẫn còn một lãnh vực mà sự chết của Chúa phải tiến vào trước khi chúng ta thật sự hầu việc Ngài. Vì thậm chí với tất cả những kinh nghiệm này, chúng ta vẫn chưa an toàn để được Ngài sử dụng cho đến khi lãnh vực sâu xa hơn này được đụng đến trong chúng ta. Như chúng tôi nói tại Trung Quốc, biết bao nhiêu đầy tớ của Đức Chúa Trời được Ngài sử dụng để xây một bước tường chỉ có bốn mét, nhưng sau khi làm như vậy, họ tự tay mình kéo nó đổ xuống năm mét! Theo một ý nghĩa, chúng ta được sử dụng, nhưng đồng thời chúng ta hủy phá công việc mình, và đôi khi phá hủy cả công việc của người khác, vì có một điều gì đó chưa được Thập Tự Giá xử lý.

Bây giờ chúng ta phải xem cách Chúa bắt đầu xử lý hồn, và sau đó, một cách cụ thể hơn, điều này đụng đến vấn đề hầu việc Ngài của chúng ta.

HÀNH ĐỘNG CỦA THẬP TỰ GIÁ TRONG KINH NGHIỆM

Chúng ta cần nhớ bốn phân đoạn trích từ các sách Phúc-âm. Đó là: Ma-thi-ơ 10:34-39; Mác 8:32-35; Lu-ca 17:32-34; và Giăng 12:24-26. Bốn phân đoạn này có một điều gì đó giống nhau. Trong mỗi phân đoạn, chính Chúa phán với chúng ta về hoạt động của hồn người, và mỗi phân đoạn bàn đến một phương diện hay một sự biểu hiện khác nhau của sự sống thuộc hồn. Trong những câu này, Ngài bày tỏ cách rõ ràng hồn người có thể được xử lý bằng một cách và chỉ bằng cách ấy mà thôi, đó là hằng ngày vác Thập Tự Giá bước theo Ngài.

Như chúng ta đã thấy, sự sống hồn người hay sự sống thiên nhiên được nhắc đến ở đây là một điều gì đó sâu xa hơn những gì chúng ta thấy trong các phân đoạn liên quan đến con người cũ của xác thịt. Về phương diện con người cũ của mình, chúng ta đã tìm cách làm sáng tỏ rằng Đức Chúa Trời nhấn mạnh Ngài đã làm một lần đủ cả khi đóng đinh chúng ta với Đấng Christ trên Thập tự giá. Chúng ta đã thấy ba lần trong Thư Ga-la-ti, phương diện “đóng đinh” của Thập Tự Giá được nhắc đến như một điều đã hoàn tất, và trong La Mã 6:6, chúng ta có lời tuyên bố sáng tỏ rằng “người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên Thập tự giá”, nếu thì của động từ có ý nghĩa, thì chúng ta có thể diễn giải như sau: “Người cũ của chúng ta dứt khoát và mãi mãi đã bị đóng đinh trên Thập tự giá”. Đó là một điều đã được thực hiện, được thông hiểu nhờ sự khải thị thần thượng, và sau đó được chấp nhận bằng một hành động của đức tin đơn sơ.

Nhưng có một phương diện sâu xa hơn của Thập Tự Giá, được ngụ ý trong cách diễn đạt “hằng ngày vác thập tự giá”, là điều hiện đang ở trước mặt chúng ta. Thập Tự Giá đã mang tôi, bây giờ tôi phải mang nó, và việc vác Thập Tự Giá này là một hành động ở bên trong. Chúng ta ngụ ý điều này khi nói đến “hành động của Thập Tự Giá trong kinh nghiệm”. Hơn nữa, đây là một tiến trình liên tục, từng bước một theo Ngài. Đó là điều bây giờ được đem đến trước mặt chúng ta trong mối liên hệ đến hồn, và như chúng ta vừa nhấn mạnh ở đây rằng hồn không hoàn toàn giống như con người cũ. Ở đây chúng ta không nói đến “sự đóng đinh” chính hồn với ý nghĩa là các tài năng và quan năng thiên nhiên, nhân cách và cá tính của mình phải hoàn toàn bị dẹp bỏ. Nếu như vậy thì khó có thể nói tại sao Hê-bơ-rơ 10:39 bảo rằng chúng ta phải “có đức tin để hồn được cứu rỗi” (xin so sánh với 1 Phi. 1:9; Lu. 21:19). Không, chúng ta không đánh mất hồn mình theo ý nghĩa đó, vì làm như vậy tức là hoàn toàn đánh mất đi sự hiện hữu của cá nhân mình. Hồn vẫn còn đó với những tài năng thiên phú, nhưng Thập Tự Giá được đem đến để mang những tài năng thiên phú ấy vào trong sự chết, tức là để ghi dấu vết sự chết của Ngài trên chúng, và từ đó về sau, khi Đức Chúa Trời vui lòng, Ngài sẽ ban chúng lại cho chúng ta trong sự phục sinh vinh hiển.

Khi viết cho người Phi-líp trong ý nghĩa này, Phao-lô bày tỏ lòng ao ước “hầu cho tôi được biết Ngài, và quyền năng sự sống lại của Ngài, và được tương giao trong sự khổ sở của Ngài mà đồng hóa theo sự chết của Ngài” (Phil. 3:10). Dấu vết của sự chết luôn ở trên hồn để đem hồn đến chỗ luôn luôn lệ thuộc Linh và không bao giờ tự tin vào chính mình cách độc lập. Chỉ có Thập Tự Giá hành động như vậy mới có thể làm cho một người có phẩm chất như Phao-lô, với những tài năng thiên nhiên được ngụ ý trong Phi-líp chương 3, không còn tin cậy sức mạnh thiên nhiên của mình đến nỗi ông có thể viết cho người Cô-rin-tô: “Vì tôi đã quyết định rằng, ở giữa anh em, tôi chẳng biết điều gì khác ngoài Giê-su Christ, và Giê-su Christ chịu đóng đinh trên Thập tự giá. Tôi ở giữa anh em cách yếu đuối, sợ sệt và run rẩy lắm; lời tôi nói, đạo tôi giảng chẳng phải bằng lời khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng bằng sự chứng minh của Thánh Linh và quyền năng: hầu cho đức tin của anh em không lập trên sự khôn ngoan của loài người, mà là trên quyền năng của Đức Chúa Trời” (1 Cô. 2:2-5)

Hồn là nơi ngự trị của tình cảm, và phần lớn các quyết định cùng hành động của chúng ta đều bị ảnh hưởng nặng nề bởi tình cảm! Tôi xin nhắc anh em là tình cảm hoàn toàn không có gì tội lỗi cả. Ấy chỉ là một điều gì ở trong chúng ta có thể lộ ra trong tình cảm thiên nhiên với một người khác, và nếu không được Linh cai trị, điều đó có thể ảnh hưởng cách sai lạc toàn bộ hành động của chúng ta. Cho nên trong phần đầu của bốn phân đoạn mà chúng ta đang xem xét, Chúa đã phải nói: “Ai yêu mến cha hoặc mẹ hơn Ta, thì không đáng cho Ta; ai yêu mến con trai hoặc con gái hơn Ta, cũng không đáng cho Ta; ai không vác thập tự giá mình mà theo Ta, thì không đáng cho Ta” (Mat. 10:37-38). Anh em lưu ý rằng theo Chúa trên con đường Thập Tự Giá được đặt trước mặt chúng ta là con đường bình thường, con đường duy nhất của Ngài dành cho chúng ta. Ngay sau đó Ngài đã nói gì? “Ai tìm được hồn mình thì phải mất, còn ai vì cớ Ta mà mất hồn mình thì sẽ tìm lại được” (Mat. 10:39).

Hiểm họa bí mật nằm trong hoạt động tinh vi của tình cảm để xoay chúng ta khỏi con đường hẹp của Đức Chúa Trời; và điểm then chốt của vấn đề là hồn. Thập Tự Giá phải đụng đến điều đó. Tôi phải “mất” hồn mình theo ý nghĩa Chúa muốn nói qua những lời này, và đó là điều chúng ta tìm cách giải thích ở đây.

Một vài người trong chúng ta biết rõ thế nào là mất hồn mình. Chúng ta không còn có thể nhẹ dạ đáp ứng những đòi hỏi của nó; chúng ta không thể đầu hàng nó và chiều theo nó: đó là “mất” hồn mình. Chúng ta đang trải qua một tiến trình đau đớn để làm tàn lụi những gì hồn đòi hỏi. Nhiều lúc chúng ta phải thú nhận rằng không phải một tội lỗi rõ ràng nào đó giữ chúng ta không theo Chúa đến cùng. Chúng ta bị giữ lại vì một tình tình yêu thầm kín đâu đó, một tình cảm nào đó hoàn toàn vô tội làm lạc hướng chúng ta. Vâng, tình cảm con người đóng một vai trò quan trọng trong đời sống chúng ta, và Thập Tự Giá phải đến đó để làm công tác luyện lọc.

Sau đó chúng ta bước sang các câu trong Mác chương 8. Tôi nghĩ đây là một phân đoạn quan trọng hơn hết. Chúa chúng ta vừa mới bảo các môn đồ Ngài tại Sê-sa-rê Phi-líp rằng Ngài sẽ chịu chết bởi tay các trưởng lão Do-thái, và Phi-e-rơ với tất cả tình yêu dành cho Thầy, đứng ra can gián rằng: “Chúa ôi, đừng làm như vậy, Ngài hãy tự thương hại mình, điều đó sẽ không bao giờ xảy đến cho Chúa đâu!” Được thôi thúc bởi tình yêu dành cho Chúa, ông kêu nài Ngài hãy giữ lấy mình. Chúa phải quở trách Phi-e-rơ, như Ngài quở trách Sa-tan, vì chỉ ông quan tâm đến những điều thuộc về loài người, mà không quan tâm đến những điều thuộc về Đức Chúa Trời. Sau đó, với đám đông qui tụ quanh mình, Ngài nhắc lại lời ấy một lần nữa: “Hễ ai muốn theo Ta, thì hãy từ chối mình, vác Thập Tự Giá mình mà theo Ta. Vì hễ ai muốn cứu hồn mình thì phải mất, còn hễ ai vì cớ Ta và phúc âm mà mất hồn mình thì sẽ cứu được” (Mác 8:34, 35).

Một lần nữa, toàn bộ vấn đề đang được bàn đến hồn, và ở đây đặc biệt là nói về nỗi ao ước tự giữ lấy mình của hồn. Có một lời gợi ý tinh vi là: “Nếu cho tôi sống, tôi sẽ làm bất cứ điều gì, sẵn sàng cho mọi sự, nhưng phải để tôi sống kia!” Qua đó anh em thấy hồn hầu như kêu cứu. “Đi đến Thập tự giá, bị đóng đinh, ôi, như vậy thật là quá sức! Hãy tự thương xót mình, hãy tự thương hại mình! Ngươi muốn nói rằng ngươi sẽ nghịch lại chính mình và đi với Đức Chúa Trời sao?” Một vài người trong chúng ta biết rất rõ rằng để tiến lên với Đức Chúa Trời, nhiều lúc chúng ta phải đi ngược lại tiếng nói của hồn, hồn của chính mình hay hồn của người khác, và để Thập Tự Giá bước vào làm cho tiếng kêu nài khẩn khoản xin tự giữ lấy mình ấy phải im bặt.

Tôi có sợ ý muốn của Đức Chúa Trời không? Thánh đồ yêu dấu mà tôi từng đề cập vì đã ảnh hưởng lớn lao trên cuộc đời tôi, nhiều lúc đã hỏi tôi câu hỏi này: “Anh có yêu thích ý muốn của Đức Chúa Trời không?” Đó là một câu hỏi rộng lớn. Chị không hỏi: “Anh có làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời không?” Chị luôn luôn hỏi: “Anh có yêu thích ý muốn của Đức Chúa Trời không?” Câu hỏi ấy sâu xa hơn bất cứ điều gì khác. Tôi nhớ có lần chị đang tranh luận với Chúa về một vấn đề. Chị biết điều Chúa muốn, và trong lòng mình, chị cũng muốn điều đó. Nhưng điều đó rất khó, và tôi nghe chị cầu nguyện như vầy: “Chúa ôi, con thú nhận rằng con không muốn điều đó, nhưng xin đừng chịu thua con. Xin Chúa chỉ hãy chờ đợi, con sẽ chịu thua Ngài”. Chị không muốn Chúa nhượng bộ chị và giảm bớt đòi hỏi của Ngài trên chị. Chị không muốn gì trừ ra là làm vui lòng Ngài.

Nhiều lúc chúng ta phải đi đến chỗ bằng lòng buông ra giao cho Ngài những điều chúng ta nghĩ là tốt và quí báu, phải, có lẽ ngay cả là chính những điều thuộc về Đức Chúa Trời, để ý muốn Ngài được nên. Mối quan tâm của Phi-e-rơ là vì Chúa, do tình yêu thiên nhiên ông dành cho Chúa thúc đẩy. Có thể chúng ta cảm thấy Phi-e-rơ yêu Chúa lạ lùng, đến nỗi ông dám chất vấn Chúa Giê-su. Chỉ một tình yêu mạnh mẽ mới có thể khiến một người dám làm điều đó! Vâng, chúng ta nghĩ mình hiểu Phi-e-rơ, nhưng khi linh được thuần khiết mà không bị hồn pha trộn, chúng ta sẽ không quá dễ dàng rơi vào lỗi lầm của Phi-e-rơ. Chúng ta sẽ nhanh chóng nhận biết đâu là ý muốn của Đức Chúa Trời và khám phá ra niềm vui thật của lòng chúng ta ở tại đó, và chỉ tại đó mà thôi.

Một lần nữa, Chúa Giê-su bàn đến vấn đề hồn trong Lu-ca chương 17, và lần này liên quan đến sự trở lại của Ngài. Khi nói về “ngày Con Người hiện ra”, Ngài so sánh ngày ấy với “ngày Lót ra khỏi Sô-đôm” (cc. 29, 30). Sau đó, Ngài nói về “sự cất lên” của các thánh đồ với những lời được lặp lại hai lần: “người nầy được đem đi, còn kẻ kia bị để lại” (cc. 34, 35). Nhưng giữa những gì Ngài nói về sự kêu gọi Lót ra khỏi Sô-đôm và lời ám chỉ về sự qui tụ các thánh đồ lại với Ngài, có những lời lạ lùng này :“Trong ngày đó, ai ở trên mái nhà, có của cải trong nhà, thì đừng xuống mà lấy đi, ai ở ngoài đồng, cũng đừng trở về. Hãy nhớ lại vợ của Lót” (cc. 31, 32). Hãy nhớ lại vợ của Lót! Tại sao? Vì “hễ ai lo cứu hồn mình thì phải mất, còn hễ ai mất hồn mình thì sẽ cứu được” (c. 33).

Nếu tôi không lầm, đây là phân đoạn duy nhất trong Tân Ước nói về phản ứng của chúng ta đối với sự kêu gọi cất lên. Có lẽ chúng ta nghĩ rằng khi Con Người đến, chúng ta sẽ tự động được qui tụ lại với Ngài, vì chúng ta đọc thấy trong 1 Cô-rin-tô 15:51, 52 rằng: “Chúng ta... tất cả đều sẽ biến hóa, trong tích tắc, trong nháy mắt, lúc kèn chót thổi”. Tuy nhiên, khi liên kết hai phân đoạn, thì phân đoạn trong Lu-ca ít nhất cũng làm cho chúng ta dừng lại và suy nghĩ, vì ở đây, một người được đem đi, một người bị để lại là điểm được đặc biệt nhấn mạnh. Đây chính là vấn đề phản ứng của chúng ta trước sự kêu gọi ra đi, trên nền tảng này, chúng ta được khuyên nài vô cùng khẩn thiết là hãy sẵn sàng (xin so sánh với Mat.24:42).

Chắc chắn điều này có một lý do. Rõ ràng sự kêu gọi ấy không đột nhiên biến đổi chúng ta vào phút chót như phép lạ, mà không liên quan gì đến bước đi trước đây của chúng ta với Chúa. Không, trong giây phút ấy, chúng ta sẽ khám phá báu vật thật sự của lòng mình. Nếu báu vật ấy là chính Chúa, thì chúng ta sẽ không nhìn lui lại đằng sau. Một cái liếc mắt ngó lui quyết định mọi sự. Thật dễ để trở nên gắn bó với các món quà của Đức Chúa Trời hơn là với Đấng Tặng Quà – tôi xin nói thêm, thậm chí với công việc của Đức Chúa Trời hơn là với chính Ngài.

Tôi xin minh họa điều này. Hiện nay (1) , tôi đang bận rộn viết một quyển sách. Tôi đã xong được tám chương và còn phải viết chín chương nữa. Đây là việc tôi đang làm cách rất nghiêm túc trước mặt Chúa. Nhưng nếu có tiếng kêu: “Hãy lên đây”, và tôi phản ứng: “Còn quyển sách của con thì sao?” Thì câu trả lời sẽ là: “Được, con cứ ở lại viết cho xong!” Điều quí báu mà chúng ta đang làm dưới đất, “trong nhà”, có thể đủ sức níu chặt chúng ta lại, như là một cái cọc giữ chúng ta trên đất.

Tất cả vấn đề là chúng ta đang sống bởi hồn hay bởi linh. Trong phân đoạn nào của sách Lu-ca, chúng ta đã mô tả sự sống thuộc hồn bận rộn với những điều thuộc đất, và tôi xin lưu ý anh em, đó cũng không phải là những điều tội lỗi. Chúa chỉ đề cập đến cưới gả, trồng trọt, ăn uống, mua bán, tất cả đều là những sinh hoạt hợp pháp, không có gì sai trật trong bản chất của sự việc. Nhưng chúng chiếm hữu lòng anh em đến nỗi anh em xu hướng về chúng, như vậy là đủ để chúng trì kéo anh em xuống rồi. Lối thoát ra khỏi hiểm họa ấy là phải mất hồn mình. Điều này được minh họa đẹp đẽ trong hành động của Phi-e-rơ khi ông nhận biết Chúa Giê-su phục sinh bên hồ. Mặc dầu cùng với những người khác, ông đã trở về nghề cũ, nhưng ông không nghĩ gì đến chiếc thuyền, thậm chí cũng không nghĩ đến lưới đầy cá đã được cung ứng cho mình cách lạ lùng. Khi nghe Giăng kêu lên vì nhận ra Chúa: “Ấy là Chúa”, chúng ta đọc thấy ông “lao mình xuống biển” để đến với Ngài.

Đó là sự phân rẽ thật. Vấn đề luôn được đặt ra là: Lòng tôi đang ở đâu? Thập Tự Giá phải thực hiện trong linh chúng ta một sự phân rẽ thật khỏi bất cứ điều gì và người nào ngoài chính mình Chúa.

Nhưng ngay cả tại đây, chúng ta chỉ mới bàn đến những phương diện có tính cách bên ngoài nhiều hơn của hoạt động của hồn. Hồn đã để cho tình cảm điều khiển hồn hành động cách tự tin và tìm cách điều khiển mọi sự, hồn bị chiếm hữu bởi những điều trên đất: đó vẫn chỉ là những điều nhỏ nhặt, chưa đụng đến trọng tâm thật sự của vấn đề. Vẫn có một điều gì đó sâu xa hơn, mà bây giờ tôi sẽ cố gắng giải thích.

THẬP TỰ GIÁ VÀ SỰ KẾT QUẢ

Xin chúng ta đọc lại Giăng 12:24, 25. “Thật vậy, thật vậy, Ta nói với các ngươi, nếu hạt lúa mì không rơi xuống đất mà chết, thì cứ chỉ một mình, nhưng nếu chết đi, thì kết quả nhiều. Ai yêu sự sống mình (chữ “sự sống” trong tiếng Hi-lạp là “hồn”, như trong phân đoạn trên), thì sẽ mất, ai ghét sự sống mình (hồn) trong thế gian này thì sẽ giữ lại đến sự sống đời đời”.

Ở đây nói đến sự hành động bên trong của Thập Tự Giá mà chúng ta đang bàn đến, tức là sự mất hồn mình, được liên kết và so sánh với phương diện sự chết của chính Chúa Giê-su mà chúng ta đã thấy được mô tả trong hạt lúa mì, tức là sự chết của Ngài với mục tiêu gia tăng. Cùng đích được định trước là kết quả nhiều. Hạt lúa mì có sự sống bên trong, nhưng “cứ ở một mình”. Nó có quyền năng truyền đạt sự sống cho những hạt khác, nhưng để làm như vậy, nó phải đi vào sự chết.

Chúng ta biết con đường Chúa đã đi. Ngài đã trải qua sự chết, và như chúng ta đã thấy, sự sống của Ngài xuất hiện trong nhiều đời sống. Con đã chết và trở nên Con trưởng giữa “nhiều con”. Ngài đã buông bỏ sự sống mình để có thể nhận lại. Theo phương diện này của sự chết Ngài mà chúng ta được kêu gọi đến sự chết. Ở đây, Ngài làm sáng tỏ giá trị của sự đồng hóa theo sự chết của Ngài, bởi đó chúng ta mất sự sống thiên nhiên của mình, để rồi trong quyền năng phục sinh của Ngài, chúng ta có thể trở nên những người truyền sự sống, từ đó về sau, chia sẻ với người khác sự sống mới của Đức Chúa Trời trong chúng ta. Đây là bí quyết của chức vụ, con đường thật sự kết quả nhiều cho Đức Chúa Trời. Như Phao-lô nói: “Chúng tôi là người sống, vì cớ Giê-su mà luôn bị nộp cho sự chết, để sự sống của Giê-su cũng được tỏ ra trong thân thể chết chóc của chúng tôi. Như thế, sự chết hành động trong chúng tôi, còn sự sống trong anh em” (2 Cô. 4:11, 12).

Chúng ta đang tiến đến trọng tâm vấn đề. Là những người đã nhận lãnh Đấng Christ, trong chúng ta có một sự sống mới. Tất cả chúng ta đều có tài sản quí báu ấy, là vật báu chứa trong bình. Ngợi khen Chúa vì thực tại sự sống của Ngài ở bên trong chúng ta! Nhưng vì sao có quá ít biểu hiện của sự sống ấy? Vì sao có tình trạng “ở một mình”? Vì sao sự sống ấy không tuôn tràn và truyền đạt cho người khác? Vì sao sự sống ấy hiếm khi nào tự bày tỏ rõ ràng ngay cả trong đời sống chúng ta? Lý do có quá ít dấu hiệu của sự sống tại nơi sự sống có mặt, là vì hồn trong chúng ta bao phủ và giam giữ sự sống ấy (giống như vỏ trấu bao phủ hạt lúa mì) nên sự sống không thoát ra được. Chúng ta đang sống trong hồn, chúng ta đang hoạt động và hầu việc trong sức mạnh thiên nhiên, chúng ta không nhận lấy năng lực từ Đức Chúa Trời. Ấy chính là hồn án ngữ lối sự sống tuôn lên. Hãy buông bỏ hồn đi, vì đó là cách để được đầy dẫy.

ĐÊM TỐI VÀ BUỔI SÁNG PHỤC SINH

Như vậy, chúng ta trở lại với cây gậy hạnh nhân đã được đem vào nơi thánh một đêm, một đêm tối không thấy gì cả, và sáng hôm sau, nó trổ hoa. Tại đó anh em giới thiệu sự chết và sự phục sinh, sự sống đầu hàng và sự sống chiến thắng, và tại đó anh em có chức vụ được chứng thực. Nhưng làm thế nào điều này được thực hiện trên thực tế? Làm thế nào tôi nhận biết Đức Chúa Trời đang đối xử với tôi theo cách này?

Trước hết, chúng ta phải sáng tỏ một điều: với nguồn dự trữ là năng lực và tài năng thiên nhiên, hồn sẽ tiếp tục tồn tại trong chúng ta cho đến chết. Cho đến khi ấy, chúng ta liên tục cần Thập Tự Giá hành động trong mình mỗi ngày, vét sâu và làm sạch giếng thiên nhiên ấy. Đây là điều kiện hầu việc kéo dài suốt đời mà Chúa Giê-su đã ấn định qua lời Ngài: “Hãy từ chối mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta” (Mác 8:34). Chúng ta không bao giờ thoát khỏi điều đó. Ai trốn tránh điều này thì “không đáng cho Ta” (Mat.10:38), người ấy “không thể làm môn đồ Ta” (Lu. 14:27). Sự chết và sự phục sinh phải là nguyên tắc lâu dài trong đời sống chúng ta để đánh mất hồn và làm Linh sự sống phun trào lên.

Tuy nhiên, ở đây cũng có thể có một thời điểm quyết định, mà một khi đã đạt đến và trải qua thời điểm ấy, toàn bộ đời sống và sự hầu việc Đức Chúa Trời của chúng ta có thể hoàn toàn được biến đổi . Đó là cái cổng nhỏ nhờ đó chúng ta bước vào một con đường hẹp hoàn toàn mới. Thời điểm quyết định ấy đã xảy ra trong cuộc đời Gia-cốp tại Phê-ni-ên. “Con người thiên nhiên” của Gia-cốp đã tìm cách đạt đến mục tiêu của Đức Chúa Trời. Gia-cốp biết rõ Đức Chúa Trời phán: “Đứa lớn sẽ hầu việc đứa nhỏ”, nhưng ông đã cố gắng đạt đến mục tiêu ấy bằng sự khôn khéo của mình. Đức Chúa Trời phải làm cho sức mạnh thiên nhiên ấy nơi Gia-cốp bị què đi, và Ngài làm như vậy khi chạm đến gân bắp vế của ông. Sau đó Gia-cốp tiếp tục bước đi, nhưng ông đã bị què. Ông trở thành một Gia-cốp khác, và việc ông được đổi tên đã ngụ ý về điều đó. Ông có chân và có thể sử dụng chúng, nhưng sức mạnh ông đã bị chạm đến, và ông bị què do một vết thương không bao giờ lành hoàn toàn.

Đức Chúa Trời phải đem chúng ta đến một điểm – tôi không thể nói với anh em là bằng cách nào, nhưng Ngài sẽ làm điều đó – là nơi mà qua một kinh nghiệm sâu xa và tăm tối, năng lực thiên nhiên của chúng ta bị chạm đến và làm cho suy yếu đi tận gốc rễ, để chúng ta không còn dám tin cậy chính mình. Ngài phải đối xử với một vài người trong chúng ta cách kỳ lạ, và đem chúng ta qua những nẻo đường khó khăn, đau đớn để đưa chúng ta đến đó. Cuối cùng, đến lúc chúng ta không còn “thích” làm những công việc của Cơ-đốc-nhân nữa – thật ra hầu như chúng ta sợ hãi làm nhiều điều trong Danh Chúa. Nhưng rồi cuối cùng Ngài có thể bắt đầu sử dụng chúng ta.

Tôi có thể kể cho anh em nghe điều này, suốt một năm sau khi trở lại tin Chúa, tôi rất thèm giảng dạy. Tôi không thể im lặng được. Dường như có một điều gì đó trong tôi thúc đẩy tôi tiến tới, và tôi phải tiến tới. Việc rao giảng đã trở nên chính sự sống của tôi. Chúa có thể nhân từ cho phép anh em tiến tới một thời gian như vậy và ban phước cho anh em một cách tốt đẹp, cho đến một ngày kia, sức lực thiên nhiên thúc đẩy anh em phải được đụng đến, và từ đó về sau, anh em không còn làm điều ấy bởi vì mình muốn nhưng vì Chúa muốn. Trước kinh nghiệm ấy, anh em rao giảng vì mình được thỏa mãn khi hầu việc Chúa như vậy; tuy nhiên, đôi khi Chúa không thể chuyển động anh em làm điều Ngài muốn. Anh em sống bằng sự sống thiên nhiên, và sự sống ấy thay đổi rất nhiều. Đó là nô lệ cho tính khí của mình. Theo cảm xúc, khi sôi nổi đi trên con đường Ngài, anh em tiến tới với tốc độ tối đa, nhưng khi cảm xúc anh em được chuyển hướng, anh em không muốn di chuyển chút nào, thậm chí lúc bổn phận réo gọi mình. Anh em không dễ uốn nắn trong tay Chúa. Vì vậy, Ngài phải làm suy yếu sức mạnh của sở thích anh em, của những gì thích hoặc không thích trong anh em, cho đến khi anh em làm một điều vì Ngài muốn chứ không phải vì anh em muốn. Anh em làm điều mình không ưa thích y như khi làm điều mình ưa thích. Không phải vì được thỏa mãn khi rao giảng hay khi làm một điều gì đó nên anh em mới làm điều ấy. Không, anh em làm điều ấy vì đó là ý muốn của Đức Chúa Trời, bất kể điều ấy có làm anh em cảm thấy vui thích hay không. Niềm vui thật mà anh em nếm biết được khi làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì sâu xa hơn những cảm xúc dễ giao động của mình.

Đức Chúa Trời đem anh em đến chỗ Ngài chỉ cần bày tỏ một ước muốn là anh em đáp ứng ngay lập tức. Đó là linh của người Đầy Tớ (Thi. 40:7, 8), nhưng linh ấy không tự nhiên đến với bất cứ người nào trong chúng ta. Linh ấy chỉ đến khi hồn, là nơi ngự trị của năng lực, ý chí và tình cảm thiên nhiên của chúng ta nhờ Thập Tự Giá đụng đến mà được đặt dưới sự chỉ huy của Ngài. Nhưng linh đầy tớ mà Ngài tìm kiếm ấy sẽ có trong tất cả chúng ta. Con đường dẫn đến đó có thể lâu dài, hay chỉ là một “cú đánh mạnh”, nhưng Đức Chúa Trời có cách riêng và chúng ta phải tôn trọng những phương cách của Ngài.

Mỗi đầy tớ thật của Đức Chúa Trời vào một thời điểm nào đó phải kinh nghiệm việc mình đã trở nên bất năng và không bao giờ có thể phục hồi, không bao giờ có thể giống như trước nữa. Điều đó phải trở nên vững chắc trong anh em, có nghĩa là từ đó về sau, anh em thật sự sợ chính mình. Anh em sẽ sợ không dám chuyển động theo sự thúc đẩy của hồn mình, vì biết nếu làm như vậy, mình sẽ cảm thấy khốn khổ trong lòng trước mặt Chúa. Anh em đã biết ít nhiều về bàn tay sửa phạt của Đức Chúa Trời yêu thương trên mình, một Đức Chúa Trời “đãi anh em như con” (Hê. 12:7). Chính Linh làm chứng trong linh chúng ta về mối liên hệ này, về cơ nghiệp và vinh quang thuộc về chúng ta “miễn là chúng ta đồng chịu khổ với Ngài” (La. 8:16, 17), và lời đáp ứng của anh em với Cha của các linh là “A-ba, Cha”.

Nhưng khi điều này trở nên vững chắc trong anh em, anh em đến một vị trí mới mà chúng ta gọi là “vị trí phục sinh”. Trên nguyên tắc, sự chết có thể phải hành động để đưa đến một thời điểm quyết định trong sự sống thiên nhiên của anh em, nhưng khi đến thời điểm đó, anh em sẽ thấy Đức Chúa Trời giải phóng anh em vào trong sự phục sinh. Anh em khám phá rằng những gì mình đánh mất được ban cho trở lại, dầu không thật sự như trước. Nguyên tắc sự sống bây giờ hành động trong anh em: một điều gì đó hướng dẫn và ban quyền năng cho anh em, làm cho anh em sống động bằng sự sống thần thượng tươi mới. Từ đó về sau, những gì anh em mất sẽ lại được trả lại, nhưng bây giờ đã được chạm đến với những giá trị mới vì ở dưới sự điều khiển của cõi thiên thượng.

Một lần nữa tôi xin làm cho điều này thật sáng tỏ. Nếu muốn trở thành những người thuộc linh, chúng ta không cần phải cắt bỏ tay chân mình, chúng ta vẫn có thể có thân thể. Cũng vậy, chúng ta có hồn mình, với công dụng đầy đủ từ các quan năng của nó, tuy nhiên hồn bây giờ không còn là nguồn sống của chúng ta nữa. Chúng ta không còn sống trong đó, chúng ta không còn lấy gì ra từ đó và sống bởi đó, chúng ta chỉ sử dụng hồn mà thôi. Khi thân thể trở nên sự sống của mình, chúng ta sống như thú vật. Khi hồn trở nên sự sống của mình, chúng ta sống như những người nổi loạn và trốn tránh Đức Chúa Trời – dầu chắc chắn là có tài năng, văn hóa, học thức, nhưng xa cách sự sống của Đức Chúa Trời. Nhưng khi chúng ta sống cuộc đời mình trong Linh và bởi Linh, dầu vẫn sử dụng các chức năng của hồn mình y như các chức năng của thân thể, nhưng bây giờ chúng là đầy tớ của Linh; và khi chúng ta đạt đến mức độ ấy, Đức Chúa Trời có thể thật sự sử dụng chúng ta.

Nhưng đối với nhiều người trong chúng ta, nan đề là đêm tối. Trong đời mình, Chúa đã nhân từ bỏ tôi sang một bên trong vòng nhiều tháng và để tôi trong bóng tối dày đặc theo ý nghĩa thuộc linh. Hầu như Ngài đã từ bỏ tôi, và hầu như không có gì còn tiếp tục được, và tôi thật sự đi đến đường cùng trong mọi sự. Và rồi từng bước một, Ngài trả lại mọi sự. Chúng ta luôn luôn bị cám dỗ giúp đỡ Đức Chúa Trời bằng cách tự mình đem mọi sự trở lại, nhưng hãy nhớ rằng cần phải có trọn một đêm trong Nơi Chí Thánh, trọn một đêm dài trong bóng tối. Chúng ta không thể vội vàng, Ngài biết rõ Ngài đang làm gì.

Chúng ta muốn sự chết và sự phục sinh nối tiếp nhau chỉ trong khoảng một giờ đồng hồ. Chúng ta không thể đối diện với các ý tưởng là Đức Chúa Trời bỏ chúng ta sang một bên quá lâu như vậy, chúng ta không thể chờ đợi nổi. Dĩ nhiên tôi không thể nói với anh em Ngài cần bao lâu, nhưng trên nguyên tắc, tôi tưởng nói như vầy là an toàn: Ngài giữ anh em tại đó một thời gian nhất định. Dường như không có gì xảy ra cả, dường như mọi sự anh em quí báu đều rơi khỏi bàn tay nắm giữ của mình. Trước mặt anh em là một bức tường trơ trọi, không một cánh cửa. Dường như mọi người đều được Ngài ban phước và sử dụng, trong khi chính anh em bị bỏ qua và thất bại. Anh em hãy nằm yên. Tất cả đều ở trong tối tăm, nhưng chỉ có một đêm. Thật ra là một đêm trọn, nhưng chỉ có vậy thôi. Sau đó, anh em sẽ thấy mọi sự được ban lại cho mình trong sự phục sinh vinh hiển, không gì có thể đo lường được sự khác biệt giữa tình trạng trước đây và hiện nay!

Một ngày kia, tôi đang ngồi ăn tối với một anh em thanh niên mà Chúa đã và đang phán với anh về chính vấn đề năng lực thiên nhiên này. Anh nói với tôi: “Thật phước hạnh khi anh biết Chúa đã gặp anh, đụng chạm anh tận gốc rễ, và anh đã nhận được sự đụng chạm làm mình mất hết năng lực”. Giữa chúng tôi có một dĩa bánh qui trên bàn, tôi cầm lên một chiếc, bẻ ra làm hai như thể để ăn. Sau đó, ráp hai mảnh lại với nhau cách cẩn thận, tôi nói: “Trông nó có vẻ không sao cả, nhưng nó không bao giờ như trước được nữa, phải không?” Một khi lưng anh bị bẻ gãy, anh sẽ nhượng bộ khi Đức Chúa Trời chạm đến anh cách nhẹ nhàng nhất”.

Sự thật là như vậy. Chúa biết những gì Ngài đang làm cho những người thuộc về Ngài, Ngài không để một phương diện nào của chúng ta mà không được thỏa đáp trong Thập Tự Giá của Ngài, để vinh quang của Con được bày tỏ ra trong các con. Tôi tin rằng các môn đồ đã đi con đường này có thể thật sự lặp lại lời của sứ đồ Phao-lô là người tuyên bố hầu việc Đức Chúa Trời “trong linh tôi trong phúc-âm của Con Ngài” (La. 1:9). Giống như Phao-lô, họ đã học biết bí quyết của một chức vụ như vậy: “Chúng ta... thờ phượng bởi Linh của Đức Chúa Trời, khoe khoang trong Christ Giê-su, và không tin tưởng xác thịt” (Phil. 3:3).

Ít ai có thể sống một cuộc đời hoạt động hơn Phao-lô. Ông thuật lại với người La Mã rằng ông rao giảng Phúc-âm từ Giê-ru-sa-lem đến Y-li-ri (La. 15:19) và bây giờ ông sẵn sàng đi đến La Mã (1:10), và nếu có thể được, từ đó ông sẽ đi đến Tây-ban-nha (15:24, 28). Tuy nhiên, trong tất cả công tác phục vụ bao trùm cả thế giới Địa-trung-hải này, lòng ông chỉ nhắm đến một mục tiêu là tôn cao Đấng đã làm thành mọi sự ấy. “Vậy, tôi có cớ khoe khoang trong Christ Giê-su về việc của Đức Chúa Trời. Vì tôi chẳng dám nói gì ngoài việc mà Đấng Christ đã thực hiện qua tôi để đưa dân Ngoại-bang đến sự vâng phục, bởi lời nói và việc làm” (La. 15:17, 18). Đó là sự phục vụ thuộc linh.

Nguyện Đức Chúa Trời làm cho mỗi người trong chúng ta thật sự trở nên “một nô lệ của Giê-su Christ” như chính Phao-lô.

(1) 1938. – A.K.