Thông tin sách

Nếp Sống Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nếp sống Cơ đốc bình thường
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 12

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI HAI

THẬP TỰ GIÁ VÀ SỰ SỐNG THUỘC HỒN

Đức Chúa Trời đã cung ứng đầy đủ để cứu chuộc chúng ta trong Thập tự giá của Đấng Christ, nhưng Ngài không dừng ở đó. Trong Thập tự giá ấy, vượt qua mọi khả năng thất bại, Ngài cũng đã đạt được chương trình đời đời mà Phao-lô nói là điều trải qua các thời đại đã được “giấu kín trong Đức Chúa Trời đã Đấng dựng nên muôn vật”. Bây giờ Ngài công bố chương trình ấy “khiến các bậc chấp chánh, quyền bính trên trời hiện nay được biết sự khôn ngoan đa diện của Đức Chúa Trời, theo mục đích đời đời mà Ngài đã định trong Christ Giê-su, Chúa chúng ta” (Êph. 3:9-11).

Chúng ta đã nói rằng công tác của Thập tự giá đem lại hai kết quả trực tiếp tác động trên nhận thức của chúng ta về mục đích ấy. Một mặt, công tác Thập tự giá đưa đến việc sự sống của Ngài được giải phóng để có thể biểu hiện trong chúng ta qua Linh cư trú bên trong. Mặt khác, công tác ấy làm cho điều mà chúng ta gọi là “vác Thập tự giá” trở nên một việc có thể thực hiện được, tức là chúng ta hợp tác với sự hành động bên trong hằng ngày của sự chết Ngài, nhờ đó tạo nên trong chúng ta con đường bày tỏ sự sống mới ấy, qua việc đem “con người thiên nhiên” dần dần đến đúng chỗ là đầu phục Thánh Linh. Rõ ràng đây là những phương diện tích cực và tiêu cực của cùng một vấn đề. Cũng rõ ràng như vậy, bây giờ chúng ta bàn cụ thể hơn về vấn đề tiến tới trong một cuộc đời sống cho Đức Chúa Trời. Từ trước đến nay, trong khi bàn đến đời sống Cơ-đốc-nhân, chúng ta đã đặc biệt nhấn mạnh đến thời điểm quyết định qua đó chúng ta bước vào đời sống ấy. Bây giờ chúng ta quan tâm rõ ràng hơn đến bước đi của người môn đồ, đặc biệt có một cái nhìn về việc huấn luyện người ấy làm một đầy tớ của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su đã phán về người ấy rằng: “Hễ ai không vác Thập tự giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đồ Ta được” (Lu. 14:27).

Cho nên chúng ta sẽ xem xét con người thiên nhiên và việc “vác thập tự giá”. Để hiểu điều này, dầu có nhàm chán chăng nữa, chúng ta vẫn phải trở lại Sáng-thế Ký một lần nữa và xem Đức Chúa Trời muốn tìm kiếm điều gì nơi con người buổi ban đầu, và mục đích của Ngài đã bị ngăn trở ra sao. Bằng cách ấy, chúng ta có thể nắm rõ hơn các nguyên tắc, nhờ đó, chúng ta có thể trở lại sống hòa hợp với mục đích ấy.

BẢN CHẤT THẬT CỦA SỰ SA NGÃ

Thậm chí nếu chỉ được khải thị một ít về kế hoạch của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ luôn luôn suy nghĩ nhiều về từ ngữ “con người”. Chúng ta sẽ cùng nói với tác giả Thi-thiên: “Con người là gì, mà Chúa nhớ đến?” Kinh-thánh làm sáng tỏ rằng trên hết mọi sự, Đức Chúa Trời ao ước con người, một con người theo lòng Ngài.

Cho nên Đức Chúa Trời tạo dựng một con người. Trong Sáng-thế Ký 2:7, chúng ta biết A-đam được tạo dựng thành một hồn sống, với một linh bên trong để thông công với Đức Chúa Trời và với một thân thể bên ngoài để tiếp xúc với thế giới vật chất. (Những câu Kinh-thánh như 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:23 và Hê-bơ-rơ 4:12 khẳng định tính chất ba mặt của bản thể con người). Với linh mình, A-đam tiếp xúc với thế giới thuộc linh của Đức Chúa Trời; với thân thể mình, ông tiếp xúc với thế giới thuộc thể gồm những điều vật chất. Ông bao gồm hai phương diện sự sáng tạo của Đức Chúa Trời trong chính mình để trở nên một nhân cách, một thực thể sống trong thế giới, tự chuyển động và có năng lực tự do lựa chọn. Như vậy nhìn toàn thể, ông là một hữu thể tự thức và tự biểu lộ, “một hồn sống”.

Trước đây, chúng ta đã thấy A-đam được tạo dựng hoàn hảo – chúng ta có ý nói ông không có một điểm nào bất toàn vì được Đức Chúa Trời tạo dựng – tuy nhiên ông vẫn chưa được hoàn hảo. Ông cần được đụng chạm một lần cuối ở đâu đó để trở nên hoàn hảo. Đức Chúa Trời chưa làm xong tất cả những gì Ngài định làm trong A-đam. Ngài dự định nhiều hơn, nhưng tạm thời phải gác lại. Đức Chúa Trời đang chuyển động đến chỗ hoàn thành mục đích của Ngài trong việc sáng tạo con người, một mục đích vượt xa hơn chính con người, vì mục đích ấy dự định đạt được mọi quyền hạn hợp pháp của Đức Chúa Trời trong vũ trụ qua phương tiện là con người. Nhưng làm thế nào con người có thể làm công cụ trong kế hoạch này? Chỉ bằng sự hợp tác phát xuất từ sự liên hiệp sống động với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không chỉ tìm kiếm một dòng giống loài người thuộc một dòng máu trên đất, nhưng thêm vào đó là một dòng giống có sự sống của Ngài cư trú bên trong các chi thể của họ. Một dòng giống như vậy cuối cùng sẽ làm cho Sa-tan sụp đổ và hoàn thành tất cả những gì Đức Chúa Trời mong muốn. Đó là điều đã được dự định trong sự tạo dựng con người.

Hơn nữa, chúng ta thấy A-đam được tạo dựng trung lập. Ông có một linh giúp ông có thể thông công với Đức Chúa Trời, nhưng là con người, cuối cùng ông vẫn chưa định hướng được, có thể nói, ông có năng lực để chọn lựa, và nếu muốn, ông có thể chọn quay sang con đường trái ngược. Mục tiêu của Đức Chúa Trời trong con người là “quyền làm con”, hay nói cách khác là biểu hiện sự sống của Ngài trong các con loài người. Như chúng ta đã thấy, sự sống thần thượng ấy được tượng trưng trong vườn bởi cây sự sống, kết một loại quả có thể tiếp nhận, ăn vào được. Được tạo dựng trung lập, nếu A-đam tình nguyện quay sang hướng ấy, chọn lựa tình trạng lệ thuộc Đức Chúa Trời, nhận lấy cây sự sống (tượng trưng cho chính sự sống của Đức Chúa Trời), khi ấy Đức Chúa Trời sẽ liên hiệp với con người trong sự sống đó, Ngài sẽ có được những người con thuộc linh. Nhưng nếu A-đam quay sang cây kiến thức về thiện và ác, kết quả là ông sẽ “tự do”, trong ý nghĩa là tự phát triển chính mình theo những chiều hướng tách rời khỏi Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, vì sự lựa chọn thứ hai này liên hệ đến sự đồng lõa với Sa-tan, nên qua đó A-đam đã không đạt được mục tiêu mà Đức Chúa Trời đã chỉ định.

HỒN NGƯỜI

Bây giờ chúng ta biết con đường A-đam đã chọn. Đứng giữa hai cây, ông đầu hàng Sa-tan và ăn cây kiến thức. Điều này quyết định chiều hướng phát triển của ông. Từ đó về sau, ông có thể sử dụng kiến thức; ông đã “biết”. Nhưng đây là điểm chúng ta muốn bàn đến, ấy là trái của cây kiến thức làm cho con người đầu tiên phát triển quá mức trong hồn mình. Vì trái cây đẹp mắt, nên đụng chạm được cảm xúc, làm cho ông “ao ước”; tâm trí với năng lực của lý trí phát triển, vì ông được “mở trí khôn”; ý chí trở nên mạnh mẽ, để trong tương lai, luôn luôn ông có thể quyết định đi đường nào. Toàn bộ trái cây này được cung ứng cho sự mở rộng và phát triển hồn, để con người không những là một hồn sống, nhưng từ đó về sau, con người sẽ sống bởi hồn. Không những con người có một hồn, nhưng từ đó về sau, hồn với năng lực độc lập của ý chí tự do, chiếm đoạt vị trí của linh, làm năng lực sống động của con người.

Ở đây, chúng ta phải phân biệt hai điều, vì sự khác biệt này là rất quan trọng. Đức Chúa Trời không quan tâm, dầu thật ra, đương nhiên Ngài dự định rằng chúng ta nên có một hồn như Ngài đã ban cho A-đam. Nhưng những gì Đức Chúa Trời đã quyết tâm làm là thay đổi hoàn toàn một điều gì đó. Ngày nay trong con người có một điều không phải chỉ là sự kiện con người có và sử dụng hồn, mà là cấu tạo nên một đời sống bởi hồn. Đó là điều Sa-tan đã gây ra trong sự Sa Ngã. Hắn bẫy con người vào trong một con đường bởi đó họ phát triển hồn của mình để rồi lấy đó làm nguồn sống của mình.

Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn thận. Để cứu chữa điều này không có nghĩa là chúng ta sẽ hoàn toàn loại bỏ hồn. Anh em không thể làm điều đó. Ngày nay, khi Thập tự giá thật sự hành động trong mình, chúng ta không trở nên trì độn, vô tri vô giác, không có cá tính. Không, chúng ta vẫn có một hồn, bất cứ khi nào chúng ta nhận được một điều gì từ Đức Chúa Trời, hồn vẫn được sử dụng trong mối liên hệ đến điều ấy, như một dụng cụ, một quan năng, trong sự đầu phục Ngài thật sự. Nhưng vấn đề là: Chúng ta có đang giữ hồn mình trong giới hạn đã được chỉ định của Đức Chúa Trời không, tức là trong những phạm vi Ngài đã lập trong Vườn thuở ban đầu, hay chúng ta đang vượt ra khỏi những phạm vi này?

Những gì Đức Chúa Trời đang làm hiện nay là công tác tỉa sửa của một người cắt tỉa nho. Trong hồn chúng ta có một sự phát triển không điều khiển được, một sự tăng trưởng không đúng kỳ, cần phải kiểm chế và xử lý. Đức Chúa Trời phải cắt bỏ điều đó. Cho nên bây giờ mắt chúng ta cần được mở ra để thấy hai điều. Một mặt, Đức Chúa Trời đang tìm cách đem chúng ta đến chỗ sống bằng sự sống của Con Ngài. Mặt khác, Ngài đang thực hiện một công tác trực tiếp trong lòng chúng ta để tiêu hủy nguồn năng lực thiên nhiên kia, vốn là kết quả của trái cây kiến thức. Mỗi ngày chúng ta đang học hai bài: sự chỗi dậy của sự sống Con Ngài, và kiểm chế, giao nộp sự sống thuộc hồn kia cho sự chết. Hai tiến trình này diễn ra luôn luôn, vì Đức Chúa Trời đang tìm kiếm sự sống Con Ngài phát triển đầy trọn trong chúng ta để bày tỏ chính Ngài, và hướng về cùng đích ấy, Ngài đang đem chúng ta, cũng như hồn chúng ta, trở lại khởi điểm của A-đam. Cho nên Phao-lô nói: “Bởi chúng tôi là kẻ sống, vì cớ Giê-su mà luôn bị nộp cho sự chết, để sự sống của Giê-su cũng được tỏ ra trong xác thịt chết chóc của chúng tôi” (2 Cô. 4:11).

Câu này có nghĩa gì? Đơn giản có nghĩa là tôi sẽ không làm gì cả nếu không nương dựa nơi Đức Chúa Trời. Tôi thấy tự mình là không đầy đủ. Tôi sẽ không tiến một bước nào chỉ vì tôi có năng lực làm điều đó. Mặc dầu tôi thừa hưởng năng lực ấy trong mình, tôi sẽ không tiến tới chỉ dựa trên nền tảng ấy, tôi sẽ không nương cậy chính mình. Bằng cách ăn trái cây ấy, A-đam sở hữu một năng lực cố hữu để hành động, nhưng là một năng lực mà bởi độc lập với Đức Chúa Trời, nên đã bị điều khiển trong bàn tay của Sa-tan. Anh em mất năng lực hành động ấy khi anh em đến chỗ nhận biết Chúa. Chúa sẽ cắt bỏ nó đi và anh em thấy mình không còn hành động theo sự khởi xướng của mình. Anh em phải sống bằng sự sống của một Đấng khác; anh em phải nhận lấy mọi sự từ Ngài.

Các bạn ơi, tôi nghĩ tất cả chúng ta đều biết chính mình đến một mức độ nào đó, nhưng nhiều lúc chúng ta không thật sự run rẩy về mình. Có thể chúng ta nói với Chúa cách lịch sự: “Nếu Chúa không muốn, con không thể làm điều đó”, nhưng trên thực tế trong sâu thẳm chúng ta suy nghĩ rằng mình có thể tự làm điều đó cách tốt đẹp cho dầu Đức Chúa Trời không sai bảo cũng không ban cho chúng ta năng lực thực hiện điều ấy. Chúng ta rất thường hành động, suy nghĩ, quyết định, có năng lực mà không màng gì đến Ngài. Nhiều Cơ-đốc-nhân chúng ta ngày nay là những người có hồn phát triển quá mức. Chúng ta đã trở nên quá to lớn trong chính mình. Khi chúng ta ở tình trạng đó, sự sống của Con Đức Chúa Trời trong chúng ta có thể bị kiềm hãm và vây chặt, hầu như không hoạt động được.

NĂNG LỰC THIÊN NHIÊN TRONG CÔNG TÁC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Tất cả chúng ta đều có sức mạnh hay năng lực của hồn. Những người đã được Chúa dạy dỗ thì khước từ không nhận nguyên tắc ấy làm nguyên tắc sống, họ từ chối sống bởi nó, họ không để nó cai trị, không cho phép nó làm nguồn năng lực của công tác Đức Chúa Trời. Nhưng ai chưa được Đức Chúa Trời dạy dỗ thì nương dựa vào nó, sử dụng nó, họ tưởng đó là quyền năng.

Trước hết chúng ta hãy lấy một hình ảnh minh họa rõ ràng về điều này. Trong quá khứ rất nhiều người trong chúng ta lý luận như sau. Đây là một người bản chất tốt được nhiều người ưa thích, đầu óc minh mẫn, có khả năng quán xuyến mọi công việc cách tuyệt vời, phán đoán chính xác và đáng tin cậy. Chúng ta tự nhủ: “Giá mà người này là một Cơ-đốc-nhân, thì sẽ ích lợi cho hội-thánh biết bao! Ước gì người ấy thuộc về Chúa, thì thật là một điều rất có ý nghĩa cho sự nghiệp của Ngài!”

Nhưng anh em hãy suy nghĩ một chút. Bản chất tốt lành của con người ấy đến từ đâu? Năng lực quản lý và sự phán đoán tài giỏi ấy từ đâu mà có? Không phải do sự tân sinh, vì người ấy chưa sinh lại. Chúng ta biết mình đều sinh bởi xác thịt, vì vậy chúng ta cần được tái sinh. Nhưng Chúa Giê-su có nói một điều gì đó về trường hợp này trong Giăng 3:6: “Điều gì sinh bởi xác thịt là xác thịt”. Tất cả những gì không đến từ sự tân sinh, nhưng từ sự ra đời thiên nhiên đều là xác thịt và sẽ đem vinh quang cho con người, chứ không phải cho Đức Chúa Trời. Lời tuyên bố ấy hơi khó nghe, nhưng rất đúng.

Chúng ta đã nói về năng lực của hồn và sức mạnh thiên nhiên. Sức mạnh thiên nhiên này là gì? Đơn giản nghĩa là những gì tôi có thể làm, những gì tôi tự mình “là”, những tài nguyên và khả năng thiên nhiên tôi thừa hưởng. Không ai trong chúng ta không có năng lực của hồn, và nhu cầu đầu tiên của chúng ta là nhận biết năng lực ấy là gì.

Chúng ta lấy tâm trí con người làm ví dụ. Bẩm sinh, tôi có thể có một tâm trí nhạy bén. Tự nhiên trước khi được tái sinh tôi có một tâm trí như vậy, là một điều gì được phát triển từ khi tôi ra đời. Nhưng trong đây dấy lên một nan đề. Tôi hoán cải và được tái sinh, một công tác sâu xa ảnh hưởng đến linh tôi, một sự liên hiệp về mặt yếu thể tính được thực hiện với Cha của linh chúng ta. Từ đó về sau, trong tôi có hai điều: bây giờ sự liên hiệp với Đức Chúa Trời đã được thiết lập trong linh tôi, nhưng đồng thời tôi mang trong mình một điều gì bẩm sinh. Vậy, tôi phải làm gì với điều đó?

Khuynh hướng thiên nhiên là như vầy. Trước đây, tôi thường dùng tâm trí mình để nghiên cứu lịch sử, thương mại, hóa học, những vấn đề của thế giới, hay văn chương, thi ca. Tôi dùng tâm trí nhạy bén của mình để đạt được kết quả tốt nhất trong những công trình nghiên cứu này. Bây giờ ao ước của tôi đã thay đổi, cho nên từ nay trở đi, tôi dùng chính tâm trí ấy để nghiên cứu những điều thuộc về Đức Chúa Trời. Như vậy, tôi thay đổi đề tài mình ưa thích, nhưng không thay đổi phương pháp làm việc. Đó là toàn thể vấn đề. Những sở thích của tôi hoàn toàn thay đổi (ngợi khen Đức Chúa Trời về điều đó!), nhưng tôi dùng chính năng lực trước đây mình đã dùng khi học sử địa để bây giờ học Thư Cô-rin-tô và Ê-phê-sô. Nhưng năng lực ấy không thuộc về cõi sáng tạo mới, và Đức Chúa Trời không hài lòng khi tôi chỉ thay đổi sở thích. Nan đề của rất nhiều người trong chúng ta là chúng ta thay đổi đường hướng năng lực của mình, nhưng lại không thay đổi nguồn năng lực ấy.

Anh em sẽ thấy chúng ta đem nhiều điều như vậy vào trong sự hầu việc Đức Chúa Trời. Hãy xem xét vấn đề khẩu tài. Có những người bẩm sinh rất hùng biện; thực tế, họ có thể trình bày một vấn đề cách rất thuyết phục. Sau đó họ trở lại tin Chúa, và không hề thắc mắc họ thật sự đứng ở đâu trong mối liên quan đến những vấn đề thuộc linh, chúng ta đặt họ trên bục giảng và biến họ thành những người giảng dạy. Chúng ta khích lệ họ sử dụng năng lực thiên nhiên để giảng dạy, và một lần nữa, đó là thay đổi đề tài nhưng vẫn dùng cùng năng lực cũ. Chúng ta quên rằng trong vấn đề sử dụng tài năng của mình để quán xuyến công việc của Đức Chúa Trời, thì vấn đề không phải là so sánh giá trị hơn thua, mà là vấn đề nguồn gốc, tức là tài năng của tôi phát xuất từ đâu. Không phải vấn đề nặng về chúng ta đang làm gì, mà chúng ta đang sử dụng năng lực nào để làm điều đó, và ai đang điều khiển những năng lực đó. Người được Đức Chúa Trời sử dụng có thể có tài hùng biện, nhưng có dấu vết Thập tự giá trên tài hùng biện ấy và bàn tay của Linh Đức Chúa Trời rõ ràng đang điều khiển việc sử dụng tài năng ấy. Chúng ta suy nghĩ quá ít về nguồn gốc của năng lực mình và suy nghĩ quá nhiều đến cứu cánh nó hướng đến, quên rằng đối với Đức Chúa Trời, cứu cánh không bao giờ biện minh được cho phương tiện.

Để thử nghiệm lẽ thật này, chúng ta hãy lấy một trường hợp làm ví dụ. Ông A là một người nói giỏi, ông có thể nói năng lưu loát và đầy sức thuyết phục về bất cứ đề tài nào, nhưng trong những công việc thực tế, ông là người quản lý kém. Trái lại, Ông B không có tài ăn nói: ông không thể diễn tả điều mình muốn nói cách rõ ràng nhưng cứ nói lòng vòng mãi, không bao giờ nêu thẳng được vấn đề, tuy nhiên, ông lại là một người quản lý xuất sắc, tài giỏi hơn hết trong mọi công việc. Cả hai đều trở lại tin Chúa, và là những Cơ-đốc-nhân nhiệt thành. Giả sử bây giờ tôi đến thăm cả hai và mời họ nói chuyện tại một hội đồng, cả hai đều nhận lời.

Điều gì sẽ xảy ra? Tôi mời hai người làm một điều giống nhau, nhưng anh em nghĩ ai sẽ cầu nguyện tha thiết hơn? Hầu như chắc chắn là ông B. Vì sao? Vì ông không nói giỏi. Trong vấn đề ăn nói, ông không có tài năng để nương cậy. Ông sẽ cầu nguyện: “Chúa ôi, nếu Ngài không ban quyền năng cho con trong điều này, con không thể làm gì được”. Dĩ nhiên ông A cũng sẽ cầu nguyện, nhưng có lẽ không giống như ông B vì dầu sao ông cũng có ít nhiều năng khiếu thiên nhiên để nương cậy.

Bây giờ giả sử thay vì mời họ giảng, tôi mời cả hai người chịu trách nhiệm về những công việc thực tế tại hội đồng. Điều gì sẽ xảy ra? Sự việc sẽ hoàn toàn bị đảo ngược. Bây giờ đến phiên ông A cầu nguyện nhiều, vì ông biết rất rõ mình không có tài tổ chức. Dĩ nhiên ông B cũng sẽ cầu nguyện, nhưng có lẽ không khẩn thiết như ông A, vì mặc dầu ông biết mình cần Chúa, ông hầu như không ý thức nhu cầu [cần Chúa] của mình trong những vấn đề điều hành công việc như ông A.

Anh em có thấy sự khác biệt giữa tài năng thiên nhiên và ân tứ thuộc linh không? Bất cứ điều gì chúng ta có thể làm mà không cần cầu nguyện và không cần tuyệt đối nương dựa nơi Đức Chúa Trời chắc chắn phát xuất từ sự sống thiên nhiên đã bị ô uế với xác thịt. Chúng ta phải thấy rõ điều này. Dĩ nhiên không phải những ai thiếu tài năng thiên nhiên cho công tác nào đó là những người phù hợp cho công tác ấy. Chúng ta nên ngợi khen Đức Chúa Trời về mọi tài năng từ Ngài, nhưng vấn đề là dầu có tài năng thiên nhiên hay không, họ cần được Thập tự giá trong sự chết chạm đến tất cả những gì thuộc về thiên nhiên, và họ cần hoàn toàn nương cậy nơi Đức Chúa Trời của sự phục sinh. Chúng ta đều quá dễ dàng ganh tị với người lân cận có tài năng thiên nhiên xuất sắc, mà không nhận biết rằng khi chúng ta sở hữu tài năng đó mà tách rời khỏi sự hành động như vậy của Thập tự giá, thì có thể ngăn trở chính điều Đức Chúa Trời đang tìm cách bày tỏ ra trong chúng ta.

Không bao lâu sau khi trở lại tin Chúa, tôi ra đi rao giảng tại các làng mạc. Tôi đã được giáo dục kỹ lưỡng và thông thạo Kinh-thánh, cho nên tôi tự cho mình hoàn toàn có khả năng để dạy dỗ dân làng mà giữa vòng họ có nhiều phụ nữ thất học. Nhưng sau vài lần thăm viếng họ, tôi khám phá ra mặc dầu thất học, nhưng những phụ nữ ấy biết Chúa cách thân mật. Tôi biết Quyển Sách mà họ đọc cách ngập ngừng, nhưng họ biết Đấng mà Quyển Sách ấy nói đến. Tôi có nhiều điều trong chính mình, nhưng họ có nhiều điều trong Linh. Ngày nay biết bao nhiêu giáo sư Cơ-đốc đang dạy dỗ những người khác giống như tôi lúc ấy, còn trang bị sức mạnh xác thịt rất nhiều.

Có lần tôi gặp một anh em trẻ tuổi, trẻ về tuổi tác, nhưng đã học biết rất nhiều về Chúa. Đức Chúa Trời đã đem anh qua nhiều hoạn nạn để đạt được một sự hiểu biết như vậy về chính Ngài. Khi trò chuyện với anh, tôi nói: “Anh à, trong những ngày này, Đức Chúa Trời đang thật sự dạy dỗ anh điều gì?” Anh ấy đáp: “Chỉ có một điều: lìa khỏi Ngài, tôi không thể làm gì được”. Tôi hỏi: “Anh thật có ý nói anh không làm gì được sao?” Anh đáp: “Ồ không, dĩ nhiên tôi có thể làm nhiều điều! Nhưng thật ra lâu nay, đó là nan đề của tôi. Anh biết không, tôi luôn luôn quá tin cậy nơi chính mình. Tôi biết mình có thể làm nhiều điều”. Vì vậy, tôi hỏi: “Như vậy, anh có ý gì khi nói anh không thể làm gì khi tách rời khỏi Ngài?” Anh ấy đáp: “Chúa đã bày tỏ cho tôi thấy tôi có thể làm bất cứ điều gì, nhưng Ngài phán: “Ngoài Ta, các ngươi không thể làm chi được”. Cho nên vấn đề là như vầy: tất cả những gì tôi đã làm và còn có thể làm ngoài Ngài đều không là gì cả!”

Chúng ta phải đi đến chỗ đánh giá mọi sự như vậy. Tôi không có ý nói chúng ta không thể làm nhiều điều, vì chúng ta làm được. Chúng ta có thể nhóm họp và xây dựng nhà thờ, chúng ta có thể đi đến đầu cùng trái đất và lập những trung tâm truyền giáo, và dường như có kết quả, nhưng hãy nhớ lời Chúa đã phán: “Phàm cây nào mà Thiên Phụ Ta không trồng, thì phải nhổ đi” (Mat. 15:13). Đức Chúa Trời là Đấng Khởi Phát hợp pháp duy nhất trong vũ trụ (Sáng. 1:1), và Thánh Linh Ngài là Đấng Khởi Động hợp pháp duy nhất trong lòng chúng ta. Bất cứ điều gì anh em và tôi lập kế hoạch và bắt tay vào mà không có Ngài đều có sự ô uế của xác thịt trên đó, và sẽ không bao giờ đạt đến lãnh vực của Linh dầu chúng ta có tha thiết tìm kiếm sự ban phước của Ngài bao nhiêu chăng nữa. Công việc ấy có thể kéo dài nhiều năm, và rồi có thể chúng ta suy nghĩ mình sẽ điều chỉnh điều này, cải tiến điều kia, và nâng nó lên một bình diện tốt hơn, nhưng không bao giờ được.

Nơi phát xuất quyết định nơi đến, và những gì nguyên thủy “thuộc về xác thịt” sẽ không bao giờ được làm cho trở nên “thuộc linh” bằng bất cứ sự “cải thiện” nào. Điều gì sinh bởi xác thịt là xác thịt, không thể nào khác hơn được. Cho nên bất cứ điều gì chúng ta cảm thấy đầy đủ trong chính mình thì sẽ “không là gì cả” trong sự đánh giá của Đức Chúa Trời, chúng ta phải chấp nhận sự đánh giá của Ngài và viết xuống “không là gì cả”. “Xác thịt chẳng ích chi”. Chỉ có điều gì đến từ trên thì mới tồn tại.

Chúng ta không thể thấy điều này chỉ bằng cách được người khác nói cho biết. Đức Chúa Trời phải dạy chúng ta điều này có nghĩa là gì, bằng cách đặt ngón tay Ngài trên một điều gì Ngài nhìn thấy và nói: “Điều này là thiên nhiên, nguồn gốc của nó nằm trong cõi sáng tạo cũ, không phát xuất từ Ta nên không thể tồn tại”. Chúng ta có thể đồng ý trên nguyên tắc nhưng không bao giờ thật sự nhìn thấy cho đến khi Ngài làm như vậy. Chúng ta có thể đồng ý, thậm chí vui thích với điều ấy, nhưng sẽ không bao giờ thật sự gớm ghê chính mình.

Nhưng sẽ đến một ngày Đức Chúa Trời mở mắt chúng ta. Khi đối diện với một vấn đề cụ thể nào đó, do được khải thị, chúng ta sẽ phải nói: “Điều này không tinh sạch, điều này không thuần khiết, Chúa ôi, con nhìn thấy nó!” Từ ngữ “thuần khiết” là một từ ngữ phước hạnh. Tôi luôn luôn kết hợp từ ngữ này với Linh. Sự thuần khiết nghĩa là một điều gì đó hoàn toàn thuộc về Linh. Không thuần khiết nghĩa là pha trộn. Khi Đức Chúa Trời mở mắt chúng ta thấy sự sống thiên nhiên là một điều, mà tự bản chất của nó, Ngài không thể sử dụng trong công việc Ngài được, khi ấy chúng ta thấy mình không vui thích với giáo lý nữa. Trái lại, chúng ta gớm ghê chính mình vì sự không thuần khiết ở trong chúng ta: nhưng khi chúng ta đạt đến điểm ấy, Đức Chúa Trời bắt đầu công tác giải cứu của Ngài. Chúng ta sắp sửa xem xét đến sự cung ứng mà Ngài đã thực hiện để giải cứu chúng ta, nhưng chúng ta phải dừng lại một lúc để bàn thêm về vấn đề khải thị này.

ÁNH SÁNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ KIẾN THỨC

Dĩ nhiên nếu không bắt đầu hầu việc Chúa cách hết lòng, một người không cảm thấy ánh sáng là thiết yếu. Chỉ khi nào một người được Đức Chúa Trời bắt lấy và tìm cách tiến lên với Ngài, người ấy mới thấy ánh sáng là điều cần thiết biết bao. Ánh sáng là nhu cầu cơ bản để chúng ta biết tâm trí của Đức Chúa Trời; để biết những gì thuộc linh và những gì thuộc hồn; để biết những gì thần thượng và những gì chỉ là của con người; để biện biệt những gì thật thiên thượng và những gì chỉ thuộc đất; để hiểu sự khác biệt giữa những gì thuộc linh và những gì thuộc xác thịt, để biết Đức Chúa Trời có đang thật sự dẫn dắt chúng ta hay chúng ta chỉ chuyển động theo cảm xúc, cảm nhận theo tưởng tượng của mình. Khi đạt đến chỗ muốn bước theo Đức Chúa Trời cách trọn vẹn, chúng ta sẽ thấy ánh sáng là điều cần thiết hơn hết trong đời sống Cơ-đốc.

Khi trò chuyện với những anh chị em trẻ tuổi hơn, tôi thường nghe họ hỏi một câu. Đó là: Làm thế nào tôi có thể biết mình đang bước đi trong Linh? Làm thế nào tôi phân biệt điều đang thôi thúc trong tôi là đến từ Thánh Linh hay đến từ chính tôi? Dường như tất cả đều giống nhau về điểm này, nhưng một số người đi xa hơn. Họ cố gắng nhìn vào bên trong để biện biệt, phân biệt, phân tích và khi làm như vậy, họ tự đưa mình vào dưới một ách nô lệ sâu hơn. Đó là tình trạng thật nguy hiểm cho đời sống Cơ-đốc, vì họ không bao giờ đạt được sự hiểu biết bề trong bằng con đường trơ trọi của sự tự phân tích.

Lời Đức Chúa Trời không bảo chúng ta hãy xem xét tình trạng bên trong của mình.(1) Cách ấy dẫn chúng ta đến chỗ không chắc chắn, dao động và thất vọng. Dĩ nhiên chúng ta phải tự biết mình. Chúng ta phải biết những gì đang xảy ra bên trong. Chúng ta không muốn sống trong “vườn địa đàng của một kẻ ngốc”, hoàn toàn sai lầm mà không biết mình sai lầm, sống theo một ý muốn khắc khổ mà tưởng mình đang theo đuổi ý muốn của Đức Chúa Trời. Nhưng sự tự nhận biết như vậy không đến do chúng ta nội hướng, do phân tích cảm giác, động cơ và mọi sự diễn tiến bên trong, và rồi cố gắng tuyên bố mình bước đi trong xác thịt hay trong Linh.

Có một vài phân đoạn trong Thi-thiên soi sáng cho đề tài này. Trước hết là Thi-thiên 36:9: “Trong ánh sáng Chúa chúng tôi thấy sự sáng”. Tôi nghĩ đây là một trong những câu hay nhất trong Cựu Ước. Ở đây có hai sự sáng. Có “ánh sáng Chúa” và sau đó, khi chúng ta bước vào trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ “thấy sự sáng”.

Hai ánh sáng ấy khác nhau. Chúng ta có thể nói ánh sáng thứ nhất thì khách quan và ánh sáng thứ hai thì chủ quan. Ánh sáng thứ nhất là ánh sáng thuộc về Đức Chúa Trời nhưng chiếu sáng trên chúng ta; ánh sáng thứ hai là sự hiểu biết do ánh sáng trước truyền đạt. “Trong ánh sáng Chúa chúng tôi thấy sự sáng”: chúng ta sẽ biết một điều gì đó, chúng ta sẽ sáng tỏ về một điều gì đó, chúng ta sẽ thấy. Không có sự quay vào bên trong, không một sự tự xem xét có tính cách nội hướng nào từng đem chúng ta đến chỗ sáng tỏ như vậy. Không, khi có ánh sáng từ Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ thấy. Tôi nghĩ điều này thật đơn giản. Nếu chúng ta muốn biết chắc mình rằng mặt mình sạch, thì chúng ta làm gì? Chúng ta có tự dò xét khắp mặt bằng đôi tay mình không? Không, dĩ nhiên là không. Chúng ta tìm một tấm gương và đem ra ánh sáng. Trong ánh sáng ấy, mọi sự trở nên sáng tỏ. Bằng cách dò xét hay phân tích, không khi nào chúng ta thấy gì cả. Chúng ta sẽ thấy chỉ nhờ sự sáng của Đức Chúa Trời chiếu vào trong; một khi ánh sáng đã đến, không còn cần phải hỏi điều này đúng hay sai nữa. Khi ấy chúng ta biết.

Anh em hãy nhớ lại thế nào trong Thi-thiên 139:23, tác giả nói: “Đức Chúa Trời ôi, xin hãy dò xét tôi, và biết lòng tôi”. Anh em đã biết “xin hãy dò xét tôi” có nghĩa là gì rồi phải không? Chắc chắn đó không có nghĩa là tôi tự dò xét mình. “Xin hãy dò xét tôi” có nghĩa là “Ngài dò xét tôi!” Đó là cách soi sáng. Đức Chúa Trời là Đấng bước vào và dò xét, đó không phải là việc của tôi. Dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là tôi cứ tiến tới cách mù lòa, bất kể thực trạng của mình thế nào. Đó không phải là điểm tôi muốn nói. Vấn đề là dầu tôi có tự dò xét mình để có thể bày tỏ trong tôi biết bao nhiêu điều cần phải sửa đổi đi nữa, thì sự dò xét như vậy không bao giờ thật sự sâu xa. Thật sự nhận biết chính mình là điều không đến do tôi tự dò xét mình, nhưng đến từ Đức Chúa Trời là Đấng dò xét tôi.

Nhưng anh em hỏi, trên thực tế, việc chúng ta bước vào trong ánh sáng này có ý nghĩa gì? Điều này hành động như thế nào? Làm thế nào chúng ta thấy sự sáng trong ánh sáng Ngài? Tại đây một lần nữa tác giả Thi-thiên đến giúp đỡ chúng ta: “Sự giải bày lời Chúa soi sáng cho, ban sự thông hiểu cho người đơn sơ” (Thi. 119:130 A.V). Trong những điều thuộc linh, chúng ta đều “đơn sơ”. Chúng ta nhờ cậy Đức Chúa Trời ban sự thông hiểu cho mình, đặc biệt trong vấn đề bản chất thật của mình. Ở đây cho thấy Lời của Đức Chúa Trời hành động. Trong Tân Ước, phân đoạn trình bày điều này rõ ràng nhất là Thư gửi cho người Hê-bơ-rơ: “Lời Đức Chúa Trời là lời sống, linh động, sắc hơn mọi gươm hai lưỡi, đâm thấu đến đỗi chia hồn, linh, khớp, tủy, biện biệt tư tưởng và ý định của lòng. Chẳng có vật thọ tạo nào không được tỏ ra trước mặt Ngài, nhưng thảy đều trần trụi và mở ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải khai trình” (Hê. 4:12, 13). Vâng, đó là Lời Đức Chúa Trời, Lời của lẽ thật xuyên thấu, giải quyết mọi vấn đề của chúng ta. Lời ấy biện biệt động cơ, và làm sáng tỏ cho chúng ta thấy nguồn gốc thật của những động cơ ấy là hồn hay linh.

Với điều này tôi thiết nghĩ chúng ta có thể chuyển từ phương diện giáo lý sang phương diện thực tế của sự việc. Tôi chắc rằng nhiều người trong chúng ta đang sống rất thành thật trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta đang tiến bộ và không biết có điều gì sai lầm lớn nơi mình. Rồi một ngày kia, đang khi tiến lên, chúng ta thấy lời Ngài ứng nghiệm: “Sự giải bày lời Chúa soi sáng cho”. Một đầy tớ nào đó của Đức Chúa Trời đã được Ngài sử dụng để đối đầu với chúng ta bằng Lời sống động của Ngài, và Lời ấy mở lối vào trong chúng ta. Hay có lẽ lâu nay chính chúng ta chờ đợi trước mặt Đức Chúa Trời và từ những phần Kinh-thánh chúng ta ghi nhớ hay đọc từ một trang Kinh-thánh. Lời đã đến với chúng ta trong quyền năng. Khi ấy, chúng ta thấy một điều gì đó mà trước đây mình chưa từng thấy. Chúng ta bị cáo trách. Biết mình sai lầm ở đâu, chúng ta nhìn lên, và thú nhận: “Chúa ôi, con thấy rồi. Ở đây có một sự không thuần khiết. Có một sự pha trộn. Con mù lòa biết bao! Thật kỳ lạ, suốt nhiều năm con sai lầm như vậy mà không hề biết!” Ánh sáng đến và chúng ta thấy sự sáng. Ánh sáng của Đức Chúa Trời đem chúng ta đến chỗ thấy sự sáng liên quan đến chính mình, mọi sự nhận biết bản ngã đều đến với chúng ta theo cách ấy, đó là một nguyên tắc bất di dịch.

Có thể không phải luôn luôn là nhờ Kinh-thánh. Một vài người trong chúng ta từng biết các thánh đồ là những người thật sự biết Chúa, do cầu nguyện chung hay trò chuyện với họ, trong ánh sáng của Đức Chúa Trời chiếu rọi từ họ, chúng ta thấy một điều gì đó mà mình chưa bao giờ thấy trước đây. Tôi đã gặp một người như vậy, là người hiện đã về với Chúa. Tôi luôn luôn nghĩ chị ấy là một Cơ-đốc-nhân “được chiếu sáng”. Chỉ cần bước vào phòng chị, tôi liền có cảm nhận về Đức Chúa Trời. Trong giai đoạn ấy, tôi còn rất trẻ và vừa hoán cải được chừng hai năm. Khi ấy tôi có rất nhiều chương trình, nhiều tư tưởng đẹp đẽ và nhiều kế hoạch để Chúa tán thành, một trăm lẻ một điều mà tôi nghĩ sẽ rất kỳ diệu nếu tất cả được hoàn thành mỹ mãn. Tôi đem mọi điều này đến với chị để cố gắng thuyết phục chị rằng đây là những điều phải làm.

Trước khi tôi mở miệng, chị chỉ nói vài lời rất bình thường. Ánh sáng đã lóe lên! Những lời ấy làm cho tôi xấu hổ. “Việc làm” và kế hoạch của tôi đều quá thiên nhiên, quá đầy dẫy những điều thuộc con người. Một điều gì đó đã xảy ra. Tôi được đem đến chỗ phải nói rằng: “Chúa ôi, tâm trí con chỉ đặt trên những hoạt động thuộc về loài thọ tạo, nhưng tại đây có một người chẳng theo đuổi chúng chút nào. Xin dạy con đi đường ấy”. Chị chỉ có một động cơ, một ao ước vì Đức Chúa Trời. Chị viết những lời này ở trước quyển Kinh-thánh của mình: “Chúa ôi, con không muốn điều gì cho chính mình”. Vâng, chị chỉ sống cho một mình Đức Chúa Trời, và ở đâu có tình trạng ấy, anh em sẽ thấy một người như vậy tắm trong ánh sáng, và ánh sáng ấy chiếu rọi những người khác. Đó là chứng cớ thật. (2)

Ánh sáng có một luật: nó chiếu sáng bất cứ nơi nào chấp nhận nó. Đó là điều kiện duy nhất. Chúng ta có thể đóng kín chính mình lại, không cho ánh sáng vào. Ánh sáng không sợ điều gì khác. Nếu chúng ta mở toang chính mình ra cho Đức Chúa Trời, Ngài sẽ khải thị cho chúng ta. Nan đề xuất hiện khi chúng ta có những khu vực khép kín, những nơi khóa lại và cài then trong lòng mình, là những chỗ chúng ta kiêu hãnh nghĩ rằng mình đúng. Chúng ta bị đánh bại ở chỗ không biết mình sai lầm nhiều hơn ở chỗ chúng ta sai lầm. Sai lầm có thể là vấn đề năng lực thiên nhiên, không nhận biết điều đó là vấn đề thiếu ánh sáng. Anh em có thể thấy năng lực thiên nhiên nơi một người nào đó, nhưng họ không thể tự thấy điều đó. Ô, chúng ta cần thành thật và khiêm nhường, mở chính mình ra trước mặt Đức Chúa Trời! Những ai mở chính mình ra có thể thấy được. Đức Chúa Trời là sự sáng, chúng ta không thể sống trong sự sáng của Ngài mà không hiểu biết. Chúng ta hãy cùng lặp lại với tác giả Thi-thiên: “Cầu Chúa phát ánh sáng và sự chân thật của Chúa ra: Chúng sẽ dẫn dắt tôi” (Thi. 43:3).

Chúng ta ngợi khen Đức Chúa Trời vì ngày nay nan đề tội được các Cơ-đốc-nhân lưu ý nhiều hơn từ trước đến nay. Tại nhiều nơi, mắt các Cơ-đốc-nhân được mở ra thấy rằng sự đắc thắng tội là vấn đề quan trọng trong đời sống mình, nên kết quả là nhiều người bước đi gần gũi hơn với Chúa trong khi tìm kiếm sự giải cứu khỏi tội. Ngợi khen Chúa về bất cứ chuyển động nào hướng về chính Ngài, bất cứ chuyển động nào quay trở lại sự thánh khiết thật cho Đức Chúa Trời! Nhưng như vậy chưa đủ. Có một điều phải được đụng đến, đó chính là sự sống của con người, chứ không chỉ là vấn đề tội lỗi của họ. Nan đề về năng lực hồn người, sức mạnh chi phối họ mới là trọng tâm mọi sự. Cái gì cũng kể là tội, ngay cả cho là thuộc xác thịt với những biểu lộ hiển nhiên của nó, thì vẫn còn là cạn cợt bề ngoài. Anh em vẫn chưa đụng đến gốc rễ của vấn đề.

A-đam không cho phép tội lỗi vào trong thế gian bằng cách phạm tội giết người. Điều đó đến sau. A-đam cho phép tội lỗi bước vào bằng cách để cho hồn mình phát triển đến chỗ ông có thể tự sống, tách rời khỏi Đức Chúa Trời. Vì vậy, khi Đức Chúa Trời chiếm hữu được dòng giống loài người ấy cho vinh quang của Ngài tức những người sẽ là công cụ để hoàn thành mục đích Ngài trong vũ trụ, họ sẽ là một dân có sự sống nương cậy Ngài, phải, họ nương cậy Ngài từng hơi thở. Ngài sẽ là “cây sự sống” cho họ.

Nhu cầu tôi càng ngày càng cảm thấy chính mình cần, và tôi tin là tất cả chúng ta, là con cái Ngài, đều cần ấy là tìm kiếm từ Đức Chúa Trời một sự khải thị thật sự về chính mình. Tôi xin nhắc lại tôi không có ý nói chúng ta cứ mãi nhìn vào bên trong và hỏi: “Điều này là hồn hay linh đây?” Việc đó sẽ không đưa chúng ta đến đâu cả, mà chỉ là tối tăm. Không, Kinh-thánh cho chúng ta thấy cách các thánh đồ được đem đến chỗ nhận biết mình. Luôn luôn là bởi ánh sáng từ Đức Chúa Trời, và ánh sáng ấy là chính Đức Chúa Trời. Ê-sai, Ê-xê-chi-ên, Đa-ni-ên, Phi-e-rơ, Giăng, tất cả đều nhận biết chính mình vì Chúa chiếu sáng chính Ngài trên họ, và ánh sáng ấy đem đến sự khải thị và sự cáo trách (Ês. 6:5; Êxc. 1:28; Đa. 10:8, Lu. 22:61, 62; Công. 9:3-5; Khải. 1:17).

Không bao giờ chúng ta có thể biết sự đáng ghét của tội hoặc sự xảo quyệt của bản chất mình cho đến khi Đức Chúa Trời chiếu sáng trên chúng ta. Tôi không nói về một cảm giác nhưng về sự khải thị của chính Chúa ở bề trong qua Lời Ngài. Một sự xuyên phá như vậy của ánh sáng thần thượng thực hiện cho chúng ta điều mà giáo lý suông không bao giờ có thể làm được.

Đấng Christ là ánh sáng của chúng ta, và Ngài là Lời hằng sống. Khi chúng ta đọc Kinh-thánh, sự sống trong Ngài đem đến sự khải thị. “Sự sống là sự sáng của loài người” (Gi. 1:4). Một sự soi sáng như vậy có thể không đến với chúng ta ngay lập tức, nhưng dần dần, và càng ngày sẽ càng sáng tỏ và dò xét nhiều hơn, cho đến khi chúng ta thấy mình trong ánh sáng của Đức Chúa Trời và mọi sự tự tin sẽ ra đi. Vì ánh sáng là điều thuần khiết nhất trên thế giới. Ánh sáng tẩy sạch, khử trùng, giết chết những gì không nên có mặt trong chúng ta. Khi ánh sáng chiếu rọi, việc “phân chia khớp và tủy” trở nên một sự thật đối với chúng ta, chứ không còn là giáo lý nữa. Chúng ta biết thế nào là sợ sệt và run rẩy khi nhận biết sự bại hoại của bản chất mình, sự đáng ghét của bản ngã mình, sự sống và năng lực thuộc hồn chưa được thuần hóa và kiểm chế bởi Thánh Linh Ngài là một mối đe dọa thật cho công tác của Đức Chúa Trời. Chưa bao giờ như hiện nay, chúng ta thấy mình cần được Đức Chúa Trời xử lý triệt để biết bao nếu Ngài phải dùng chúng ta, và chúng ta biết rằng là những đầy tớ của Ngài, nếu lìa khỏi quyền cai trị của Ngài, chúng ta không còn làm gì được.

Nhưng ở đây, Thập tự giá trong ý nghĩa rộng lớn nhất, lại đến giúp chúng ta, và bây giờ chúng ta sẽ tìm cách xem xét một phương diện của công tác Thập tự giá, là phương diện đáp ứng và giải quyết các nan đề của hồn người. Vì chỉ có sự hiểu biết thấu đáo về Thập tự giá mới có thể đem chúng ta đến chỗ lệ thuộc mà chính Chúa Giê-su đã tự nguyện nhận lấy khi Ngài phán: “Ta không thể tự mình làm gì được, Ta nghe thể nào thì xét đoán thể ấy: và sự xét đoán của Ta là công bình, vì Ta không tìm ý chỉ của chính mình, nhưng tìm ý chỉ của Đấng đã sai Ta” (Gi. 5:30).

(1) Có hai trường hợp ngoại lệ hiển nhiên về điều này được tìm thấy trong 1 Cô-rin-tô 11:28, 31 và 2 Cô-rin-tô 13:5. Nhưng câu Kinh-thánh trước kêu gọi chúng ta tự xét đoán về việc mình có nhận biết thân Chúa hay không, điều này đặc biệt liên quan đến bàn của Chúa. Không liên quan đến sự tự nhận biết mình như vậy. Mạng lệnh mạnh mẽ của Phao-lô trong câu Kinh-thánh sau là hãy xét xem chính chúng ta có “ở trong đức tin” không. Đó là vấn đề trong chúng ta có một đức tin cơ bản không, tức là thật ra chúng ta có phải là Cơ-đốc-nhân hay không. Điều này không hề liên quan đến bước đi của chúng ta hằng ngày trong Linh, hay sự tự nhận biết mình. – W.N.

(2) Đây là người tác giả đã vài lần nhắc đến, Cô Margaret E. Barber quá cố, ở Pagoda Anchorage (?), tại Phúc-châu. Xin xem các trang [70, 176, 189, 196]. – A.K.