Thông tin sách

Nếp Sống Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nếp sống Cơ đốc bình thường
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 11

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI MỘT

MỘT THÂN THỂ TRONG ĐẤNG CHRIST

Trước khi bước sang vẫn đề quan trọng sau cùng, chúng ta sẽ ôn lại phần nào những lãnh vực đã được bàn đến và tóm tắt những bước đã đi qua. Chúng ta đã tìm cách đơn giản hóa mọi điều và giải thích rõ ràng một số kinh nghiệm các Cơ-đốc-nhân thường trải qua. Nhưng rõ ràng có nhiều điều mới mẻ chúng ta đã khám phá khi bước đi với Chúa, và chúng ta phải cẩn thận tránh bị cám dỗ đơn giản hóa những công tác của Đức Chúa Trời cách quá đáng. Làm như vậy có thể dẫn chúng ta sa vào những rối rắm nghiêm trọng.

Có những con cái của Đức Chúa Trời tin rằng toàn bộ sự cứu rỗi của chúng ta, trong đó bao hàm vấn đề sống một đời sống thánh khiết, đều nằm trong việc đánh giá cao giá trị của Huyết báu. Họ nhấn mạnh một cách đúng đắn tầm quan trọng của việc xưng tội ngay với Đức Chúa Trời về những tội lỗi cụ thể mà chúng ta biết được, và hiệu lực liên tục của Huyết để giải quyết những tội đã vi phạm, nhưng họ nghĩ về Huyết như thể Huyết giải quyết mọi sự. Họ tin vào một sự thánh khiết thật ra chỉ có nghĩa là phân rẽ một người khỏi quá khứ, và nhờ sự bôi xóa kịp thời những gì người ấy đã làm trên nền tảng Huyết đã đổ ra, Đức Chúa Trời phân rẽ con người khỏi thế gian để họ thuộc về Ngài, đó là sự thánh khiết, và họ dừng lại tại đó. Vì vậy, họ thiếu hụt những đòi hỏi cơ bản của Đức Chúa Trời, do đó thiếu hụt sự cung ứng đầy đủ mà Ngài ban cho. Tôi thiết nghĩ bây giờ chúng ta đã thấy rõ sự thiếu hụt này.

Kế đến, có những người đi xa hơn và thấy rằng Đức Chúa Trời đã bao hàm họ trong sự chết của Con Ngài trên Thập tự giá, để giải cứu họ khỏi tội và Luật Pháp bằng cách xử lý con người cũ. Đây là những người thật sự vận dụng đức tin trong Chúa, vì họ khoe khoang trong Christ Giê-su và không tin cậy xác thịt (Phil. 3:3). Trong họ, Đức Chúa Trời có một nền tảng rõ ràng để xây dựng. Từ khởi điểm này, nhiều người còn tiến xa hơn nữa và nhận biết rằng sự dâng mình (từ ngữ này được sử dụng trong ý nghĩa đích thật nhất) có nghĩa là không giữ lại chút nào, nhưng dâng chính mình vào trong tay Ngài và đi theo Ngài trong mọi sự. Tất cả những điều này chỉ là các bước đầu. Từ đó, chúng ta đã bàn đến những giai đoạn kinh nghiệm khác mà Đức Chúa Trời đã đặt trước mặt chúng ta và nhiều người đã vui hưởng. Điều quan trọng là chúng ta luôn luôn nhớ rằng trong khi mỗi giai đoạn kinh nghiệm là một phần quí báu của lẽ thật, nhưng không một giai đoạn kinh nghiệm nào tự nó là toàn bộ lẽ thật. Tất cả đều đến với chúng ta như bông trái của công tác Đấng Christ trên Thập tự giá, chúng ta không thể bỏ qua một phần nào cả.

MỘT CÁI CỔNG VÀ MỘT CON ĐƯỜNG

Nhận biết nhiều giai đoạn trong số những giai đoạn này trong đời sống và kinh nghiệm của một tín đồ, bây giờ chúng ta lưu ý một sự thật sâu xa hơn, tức là dầu những giai đoạn này không nhất thiết luôn luôn xảy ra theo một thứ tự cố định và chính xác, nhưng dường như chúng được đánh dấu bằng những bước hay những đặc tính được lặp đi lặp lại. Những bước này là gì? Trước hết có sự khải thị. Như chúng ta đã thấy, sự khải thị luôn luôn đi trước đức tin và kinh nghiệm. Qua Lời Ngài, Đức Chúa Trời mở mắt chúng ta để thấy lẽ thật của một sự kiện nào đó liên quan đến Con Ngài, và chỉ khi ấy, trong đức tin, chúng ta chấp nhận sự kiện này cho chính mình, thì nó mới trở nên thực tại trong kinh nghiệm của đời sống chúng ta. Như vậy, chúng ta có:

1) Khải thị (khách quan)

2) Kinh nghiệm (chủ quan)

Sau đó, chúng ta lưu ý thấy một kinh nghiệm như vậy thường mang hình thức hai mặt của một thời điểm quyết định dẫn đến một tiến trình liên tục. Chúng ta được ích lợi nhất khi suy nghĩ về điều này theo những từ ngữ của John Bunyan: “cái cổng nhỏ”, qua đó, Cơ-đốc-nhân bước vào “con đường hẹp”. Chúa Giê-su nói về một cánh cổng như vậy và một con đường dẫn đến sự sống (Mat. 7:14), và kinh nghiệm phù hợp với điều này. Như vậy, bây giờ chúng ta có:

1) Khải thị

2) Kinh nghiệm: (a) Cổng nhỏ (một thời điểm quyết định)

(b) Đường hẹp (một tiến trình)

Bây giờ chúng ta hãy xét một vài vấn đề đã được bàn đến để xem sự phân tích trên giúp chúng ta hiểu những vấn đề ấy như thế nào. Trước hết chúng ta sẽ xem xét sự xưng công chính và sự tái sinh. Điều này bắt đầu bằng một khải thị về Chúa Giê-su trong công tác cứu chuộc của Ngài vì tội lỗi chúng ta trên Thập tự giá. Tiếp theo là thời điểm quyết định của sự ăn năn và đức tin (cổng nhỏ), nhờ đó chúng ta bắt đầu “đến gần” Đức Chúa Trời (Êph. 2:13), và điều này dẫn chúng ta bước đi trong mối tương giao được duy trì với Ngài (đường hẹp), vì mối tương giao ấy, hằng ngày chúng ta đến gần Ngài vẫn nhờ nền tảng là Huyết quí báu (Hê. 10:19, 22). Khi xét đến với sự giải cứu khỏi tội, một lần nữa chúng ta lại có ba bước: công tác khải thị của Thánh Linh, hay sự “nhận biết" (La. 6:6), thời điểm quyết định của đức tin, hay việc “kể” (La. 6:11), và tiến trình dâng mình liên tục, hay “dâng chính mình” cho Đức Chúa Trời (La. 6:13) trên nền tảng bước đi trong sự tươi mới của sự sống. Tiếp theo chúng ta xem xét sự ban cho Thánh Linh. Điều này cũng bắt đầu bằng một sự “nhìn thấy” mới mẻ về Chúa Giê-su được tôn cao trên ngai, đưa đến kết quả là kinh nghiệm hai mặt về Linh đổ ra và Linh cư ngụ bên trong. Tiến thêm một giai đoạn nữa, đến vấn đề làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, chúng ta lại thấy nhu cầu cần sự soi sáng thuộc linh, để chúng ta có thể thấy những giá trị của Thập tự giá liên quan đến “xác thịt”, tức là toàn bộ sự sống bản ngã của con người. Sự việc chúng ta chấp nhận điều này bởi đức tin ngay lập tức dẫn đến kinh nghiệm về “cổng nhỏ” (La. 7:25), trong đó, chúng ta bắt đầu ngưng “hành động” và bởi đức tin chấp nhận công tác quyền năng của sự sống Đấng Christ để làm thỏa mãn những đòi hỏi thực tế của Đức Chúa Trời trong chúng ta. Kế đến điều này dẫn chúng ta vào “đường hẹp” của bước đi vâng phục Linh (La. 8:4).

Bức tranh này không đồng nhất trong mỗi trường hợp, chúng ta phải coi chừng đừng áp đặt một kiểu mẫu cứng ngắc nào trên sự hành động của Thánh Linh, nhưng có lẽ tất cả những kinh nghiệm mới mẻ sẽ ít nhiều đến với chúng ta theo chiều hướng này. Trước hết, chắc chắn chúng ta sẽ luôn luôn được mở mắt về một phương diện mới mẻ nào đó về Đấng Christ và công tác đã hoàn thành của Ngài, sau đó đức tin sẽ mở ra một cánh cửa vào con đường hẹp. Xin cũng nhớ rằng việc phân chia kinh nghiệm Cơ-đốc-nhân thành những đề tài khác nhau như sự xưng công chính, sự tân sinh, sự ban cho Thánh Linh, sự giải cứu, sự thánh hóa, v.v... chỉ là để giúp chúng ta hiểu rõ hơn mà thôi. Sự phân chia này không có nghĩa là những giai đoạn này phải hay sẽ luôn luôn nối tiếp nhau theo thứ tự được mô tả. Thật ra, mặc dầu mãi về sau mới có sự giải thích đầy đủ về đời sống Cơ-đốc-nhân, tuy nhiên nếu ngay từ đầu chúng ta được trình bày đầy đủ về Đấng Christ và Thập tự giá của Ngài, chúng ta có thể bước vào nhiều kinh nghiệm của đời sống Cơ-đốc-nhân cách tốt đẹp. Ước gì Phúc-âm luôn luôn được rao giảng như vậy!

Có một điều chắc chắn là khải thị luôn luôn đi trước đức tin. Thấy và tin là hai nguyên tắc chi phối đời sống Cơ-đốc-nhân. Khi thấy một điều gì Đức Chúa Trời đã làm trong Đấng Christ, tự nhiên chúng ta sẽ đáp lại: “Cảm tạ Chúa!” và đức tin tự phát theo sau. Sự khải thị luôn luôn là công tác của Thánh Linh, là Đấng được ban cho để dẫn dắt chúng ta vào mọi lẽ thật (Gi. 16:13) bằng cách đến bên chúng ta và mở Kinh-thánh ra cho chúng ta. Hãy nhờ cậy Ngài, vì Ngài là Đấng ở đây để làm chính việc đó; khi anh em gặp những khó khăn chẳng hạn như thiếu hiểu biết hay thiếu đức tin, hãy trực tiếp trình bày những nan đề đó với Chúa: “Chúa ôi, xin mở mắt con. Chúa ôi, xin làm cho điều mới mẻ này trở nên rõ ràng đối với con. Chúa ôi, xin giúp cho sự không tin của con!” Ngài sẽ chẳng bỏ những lời cầu nguyện ấy ngoài tai.

CÔNG TÁC BỐN PHƯƠNG DIỆN CỦA ĐẤNG CHRIST TRÊN THẬP TỰ GIÁ

Bây giờ chúng ta đang ở vị trí cần phải tiến thêm một bước xa hơn để xem xét phạm vi rộng lớn của Thập tự giá của Chúa Giê-su là thế nào. Trong ánh sáng của kinh nghiệm Cơ-đốc-nhân và để phân tích, chúng ta sẽ được ích lợi nếu nhận biết bốn phương diện trong công tác cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Nhưng trong khi nhận biết bốn phương diện này, chúng ta cần ghi nhớ Thập tự giá của Đấng Christ là một công tác thần thượng, chứ không phải là nhiều công tác. Cách đây hai ngàn năm tại Giu-đê, Chúa Giê-su đã một lần chết và sống lại, bây giờ Ngài “được tôn lên bên hữu Đức Chúa Trời” (Công. 2:33). Công tác đã hoàn tất và không bao giờ cần phải lặp lại, cũng không thể thêm gì vào.

Trong bốn phương diện của Thập tự giá mà bây giờ sẽ đề cập, chúng ta đã bàn đến ba phương diện trong một số chi tiết. Phương diện cuối cùng sẽ được xem xét trong hai chương tiếp theo phần nghiên cứu của chúng ta. Bốn phương diện ấy có thể được tóm tắt cách ngắn gọn như sau:

1) Huyết của Đấng Christ để xử lý tội lỗi và mặc cảm tội lỗi.

2) Thập Tự Giá của Đấng Christ xử lý tội, xác thịt và con người thiên nhiên.

3) Sự Sống của Đấng Christ đã trở nên sẵn sàng để cư ngụ bên trong, tái tạo, và ban quyền năng cho con người.

4) Sự Chết Hành Động trong con người thiên nhiên để Sự Sống cư ngụ bên trong có thể ngày càng bày tỏ ra nhiều hơn.

Hai phương diện đầu có tính cách cứu chữa, liên quan đến việc phá hủy công tác của Ma quỉ và tội của con người. Hai phương diện sau không phải cứu chữa, mà có tính cách tích cực, liên quan trực tiếp hơn đến việc đạt đến mục đích của Đức Chúa Trời. Hai phương diện đầu liên quan đến việc phục hồi những gì A-đam đánh mất do sự Sa Ngã; hai phương diện sau liên quan đến việc đem chúng ta vào và đem vào trong chúng ta những gì A-đam chưa bao giờ có. Như vậy, chúng ta thấy thành tựu của Chúa Giê-su trong sự chết và sự phục sinh của Ngài bao gồm cả công tác đã được cung ứng để cứu chuộc con người lẫn công tác làm cho mục đích của Đức Chúa Trời trở thành hiện thực.

Trong những chương đầu, chúng ta đã bàn khá nhiều về hai phương diện của sự chết Ngài được tượng trưng bởi Huyết dành cho tội lỗi và mặc cảm phạm tội còn Thập tự giá dành cho tội và xác thịt. Trong phần thảo luận về mục đích đời đời, chúng ta cũng đã nhìn qua giai đoạn thứ ba, được tượng trưng bởi hình ảnh Đấng Christ là hạt lúa mì, và chúng ta cũng đã thấy một điều gì đó về sự hành động thực tế bên ngoài của phương diện này trong chương cuối khi xem xét Đấng Christ là sự sống của mình. Tuy nhiên, trước khi chuyển sang giai đoạn thứ tư, mà tôi sẽ gọi là giai đoạn “vác Thập tự giá”, chúng ta cần phải nói thêm một ít về giai đoạn thứ ba này, tức là sự giải phóng sự sống phục sinh trong Đấng Christ để ngự bên trong con người và ban quyền năng cho con người phục vụ.

Chúng ta đã nói về mục đích của Đức Chúa Trời trong cõi sáng tạo và đã nói rằng sự sáng tạo của Ngài chứa đựng nhiều điều vượt xa những gì A-đam từng vui hưởng. Mục đích ấy là gì? Đức Chúa Trời muốn có một dòng giống loài người mà các phần tử của dòng dõi ấy được ban cho một linh để nhờ đó họ có thể tương giao với chính Ngài, là Linh. Sở hữu sự sống của Đức Chúa Trời, dòng giống ấy phải hợp tác trong việc đạt đến cùng đích của Ngài bằng cách đánh bại mọi sự nổi dậy của kẻ thù và phá hủy các công việc ác của hắn. Đó là một kế hoạch lớn lao. Bây giờ điều đó được thực hiện như thế nào? Một lần nữa, câu trả lời được tìm thấy trong sự chết của Chúa Giê-su. Đó là một sự chết quyền năng, vừa tích cực vừa có mục đích, vượt xa hơn việc khôi phục địa vị đã đánh mất; vì nhờ đó, không những tội và con người cũ bị xử lý và những tác động của nó bị hủy bỏ, nhưng còn hơn thế nữa, một điều gì đó lớn lao hơn, vượt trổi hơn được đưa vào.

TÌNH YÊU CỦA ĐẤNG CHRIST

Bây giờ chúng ta có hai phân đoạn trong Lời Chúa, đó là Sáng-thế Ký chương 2 và Ê-phê-sô chương 5. Chúng ta sẽ xem xét hai phân đoạn này chung với nhau, và đây là hai phân đoạn vô cùng quan trọng bàn về điểm này.

“Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm cho A-đam ngủ mê, và lấy một xương sườn, rồi lấp thịt thế vào. Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng xương sườn đã lấy nơi A-đam làm nên một người nữ, đưa đến cùng A-đam. A-đam nói rằng: Người này là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người này sẽ được gọi là người nữ, vì được lấy ra từ người nam” (Sáng. 2:21-23).

“Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình, thậm chí như Đấng Christ đã yêu hội-thánh, và đã phó chính mình Ngài vì hội-thánh, để Ngài có thể thánh hóa hội-thánh, tẩy sạch hội-thánh bằng sự rửa sạch của nước trong lời để Ngài có thể trình diện cho chính mình Ngài hội-thánh vinh hiển, không tì vết, không nếp nhăn, hoặc không có bất cứ điều gì như vậy, nhưng thánh khiết và không chỗ trách được” (Êph. 5:25-27).

Ê-phê-sô chương 5 là chương duy nhất trong Kinh-thánh giải nghĩa phân đoạn trong Sáng-thế Ký chương 2. Nếu suy gẫm Ê-phê-sô, chúng ta sẽ thấy những gì đã được trình bày thật là độc đáo. Tôi muốn nói đến những gì chứa đựng trong nhóm chữ này: “Đấng Christ... yêu hội-thánh”. Có một điều gì đó vô cùng quí báu tại đây.

Chúng ta đã được dạy dỗ suy nghĩ về mình là những tội nhân cần được cứu chuộc. Trải qua nhiều thế hệ, điều đó đã thấm nhuần trong chúng ta, và chúng ta ngợi khen Chúa vì đó là khởi điểm của mình nhưng đó không phải là những gì Đức Chúa Trời nhìn thấy như cùng đích của Ngài. Trái lại ở đây, Ngài nói về “hội-thánh vinh hiển, không tì vết, không nếp nhăn, hoặc không có điều gì như vậy, nhưng thánh khiết và không chỗ trách được”. Tất cả chúng ta thường hay nghĩ Hội-thánh chỉ là rất nhiều “tội nhân được cứu”. Đúng là như vậy, nhưng chúng ta đã làm cho các từ ngữ hầu như đồng nghĩa với nhau, như thể chỉ là như vậy, nhưng không phải vậy đâu. Những tội nhân được cứu, với nhóm chữ này, anh em có toàn bộ bối cảnh của tội lỗi và sự Sa Ngã; nhưng theo mắt Đức Chúa Trời, Hội-thánh là một tạo vật thần thượng trong Con Ngài. Một điều thì rất cá nhân, còn điều kia là tập thể. Với điều này, có cái nhìn tiêu cực, thuộc về quá khứ, với điều kia là cái nhìn tích cực, hướng lên phía trước. “Mục đích đời đời” là một điều gì đó nằm trong tâm trí Đức Chúa Trời từ cõi đời đời về Con Ngài, mục đích ấy có mục tiêu là Con cần có một Thân Thể để bày tỏ sự sống của Ngài. Nhìn từ quan điểm đó – từ quan điểm của lòng Đức Chúa Trời – Hội-thánh là một điều gì vượt lên trên tội và chưa bao giờ bị tội đụng đến.

Cho nên chúng ta thấy một phương diện về sự chết của Chúa Giê-su trong Ê-phê-sô mà những chỗ khác trong Kinh-thánh không nói rõ như vậy. Trong La Mã mọi sự được nhìn thấy từ quan điểm của con người sa ngã, bắt đầu với Đấng Christ chết cho tội nhân, kẻ thù, người bất kỉnh (La Mã chương 5), chúng ta được dẫn dắt dần dần đến “tình yêu của Đấng Christ” (La. 8:35). Trong Ê-phê-sô, một mặt, quan điểm của Đức Chúa Trời “trước khi tạo dựng thế giới” (Êph. 1:4), và trọng tâm của phúc-âm là: “Đấng Christ đã yêu hội-thánh, và đã phó chính mình Ngài vì hội-thánh” (Êph. 5:25). Như vậy, trong La Mã “chúng ta phạm tội” và sứ điệp là tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho tội nhân (La. 5:8), trong khi trong Ê-phê-sô “Đấng Christ đã yêu” và tình yêu ở đây là tình yêu của chồng dành cho vợ. Loại tình yêu ấy về cơ bản không có gì liên quan đến tội cả. Trong chương này, điều được nhìn thấy không phải là sự cứu chuộc vì tội mà là sự tạo dựng Hội-thánh, vì mục đích ấy, có Lời chép rằng Ngài “đã phó chính mình”.

Có một phương diện như vậy trong sự chết của Chúa Giê-su, là phương diện hoàn toàn tích cực và đặc biệt là vấn đề tình yêu của Ngài đối với Hội-thánh, nơi đây nan đề về tội lỗi và tội nhân không trực tiếp xuất hiện. Để làm cho điều này thật sáng tỏ, Phao-lô minh họa bằng sự kiện trong Sáng-thế Ký chương hai. Đây là một trong những điều kỳ diệu trong Lời Chúa, và nếu mắt chúng ta được mở ra nhìn thấy điều này, chắc chắn lòng chúng ta sẽ thờ phượng Ngài.

Từ Sáng-thế Ký chương 3 trở đi, từ “những chiếc áo khoát bằng da thú” cho đến sinh tế của A-bên, và từ đó cho đến suốt cả Cựu Ước, có nhiều biểu tượng trình bày sự chết của Chúa Giê-su như là sự cứu chuộc tội lỗi; tuy nhiên ở đây vị sứ đồ không hướng chúng ta đến một biểu tượng nào về sự chết của Ngài, mà nhắc đến biểu tượng này trong Sáng-thế Ký chương 2. Xin chúng ta hãy lưu ý điều ấy, và nhớ lại rằng mãi cho đến Sáng-thế Ký chương 3, tội mới bước vào. Có một biểu tượng về sự chết của Đấng Christ trong Cựu Ước không liên quan gì đến tội, vì không theo sau sự Sa Ngã nhưng ở trước biến cố đó, và biểu tượng ấy ở trong Sáng-thế Ký chương 2. Chúng ta hãy để ít thì giờ xem xét biểu tượng ấy.

Chúng ta có thể nói rằng A-đam được làm cho ngủ mê vì Ê-va đã phạm một tội trọng không? Ở đây có ý nói như vậy không? Chắc chắn là không vì Ê-va chưa được dựng nên. Chưa có những vấn đề đạo đức và chưa có nan đề nào liên quan ở đây cả. Không, A-đam được làm cho ngủ mê vì mục đích rõ ràng là để một điều nào đó được lấy ra từ ông hầu hình thành một con người khác. Giấc ngủ của ông không vì tội của bà, nhưng để bà hiện hữu. Đó là những gì được dạy dỗ trong các câu Kinh-thánh này. Mục đích A-đam kinh nghiệm điều này là để Ê-va được dựng nên, đó là một điều đã được quyết định trong kế hoạch thần thượng. Đức Chúa Trời muốn có một người nữ. Ngài làm cho người nam ngủ đi, lấy một cái xương sườn từ hông ông và làm thành một người nữ, rồi đem đến cho người nam. Đó là bức tranh Đức Chúa Trời ban cho chúng ta. Điều ấy báo trước một phương diện trong sự chết của Chúa Giê-su mà chính yếu không phải vì sự cứu chuộc, nhưng có thể giải đáp được ý nghĩa giấc ngủ của A-đam trong chương này.

Đức Chúa Trời không cho phép tôi có ý tưởng là Chúa Giê-su không chết vì mục đích cứu chuộc. Ngợi khen Đức Chúa Trời, Ngài chết vì mục đích cứu chuộc. Chúng ta phải nhớ rằng ngày nay mình thật sự ở trong Ê-phê-sô chương 5 chứ không trong Sáng-thế Ký chương 2. Thư Ê-phê-sô được viết ra sau sự Sa Ngã, cho những con người đã chịu đựng hậu quả của nó, và trong Thư ấy chúng ta không chỉ có mục đích trong sự Sáng Tạo mà còn có những tì vết của sự Sa Ngã, vì nếu không thì chẳng cần đề cập đến “tì vết” hay là “nếp nhăn”. Vì chúng ta vẫn còn sống trên đất và sự Sa Ngã là một sự kiện lịch sử, nên sự cứu chuộc là điều cần thiết (Êph. 1:7).

Nhưng chúng ta phải luôn luôn nhìn thấy sự cứu chuộc như một điều xen vào, một biện pháp “cấp cứu” cần thiết vì một thảm họa đã xen vào trên đường thẳng tiến đến mục đích của Đức Chúa Trời. Sự cứu chuộc lớn lao đủ, kỳ diệu đủ để chiếm một chỗ rất lớn trong khải tượng của chúng ta, nhưng Đức Chúa Trời đang nói rằng chúng ta không nên làm cho sự cứu chuộc trở nên mọi sự, như thể con người được tạo dựng để được cứu chuộc. Sự Sa Ngã thật sự là một chỗ xuống dốc bi thảm trên con đường dẫn đến mục đích ấy, và sự cứu chuộc là một sự khôi phục phước hạnh nhờ đó tội lỗi của chúng ta được bôi xóa và chúng ta được phục hồi; nhưng khi sự cứu chuộc được hoàn tất, vẫn còn một công tác phải thực hiện để đem chúng ta đến chỗ sở hữu những gì A-đam chưa từng sở hữu và để cho Đức Chúa Trời có được điều mà lòng Ngài ao ước hơn hết. Vì Đức Chúa Trời không bao giờ từ bỏ mục đích được tượng trưng bởi con đường thẳng. A-đam chưa bao giờ sở hữu sự sống của Đức Chúa Trời như được biểu thị trong cây sự sống. Nhưng vì công tác duy nhất của Chúa Giê-su trong sự chết và sự phục sinh của Ngài (chúng ta lại phải nhấn mạnh rằng tất cả chỉ là một công tác), sự sống của Ngài được giải phóng ra để trở nên sự sống của chúng ta bởi đức tin, và chúng ta đã nhận được nhiều hơn những gì A-đam từng sở hữu. Chính mục đích của Đức Chúa Trời được đem đến chỗ có thể hoàn thành trong chúng ta nhờ chúng ta nhận lãnh Đấng Christ làm sự sống của mình.

A-đam đã được làm cho ngủ mê. Chúng ta nhớ Lời Chúa bảo rằng các tín đồ ngủ, thay vì nói họ chết. Vì sao? Vì bất cứ khi nào sự chết được đề cập, thì tội cũng có trong bối cảnh tại đó. Trong Sáng-thế Ký chương 3, tội bước vào trong thế gian và sự chết bước vào qua tội, nhưng giấc ngủ của A-đam đi trước điều đó. Cho nên biểu tượng về Chúa Giê-su ở đây không giống như những biểu tượng khác trong Cựu Ước. Trong mối liên quan với tội và sự cứu chuộc, có một chiên con hay một con bò đực bị giết; nhưng ở đây, A-đam không bị giết, mà chỉ được làm cho ngủ rồi thức dậy. Như vậy, ông biểu hiện trước về một sự chết không vì tội, nhưng nhắm vào sự gia tăng trong sự phục sinh. Kế đến, chúng ta cũng lưu ý thấy Ê-va không được dựng nên như một hữu thể tách rời, do một sự sáng tạo riêng biệt, song song với sự tạo dựng A-đam. A-đam ngủ, và Ê-va được tạo dựng từ A-đam. Đó là phương pháp của Đức Chúa Trời tạo nên Hội-thánh. “Con người thứ hai” của Đức Chúa Trời đã thức dậy từ “giấc ngủ” của Ngài và Hội-thánh của Ngài được tạo dựng trong Ngài và bởi Ngài, để nhận sự sống của mình từ Ngài và biểu lộ sự sống phục sinh ấy.

Đức Chúa Trời có một Con, là Con độc sinh của Ngài và Đức Chúa Trời mong mỏi Con ấy có nhiều anh em. Từ địa vị là con độc sinh, Ngài sẽ trở nên Con trưởng, và thay vì một Con, Đức Chúa Trời sẽ có nhiều con. Một hạt lúa mì đã chết và nhiều hạt sẽ nảy sinh. Hạt thứ nhất từng là hạt duy nhất, bây giờ hạt ấy đã trở nên hạt đầu tiên trong số nhiều hạt. Chúa Giê-su đã bỏ sự sống của Ngài, và sự sống ấy xuất hiện trong nhiều đời sống. Có những hình ảnh tượng trưng trong Kinh-thánh chúng ta đã dùng từ trước đến nay khi nghiên cứu để bày tỏ lẽ thật này. Bây giờ, trong biểu tượng Ê-va, số ít thế chỗ cho số nhiều. Kết quả của Thập tự giá được bày tỏ ra là một con người duy nhất: đó là Cô Dâu dành cho Con Ngài. Đấng Christ đã yêu Hội-thánh và phó chính Ngài vì Hội-thánh.

MỘT SINH TẾ SỐNG

Chúng ta đã nói rằng có một phương diện trong sự chết của Đấng Christ được trình bày cho chúng ta trong Ê-phê-sô chương 5 hơi khác với những gì chúng ta đã học tập trong Thư La Mã. Tuy nhiên, thật ra phương diện này là chính mục tiêu mà chúng ta đã nhắm đến khi học tập thư La Mã, và như chúng ta sẽ thấy, bức thư này đang dẫn chúng ta vào phương diện ấy, vì sự cứu chuộc dẫn chúng ta lại trở vào đường hướng nguyên thủy của mục đích Đức Chúa Trời.

Trong chương tám, Phao-lô nói về Đấng Christ là Con trưởng giữa nhiều “con của Đức Chúa Trời” được Linh dẫn dắt (La. 8:14). “Vì người Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định trước để được đồng hóa theo hình ảnh của Con Ngài, hầu cho Con ấy làm Con trưởng giữa nhiều anh em. Lại người Ngài đã định trước, thì Ngài cũng đã gọi, và người Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng công chính, còn người Ngài đã xưng công chính, thì Ngài cũng đã vinh hóa” (La. 8:29, 30). Ở đây, chúng ta thấy sự xưng công chính dẫn đến vinh quang, một vinh quang không được diễn tả trong một hay nhiều cá nhân, nhưng trong số nhiều: trong nhiều người là những người bày tỏ hình ảnh của Một Đấng. Như chúng ta đã thấy, mục tiêu sự cứu chuộc chúng ta được trình bày sâu xa hơn trong “tình yêu của Đấng Christ” dành cho những người thuộc về Ngài, là đề tài của những câu sau cùng trong chương này (8:35-39). Nhưng điều được ngụ ý ở đây trong chương tám được bày tỏ rõ ràng khi chúng ta sang chương 12, tức chương có chủ đề là Thân Thể của Đấng Christ.

Sau tám chương đầu của Thư La Mã chúng ta đã và đang học tập, tiếp theo là một phần trong ngoặc đơn mà trong đó những sự đối xử theo quyền tối thượng của Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên được nêu lên và bàn đến, trước khi chủ đề của những chương đầu lại được tiếp tục khai triển. Như vậy, vì mục đích hiện tại của chúng ta, những điều luận đến trong chương 12 là tiếp theo phần thảo luận của chương 8, chứ không phải chương 11. Chúng ta có thể tóm tắt những chương này một cách thật đơn giản như sau: Tội lỗi của chúng ta được tha thứ (ch. 5), chúng ta chết với Đấng Christ (ch. 6), chúng ta vô cùng bất lực bởi bản chất mình (ch. 7), vì vậy, chúng ta nương cậy Linh cư ngụ bên trong (ch. 8). Sau đó, kết quả là: “Chúng ta... là một thân thể trong Đấng Christ” (ch. 12). Dường như điều này là kết quả hợp lý của tất cả những gì đi trước, và tất cả những gì đã dẫn đến điều đó.

La Mã chương 12 và những chương tiếp theo chứa đựng vài lời hướng dẫn rất thực tế cho đời sống và bước đi của chúng ta. Một lần nữa những điều này được giới thiệu với lời nhấn mạnh về sự dâng mình. Trong 6:13, Phao-lô nói: “Hãy dâng chính mình cho Đức Chúa Trời như người từ kẻ chết sống lại, và chi thể mình cho Ngài để làm khí giới của sự công chính”. Nhưng bây giờ trong La Mã 12:1, điểm nhấn mạnh có khác đi một chút: “Vậy, anh em ơi, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời mà nài khuyên anh em hãy dâng thân thể mình làm sinh tế sống và thánh, có thể được Đức Chúa Trời chấp nhận, ấy là sự phụng sự phải lẽ của anh em”. Lời kêu gọi dâng mình mới mẻ này dành cho chúng ta là “những anh em”, liên kết chúng ta với ý tưởng về “nhiều anh em” trong 8:29. Đây là lời kêu gọi chúng ta bước vào sự liên hiệp của đức tin, được bày tỏ bằng việc dâng thân thể mình như những “sinh tế sống” cho Đức Chúa Trời.

Đây là một điều vượt phạm vi cá nhân, vì ngụ ý sự cống hiến cho một tổng thể. “Sự dâng mình” là cá nhân nhưng sinh tế là tập thể, đó chỉ là một sinh tế. Phục vụ Đức Chúa Trời bằng trí tuệ là một sự phục vụ. Chúng ta đừng bao giờ cảm thấy sự đóng góp của mình là không cần thiết, vì nếu đóng góp vào sự phục vụ ấy, thì Đức Chúa Trời thỏa lòng rồi. Qua loại phục vụ này, chúng ta thử nghiệm “ý muốn tốt lành, được chấp nhận và trọn vẹn của Đức Chúa Trời” (12:2), hay nói cách khác là nhận biết phần của mình trong mục đích đời đời của Đức Chúa Trời trong Christ Giê-su. Cho nên, Phao-lô kêu gọi “mỗi người trong anh em” (12:3) ở trong ánh sáng của sự thật thần thượng mới mẻ này, ấy là “chúng ta dầu nhiều mà vẫn một thân trong Christ, và là chi thể của nhau” (12:5), và sau đó, ông đưa ra những lời hướng dẫn thực tiễn dựa trên nền tảng này.

Chiếc bình qua đó Chúa Giê-su có thể bày tỏ chính Ngài trong thế hệ này không phải là cá nhân, nhưng là Thân Thể. Thật vậy, mỗi người có “lượng đức tin mà Đức Chúa Trời đã phân phát cho từng người” (12:3), nhưng một con người riêng lẻ không thể hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời. Cần phải có một Thân Thể trọn vẹn để đạt đến tầm vóc của Đấng Christ và để bày tỏ vinh quang Ngài. Ô, nguyện chúng ta thật sự thấy điều này!

Cho nên từ hình ảnh thân thể con người La Mã 12:3-6 rút ra một bài học về sự lệ thuộc hỗ tương của chúng ta. Mỗi cá nhân Cơ-đốc-nhân không phải là Thân Thể. Họ là những chi thể của Thân Thể ấy, trong một thân thể con người mà “các chi thể không đồng một nhiệm vụ”. Tai không nên tưởng tượng mình là mắt. Dầu cầu nguyện đến đâu cũng không thể ban ánh sáng cho tai, nhưng toàn thân có thể thấy nhờ mắt. Cho nên, theo nghĩa bóng, tôi có thể chỉ có một ân tứ nghe, nhưng tôi có thể thấy nhờ những người khác là những người có ân tứ thị giác; hay có lẽ tôi có thể đi, nhưng không làm việc được, cho nên tôi nhận lãnh sự giúp đỡ từ đôi tay. Có một thái độ quá phổ biến [giữa vòng các Cơ-đốc-nhân ngày nay] đối với những gì thuộc về Chúa là: “Điều gì tôi biết, thì tôi biết, điều gì tôi không biết, thì tôi không biết, và tôi có thể sinh hoạt tốt đẹp mà không biết những điều đó”. Nhưng trong Đấng Christ, những gì chúng ta không biết thì những người khác biết, và chúng ta có thể biết, cùng vui hưởng các điều ấy qua những người khác.

Tôi xin nhấn mạnh đây không phải chỉ là một ý tưởng an ủi. Đó là một nhân tố quan trọng trong sự sống của con dân Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể sống thiếu nhau. Đó là lý do vì sao tương giao trong sự cầu nguyện rất quan trọng. Cầu nguyện chung đem đến sự giúp đỡ của Thân Thể như được thấy rõ qua Ma-thi-ơ 18:19, 20. Một mình tôi tin cậy Chúa có thể không đủ. Tôi phải tin cậy Ngài cùng với người khác. Tôi phải học cầu nguyện “Lạy Cha chúng con...” trên nền tảng hiệp nhất với Thân Thể, vì không có sự giúp đỡ của Thân Thể, tôi không thể thông suốt được. Thậm chí điều này còn rõ ràng hơn nữa trong lãnh vực phục vụ. Tôi không thể hầu việc Chúa một mình mà đạt được hiệu quả, và Ngài không ngại dùng những sự đau đớn để dạy tôi điều này. Ngài sẽ đem nhiều điều đến đường cùng, cho phép những cánh cửa đóng lại và để tôi đập đầu vào một bức tường trơ trọi cách vô ích cho đến khi tôi nhận biết mình cần sự giúp đỡ của Thân Thể cũng như của Chúa. Vì sự sống của Đấng Christ là sự sống của Thân Thể, và các ân tứ của Ngài được ban cho chúng ta vì công tác xây dựng Thân Thể.

Thân Thể không phải là một sự minh họa mà là một sự thật. Kinh-thánh không chỉ nói rằng Hội-thánh giống như một thân thể, mà Hội-thánh là Thân Thể của Đấng Christ. “Chúng ta, dầu nhiều, mà vẫn là một thân trong Đấng Christ, và là chi thể của nhau”. Tất cả các chi thể họp lại, là một Thân Thể, vì cùng hưởng sự sống của Ngài, như thể chính Ngài được phân phát giữa vòng các chi thể của Ngài. Tôi từng sinh hoạt với một nhóm tín đồ người Hoa, họ thấy rất khó hiểu là làm thế nào Thân Thể lại là một trong khi họ đều là những cá nhân riêng lẻ tạo nên Thân Thể ấy. Một ngày Chúa nhật, khi sắp bẻ bánh tại bàn của Chúa, tôi yêu cầu họ nhìn kỹ ổ bánh trước khi tôi bẻ. Sau đó, khi ổ bánh đã được phân phát và ăn xong, tôi nêu lên rằng mặc dầu nó ở trong mọi người giữa vòng họ, nó vẫn là một ổ bánh, không phải nhiều ổ. Ổ bánh đã được phân chia, nhưng Đấng Christ không bị phân chia dầu là trong ý nghĩa giống như ổ bánh. Ngài vẫn là một Linh trong chúng ta, và tất cả chúng ta đều làm một trong Ngài.

Điều ấy trái hẳn với trạng thái thiên nhiên của con người. Trong A-đam, tôi có sự sống của A-đam, nhưng sự sống ấy theo yếu thể tính thì có tính cách cá nhân. Không có sự liên hiệp, không có sự tương giao trong tôi, nhưng chỉ có tư lợi và không tin cậy người khác. Khi tiến lên với Chúa, chẳng bao lâu tôi khám phá ra rằng không những nan đề tội lỗi và sức mạnh thiên nhiên cần được xử lý, nhưng còn có nan đề sâu xa hơn gây ra do sự sống “cá nhân” của tôi, là sự sống tự túc và không nhận biết mình cần Thân Thể và sự liên hiệp của Thân Thể. Tôi có thể vượt qua nan đề tội lỗi và xác thịt, mà vẫn là một cá nhân cứng cỏi. Dầu với những động cơ thuần khiết nhất, tôi muốn được thánh khiết, đắc thắng và kết quả cho chính mình cách cá nhân và rời rạc. Nhưng đó là thái độ bỏ lơ Thân Thể, cho nên không thể làm thỏa mãn Đức Chúa Trời. Vì vậy, Ngài cũng phải xử lý tôi trong vấn đề này nữa, nếu không tôi vẫn xung đột với những mục đích của Ngài. Đức Chúa Trời không trách tôi vì là một cá nhân, nhưng vì chủ nghĩa cá nhân của tôi. Nan đề lớn nhất của Ngài không phải là những sự chia rẽ bên ngoài và những giáo phái chia rẽ Hội-thánh của Ngài, mà là những tấm lòng cá nhân chủ nghĩa của chính chúng ta.

Vâng, Thập tự giá phải thực hiện công tác ở đây, nhắc cho tôi nhớ rằng trong Đấng Christ tôi đã chết đối với sự sống độc lập cũ mà tôi đã kế thừa từ A-đam, và trong sự phục sinh, không những tôi đã trở thành một cá nhân tín đồ trong Đấng Christ, nhưng là một chi thể của Thân Thể Ngài. Có một sự khác biệt lớn lao giữa hai điều này. Khi thấy điều ấy, tôi sẽ chấm dứt tình trạng độc lập và sẽ tìm kiếm sự tương giao. Sự sống của Đấng Christ trong tôi sẽ chuyển động hướng về sự sống của Ngài trong những người khác. Tôi không thể tiếp tục sống cá nhân. Sự ghen tị sẽ ra đi. Sự tranh cạnh sẽ ra đi. Công tác riêng sẽ ra đi. Lợi lộc, tham vọng, sở thích đều sẽ ra đi. Ai trong chúng ta sẽ làm công tác không còn là điều quan trọng. Tất cả vấn đề sẽ là sao cho Thân Thể được tăng trưởng.

Tôi đã nói: “Khi thấy điều này...” Đây là nhu cầu quan trọng: nhìn thấy Thân Thể của Đấng Christ như một sự thật thần thượng lớn lao; bởi sự khải thị thiên thượng, hãy để sự thật này xuyên thấu vào linh chúng ta: “chúng ta dầu nhiều mà vẫn là một thân thể trong Đấng Christ”. Chỉ có Thánh Linh có thể làm cho chúng ta hiểu rõ điều này với tất cả ý nghĩa của nó, nhưng khi Ngài thực hiện điều đó, đời sống và công tác của chúng ta sẽ được cách mạng hóa.

NHỜ NGÀI CHÚNG TA ĐẮC THẮNG CÓ THỪA

Chúng ta chỉ thấy được lịch sử từ sự sa ngã. Đức Chúa Trời thấy điều này từ đầu. Trong tâm trí của Đức Chúa Trời có một điều gì đó trước sự Sa Ngã, và trong những thời đại sắp đến điều đó sẽ trở thành hiện thực cách đầy trọn. Đức Chúa Trời biết tất cả về tội và sự cứu chuộc, tuy nhiên trong mục đích lớn lao của Ngài dành cho Hội-thánh được giới thiệu trong Sáng-thế Ký chương 2, không thấy tội đâu cả. Nói theo những từ ngữ giới hạn, dường như tư tưởng Ngài vượt qua toàn bộ lịch sử của sự cứu chuộc và nhìn thấy Hội-thánh trong cõi đời đời tương lai, có một chức vụ và một lịch sử tách rời khỏi tội và hoàn toàn thuộc về Đức Chúa Trời. Đó là Thân Thể của Đấng Christ trong vinh quang, không bày tỏ điều gì của con người sa ngã, nhưng chỉ là hình ảnh của Con Người đã được vinh hóa. Đó là Hội-thánh làm thỏa lòng Đức Chúa Trời và đã nhận được quyền thống trị.

Trong Ê-phê-sô chương 5, chúng ta đứng trong lịch sử của sự cứu chuộc, nhưng nhờ ân điển chúng ta vẫn có mục đích đời đời này của Đức Chúa Trời trong tầm nhìn của mình như đã được bày tỏ trong lời tuyên bố rằng Ngài sẽ “trình diện cho mình hội-thánh vinh hiển”. Nhưng bây giờ chúng ta thấy nước sự sống và Lời tẩy sạch là điều cần thiết để chuẩn bị Hội-thánh (hiện đang bị hư hoại bởi sự Sa Ngã) trình diện Đấng Christ trong vinh quang. Vì hiện nay còn có những khuyết điểm cần được sửa chữa và những vết thương cần được chữa lành. Tuy nhiên lời hứa này quí báu biết bao và những lời nói về Hội-thánh đầy ân điển biết bao: “không tì vết” – là những vết sẹo của tội, mà chính lịch sử của tội bây giờ đã bị quên đi; “không nếp nhăn” – là dấu vết của tuổi già và thời gian bị mất, vì bây giờ tất cả được đền bù và tất cả đều tươi mới; và “không chỗ trách được” – đến nỗi Sa-tan, các quỉ hay loài người không thể tìm được cớ nào chê trách Hội-thánh.

Đó là thời điểm chúng ta đang sống hiện nay. Thời đại đang kết thúc, quyền lực của Sa-tan mạnh hơn bao giờ. Chiến trận của chúng ta với các thiên sứ, các chủ quyền và các thế lực (La. 8:38; Êph. 6:12) là những kẻ đang đứng chống trả và hủy phá công tác Đức Chúa Trời trong chúng ta bằng cách đặt nhiều điều để buộc tội tuyển dân của Đức Chúa Trời. Mỗi người trong chúng ta không bao giờ là đối thủ của hắn được, nhưng điều gì một mình chúng ta không thể làm được thì Hội-thánh có thể làm được. Tội, tính tự tin và cá nhân chủ nghĩa là những cú đấm khôn khéo của Sa-tan đánh vào trọng tâm mục đích Đức Chúa Trời trong con người, và tại Thập tự giá, Đức Chúa Trời đã tiêu trừ chúng. Khi đặt đức tin mình vào những gì Ngài đã thực hiện, vào “Đức Chúa Trời là Đấng xưng công chính” và vào “Christ Giê-su là Đấng đã chết” (La. 8:33, 34), chúng ta mở ra một trận tuyến mà chính các cửa Âm-phủ không thể thắng hơn được. Là Hội-thánh của Ngài, chúng ta “nhờ Đấng yêu thương mình mà đắc thắng có thừa” (La. 8:37).