Thông tin sách

Nếp Sống Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nếp sống Cơ đốc bình thường
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 7

Untitled Document

CHƯƠNG BẢY

MỤC ĐÍCH ĐỜI ĐỜI

Chúng ta đã nói đến nhu cầu về sự khải thị, đức tin và sự dâng mình, nếu chúng ta phải sống một đời sống Cơ-đốc bình thường. Nhưng nếu không nhìn thấy mục đích của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu rõ vì sao những bước này là cần thiết để dẫn chúng ta đến mục đích ấy. Cho nên trước khi xem xét sâu xa hơn vấn đề kinh nghiệm bên trong, trước hết chúng ta hãy nhìn vào mục tiêu thần thượng lớn lao trước mắt mình.

Mục đích của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo là gì, và mục đích của Ngài trong sự cứu chuộc là gì? Chúng ta có thể tóm tắt trong hai nhóm từ, mỗi nhóm từ thuộc về một trong hai phần của Thư La Mã. Đó là: “vinh quang của Đức Chúa Trời” (La. 3:23), và: “vinh quang của con cái Đức Chúa Trời” (La. 8:21).

Trong La Mã 3:23 chúng ta đọc thấy: “Mọi người đều đã phạm tội, hụt mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”. Mục đích của Đức Chúa Trời dành cho con người là vinh quang, nhưng tội lỗi đã ngăn trở mục đích ấy bằng cách làm cho con người hụt mất vinh quang của Đức Chúa Trời. Khi suy nghĩ đến tội, theo bản năng, chúng ta suy nghĩ đến sự phán xét do tội mang đến; khi nào chúng ta cũng liên kết tội lỗi với sự định tội và địa ngục. Con người luôn luôn nghĩ về hình phạt sẽ đến với mình nếu mình phạm tội, nhưng Đức Chúa Trời luôn luôn nghĩ về vinh quang con người sẽ hụt mất nếu họ phạm tội. Hậu quả của tội là chúng ta bị mất vinh quang của Đức Chúa Trời: kết quả của sự cứu chuộc là chúng ta lại đủ điều kiện để được vinh quang Ngài. Mục đích của Đức Chúa Trời trong sự cứu chuộc là vinh quang, vinh quang và vinh quang.

CON TRƯỞNG GIỮA NHIỀU ANH EM

Để xem xét điều này, chúng ta tiến đến La Mã chương 8. Trong chương này, đề tài ấy được khai triển trong các câu 16 đến 18 và lại được bàn đến trong các câu 29 và 30. Phao-lô nói: “Chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời. Lại nếu đã là con cái, thì cũng là người thừa kế, tức là người thừa kế của Đức Chúa Trời và là đồng thừa kế với Đấng Christ, miễn là chúng ta đồng chịu khổ với Ngài, hầu cho cũng đồng được vinh hóa với Ngài. Vì tôi kể sự khổ sở hiện nay không đáng so sánh với sự vinh hiển sắp được bày tỏ ra cho chúng ta” (La. 8:16-18), một lần nữa: “Vì người Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định trước để được đồng hóa theo hình ảnh của Con Ngài, hầu cho Con ấy làm Con Trưởng giữa nhiều anh em. Lại người Ngài đã định trước, thì Ngài cũng đã gọi, và người Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng công chính, còn người Ngài đã xưng công chính, thì Ngài cũng đã vinh hóa” (La. 8:29, 30). Mục tiêu của Đức Chúa Trời là gì? Ấy là Con Ngài, Giê-su Christ, được làm Con Trưởng giữa nhiều anh em, tất cả những anh em ấy đều được đồng hóa theo hình ảnh của Ngài. Làm thế nào Đức Chúa Trời làm mục tiêu đó trở thành hiện thực? “Người Ngài đã xưng công chính, thì Ngài cũng đã vinh hóa”. Như vậy, mục đích của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo và sự cứu chuộc là làm cho Đấng Christ thành Con Trưởng giữa nhiều con được vinh hóa. Điều đó ban đầu có lẽ không mang bao nhiêu ý nghĩa đối với nhiều người trong chúng ta, nhưng chúng ta hãy xem xét điều này cách kỹ lưỡng hơn.

Trong Giăng 1:14, chúng ta được biết Chúa Giê-su là Con độc sanh của Đức Chúa Trời: “Lời đã trở nên xác thịt, đóng trại giữa chúng ta (chúng ta đã ngắm xem vinh quang Ngài, thật như vinh quang của Con độc sanh của Cha)”. Ngài là Con độc sanh của Đức Chúa Trời nghĩa là Đức Chúa Trời không có con nào khác ngoài người con này. Suốt cả cõi đời đời, Ngài ở với Cha. Nhưng chúng ta được biết, Đức Chúa Trời không thỏa lòng về việc Đấng Christ cứ vẫn là Con độc sanh, Ngài muốn làm cho Đấng Christ trở nên Con Trưởng. Làm thế nào Con độc sanh có thể trở nên Con Trưởng? Câu trả lời rất đơn giản: bằng cách Cha có thêm con cái. Nếu anh em chỉ có một đứa con, đứa con ấy là con độc sanh, nhưng nếu sau đó, anh em có thêm các con khác, thì con độc sanh trở nên con trưởng.

Mục đích thần thượng trong sự sáng tạo và cứu chuộc là Đức Chúa Trời sẽ có nhiều con. Ngài muốn có chúng ta, và Ngài không thỏa lòng nếu không có chúng ta. Cách đây ít lâu, tôi đến thăm cụ George Cutting, là tác giả của tờ truyền đạo đơn nổi tiếng An Toàn, Bảo Đảm và Vui Mừng. Khi tôi được đưa vào gặp vị thánh đồ già nua chín mươi ba tuổi này, cụ nắm lấy tay tôi và nói một cách yên tịnh, chẫm rãi: “Anh ơi, anh có biết rằng tôi không thể làm gì nếu thiếu Ngài? Và anh có biết rằng Ngài không làm gì được nếu thiếu tôi không?” Mặc dầu tôi ở với cụ trên một giờ, nhưng tuổi già và thể chất yếu ớt của cụ khiến chúng tôi không thể chuyện trò lâu được. Tuy nhiên, có một điều vẫn còn mãi trong ký ức tôi về buổi chuyện trò hôm ấy là hai câu hỏi cụ đã lặp đi lặp lại: “Anh có biết rằng tôi không thể làm gì được nếu thiếu Ngài? Và anh có biết rằng Ngài không thể làm gì được nếu thiếu tôi không?”

Khi đọc câu chuyện người con trai hoang đàng, hầu hết mọi người đều có ấn tượng về tất cả những nan đề mà người con ấy gặp phải; họ chỉ mãi suy nghĩ đến khoảng thời gian tệ hại mà người con ấy trải qua. Nhưng đó không phải là điểm quan trọng của ẩn dụ này. “Con ta... đã mất mà lại tìm được”, đó là trọng tâm của câu chuyện. Vấn đề không phải là những gì người con đã chịu đựng, mà là những gì người Cha đã mất. Ông chính là người chịu khổ, Ông là người mất mát. Một con chiên bị mất. Ai là người mất mát? Người chăn. Một đồng tiền bị mất. Ai là người mất mát? Người đàn bà. Một đứa con bị mất. Ai là người mất mát? Người Cha. Đó là bài học của Lu-ca chương 15.

Chúa Giê-su là Con độc sanh, và là Con độc sanh, Ngài không có anh em. Nhưng Cha sai Con đến để Con độc sanh cũng là Con Trưởng, và Con yêu dấu có nhiều anh em. Tại đây anh em có toàn bộ câu chuyện về Sự Nhục hóa và Thập tự giá, cuối cùng, anh em có mục đích của Đức Chúa Trời được hoàn thành trong việc “đem nhiều con đến vinh quang” (Hê. 2:10).

Trong La Mã 8:29, chúng ta đọc thấy “nhiều anh em”, trong Hê-bơ-rơ 2:10, chúng ta đọc thấy “nhiều con”. Từ quan điểm của Chúa Giê-su, họ là “anh em”, từ quan điểm của Đức Chúa Trời là Cha, họ là “các con”. Cả hai từ ngữ trong văn mạch này mang ý tưởng về sự trưởng thành. Đức Chúa Trời đang tìm những người con trưởng thành, nhưng thậm chí Ngài không dừng tại đó. Vì Ngài không muốn các con Ngài sống trong một vựa lúa, nhà để xe, hay ngoài đồng, Ngài muốn họ ở trong nhà Ngài, Ngài muốn họ cùng hưởng vinh quang Ngài. Đó là lời giải thích La Mã 8:30: “Người Ngài đã xưng công chính, thì Ngài cũng đã vinh hóa”. Quyền làm con, tức là biểu hiện đầy đủ của Con Ngài, là mục tiêu của Đức Chúa Trời trong nhiều con. Làm thế nào Ngài thực hiện điều đó? Bằng cách xưng họ là công chính, và sau đó bằng cách vinh hóa họ. Trong khi đối xử với họ, Đức Chúa Trời sẽ không dừng lại cho đến khi đạt đến mục tiêu ấy. Ngài quyết định phải có nhiều con, và những người con trưởng thành, có trách nhiệm ấy sẽ ở với Ngài trong vinh quang. Ngài đã chuẩn bị để cả cõi trời đầy dẫy những người con được vinh hóa. Đó là mục đích của Ngài trong sự cứu chuộc nhân loại.

HẠT LÚA MÌ

Nhưng làm thế nào Con độc sanh của Đức Chúa Trời có thể trở nên Con Trưởng của Ngài? Phương cách được giải thích trong Giăng 12:24: “Thật vậy, thật vậy, Ta nói với các ngươi, nếu hạt lúa mì không rơi xuống đất mà chết, thì cứ chỉ một mình, nhưng nếu chết đi, thì kết quả nhiều”. Hạt lúa mì ấy là ai? Đó là Chúa Giê-su. Trong cả vũ trụ, Đức Chúa Trời đặt hạt lúa mì của Ngài vào lòng đất và hạt lúa ấy chết đi, rồi trong sự phục sinh, hạt lúa “độc nhất” ấy trở nên hạt lúa “đầu mùa”, và từ một hạt ấy nảy sinh ra nhiều hạt khác.

Về phương diện thần tính, Chúa Giê-su vẫn độc nhất là “Con độc sanh của Đức Chúa Trời”. Tuy nhiên, có một ý tưởng khác là từ sự phục sinh trở đi cho đến cõi đời đời, Ngài cũng là Con Trưởng, và sự sống của Ngài từ đó được tìm thấy trong nhiều anh em. Vì chúng ta là những người được sanh bởi Linh do đó đều được làm nên những người “dự phần thần tánh” (2 Phi. 1:4), dầu rằng điều đó không phải tự mình, nhưng chỉ nhờ lệ thuộc vào Đức Chúa Trời và vì chúng ta “ở trong Đấng Christ”, như chúng ta sẽ thấy sau đây. Tôi xin lưu ý anh em điều ấy. Chúng ta đã “nhận lãnh linh của danh phận con cái, nhờ đó, chúng ta kêu “A-ba, Cha!” Chính Linh cùng linh chúng ta đồng chứng rằng chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời” (La. 8:15, 16). Ấy là nhờ Sự Nhục hóa và Thập tự giá mà Chúa Giê-su đã thực hiện được điều này. Tại đó lòng Cha của Đức Chúa Trời được thỏa mãn, vì trong sự vâng phục đến chết của Con, Cha có được nhiều con của Ngài.

Chương thứ nhất và thứ hai mươi của sách Giăng là quí báu nhất đặc biệt về điều này. Trong phần mở đầu sách Phúc-âm của mình, Giăng cho chúng ta biết Chúa Giê-su là “Con độc sanh từ Cha”. Vào phần cuối của Phúc-âm này, ông nói với chúng ta rằng sau khi Ngài chết và sống lại, Chúa Giê-su phán với Ma-ri Ma-đơ-len: “Hãy đi đến cùng anh em Ta mà nói với họ rằng: ‘Ta lên cùng Cha Ta, cũng là Cha các ngươi, cùng Đức Chúa Trời Ta, cũng là Đức Chúa Trời các ngươi’” (Gi. 20:17). Từ trước đến nay trong Phúc-âm này, Chúa thường nói đến “Cha” hay “Cha Ta”. Bây giờ trong sự phục sinh, Ngài thêm vào: “... cũng là Cha các ngươi”. Người Con Cả, Con Trưởng đang nói lời ấy. Bởi sự chết và sự phục sinh của Ngài, nhiều anh em đã được đưa vào gia đình của Đức Chúa Trời, do đó, trong cùng một câu, Ngài dùng chính danh hiệu ấy cho họ, gọi họ là “anh em Ta”. Qua đó, Ngài khẳng định rằng Ngài “không hổ thẹn mà gọi họ là anh em” (Hê. 2:11).

SỰ LỰA CHỌN MÀ A-ĐAM ĐÃ ĐỐI DIỆN

Đức Chúa Trời trồng nhiều cây trong vườn Ê-đen, nhưng “ở giữa vườn”, tức là tại một nơi đặc biệt nổi bật, Ngài đã trồng hai cây, cây sự sống và cây kiến thức về thiện và ác. A-đam được dựng nên ngây thơ vô tội, ông không biết điều thiện và điều ác. Hãy nghĩ đến một người lớn, khoảng ba mươi tuổi, mà không có cảm nhận gì về đúng hay sai, không có khả năng phân biệt giữa hai điều ấy! Anh em không nói rằng đó là người chậm phát triển sao? Vâng, ấy chính là A-đam. Đức Chúa Trời đem ông vào vườn và nói với ông rằng: “Bây giờ vườn đầy cây, đầy trái, ngươi có thể tự do ăn trái của tất cả các cây. Nhưng ngay chính giữa vườn có một cây gọi là “cây kiến thức về thiện và ác”, ngươi không được ăn nó, vì khi ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ chết. Nhưng hãy nhớ rằng, tên của cây ở gần đó là Sự Sống”. Như vậy, ý nghĩa của hai cây này là gì? Có thể nói A-đam được tạo dựng trung tính về mặt đạo đức, không tội lỗi cũng không thánh khiết, nhưng ngây thơ vô tội, và Đức Chúa Trời đặt hai cây này tại đó để ông có thể sử dụng quyền tự do lựa chọn. Ông có thể chọn cây sự sống, hay có thể chọn cây kiến thức về thiện và ác.

Bây giờ kiến thức về thiện và ác, dầu bị cấm đoán đối với A-đam, tự nó không có gì sai. Tuy nhiên, không có nó, thì theo một ý nghĩa A-đam bị giới hạn không thể tự mình quyết định những vấn đề đạo đức. Sự phán xét đúng sai không có trong ông nhưng trong Đức Chúa Trời, và cách hành động duy nhất của A-đam khi đối diện với bất cứ vấn đề nào là giao cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Như vậy, anh em có một sự sống trong vườn hoàn toàn phụ thuộc vào Đức Chúa Trời. Như vậy, hai cây này tượng trưng cho hai nguyên tắc sâu xa, chúng đại diện cho hai bình diện của sự sống, thần thượng và loài người. “Cây sự sống” là chính Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời là sự sống. Ngài là hình thái sự sống cao nhất, và Ngài cũng là nguồn và mục tiêu của sự sống. Còn trái là gì? Ấy là Chúa Giê-su Christ của chúng ta. Anh em không thể ăn cây, nhưng có thể ăn trái. Không ai có thể nhận lãnh Đức Chúa Trời như là Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta có thể tiếp nhận Chúa Giê-su. Trái là phần ăn được, là phần có thể nhận được của cây. Cho nên, tôi xin phép nói điều này một cách cung kính, Chúa Giê-su thật sự là Đức Chúa Trời trong một hình thức có thể tiếp nhận được, chúng ta có thể tiếp nhận Đức Chúa Trời trong Đấng Christ.

Nếu A-đam ăn cây sự sống, ông sẽ nhận lãnh sự sống của Đức Chúa Trời. Như vậy, ông sẽ trở nên một “người con” của Đức Chúa Trời, với ý nghĩa là trong ông có một sự sống ra từ Đức Chúa Trời. Tại đó anh em có sự sống của Đức Chúa Trời hiệp nhất với con người; một dòng giống loài người có sự sống của Đức Chúa Trời trong họ và liên tục sống lệ thuộc vào Đức Chúa Trời để có sự sống ấy. Nhưng ngược lại, nếu A-đam hướng theo đường kia, ăn trái của cây kiến thức về thiện và ác, thì ông sẽ phát triển sự sống con người của mình theo hướng thiên nhiên, xa khỏi Đức Chúa Trời. Là một hữu thể tự mình đã đầy đủ, ông sẽ sở hữu bên trong chính mình khả năng phán đoán độc lập, nhưng ông không có sự sống từ Đức Chúa Trời.

Cho nên đó là sự lựa chọn đặt trước mặt ông. Chọn con đường của Linh, con đường vâng phục, ông có thể trở nên “con” của Đức Chúa Trời, sống lệ thuộc Đức Chúa Trời để có sự sống, hoặc chọn con đường thiên nhiên, ông tự kết liễu chính mình, như ông thật đã làm, bằng cách trở nên một hữu thể độc lập, phán đoán và hành động tách rời khỏi Đức Chúa Trời. Lịch sử của nhân loại là hậu quả sự lựa chọn của ông.

SỰ LỰA CHỌN CỦA A-ĐAM LÀ LÝ DO CỦA THẬP TỰ GIÁ

A-đam đã chọn lựa cây kiến thức về thiện và ác, qua đó ông chọn lấy vị thế độc lập. Khi làm như vậy, ông trở nên (như loài người hiện nay theo cái nhìn họ) một con người “phát triển trọn vẹn”. Ông có sẵn sự hiểu biết, ông có thể tự quyết định cho mình, ông có thể tiến tới hay dừng lại. Từ đó về sau, ông “khôn ngoan” (Sáng. 3:6). Nhưng hậu quả dành cho ông là sự chết thay vì sự sống, vì điều ông lựa chọn thì đồng lõa với Sa-tan, do đó đem ông đến dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời. Đó là lý do vì sao từ đó trở đi, ông bị cấm không được đi con đường dẫn đến cây sự sống.

Hai bình diện sự sống được đặt trước mặt A-đam: bình diện sự sống thần thượng lệ thuộc vào Đức Chúa Trời, và bình diện sự sống con người với những tiềm năng “độc lập” của nó. Việc A-đam lựa chọn bình diện thứ hai là tội, vì qua đó ông liên minh với Sa-tan để ngăn cản mục đích đời đời của Đức Chúa Trời. Ông làm như vậy bằng cách chọn lựa phát triển tình trạng làm người của mình — có lẽ để trở nên một người tinh tế, thậm chí một người “hoàn hảo” theo tiêu chuẩn của ông – xa rời Đức Chúa Trời. Nhưng cuối cùng là sự chết, vì ông không có trong mình sự sống thần thượng cần thiết để nhận biết mục đích của Đức Chúa Trời trong con người của mình, nhưng đã lựa chọn trở nên một đại lý “độc lập” cho Kẻ Thù. Do đó, trong A-đam, tất cả chúng ta đều trở nên tội nhân, bị Sa-tan thống trị như nhau, bị phụ thuộc luật của tội và sự chết như nhau, và xứng đáng chịu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời như nhau.

Qua điều này, chúng ta thấy lý do thần thượng của sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su. Chúng ta cũng thấy lý do thần thượng của sự dâng mình thật, ấy là kể chính mình đã chết đối với tội, nhưng sống cho Đức Chúa Trời trong Christ Giê-su, và dâng chính mình cho Ngài như người sống lại từ kẻ chết. Tất cả chúng ta phải đi đến Thập tự giá, vì những gì tự nhiên ở trong chúng ta là một sự sống bản ngã, phụ thuộc luật của tội. A-đam lựa chọn sự sống bản ngã thay vì sự sống thần thượng, cho nên Đức Chúa Trời đã phải qui tụ tất cả lại trong A-đam và tiêu trừ đi. “Con người” cũ của chúng ta đã bị đóng đinh. Đức Chúa Trời đã đặt tất cả chúng ta trong Đấng Christ và đóng đinh Ngài như A-đam sau cùng, như vậy, tất cả những gì thuộc về A-đam đã qua đi.

Sau đó, Đấng Christ sống lại trong một hình thể mới, vẫn với một thân thể, nhưng trong Linh, không còn trong xác thịt. “A-đam sau cùng đã trở nên một linh ban sự sống” (1 Cô. 15:45). Chúa Giê-su bây giờ có một thân thể phục sinh, một thân thể thuộc linh, một thân thể vinh hiển, và vì Ngài không còn ở trong xác thịt, mọi người bây giờ có thể nhận lãnh Ngài. Chúa Giê-su phán: “Người nào ăn Ta sẽ sống bởi Ta vậy” (Gi. 6:57). Người Do-thái nổi giận trước ý tưởng ăn thịt Ngài và uống huyết Ngài, nhưng dĩ nhiên khi ấy họ không thể nhận lãnh Ngài vì theo nghĩa đen, Ngài vẫn còn trong xác thịt. Bây giờ Ngài ở trong Linh, mỗi người trong chúng ta có thể nhận lãnh Ngài, bằng cách nhận sự sống phục sinh của Ngài vào, để chúng ta được cấu tạo thành con cái của Đức Chúa Trời. “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền bính để trở nên con cái Đức Chúa Trời... người ấy... sanh bởi Đức Chúa Trời” (Gi. 1:12, 13).

Đức Chúa Trời không cố gắng cải thiện sự sống của chúng ta. Mục đích của Ngài không phải là thanh lọc sự sống ấy, vì nó hoàn toàn ở một bình diện sai trật. Trên bình diện ấy, Ngài không thể đem con người đến vinh quang. Ngài phải có một người mới, một người được sinh lại, sanh bởi Đức Chúa Trời. Sự tái sinh và sự xưng công chính đi đôi với nhau.

AI CÓ CON THÌ CÓ SỰ SỐNG

Có những bình diện sự sống khác nhau. Sự sống con người nằm giữa sự sống thấp kém hơn của loài vật và sự sống của Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể nối nhịp cầu vượt qua hố sâu ngăn cách chúng ta với bình diện sự sống cao hơn hay thấp hơn, và khoảng cách ngăn chúng ta với sự sống của Đức Chúa Trời lớn lao mênh mông hơn khoảng cách ngăn chúng ta với sự sống động vật thấp kém hơn.

Một ngày kia tại Trung Quốc, tôi đến thăm một nhà lãnh đạo Cơ-đốc đang nằm trên giường bệnh, mà vì lý do câu chuyện tôi xin gọi là “ông Wong” (mặc dầu đó không phải tên thật của ông). Ông là người rất trí thức, một tiến sĩ triết học được tôn trọng khắp Trung Quốc vì những nguyên tắc đạo đức cao cả của mình, ông cũng tham gia vào công tác Cơ-đốc đã lâu. Nhưng ông không tin con người cần phải được tái sinh, ông chỉ rao giảng cho người ta một phúc-âm có tính cách xã hội của tình yêu và việc lành.

Khi tôi đến thăm ông, con chó cưng của ông đang ở cạnh giường, sau khi nói chuyện với ông về những điều thuộc về Đức Chúa Trời và bản chất công tác của Ngài trong chúng ta, tôi chỉ vào con chó và hỏi tên nó. Ông bảo ông gọi nó là Fido. Tôi hỏi: “Fido là tên Cơ-đốc hay là họ của nó vậy ạ?” (tôi dùng những từ ngữ Trung Hoa phổ thông chỉ về “tên riêng” và “họ”). Ông đáp: “Ô, đó chỉ là tên nó”. Tôi nói tiếp: “Ông có ý nói đó chỉ là tên Cơ-đốc của nó ư? Tôi gọi nó là Fido Wong được không?” Ông nói mạnh: “Dĩ nhiên là không!” Tôi phản đối: “Nhưng nó sống trong gia đình ông mà. Tại sao ông không gọi nó là Fido Wong?” Sau đó, chỉ vào hai cô con gái của ông, tôi hỏi: “Không phải các con gái ông được gọi là Cô Wong sao?” “Đúng vậy!” “Thế thì tại sao tôi không thể gọi con chó của ông là Cậu Wong?” Ông Tiến sĩ phá lên cười. Tôi nói tiếp: “Ông có hiểu điều tôi muốn nhắm đến không? Con gái ông sinh ra trong gia đình ông và các cô ấy mang họ của ông vì ông đã truyền sự sống của ông cho họ. Chó của ông có thể rất thông minh, cư xử rất tử tế và hoàn toàn là một con chó xuất sắc nhất, nhưng vấn đề không phải nó là con chó tốt hay xấu, mà vấn đề chỉ là nó có phải là con chó không? Không phải vì xấu mà nó không xứng đáng trở nên một thành viên trong gia đình ông, nhưng vì nó chỉ là một con chó. Cùng một nguyên tắc như vậy được áp dụng cho ông trong mối liên hệ với Đức Chúa Trời. Vấn đề không phải ông là một người tốt hay một người xấu, nhưng đơn giản là ông có phải là một con người không? Nếu sự sống của ông ở một bình diện thấp kém hơn sự sống của Đức Chúa Trời, thì ông không thể thuộc về gia đình thần thượng. Suốt đời mục tiêu ông nhắm đến là thay đổi những người xấu thành ra người tốt, nhưng những con người như vậy, dầu tốt hay xấu, không thể có mối liên hệ sự sống với Đức Chúa Trời. Là con người, hi vọng duy nhất của chúng ta là tiếp nhận Con của Đức Chúa Trời, khi làm như vậy, sự sống của Ngài ở trong chúng ta sẽ cấu tạo chúng ta thành con cái của Đức Chúa Trời”. Vị Tiến sĩ ấy đã thấy lẽ thật, và ngày hôm ấy, ông trở nên một thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời do tiếp nhận Con Đức Chúa Trời vào lòng mình.

Ngày nay, những gì chúng ta sở hữu trong Đấng Christ còn trổi hơn điều A-đam đã mất. A-đam chỉ là một con người đã phát triển. Ông ở bình diện ấy, và không bao giờ sở hữu sự sống của Đức Chúa Trời. Nhưng khi chúng ta tiếp nhận Con Đức Chúa Trời, không những chúng ta tiếp nhận sự tha thứ tội lỗi, mà cũng tiếp nhận sự sống thần thượng tượng trưng bằng cây sự sống trong vườn. Nhờ sự tân sinh, chúng ta sở hữu điều A-đam hụt mất, vì chúng ta nhận lãnh một sự sống mà ông chưa bao giờ có được.

HỌ ĐỀU THUỘC VỀ MỘT ĐẤNG

Ao ước của Đức Chúa Trời là những người con, tức những người đồng kế tự với Đấng Christ trong vinh quang. Đó là mục tiêu của Ngài, nhưng làm thế nào Ngài có thể thực hiện được điều ấy? Bây giờ xin anh em xem Hê-bơ-rơ 2:10 và 11: “Bởi chưng Đấng mà muôn vật vốn vì Ngài và bởi Ngài, trong việc đem nhiều con đến sự vinh hiển, thì khiến tác giả của sự cứu rỗi họ nhơn sự chịu khổ sở mà được trọn vẹn là xứng hiệp vậy. Vì cả Đấng thánh hóa lẫn những người được thánh hóa đều bởi một [Cha] mà ra. Cho nên Ngài cũng không thẹn mà gọi họ là anh em”.

Có hai thành phần được đề cập đến ở đây, đó là “nhiều con” và “tác giả của sự cứu rỗi họ’, hay bằng những từ ngữ khác “Đấng thánh hóa” và “những người được thánh hóa”. Nhưng hai thành phần này được nói đến là họ đều thuộc về một [Đấng]. Chúa Giê-su với tư cách là con người đã nhận sự sống của Ngài từ Đức Chúa Trời, và chúng ta cũng nhận sự sống mới của mình từ Đức Chúa Trời (trong một ý nghĩa khác, nhưng vẫn đúng y như vậy). Ngài “sanh bởi... Thánh Linh”, (Mat. 1:20), chúng ta cũng “sanh bởi... Linh”, “sanh bởi... Đức Chúa Trời” (Gi. 3:5; 1:13). Cho nên Đức Chúa Trời phán, chúng ta đều thuộc về một Đấng. “Thuộc về” trong tiếng Hi-lạp có nghĩa là “ra từ”. Con Trưởng và nhiều con đều “ra từ” một Nguồn sự sống (dầu theo những ý nghĩa khác nhau). Anh em có nhận thức rằng ngày nay chúng ta có cùng một sự sống mà Đức Chúa Trời có không? Sự sống mà Ngài sở hữu trên trời là sự sống mà Ngài đã truyền cho chúng ta ở trên đất này. Đó là “món quà quí báu của Đức Chúa Trời” (La. 6:23). Vì lý do ấy, chúng ta có thể sống một cuộc đời thánh khiết, vì đó không phải sự sống của chính chúng ta đã thay đổi, nhưng là sự sống của Đức Chúa Trời được truyền cho chúng ta.

Anh em có lưu ý thấy rằng khi xem xét về mục đích đời đời, toàn bộ vấn đề tội lỗi tuyệt đối ra đi không? Không có chỗ cho nó nữa. Tội lỗi đã đến với A-đam, và thậm chí khi đã được giải quyết, như phải được giải quyết, chúng ta chỉ mới được đem trở về vị trí của A-đam. Nhưng khi liên hệ chúng ta với mục đích thần thượng, tức là trong việc phục hồi cho chúng ta con đường dẫn đến cây sự sống, sự cứu chuộc đã ban cho chúng ta một điều vượt trổi hơn điều A-đam từng có. Sự cứu chuộc đã làm cho chúng ta trở nên những người dự phần cùng sự sống của chính Đức Chúa Trời.