Thông tin sách

Nếp Sống Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nếp sống Cơ đốc bình thường
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 3

Untitled Document

CHƯƠNG BA

CON ĐƯỜNG TIẾN LÊN: NHẬN BIẾT

Trang sử cũ của chúng ta chấm dứt tại Thập tự giá, trang sử mới của chúng ta bắt đầu với sự phục sinh. “Nếu ai ở trong Đấng Christ, thì người ấy là tạo vật mới: những sự cũ đã qua đi, kìa, mọi sự ấy đều trở nên mới” (2 Cô. 5:17). Thập tự giá chấm dứt cõi sáng tạo cũ, và từ sự chết, cõi sáng tạo mới đến trong Đấng Christ, là Con Người thứ hai. Nếu chúng ta “ở trong A-đam”, thì mọi sự ở trong A-đam đương nhiên đều chuyển qua chúng ta, thuộc về chúng ta mà không cần ý thức, vì chúng ta không phải làm gì để nhận lấy nó. Chúng ta không cần phải quyết định nổi nóng hay quyết định phạm một tội nào khác, tội đến với chúng ta cách tự do, bất kể con người chúng ta thế nào. Tương tự như vậy, nếu chúng ta “ở trong Đấng Christ”, tất cả những gì ở trong Ngài đều đến với chúng ta bằng ân điển ban không, không cần nỗ lực về phía chúng ta nhưng trên cơ sở đức tin đơn sơ.

Nhưng nói rằng tất cả những gì chúng ta cần đều đến với chúng ta trong Đấng Christ bởi ân điển ban không, dầu vẫn đúng, nhưng có vẻ không thực tế. Điều này thể hiện trong đời sống như thế nào? Làm thế nào điều này trở nên thật trong kinh nghiệm của chúng ta?

Khi học tập chương sáu, bảy và tám của Thư La Mã, chúng ta sẽ khám phá rằng những điều kiện để sống cuộc đời Cơ-đốc bình thường gồm có bốn phương diện. Đó là: (a) Nhận biết, (b) Kể, (c) Dâng mình cho Đức Chúa Trời, và (d) Bước đi trong Linh, bốn bước này được nêu lên theo thứ tự ấy. Nếu muốn sống cuộc đời ấy, chúng ta sẽ phải tiếp nhận cả bốn bước này, không phải một hay hai, cũng không phải ba, nhưng cả bốn bước. Khi nghiên cứu mỗi một bước này, chúng ta tin cậy Chúa sẽ soi sáng giúp chúng ta hiểu biết nhờ Thánh Linh Ngài. Bây giờ chúng ta sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ của Ngài để tiến lên bước quan trọng đầu tiên.

CHÚNG TA ĐỒNG CHẾT VỚI ĐẤNG CHRIST LÀ MỘT SỰ KIỆN LỊCH SỬ

Bây giờ, La Mã 6:1-11 là phân đoạn Kinh-thánh trước mắt chúng ta. Những câu này làm sáng tỏ rằng sự chết của Chúa Giê-su là sự chết đại diện và bao hàm. Trong sự chết của Ngài, tất cả chúng ta đều chết. Không ai trong chúng ta có thể tiến lên về mặt thuộc linh nếu không thấy điều này. Như chúng ta không thể được xưng công chính nếu chưa nhìn thấy Ngài mang tội lỗi của mình trên Thập tự giá, chúng ta cũng không thể được thánh hóa nếu chưa thấy Ngài mang chính chúng ta trên Thập tự giá. Không những tội lỗi của chúng ta được đặt trên Ngài, nhưng chính chúng ta đã được đặt vào trong Ngài.

Làm thế nào anh em nhận được sự tha thứ? Anh em nhận biết rằng Chúa Giê-su chết như Đấng Thay Thế cho anh em và mang tội lỗi của anh em trên chính Ngài, và Huyết Ngài đổ ra để tẩy sạch sự ô uế của anh em. Khi nhìn thấy tất cả tội lỗi của mình đều đã được cất đi trên Thập tự giá, anh em làm gì? Anh em có nói rằng: “Chúa Giê-su ôi, xin đến và chết cho các tội lỗi của con không?” Không, anh em không cầu xin gì cả, anh em chỉ cảm tạ Chúa. Anh em không nài nỉ Ngài đến và chết cho mình, vì anh em nhận biết rằng Ngài đã chết cho mình rồi.

Nhưng điều gì đúng cho sự tha thứ của anh em thì cũng đúng cho sự giải cứu của anh em. Công tác đã thực hiện xong. Không cần cầu nguyện mà chỉ cần ngợi khen. Đức Chúa Trời đã đặt tất cả chúng ta trong Đấng Christ, để rồi khi Đấng Christ bị đóng đinh, chúng ta cũng bị đóng đinh. Như vậy, không cần cầu nguyện: “Con là một người rất gian ác, Chúa ôi, xin đóng đinh con”. Nói như vậy là hoàn toàn sai lầm. Anh em không cầu nguyện về tội lỗi mình, tại sao bây giờ lại cầu nguyện về chính mình? Tội lỗi của anh em được xử lý nhờ Huyết của Chúa, và anh em được xử lý nhờ Thập tự giá của Ngài. Đó là một sự kiện đã hoàn thành. Tất cả những gì còn lại mà anh em cần làm là ngợi khen Chúa vì khi Đấng Christ chết, anh em cũng chết, anh em đã chết [với] Ngài. Hãy ngợi khen Chúa về điều này, và hãy sống trong sự nhìn biết này. “Bấy giờ họ mới tin lời của Ngài, bèn hát ngợi khen Ngài” (Thi. 106:12).

Anh em có tin vào sự chết của Đấng Christ không? Dĩ nhiên là có. Nhưng chính Kinh-thánh nói rằng Ngài chết vì chúng ta cũng nói rằng chúng ta cùng chết với Ngài. Xin xem câu ấy một lần nữa: “Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (La. 5:8). Đó là lời tuyên bố thứ nhất, và như vậy đã sáng tỏ, nhưng câu này có kém sáng tỏ không? “Người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài” (La. 6:6). “Chúng ta cùng chết với Đấng Christ” (La. 6:8).

Chúng ta bị đóng đinh với Ngài khi nào? Con người cũ của anh em bị đóng đinh vào ngày tháng nào? Ngày mai ư? Ngày hôm qua ư? Hay hôm nay? Để trả lời cho câu hỏi này, có lẽ chúng ta sẽ được ích lợi nếu tôi đảo lời tuyên bố của Phao-lô trong chốc lát và nói: “Đấng Christ đã bị đóng đinh trên thập tự giá với [có nghĩa là đồng thời với] con người cũ của chúng ta”. Một số anh em đến đây từng đôi một. Anh em đến đây chung với nhau. Anh em có thể nói: “Bạn tôi đến đây với tôi”, nhưng anh em vẫn đúng nếu nói: “Tôi đến đây với bạn tôi”. Nếu một người đến cách đây ba ngày và người kia mới đến hôm nay, có lẽ anh em không thể nói như vậy, nhưng khi cùng nhau đến, anh em có thể nói một trong hai cách trên và cả hai cách đều đúng như nhau, vì cả hai câu là lời tuyên bố về một sự thật. Cũng vậy, trong những sự kiện lịch sử, chúng ta có thể nói đảo lại mà vẫn không kém chính xác, “tôi bị đóng đinh khi Đấng Christ bị đóng đinh”, hay “Đấng Christ bị đóng đinh khi tôi bị đóng đinh”, vì đó không phải hai sự kiện lịch sử, mà chỉ là một. Sự đóng đinh của tôi là sự đóng đinh “với Ngài” (1). Đấng Christ đã bị đóng đinh chưa? Như vậy thì tôi có thể nào khác hơn không? Và nếu Ngài bị đóng đinh cách đây gần hai ngàn năm, và tôi bị đóng đinh với Ngài, thì có thể nào nói rằng sự đóng đinh của tôi xảy ra ngày mai không? Làm thế nào sự đóng đinh của Ngài ở quá khứ còn sự đóng đinh của tôi ở hiện tại hay tương lai? Ngợi khen Chúa, khi Ngài chết trên Thập tự giá, tôi cùng chết với Ngài. Không những Ngài chết thay cho tôi, nhưng Ngài mang tôi với Ngài lên Thập tự giá, cho nên khi Ngài chết, tôi cũng chết. Nếu tôi tin sự chết của Chúa Giê-su, tôi có thể tin sự chết của mình chắc chắn như tôi tin sự chết của Ngài.

Vì sao anh em tin rằng Chúa Giê-su đã chết? Nền tảng của niềm tin ấy là gì? Có phải anh em cảm thấy Ngài đã chết không? Không, anh em không bao giờ cảm thấy điều đó. Anh em tin bởi vì Lời của Đức Chúa Trời bảo anh em như vậy. Khi Chúa bị đóng đinh, hai tên cướp đồng thời bị đóng đinh. Anh em cũng không nghi ngờ gì về việc họ bị đóng đinh với Ngài, vì Kinh-thánh nói rõ ràng như vậy.

Anh em tin sự chết của Chúa Giê-su và tin sự chết của những tên cướp bị đóng đinh với Ngài. Bây giờ còn sự chết của chính anh em thì sao? Sự đóng đinh của anh em còn gần gũi [với Chúa] hơn sự đóng đinh họ. Họ bị đóng đinh cùng lúc với Chúa nhưng trên những cây thập tự khác nhau, trong khi anh em bị đóng đinh trên cùng một cây thập tự với Ngài, vì anh em ở trong Ngài khi Ngài chết. Làm thế nào anh em biết? Anh em có thể biết nhờ một lý do đầy đủ là Đức Chúa Trời đã nói như vậy. Điều này không tùy thuộc vào cảm giác của anh em. Nếu anh em cảm thấy Đấng Christ đã chết, thì Ngài đã chết, và nếu anh em không cảm thấy Ngài đã chết, Ngài cũng đã chết. Nếu anh em cảm thấy mình đã chết, anh em đã chết. Nếu anh em không cảm thấy mình đã chết, dầu vậy, chắc chắn anh em cũng đã chết y như vậy. Đây là những sự thật thần thượng. Đấng Christ đã chết là một sự thật, hai tên cướp chết là một sự thật, và anh em đã chết cũng là một sự thật. Tôi xin nói với anh em: Anh em đã chết! Anh em đã bị kết liễu rồi! Anh em đã bị loại trừ! Bản ngã mà anh em gớm ghiếc ở trên Thập tự giá trong Đấng Christ. “Ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi” (La. 6:7). Đó là Phúc-âm cho các Cơ-đốc-nhân.

Sự đóng đinh của chúng ta không bao giờ trở nên hiệu quả nhờ ý chí hay nỗ lực, mà chỉ bằng cách chấp nhận những gì Chúa Giê-su đã làm trên Thập tự giá. Mắt chúng ta phải được mở ra để thấy công tác đã hoàn thành của Gô-gô-tha. Một số anh em, trước khi được cứu, có lẽ đã tìm cách tự cứu mình. Anh em đọc Kinh-thánh, cầu nguyện, đi nhà thờ, bố thí. Rồi một ngày kia, mắt anh em được mở ra nhìn thấy một sự cứu rỗi đầy đủ đã được cung ứng cho mình trên Thập tự giá. Anh em chỉ chấp nhận điều đó, cảm tạ Đức Chúa Trời, và sự bình an, vui mừng tuôn chảy vào lòng anh em. Bây giờ tin mừng là sự thánh hóa được thực hiện để anh em có được sự thánh hóa ấy cũng trên chính nền tảng giống như sự cứu rỗi ban đầu. Anh em được ban cho sự giải cứu khỏi tội lỗi như một món quà của ân điển Đức Chúa Trời không hơn không kém, y như sự tha thứ tội lỗi của anh em.

Phương cách giải cứu của Đức Chúa Trời hoàn toàn khác với phương cách loài người. Cách của loài người là cố gắng kiềm hãm tội lỗi, ráng thắng hơn nó, cách của Đức Chúa Trời là cất bỏ tội nhân đi. Nhiều Cơ-đốc-nhân than khóc về sự yếu đuối của mình, nghĩ rằng ước gì mình mạnh hơn thì mọi sự đều sẽ tốt đẹp. Vì nghĩ rằng mình không sống cuộc đời thánh khiết được là do sự bất lực của mình, nên chúng ta cho rằng cần phải đòi hỏi ở mình nhiều hơn, tự nhiên ý kiến này sẽ dẫn đến quan niệm sai lầm về cách giải cứu. Nếu chúng ta bị quyền lực của tội chiếm hữu và chúng ta bất lực khi đương đầu với quyền lực ấy, thì tự nhiên chúng ta kết luận rằng muốn chiến thắng tội, mình phải có thêm năng lực. Chúng ta nói: “Ước gì tôi mạnh mẽ hơn, tôi có thể thắng hơn những cơn giận bộc phát dữ dội của mình”, và do đó, chúng ta kêu nài Chúa làm cho mình mạnh mẽ để chúng ta có thể tự kiểm chế mình nhiều hơn.

Nhưng điều này hoàn toàn là ảo tưởng, chứ không phải là Đạo Đấng Christ. Phương tiện giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi không phải là làm cho chúng ta càng ngày càng mạnh hơn, nhưng là làm cho chúng ta càng ngày càng yếu đi. Chắc chắn anh em nói đó là phương cách đắc thắng kỳ lạ, nhưng đó là phương cách thần thượng. Đức Chúa Trời giải thoát cho chúng ta được tự do khỏi sự thống trị tội lỗi, không phải bằng cách làm cho con người cũ mạnh mẽ, nhưng bằng cách đóng đinh nó, không phải bằng cách giúp đỡ nó làm một điều gì, nhưng bằng cách cất bỏ nó khỏi hiện trường hoạt động.

Có lẽ anh em cố gắng tự kiểm chế mình đã nhiều năm mà không đạt được kết quả gì, và có lẽ đây vẫn là kinh nghiệm hiện nay của anh em, nhưng một khi nhìn thấy lẽ thật, anh em sẽ nhận biết rằng mình thật bất lực không thể làm gì cả, nhưng khi hoàn toàn gạt bỏ anh em qua một bên, thì Đức Chúa Trời đã làm tất cả rồi. Sự khám phá ấy chấm dứt mọi sự phấn đấu và nỗ lực của con người.

BƯỚC THỨ NHẤT: “VÌ BIẾT RÕ RẰNG...”

Đời sống Cơ-đốc bình thường phải bắt đầu bằng một sự “nhận biết” rất dứt khoát, không phải nhận biết điều gì đó về lẽ thật, cũng không phải hiểu biết một giáo lý quan trọng nào. Đó hoàn toàn không phải là kiến thức của trí tuệ, nhưng là một sự mở mắt lòng để thấy chúng ta có gì trong Đấng Christ.

Làm thế nào anh em biết tội lỗi mình đã được tha? Có phải vì mục sư của anh em nói với anh em như vậy không? Không, đơn giản là anh em biết như vậy. Nếu tôi hỏi anh em làm sao anh em biết, anh em chỉ trả lời: “Tôi biết điều đó!” Sự hiểu biết đó đến từ sự khải thị thần thượng, đến từ chính Chúa. Dĩ nhiên sự thật về sự tha thứ tội lỗi nằm trong Kinh-thánh, nhưng để lời thành văn của Đức Chúa Trời trở nên Lời sống động từ Đức Chúa Trời đối với anh em thì Ngài phải ban cho anh em “một linh của sự khôn ngoan và sự khải thị để thông biết Ngài” (Êph. 1:17). Điều anh em cần là phải biết Đấng Christ như vậy, và luôn luôn là như vậy. Cho nên đối với mọi sự hiểu biết mới mẻ nào về Đấng Christ, đến một thời điểm anh em sẽ biết điều đó trong lòng mình, “thấy” điều đó trong linh mình. Một ánh sáng chiếu vào người bề trong của anh em và anh em hoàn toàn được thuyết phục bởi sự thật ấy. Điều gì đúng về sự tha tội thì cũng đúng y như vậy về sự giải cứu khỏi tội. Một khi ánh sáng của Đức Chúa Trời chiếu vào lòng anh em, anh em thấy chính mình trong Đấng Christ. Bây giờ không phải vì một người nào đó đã bảo anh em như vậy, và không chỉ vì Thư La Mã chương 6 nói như vậy. Thậm chí còn hơn như vậy nữa. Anh em biết điều đó vì Đức Chúa Trời đã khải thị cho anh em bởi Linh Ngài. Có thể anh em không cảm thấy điều đó, có thể anh em không hiểu, nhưng anh em biết, vì anh em đã thấy điều đó. Một khi thấy chính mình trong Đấng Christ, không một điều gì có thể làm cho lòng tin chắc của anh em về sự thật ấy bị rúng động.

Nếu anh em hỏi một số tín đồ đã bước vào đời sống Cơ-đốc bình thường xem họ đã kinh nghiệm điều đó như thế nào, một số người sẽ nói theo cách này, và một số sẽ nói theo cách kia. Mỗi người nhấn mạnh cách thức riêng của họ để bước vào đời sống ấy và trưng dẫn Kinh-thánh để hỗ trợ cho kinh nghiệm mình. Điều đáng buồn là nhiều Cơ-đốc-nhân đang dùng các kinh nghiệm đặc biệt của mình và những câu Kinh-thánh đặc biệt của mình để chiến đấu với các Cơ-đốc-nhân khác. Sự thật về vấn đề này là trong khi các Cơ-đốc-nhân có thể bước vào đời sống sâu nhiệm hơn bằng những phương cách khác nhau, chúng ta không cần xem những kinh nghiệm hay giáo lý mà họ nhấn mạnh là có tính cách loại trừ lẫn nhau, nhưng trái lại là bổ túc cho nhau. Có một điều chắc chắn, đó là bất cứ kinh nghiệm nào thật sự có giá trị theo mắt Đức Chúa Trời chắc hẳn phải được đạt đến qua sự khám phá mới mẻ về ý nghĩa của Thân-vị và công tác của Chúa Giê-su. Đó là sự thử nghiệm vô cùng quan trọng và an toàn.

Ở đây trong phân đoạn này, Phao-lô làm cho mọi sự đều tùy thuộc vào một khám phá như vậy. “Vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa” (La. 6:6).

KHẢI THỊ THẦN THƯỢNG CẦN THIẾT CHO SỰ HIỂU BIẾT

Cho nên, bước thứ nhất là tìm kiếm nơi Đức Chúa Trời một sự hiểu biết đến qua sự khải thị, tức là một khải thị, không phải về chúng ta nhưng về công tác đã hoàn tất của Chúa Giê-su Christ trên Thập tự giá. Khi Hudson Taylor, nhà thành lập Hội Truyền Giáo Trung Hoa Nội Địa, bước vào đời sống Cơ-đốc bình thường thì chính ông làm như vậy. Anh em còn nhớ thế nào ông thuật lại nan đề lâu dài là làm thế nào để sống “trong Christ”, làm thế nào để nhận lấy nhựa từ Cây Nho vào trong chính mình. Vì ông biết ông phải có sự sống của Đấng Christ tuôn chảy qua mình, tuy nhiên ông cảm thấy mình chưa có điều đó, và ông thấy rõ nhu cầu của mình là phải được đáp ứng trong Đấng Christ. Ông nói trong một bức thư viết cho em gái mình khi ông ở Chin-kiang, vào năm 1869: “Anh biết giá mà anh có thể ở trong Đấng Christ thì mọi sự sẽ tốt đẹp, nhưng anh không thể làm điều đó”.

Càng cố gắng vào trong Ngài, ông càng thấy mình trợt ra ngoài, cho đến một ngày kia ánh sáng chiếu rọi, khải thị đến và ông nhìn thấy. Sau đây là lời ông mô tả khải thị:

Tôi cảm thấy đây là bí quyết: không phải là hỏi tôi phải làm thế nào để nhận lấy nhựa từ Cây Nho vào trong chính mình, nhưng là nhớ rằng Chúa Giê-su là Cây Nho, tức là rễ, cuống, nhánh, nhánh con, lá, hoa, trái, thật sự là tất cả.

Sau đó, trích lời một người bạn đã giúp đỡ mình, ông nói tiếp:

Tôi không thể tự làm cho mình thành một nhánh nho. Chúa Giê-su nói với tôi rằng tôi là một nhánh nho. Tôi là một phần của Ngài, tôi chỉ phải tin và hành động theo điều đó. Tôi thấy điều đó trong Kinh-thánh đã lâu, nhưng bây giờ tôi tin đó là một thực tại sống động.

Dường như một điều gì đó thật sự vẫn luôn luôn là sự thật bỗng nhiên trở nên thật một cách mới mẻ đối với bản thân ông, và một lần nữa, ông viết thư cho em gái mình:

Anh không biết có thể làm cho em hiểu chính anh được bao nhiêu về điều này, vì không có gì mới lạ hay kỳ diệu cả, tuy nhiên, tất cả đều mới mẻ! Nói tóm lại “tôi vốn mù, mà bây giờ lại thấy”... Anh đã chết và được đồng chôn với Đấng Christ, và cũng đã sống lại và thăng thiên... Đức Chúa Trời kể anh là như vậy, Ngài cũng bảo anh hãy kể chính mình như vậy. Ngài biết rõ nhất... Ô, anh vui mừng biết bao khi thấy được lẽ thật này. Anh cũng cầu nguyện cho đôi mắt của sự hiểu biết của em được soi sáng, để em biết và vui hưởng sự giàu có được ban cho chúng ta cách nhưng-không trong Đấng Christ. (2)

Ô, thật là một điều lớn lao khi thấy chúng ta ở trong Đấng Christ! Anh em hãy nghĩ xem chúng ta bối rối biết bao khi cố gắng vào trong một căn phòng mà mình đã ở trong đó rồi! Anh em hãy nghĩ xem thật là phi lý khi chúng ta xin được đặt vào căn phòng ấy! Nếu nhận biết sự thật rằng mình đã ở trong đó, chúng ta sẽ không nỗ lực bước vào. Nếu có thêm khải thị, chúng ta sẽ bớt cầu nguyện và thêm ngợi khen. Chúng ta dành nhiều thời giờ cầu nguyện cho mình như vậy vì chúng ta mù lòa trước những gì Đức Chúa Trời đã làm rồi.

Tôi còn nhớ một ngày kia tại Thượng Hải, tôi đang nói chuyện với một anh em là người nỗ lực rất nhiều về tình trạng thuộc linh của mình.

Anh nói: “Rất nhiều người sống cuộc đời thánh khiết đẹp đẽ. Tôi hổ thẹn về chính mình. Tôi tự xưng mình là một Cơ-đốc-nhân, tuy nhiên, khi so sánh mình với những người khác, tôi cảm thấy mình không phải là Cơ-đốc-nhân gì cả. Tôi muốn biết đời sống bị đóng đinh, sự sống phục sinh này, nhưng tôi không biết, và không thấy cách nào để có thể đạt đến đó”. Một anh em khác đang ở đó với chúng tôi, hai chúng tôi đã nói chuyện khoảng hai tiếng đồng hồ, cố gắng giúp anh ấy thấy rằng anh không thể có được điều gì tách rời khỏi Đấng Christ, nhưng vẫn chưa thành công. Anh ấy nói: “Điều tốt nhất một người có thể làm là cầu nguyện”. Chúng tôi hỏi: “Nhưng nếu Đức Chúa Trời đã ban cho anh mọi sự, anh cần phải cầu nguyện xin điều gì?” Anh đáp: “Ngài đâu đã ban cho mọi sự, vì tôi vẫn nổi nóng, vẫn thường xuyên thất bại, cho nên tôi phải cầu nguyện nhiều hơn”. Chúng tôi hỏi: “Anh có nhận được điều anh cầu nguyện không?” Anh ấy trả lời: “Tôi rất tiếc phải nói rằng tôi không nhận được gì cả”. Chúng tôi cố gắng chỉ ra rằng, anh không phải làm gì để được xưng công chính, thì cũng vậy, anh không phải làm gì để được thánh hóa.

Ngay khi ấy, một anh em thứ ba là người được Chúa dùng rất nhiều, bước vào và cùng tham gia câu chuyện với chúng tôi. Có một cái bình thủy trên bàn. Anh này cầm lên và nói: “Cái gì đây?” “Cái bình thủy”. “Nào, bây giờ anh hãy tưởng tượng một chút là cái bình thủy này biết cầu nguyện, và nó bắt đầu cầu nguyện như vầy: ‘Chúa ơi, con rất muốn làm một cái bình thủy. Xin vui lòng làm con thành một cái bình thủy! Chúa ơi, xin ban cho con ân điển để trở nên một cái bình thủy. Xin làm cho con thành một cái bình thủy!’ Anh sẽ nói gì?” Anh bạn tôi trả lời: “Dầu đó là một cái bình thủy, tôi cũng không nghĩ nó có thể ngu dại như vậy. Cầu nguyện như vậy thật là phi lý, nó đã là một cái bình thủy rồi!” Khi ấy người anh em của tôi mới trả lời: “Anh đang làm một điều giống như vậy. Trong quá khứ, Đức Chúa Trời đã bao hàm anh trong Đấng Christ rồi. Khi Ngài chết, anh cũng chết, khi Ngài sống, anh cũng sống. Ngày nay, anh không thể nói: “Tôi muốn chết, tôi muốn được đóng đinh, tôi muốn có sự sống phục sinh”. Chúa chỉ nhìn anh và nói: “Con chết rồi! Con có sự sống mới rồi!” Tất cả những lời cầu nguyện của anh cũng vô lý y như lời cầu nguyện của cái bình thủy. Anh không cần cầu nguyện với Chúa về điều gì cả, anh chỉ cần được mở mắt ra để thấy rằng Ngài đã làm tất cả rồi”.

Đó là vấn đề. Chúng ta không cần làm gì để chết, chúng ta không cần chờ chết, chúng ta chết rồi. Chúng ta chỉ cần nhận biết những gì Chúa đã làm rồi, và ca ngợi Ngài về điều đó. Ánh sáng đã chiếu trên người bạn ấy. Nước mắt tuôn tràn, anh nói: “Chúa ơi, con ca ngợi Ngài vì Ngài đã bao hàm con trong Đấng Christ. Tất cả những gì của Ngài đều thuộc về con!” Khải thị đã đến, và đức tin có chỗ để nắm lấy; nếu anh em gặp được anh ấy sau đó, anh em sẽ thấy anh ấy thay đổi biết bao!

THẬP TỰ GIÁ ĐỤNG ĐẾN GỐC RỄ NAN ĐỀ CHÚNG TA

Tôi xin nhắc anh em một lần nữa về bản chất cơ bản của những gì Chúa đã làm trên Thập tự giá. Tôi cảm thấy tôi không thể nhấn mạnh điều này quá nhiều vì đáng lẽ chúng ta phải nhìn thấy rồi.

Để minh họa điều này, giả sử chính phủ của đất nước anh em muốn bài trừ tệ nạn uống rượu mạnh cách triệt để, và họ quyết định rằng cả nước phải dẹp sạch rượu. Làm thế nào để khiến cho quyết định ấy có hiệu lực? Chúng ta có thể giúp đỡ cách nào? Nếu chúng ta phải lục soát mọi cửa hàng và từng căn nhà khắp nước và đập bể tất cả những chai rượu, bia hay rượu mạnh mà mình bắt gặp, thì có giải quyết được vấn đề không? Chắc chắn là không. Nhờ đó có lẽ chúng ta loại trừ không còn một giọt rượu nào trong cả xứ, nhưng phía sau những chai rượu ấy là các nhà máy sản xuất rượu, nếu chúng ta chỉ giải quyết những chai rượu mà không đụng gì đến các nhà máy ấy, việc sản xuất rượu sẽ tiếp tục và không có giải pháp lâu bền cho tệ nạn ấy. Không, những nhà máy sản xuất rượu, những nhà máy bia và nơi cất rượu phải bị đóng cửa thì vấn đề rượu bia mới được giải quyết cách hiệu quả và lâu bền.

Chúng ta là nhà máy, hành vi của chúng ta là các sản phẩm. Huyết của Chúa Giê-su giải quyết vấn đề sản phẩm, tức là tội lỗi của chúng ta. Cho nên vấn đề chúng ta làm gì đã được giải quyết, nhưng Đức Chúa Trời có dừng tại đó không? Còn vấn đề con người chúng ta thì sao? Tội lỗi do chúng ta sản sinh ra. Chúng đã được xử lý, nhưng chính chúng ta sẽ được đối xử như thế nào? Anh em có tin rằng Chúa sẽ tẩy sạch mọi tội của chúng ta và sau đó để chúng ta tự loại trừ nhà máy sản xuất tội sao? Anh em có tin rằng, sau khi loại bỏ mọi sản phẩm được sản xuất ra, Ngài để tự chúng ta giải quyết nguồn của sản phẩm sao?

Hỏi tức là đã trả lời. Dĩ nhiên Ngài không làm một nửa công tác và bỏ dở nửa kia. Không, Ngài đã loại bỏ sản phẩm và cũng dẹp sạch nhà máy sản xuất các sản phẩm ấy.

Công tác đã hoàn thành của Đấng Christ thật sự đã đụng đến tận gốc rễ nan đề của chúng ta và giải quyết nó. Đối với Đức Chúa Trời không có những biện pháp nửa vời. Ngài đã dự bị đầy đủ để luật của tội phải bị bẻ gãy hoàn toàn.

Phao-lô nói: “Vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội bị diệt trừ đi, và chúng ta không còn ở dưới ách nô lệ cho tội nữa” (La. 6:6). “Vì biết rằng”! Vâng, nhưng anh em có biết không? hay là “anh em chẳng biết?” (La. 6:3). Nguyện Chúa đầy ân điển mở mắt chúng ta.

(1) Cách nói “với Ngài” trong La Mã 6:6 dĩ nhiên có chứa đựng ý nghĩa giáo lý cũng như lịch sử (hay thời gian). Câu này chỉ có thể đảo ngữ trong ý nghĩa lịch sử. — W.N.

(2) Những phần này trích từ tác phẩm “Hudson Taylor và Hội Truyền Giáo Trung Hoa Nội Địa” của Tiến sĩ và Bà Howard Taylor, Chương Mười Hai, “Sự Sống Hoán Đổi”. Người đọc nên đọc trọn cả phần này. — A.K.