Thông tin sách

Nếp Sống Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nếp sống Cơ đốc bình thường
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 2

Untitled Document

CHƯƠNG HAI

THẬP TỰ GIÁ CỦA ĐẤNG CHRIST

Chúng ta đã thấy La Mã từ chương 1 đến chương 8 chia làm hai phần. Trong phần đầu, chúng ta được thấy Huyết giải quyết những gì chúng ta đã làm, trong khi ở phần sau, chúng ta sẽ thấy Thập tự giá (1) xử lý con người của chúng ta. Chúng ta cần Huyết để được tha thứ, và cũng cần Thập tự giá để được giải cứu. Trong chương trước, chúng ta đã vắn tắt bàn qua vấn đề đầu tiên trong hai phần này, và bây giờ chúng ta sẽ chuyển sang phần thứ hai, nhưng trước khi làm như vậy, chúng ta sẽ để chút thì giờ xem xét một vài đặc điểm khác nữa của chương này, là những điểm nhấn mạnh sự khác biệt nổi bật về chủ đề giữa hai phần này.

THÊM MỘT VÀI SỰ KHÁC BIỆT

Hai phương diện của sự phục sinh được đề cập ở hai phần này, trong các chương bốn và sáu. Trong La Mã 4:25 sự phục sinh của Chúa Giê-su được đề cập liên quan đến sự xưng công chính của chúng ta: “Giê-su, Chúa chúng ta... đã bị nộp vì sự quá phạm của chúng ta, và sống lại vì sự xưng công chính của chúng ta”. Vấn đề được nhìn thấy ở đây là chỗ đứng của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng trong La Mã 6:4, sự phục sinh được nói đến như sự truyền sự sống mới cho chúng ta để bước đi thánh khiết: “Như Christ... được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng phải bước đi trong sự tươi mới của sự sống cũng thể ấy”. Ở đây, vấn đề trước mặt chúng ta là cách cư xử.

Một lần nữa, sự bình an được nói đến ở cả hai phần, trong chương năm và tám. La Mã chương 5 nói về sự bình an với Đức Chúa Trời, là kết quả của sự xưng công chính bởi đức tin trong Huyết Ngài: “Vậy, chúng ta được xưng công chính bởi đức tin, thì được hòa với Đức Chúa Trời nhờ Chúa chúng ta là Giê-su Christ” (5:1) Điều này có nghĩa là, bây giờ tôi đã được tha thứ tội lỗi, Đức Chúa Trời không còn là nguyên nhân khiến tôi sợ hãi. Tôi vốn là kẻ thù của Đức Chúa Trời, nay đã được “hòa lại... bởi sự chết của Con Ngài” (5:10). Tuy nhiên, chẳng bao lâu tôi khám phá ra rằng tôi là nguyên nhân lớn gây nên rắc rối cho chính mình. Vẫn còn có sự bất ổn bên trong, vì trong tôi có một điều gì đó lôi kéo mình phạm tội. Có sự bình an với Đức Chúa Trời, nhưng không có sự bình an với chính mình. Thật sự có một cuộc nội chiến trong lòng tôi. Tình trạng này được mô tả rất đúng trong La Mã chương 7, ở đây chúng ta thấy xác thịt và linh xung đột với nhau cách kịch liệt trong tôi. Nhưng từ đây, sự luận giải trong chương tám dẫn đến sự bình an bên trong của [một người] bước đi trong Linh. “Tâm trí thuộc về xác thịt là sự chết”, vì nó “thù nghịch Đức Chúa Trời”, nhưng “tâm trí thuộc về linh là sự sống và bình an” (La. 8:6, 7).

Nhìn sâu xa hơn nữa, chúng ta khám phá ra rằng phân nửa đầu của phần này bàn cách chung chung đến vấn đề xưng công chính (chẳng hạn như La. 3:24-26; 4:5, 25), trong khi phân nửa sau lấy vấn đề tương xứng về sự thánh hóa làm đề tài chính (xin xem La. 6:19, 22). Khi nhận biết lẽ thật quí báu về sự xưng công chính bởi đức tin, chúng ta vẫn chỉ mới biết một nửa câu chuyện. Chúng ta vẫn chỉ mới giải quyết nan đề chỗ đứng của mình trước mặt Đức Chúa Trời. Khi chúng ta tiếp tục tiến tới, Đức Chúa Trời ban thêm một điều gì đó cho chúng ta, tức là cách giải quyết nan đề về hành vi của chúng ta, và ý tưởng khai triển trong các chương này là để nhấn mạnh điều ấy. Trong mỗi trường hợp, bước thứ hai luôn theo sau bước thứ nhất, và nếu chỉ biết bước thứ nhất, thì chúng ta vẫn sống một cuộc đời Cơ-đốc dưới mức bình thường. Như vậy, làm thế nào chúng ta có thể sống một cuộc đời Cơ-đốc bình thường? Làm thế nào để bước vào đời sống ấy? Dĩ nhiên trước hết chúng ta phải được tha thứ tội lỗi, chúng ta phải được xưng công chính, chúng ta phải được bình an với Đức Chúa Trời: đó là nền tảng thiết yếu của chúng ta. Nhưng với nền tảng đã thật sự được thiết lập qua hành động đầu tiên của đức tin chúng ta trong Đấng Christ, qua phần trên, chúng ta thấy sáng tỏ rằng mình phải tiến lên đạt đến một điều gì hơn nữa.

Cho nên chúng ta thấy Huyết giải quyết các tội lỗi của chúng ta cách khách quan. Chúa Giê-su đã mang tội lỗi trên Thập tự giá vì chúng ta là Đấng Thay Thế chúng ta và nhờ đó đã đạt được sự tha thứ, sự xưng công chính và sự giải hòa cho chúng ta. Nhưng bây giờ chúng ta phải tiến một bước xa hơn trong chương trình của Đức Chúa Trời để hiểu cách Ngài xử lý nguyên tắc tội trong chúng ta. Huyết có thể rửa sạch tội lỗi tôi, nhưng không thể rửa sạch “con người cũ” của tôi. Cần có Thập tự giá đóng đinh tôi. Huyết giải quyết các tội lỗi, nhưng Thập tự giá phải xử lý tội nhân.

Anh em sẽ khó tìm được từ ngữ “tội nhân” trong bốn chương đầu của Thư La Mã. Lý do là vì trong những chương ấy chính tội nhân không được xem là điểm chính yếu, mà là những tội lỗi người ấy đã phạm. Từ ngữ “tội nhân” chỉ xuất hiện rõ rệt lần đầu trong chương năm, và điều quan trọng cần lưu ý là cách tội nhân được giới thiệu trong chương này. Tại đó, một tội nhân được gọi là tội nhân vì người ấy ra đời là một tội nhân, không phải vì anh ta đã phạm tội. Đây là một sự khác biệt quan trọng. Đúng là khi một người rao giảng Phúc-âm muốn thuyết phục một người nào đó trên đường phố rằng anh ta là một tội nhân, thường thường người ấy sẽ dùng câu Kinh-thánh được ưa chuộng là La Mã 3:23, là câu nói rằng “mọi người đều đã phạm tội”; nhưng cách sử dụng câu ấy không được Kinh-thánh chứng minh là chính xác. Những ai dùng câu này như vậy mắc hiểm họa tranh luận loanh quanh cách sai lầm, vì Thư La Mã không dạy rằng chúng ta là tội nhân vì chúng ta đã phạm tội, nhưng là chúng ta phạm tội vì chúng ta là tội nhân. Chúng ta là những tội nhân do cấu tạo hơn là do hành động. Theo như La Mã 5:19 diễn tả: “Vì như bởi sự không vâng phục của một người mà mọi người đều trở nên [hay: được cấu tạo thành] tội nhân”.

Chúng ta được cấu tạo thành những tội nhân như thế nào? Bởi sự không vâng phục của A-đam. Chúng ta không trở nên tội nhân vì những gì mình đã làm, nhưng vì những gì A-đam đã làm và đã trở thành. Tôi nói tiếng Anh, nhưng không nhờ đó được cấu tạo thành một người Anh. Thật ra tôi là một người Hoa. Cho nên chương 3 khiến chúng ta chú ý vào những gì mình đã làm _ “mọi người đều đã phạm tội” _ tuy nhiên, không phải vì những gì chúng ta đã làm mà chúng ta trở nên tội nhân.

Tôi từng hỏi các trẻ em trong một lớp học: “Tội nhân là ai?” Các em trả lời ngay: “Là những người phạm tội”. Vâng, ai phạm tội là tội nhân, nhưng sự kiện người ấy phạm tội chỉ là bằng cớ chứng tỏ người ấy đã là một tội nhân, đó không phải là nguyên nhân. Người phạm tội là tội nhân, nhưng cũng đúng y như vậy, những người không phạm tội, nếu thuộc về dòng giống A-đam, cũng là tội nhân, và cần được cứu chuộc. Anh em hiểu ý tôi không? Có những tội nhân xấu và những tội nhân tốt, có những tội nhân đạo đức và những tội nhân bại hoại, nhưng họ đều là tội nhân như nhau. Đôi khi chúng ta nghĩ rằng ước gì mình đừng làm một số điều nào đó thì mọi sự đã tốt đẹp rồi; nhưng nan đề nằm sâu hơn những gì chúng ta làm rất nhiều: nan đề nằm ở chỗ chúng ta là ai. Một người Hoa có thể ra đời tại Mỹ và không biết nói tiếng Hoa gì cả, nhưng dầu vậy người ấy là người Hoa vì đã sinh ra là người Hoa. Sự sinh ra mới là điều đáng kể. Cho nên tôi là tội nhân vì tôi sinh ra trong A-đam. Đó không phải là vấn đề hành vi mà là vấn đề di truyền, vấn đề cha mẹ tôi là ai. Không phải tôi là tội nhân vì tôi phạm tội, nhưng tôi phạm tội vì tôi ra từ “nguyên liệu” sai hỏng. Tôi phạm tội vì tôi là một tội nhân.

Chúng ta có khuynh hướng suy nghĩ rằng những gì mình làm rất xấu xa, nhưng chính mình thì không xấu như vậy. Đức Chúa Trời rất chú tâm đến việc bày tỏ cho chúng ta biết chính chúng ta là sai lầm, sai lầm từ cơ bản. Gốc rễ của nan đề là tội nhân, tội nhân phải bị xử lý. Huyết giải quyết tội lỗi chúng ta, nhưng chính chúng ta cần được Thập tự giá xử lý. Huyết đem đến sự tha thứ cho những gì chúng ta đã làm, Thập tự giá đem đến sự giải cứu chúng ta khỏi những gì chúng ta là [tức con người của mình].

TÌNH TRẠNG BẢN CHẤT CON NGƯỜI

Vì vậy, chúng ta đến La Mã 5:12-21. Trong phân đoạn quan trọng này, ân điển được đặt tương phản với tội lỗi và sự vâng phục của Đấng Christ được đặt tương phản với sự không vâng phục của A-đam. Điều này xuất hiện ngay từ đầu phần hai của Thư La Mã (5:12 đến 8:39) là điểm bây giờ chúng ta sẽ đặc biệt lưu tâm, và sự luận giải của phần này dẫn đến một kết luận là trung tâm những gì chúng ta sẽ suy gẫm sâu xa hơn. Kết luận ấy là gì? Điều này được tìm thấy trong câu 19 mà chúng ta đã trưng dẫn: “Vì như bởi sự không vâng phục của một người mà mọi người đều trở nên tội nhân thể nào thì bởi sự vâng phục của một người mà mọi người đều sẽ trở nên công chính cũng thể ấy”. Ở đây, Linh của Đức Chúa Trời đang tìm cách trước hết bày tỏ cho chúng ta biết chúng ta là ai, và sau đó cho biết là bằng cách nào chúng ta đã trở nên như vậy.

Khi bắt đầu đời sống Cơ-đốc-nhân, chúng ta quan tâm đến những gì mình làm, chứ không quan tâm đến con người mình. Chúng ta buồn rầu vì những gì mình đã làm hơn vì con người của mình. Chúng ta nghĩ rằng phải chi mình có thể điều chỉnh một số điều, mình sẽ là những Cơ-đốc-nhân tốt, do đó chúng ta bắt đầu thay đổi hành vi của mình. Nhưng kết quả không như chúng ta mong đợi. Chúng ta hoảng hốt khám phá ra đó là một điều gì khác hơn là một trường hợp rắc rối ở bên ngoài _ thật ra có một nan đề trầm trọng ở bên trong. Chúng ta cố gắng làm đẹp lòng Chúa, nhưng khám phá ra một điều gì đó ở bên trong không muốn làm đẹp lòng Ngài. Chúng ta cố gắng khiêm nhường, nhưng có một điều gì đó trong con người chúng ta từ chối khiêm nhường. Chúng ta cố gắng yêu thương, nhưng ở trong thâm tâm, chúng ta cảm thấy chẳng yêu thương chút nào. Chúng ta mỉm cười và cố gắng tỏ ra rất nhân hậu, nhưng bên trong chúng ta cảm thấy rõ ràng mình không nhân hậu gì cả. Càng cố gắng điều chỉnh những điều bề ngoài, chúng ta càng nhận biết sự rắc rối nằm rất sâu. Sau đó chúng ta đến với Chúa và nói: “Chúa ơi, bây giờ con thấy rồi! Không chỉ những gì con làm là sai lầm, mà chính con sai lầm”.

Kết luận của La Mã 5:19 bắt đầu chiếu sáng trên chúng ta. Chúng ta là những tội nhân. Chúng ta là những phần tử của một nòi giống loài người có bản chất khác hơn những gì Đức Chúa Trời dự định cho mình. Do sự Sa Ngã, một sự thay đổi cơ bản đã xảy ra trong tính chất của A-đam, qua đó, ông trở nên một tội nhân, một người từ trong sự cấu tạo của mình không thể đẹp lòng Đức Chúa Trời, và sự giống nhau trong cùng một gia đình thì không chỉ cạn cợt bề ngoài nhưng cũng ăn sâu vào bản chất bên trong của chúng ta. Chúng ta là những người có “cấu tạo tội nhân”. Điều này đã xảy ra như thế nào? Vị sứ đồ nói: “Bởi sự không vâng phục của một người”. Tôi xin cố gắng minh họa điều này bằng một ví dụ đơn giản.

Tôi là một người họ Nghê. Đó là một họ khá phổ thông của người Hoa. Tôi đã nhận được họ ấy như thế nào? Tôi không chọn lựa nó. Tôi không đọc qua danh sách những họ người Hoa có thể có được và chọn họ này. Thật ra tôi không làm gì cả để được họ Nghê, hơn nữa, tôi không thể làm gì để thay đổi nó. Tôi là Nghê vì cha tôi họ Nghê, và cha tôi họ Nghê vì ông nội tôi họ Nghê. Nếu tôi hành động như một người họ Nghê, tôi là một người họ Nghê, nếu tôi hành động không giống như một người họ Nghê, tôi vẫn là một người họ Nghê. Nếu tôi trở thành tổng thống của Trung Quốc, tôi là một người họ Nghê, hay nếu tôi trở thành một người hành khất ngoài đường, tôi vẫn là một người họ Nghê. Không có điều gì tôi làm hay điều gì tôi kiềm chế không làm sẽ khiến tôi không còn là một người họ Nghê nữa.

Chúng ta là những tội nhân, không phải vì chính chúng ta nhưng vì A-đam. Không phải vì cá nhân tôi đã phạm tội nên tôi là một tội nhân, nhưng vì tôi ở trong A-đam khi ông phạm tội. Vì bẩm sinh tôi ra từ A-đam, cho nên tôi là một phần của ông. Hơn nữa, tôi không thể làm gì để thay đổi điều này. Dầu bằng cách cải thiện hành vi của mình, tôi vẫn không thể làm cho mình trở nên điều gì khác hơn là một phần tử của A-đam, do đó tôi là một tội nhân.

Tại Trung Quốc, có lần tôi nói chuyện về vấn đề di truyền này và nhận xét: “Chúng ta đều đã phạm tội trong A-đam”. Một người đàn ông nói: “Tôi không hiểu”; vì vậy tôi tìm cách giải thích như sau. Tôi nói: “Mọi người Hoa đều là dòng dõi của Huang-ti. Cách đây hơn bốn ngàn năm, ông có một cuộc chiến tranh với Si-iu. Kẻ thù của ông rất mạnh, nhưng dầu vậy, ông đã thắng kẻ thù và giết hắn đi. Sau đó, Huang-ti thành lập nước Trung Hoa. Vì vậy, cách đây bốn ngàn năm, quốc gia chúng ta đã được Huang-ti thành lập. Bây giờ, điều gì đã xảy ra nếu Huang-ti không giết kẻ thù mình, nhưng thay vào đó ông lại bị giết? Nếu vậy thì bây giờ anh ở đâu?” Người đàn ông trả lời: “Nếu vậy thì sẽ chẳng có tôi”. “Ồ không! Huang-ti cứ chết cái chết của ông, còn anh cứ sống cuộc đời của mình chứ”. Người đàn ông kêu lên: “Không thể có chuyện đó được! Nếu ông ấy chết thì tôi không bao giờ sống được, vì sự sống tôi ra từ ông ấy mà”.

Anh em có thấy sự sống con người là một không? Sự sống của chúng ta ra từ A-đam. Nếu ông cố của anh em chết vào năm ông cụ ba tuổi, thì anh em ở đâu? Anh em cũng chết trong ông cụ rồi! Kinh nghiệm của anh em ràng buộc với kinh nghiệm của ông cụ. Cũng giống như vậy, kinh nghiệm của mỗi người trong chúng ta buộc chặt với kinh nghiệm của A-đam. Không ai có thể nói: “Tôi không có mặt trong vườn Ê-đen” vì tất cả chúng ta đều “tiềm tàng” có mặt tại đó khi A-đam đầu hàng trước lời nói của con rắn. Cho nên tất cả chúng ta đều liên hệ đến tội lỗi của A-đam, và do ra đời “trong A-đam” chúng ta nhận lãnh từ ông tất cả những gì ông đã trở thành, là hậu quả tội lỗi của ông, tức bản chất A-đam là bản chất của một tội nhân. Chúng ta từ ông mà hiện hữu, và vì sự sống của ông đã trở nên một sự sống tội lỗi, một bản chất tội lỗi, cho nên bản chất chúng ta vốn ra từ ông cũng tội lỗi. Vì vậy, như chúng tôi đã nói, nan đề nằm ở sự di truyền, không phải ở hành vi. Nếu không thay đổi cha mẹ, chúng ta không thể được giải cứu.

Nhưng chính trong chiều hướng này chúng ta tìm được giải pháp cho nan đề của mình, vì đó chính là cách Đức Chúa Trời đã giải quyết nó.

TRONG A-ĐAM THẾ NÀO THÌ TRONG CHRIST CŨNG NHƯ VẬY

Trong La Mã 5:12-21, chúng ta không chỉ được biết về A-đam, mà cũng được biết về Chúa Giê-su. “Vì như bởi sự không vâng phục của một người mà mọi người đều trở nên tội nhân thể nào, thì bởi sự vâng phục của một người mà mọi người đều sẽ trở nên công chính cũng thể ấy”. Trong A-đam, chúng ta nhận lãnh mọi sự của A-đam; trong Đấng Christ, chúng ta nhận lãnh mọi sự của Đấng Christ.

Các Cơ-đốc-nhân ít hiểu biết các từ ngữ “trong A-đam” và “trong Christ”, nên không ngại lặp đi lặp lại, một lần nữa, bằng một hình ảnh minh họa, tôi ao ước nhấn mạnh ý nghĩa di truyền và nòi giống của các từ ngữ “trong Đấng Christ”. Hình ảnh minh họa này được tìm thấy trong thư gửi cho người Hê-bơ-rơ. Anh em có nhớ rằng trong phần đầu của bức thư ấy, tác giả tìm cách bày tỏ rằng Mên-chi-xê-đéc lớn hơn Lê-vi không? Anh em hãy nhớ lại điểm đã được chứng minh là chức tế lễ của Đấng Christ lớn hơn chức tế lễ của A-rôn là người thuộc về chi phái Lê-vi. Bây giờ, để chứng minh điều đó, trước hết ông chứng minh chức tế lễ của Mên-chi-xê-đéc lớn hơn chức tế lễ của Lê-vi, vì lý do đơn giản là chức tế lễ của Đấng Christ “theo ban Mên-chi-xê-đéc” (Hê. 7:14-17), trong khi chức tế lễ của A-rôn dĩ nhiên theo ban Lê-vi. Nếu tác giả có thể chứng tỏ cho chúng ta rằng theo mắt Đức Chúa Trời, Mên-chi-xê-đéc lớn hơn Lê-vi, thì ông đã thành công. Đó là vấn đề, và ông chứng minh điều đó một cách đặc biệt.

Trong Hê-bơ-rơ chương 7, ông nói rằng một ngày kia, sau khi đánh trận với các vua trở về (Sáng. 14), Áp-ra-ham dâng một phần mười chiến lợi phẩm cho Mên-chi-xê-đéc và nhận được sự chúc phước từ ông ấy. Vì Áp-ra-ham làm như vậy, cho nên Lê-vi kém hơn Mên-chi-xê-đéc. Vì sao? Vì Áp-ra-ham dâng một phần mười cho Mên-chi-xê-đéc có nghĩa là Y-sác “ở trong Áp-ra-ham” dâng cho Mên-chi-xê-đéc. Nhưng nếu đúng như vậy, thì Gia-cốp cũng “ở trong Áp-ra-ham” dâng cho Mên-chi-xê-đéc, lần lượt có nghĩa là Lê-vi “ở trong Áp-ra-ham” dâng cho Mên-chi-xê-đéc. Rõ ràng là kẻ dưới dâng hiến cho người trên (Hê. 7:7). Cho nên vị trí của Lê-vi kém hơn Mên-chi-xê-đéc, và do đó, chức tế lễ của A-rôn kém chức tế lễ của Chúa Giê-su. Trong thời điểm chiến tranh với các vua lúc ấy, thậm chí chưa ai nghĩ đến Lê-vi. Tuy nhiên, ông “ở trong lòng tổ phụ” Áp-ra-ham và “do Áp-ra-ham mà đóng một phần mười” (Hê. 7:9, 10).

Bây giờ, đây là ý nghĩa chính xác của từ ngữ “trong Christ”. Áp-ra-ham là đầu của gia đình đức tin, bao hàm cả gia đình trong chính ông. Khi ông dâng hiến cho Mên-chi-xê-đéc, cả gia đình trong ông cùng dâng hiến cho Mên-chi-xê-đéc. Họ không dâng hiến riêng rẽ như các cá nhân, nhưng họ ở trong ông, và vì vậy khi dâng hiến, ông bao hàm cả dòng dõi trong chính mình.

Cho nên chúng ta được trao cho một khả năng mới. Trong A-đam, mọi người đều hư mất. Qua sự không vâng phục của một người, chúng ta đều được cấu tạo thành những tội nhân. Bởi A-đam, tội đã bước vào và sự chết đến qua tội, và từ ngày đó, tội đã cai trị cả dòng dõi loài người, dẫn đến sự chết. Nhưng bây giờ, một tia sáng đã chiếu rọi trên sân khấu. Nhờ sự vâng phục của Một Người Khác, chúng ta được “cấu tạo” trở thành công chính. Ở đâu tội lỗi gia tăng, ân điển lại càng dư dật hơn, tội đã cai trị dẫn đến sự chết thế nào thì ân điển cũng cai trị bởi sự công chính thể ấy, dẫn vào trong sự sống đời đời bởi Giê-su Christ, Chúa chúng ta (La. 5:19-21). Trong A-đam chúng ta tuyệt vọng; trong Đấng Christ, chúng ta hi vọng.

PHƯƠNG CÁCH GIẢI CỨU THẦN THƯỢNG

Đức Chúa Trời định rõ rằng sự tính toán này sẽ dẫn chúng ta đến sự giải cứu khỏi tội một cách thực tiễn. Phao-lô bày tỏ điều này khá rõ ràng khi ông mở đầu chương sáu của bức thư ông viết với câu hỏi: “Chúng ta cứ ở trong tội ư?” Cả con người ông lùi lại vì ghê sợ trước một lời đề nghị như vậy. Ông kêu lên: “Đức Chúa Trời cấm điều đó!”. Làm thế nào một Đức Chúa Trời thánh khiết có thể thỏa lòng khi có những người con bất khiết, bị tội lỗi xiềng xích? Vì vậy, “Chúng ta... lẽ nào còn sống trong tội nữa?” (La. 6:1, 2). Vì vậy, chắc chắn Đức Chúa Trời đã cung ứng đầy đủ để chúng ta được giải thoát khỏi sự cai trị của tội.

Nhưng đây là nan đề của chúng ta. Chúng ta bẩm sinh là những tội nhân, làm thế nào có thể cắt đứt dây di truyền tội lỗi của mình? Nhận biết rằng mình ra đời trong A-đam, làm thế nào chúng ta ra khỏi A-đam? Tôi xin nói ngay, Huyết không thể đem chúng ta ra khỏi A-đam. Chỉ có một cách duy nhất. Vì chúng ta bước vào bằng đường sinh, chúng ta phải ra khỏi bằng đường tử. Để loại bỏ bản chất tội lỗi của mình, chúng ta phải loại bỏ nó bằng sự sống. Chúng ta nô lệ cho tội lỗi do được sinh ra, chúng ta được giải cứu khỏi tội lỗi do chết đi. Đây là lối thoát mà Đức Chúa Trời đã dự bị. Chết là bí quyết giải phóng. “Chúng ta... đã chết đối với tội” (La. 6:2).

Nhưng làm thế nào chúng ta có thể chết? Một số người trong chúng ta hết sức cố gắng từ bỏ đời sống tội lỗi, nhưng rồi lại khám phá thấy rằng nó bám vào mình quá chặt. Đâu là lối thoát? Không phải bằng cách tự tử, nhưng bằng cách nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã xử lý chúng ta trong Đấng Christ. Điều này được tóm tắt trong câu nói thứ hai của vị sứ đồ: “Tất cả chúng ta là những người đã chịu báp-têm trong Christ Giê-su đều đã chịu báp-têm trong sự chết Ngài” (La. 6:3).

Nhưng nếu Đức Chúa Trời đã đối xử với chúng ta “trong Christ Giê-su” thì chúng ta phải ở trong Ngài để điều này trở nên hiệu quả, và việc đó dường như là một nan đề lớn. Làm thế nào để chúng ta “vào trong” Đấng Christ? Ở đây một lần nữa Đức Chúa Trời đến giúp đỡ chúng ta. Thật ra chúng ta không có cách nào bước vào cả, nhưng điều quan trọng hơn là chúng ta không cần cố gắng bước vào, vì chúng ta đã ở trong rồi. Điều chúng ta không thể tự làm cho mình, thì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta. Ngài đã đặt chúng ta vào trong Đấng Christ. Tôi xin nhắc anh em câu Kinh-thánh trong 1 Cô-rin-tô 1:30. Tôi nghĩ đó là một trong những câu Kinh-thánh tốt nhất trong toàn bộ Tân Ước: “Anh em ở trong Đấng Christ”. Bằng cách nào? “Nhờ Ngài [tức là nhờ Đức Chúa Trời], anh em ở trong Đấng Christ”. Ngợi khen Đức Chúa Trời! Chúng ta không phải hoạch định một phương cách bước vào hay giải quyết điều đó. Chúng ta không cần hoạch định cách nào để bước vào. Đức Chúa Trời đã định rồi, không những Ngài đã định mà Ngài còn thực hiện. “Nhờ Ngài anh em ở trong Christ Giê-su”. Chúng ta đang ở trong, vì vậy, chúng ta không cần phải cố gắng bước vào. Đó là một hành động thần thượng, và hành động ấy đã hoàn tất.

Bây giờ nếu điều này đúng, một số điểm sẽ theo sau. Trong hình ảnh minh họa của Thư Hê-bơ-rơ chương 7 mà chúng ta vừa xem xét trên đây, chúng ta thấy rằng “trong Áp-ra-ham”, cả dân Y-sơ-ra-ên, và do đó kể cả Lê-vi dầu chưa ra đời, đều dâng phần mười cho Mên-chi-xê-đéc. Họ không dâng cách riêng rẽ và cá nhân, nhưng họ ở trong Áp-ra-ham khi ông dâng hiến và sự dâng hiến của ông bao hàm toàn bộ dòng dõi của mình. Như vậy, điều này là một hình ảnh thật về chúng ta liên quan đến việc “ở trong Đấng Christ”. Khi Chúa Giê-su ở trên Thập tự giá, tất cả chúng ta đều chết, không phải một cách cá nhân, vì chúng ta chưa ra đời, nhưng vì ở trong Ngài chúng ta đã chết trong Ngài. “Một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết” (2 Cô. 5:14). Khi Ngài bị đóng đinh, tất cả chúng ta đều bị đóng đinh tại đó với Ngài.

Nhiều khi rao giảng trong các làng mạc Trung Quốc, người ta phải dùng những hình ảnh minh họa rất đơn sơ để giải thích các lẽ thật thần thượng sâu nhiệm. Tôi còn nhớ có lần tôi lấy một quyển sách nhỏ, đặt một tờ giấy vào bên trong, và nói với dân làng mộc mạc rằng: “Bây giờ xin hãy nhìn kỹ. Tôi lấy một tờ giấy có những tính chất riêng, tách rời với quyển sách này. Tôi không định dùng tờ giấy này làm gì đặc biệt, nên lúc này tôi đặt nó vào trong quyển sách. Bây giờ tôi sẽ gởi quyển sách này đi Thượng Hải. Tôi không gởi tờ giấy, nhưng tờ giấy đã được đặt vào trong quyển sách. Như vậy, tờ giấy ở đâu? Có thể nào quyển sách đi đến Thượng Hải, nhưng tờ giấy còn đây không? Tờ giấy có thể nào có một số phận khác với quyển sách không? Không! Quyển sách đi đâu, tờ giấy theo đó. Nếu tôi đánh rơi quyển sách xuống sông, tờ giấy cũng ở dưới sông, nếu tôi nhanh chóng vớt quyển sách lên, tôi cũng lấy lại được tờ giấy. Bất cứ kinh nghiệm nào quyển sách trải qua, tờ giấy cũng cùng trải qua với nó, vì nó vẫn nằm trong quyển sách”.

“Nhờ Ngài anh em được ở trong Christ Giê-su”. Chính Chúa là Đức Chúa Trời đã đặt chúng ta vào trong Đấng Christ, và những gì Đức Chúa Trời đối xử với Đấng Christ, Ngài cũng đối xử với toàn thể nhân loại. Số phận của chúng ta được ràng buộc với số phận của Ngài. Những gì Ngài đã trải qua, chúng ta cũng trải qua, vì “ở trong Đấng Christ” là được đồng nhất với Ngài trong cả sự chết lẫn sự sống lại của Ngài. Ngài đã bị đóng đinh: còn chúng ta thì sao? Chúng ta có phải xin Đức Chúa Trời đóng đinh mình không? Không bao giờ! Khi Đấng Christ chịu đóng đinh, chúng ta cũng bị đóng đinh, sự đóng đinh của Ngài ở trong quá khứ, vì vậy, sự đóng đinh của chúng ta không thể ở trong tương lai. Tôi thách thức anh em tìm ra một câu nào trong Kinh-thánh nói với chúng ta rằng sự đóng đinh của chúng ta ở trong tương lai. Tất cả những câu liên quan đến điều này đều ở thì “một-lần-đủ-cả”, tức là thì “quá khứ đời đời” trong tiếng Hi-lạp (xin xem La. 6:6; Ga. 2:20; 5:24; 6:14). Cũng y như không ai có thể tự tử bằng cách tự đóng đinh, vì đó là một điều không thể có được về phương diện thuộc thể, thì cũng vậy, theo từ ngữ thuộc linh, Đức Chúa Trời không đòi hỏi chúng ta tự đóng đinh chính mình. Chúng ta bị đóng đinh khi Đấng Christ bị đóng đinh, vì Đức Chúa Trời đặt chúng ta trong Ngài. Chúng ta chết trong Đấng Christ không chỉ là một vị trí có tính cách giáo lý, đó là một sự thật đời đời, không thể chối cãi được.

SỰ CHẾT VÀ SỰ PHỤC SINH CỦA NGÀI VỚI TÍNH CÁCH ĐẠI DIỆN VÀ BAO HÀM

Khi chết trên Thập tự giá, Chúa Giê-su đổ huyết ra, qua đó ban sự sống vô tội của Ngài để chuộc tội cho chúng ta và để làm thỏa mãn sự công chính và sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Chỉ có Con Đức Chúa Trời mới có quyền làm như vậy. Không con người nào có thể dự phần trong điều đó. Kinh-thánh không bao giờ nói với chúng ta rằng chúng ta cùng đổ huyết với Đấng Christ. Trong công tác cứu chuộc của Ngài trước mặt Đức Chúa Trời, Ngài hành động một mình, không ai có thể dự phần. Nhưng Chúa không chỉ chết để đổ huyết ra; Ngài chết để chúng ta có thể chết. Ngài chết như Người Đại Diện cho chúng ta. Trong sự chết của mình, Ngài bao hàm anh em và tôi.

Chúng ta thường dùng các từ ngữ “thay thế” và “đồng nhất” để mô tả hai phương diện của sự chết Đấng Christ. Bây giờ nhiều lúc dùng chữ “đồng nhất” là điều tốt. Nhưng sự đồng nhất gợi ý về một điều bắt đầu từ phía chúng ta: ấy là tôi tự cố gắng đồng nhất mình với Chúa. Tôi đồng ý từ ngữ này đúng, nhưng về sau hãy dùng. Tốt hơn chúng ta nên bắt đầu với sự kiện Chúa bao hàm tôi trong sự chết của Ngài. Đó là cái chết “bao hàm” của Chúa, đặt tôi trong một vị trí để đồng nhất tôi, không phải tôi tự đồng nhất mình để được bao hàm. Việc Đức Chúa Trời bao hàm tôi trong Đấng Christ là điều quan trọng. Đó là điều Đức Chúa Trời đã làm. Vì lý do ấy, hai từ ngữ “trong Christ” luôn luôn rất quí báu đối với lòng tôi.

Sự chết của Chúa Giê-su là một sự chết bao hàm. Sự phục sinh của Chúa Giê-su cũng bao hàm y như vậy. Chúng ta đã xem xét chương một của Thư Cô-rin-tô thứ nhất để thiết lập sự kiện chúng ta “ở trong Christ Giê-su”. Bây giờ chúng ta sẽ xem đến cuối bức thư này để thấy thêm ý nghĩa của điều này. Trong 1 Cô-rin-tô 15:45, 47 có hai danh hiệu hay hai tước hiệu đặc biệt được dùng để chỉ về Chúa Giê-su. Ngài được nhắc đến là “A-đam sau cùng” và Ngài cũng được đề cập đến là “con người thứ hai”. Kinh-thánh không nhắc đến Ngài là A-đam thứ hai, nhưng là “A-đam sau cùng”, Kinh-thánh cũng không nói Ngài là Con Người sau cùng, nhưng là “con người thứ hai”. Chúng ta cần lưu ý sự khác biệt này, vì nó chứa đựng một lẽ thật có giá trị lớn lao.

Là A-đam sau cùng, Đấng Christ là tổng hợp của toàn thể nhân loại, là Con Người thứ hai, Ngài là Đầu của dòng dõi mới. Cho nên ở đây chúng ta có hai sự liên hiệp, một sự liên hiệp liên quan đến cái chết của Ngài và sự liên hiệp kia liên quan đến sự phục sinh của Ngài. Trong chỗ thứ nhất, sự liên hiệp của Ngài với nhân loại với tư cách là “A-đam sau cùng” về mặt lịch sử đã bắt đầu tại Bết-lê-hem và kết thúc tại thập tự giá và ngôi mộ. Tại đó, Ngài gom góp tất cả những gì của A-đam trong chính Ngài và đem tất cả đến sự phán xét và sự chết. Trong chỗ thứ hai, chúng ta liên hiệp với Ngài là “con người thứ hai” bắt đầu trong sự phục sinh và chấm dứt trong cõi đời đời, tức là không bao giờ chấm dứt, vì sau khi sự chết của Ngài đã tiêu trừ con người thứ nhất, mà trong con người đó mục đích của Đức Chúa Trời đã bị ngăn trở, Ngài đã sống lại là Đầu của nhân loại mới, qua dòng dõi đó, mục đích của Đức Chúa Trời cuối cùng sẽ hoàn toàn trở thành hiện thực.

Vì vậy, khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài bị đóng đinh với tư cách là A-đam sau cùng. Tất cả những gì ở trong A-đam thứ nhất đã được gom góp lại và tiêu trừ đi trong Ngài. Chúng ta cũng được bao hàm tại đó. Là A-đam sau cùng, Ngài xóa sạch dòng dõi cũ; là Con Người thứ hai, Ngài đem đến dòng dõi mới. Ấy là trong sự phục sinh mà Ngài là Con Người thứ hai, chúng ta cũng được bao hàm trong Con Người ấy. “Vì nếu chúng ta đã được liên hiệp với Ngài trong hình trạng của sự chết Ngài, thì chúng ta cũng sẽ được liên hiệp với Ngài trong hình trạng của sự sống lại Ngài” (La. 6:5). Chúng ta chết trong Ngài là A-đam sau cùng, chúng ta sống trong Ngài là Con Người thứ hai. Do đó, Thập tự giá là hành động rất mạnh mẽ của Đức Chúa Trời, chuyển dời chúng ta từ A-đam qua Đấng Christ.

(1) Chú thích: Tác giả dùng chữ “Thập tự giá” ở đây và trong suốt các bài học này với một ý nghĩa đặc biệt. Hầu hết người đọc đều quen thuộc với cách dùng từ ngữ “Thập tự giá” với ý nghĩa hiện nay thường dùng, trước hết chỉ về toàn bộ công tác cứu chuộc được hoàn thành theo tính cách lịch sử trong sự chết, chôn, phục sinh và thăng thiên của chính Chúa Giê-su (Phil. 2:8, 9), và thứ hai, với một ý nghĩa rộng lớn hơn, sự liên hiệp của các tín đồ với Ngài nhờ ân điển (La.6:4; Êph. 2:5, 6). Rõ ràng trong cách dùng từ ngữ ấy, sự hành động của “Huyết” liên quan đến sự tha tội (như đã được bàn đến trong Chương Một của sách này) theo cái nhìn của Đức Chúa Trời, được bao hàm (cùng với tất cả những gì theo sau trong các bài học này) như một phần của công tác Thập tự giá.

Tuy nhiên, trong chương này và những chương tiếp theo, vì thiếu từ ngữ thay thế, tác giả buộc phải dùng chữ “Thập tự giá” với một ý nghĩa giáo lý đặc thù và giới hạn hơn để đưa ra một sự khác biệt hữu ích, tức là, sự khác biệt giữa sự thay thế và sự đồng hóa, là hai phương diện riêng biệt của giáo lý cứu chuộc, nhìn từ góc độ của con người. Do đó, danh từ chỉ về toàn thể ấy ở đây được dùng chỉ về một phần của toàn thể. Người đọc nên ghi nhớ điểm ấy. — A.K.