Thông tin sách

Lời Chứng Của Watchman Nee

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Lời chứng của Watchman Nee
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 3

Untitled Document

CHƯƠNG BA

LỜI CHỨNG THỨ BA — ĐƯỢC CHIA SẺ NGÀY 20 THÁNG 10 NĂM 1936

Kinh Thánh: Công. 26:29

SỐNG MỘT ĐỜI SỐNG BỞI ĐỨC TIN

Tôi đã làm chứng hai lần, nên nay không có ý định chia sẻ thêm. Tuy nhiên, trong khi cầu nguyện, dường như Chúa muốn tôi làm chứng một lần nữa. Những ai biết tôi đều thấy hiếm khi nào tôi làm chứng về việc riêng của mình. Tôi nhận thấy người ta thường lạm dụng lời chứng của người khác, dùng làm tin tức để đồn đãi ra. Cũng có trường hợp lời chứng chưa được củng cố đúng mức. Kinh nghiệm về từng trời thứ ba của Phao-lô mãi mười bốn năm sau mới được bày tỏ cho người khác. Nhiều lời chứng thuộc linh cần phải trải qua một thời gian dài đúng mức rồi mới được tiết lộ. Tuy nhiên, nhiều người nói ra không sau mười bốn năm, mà sau mười bốn ngày.

Những Vấn Đề Liên Quan Đến Tiền Bạc

Vấn đề tiền bạc có thể là một nan đề nhỏ, và cũng có thể là một nan đề lớn. Khi mới bắt đầu phục vụ Chúa, tôi hơi lo âu về vấn đề sinh kế của mình. Nếu làm một nhà truyền đạo thuộc một giáo phái, hằng tháng tôi sẽ sống bằng đồng lương cao. Nhưng vì bước đi trong đường lối của Chúa, tôi chỉ nương dựa nơi sự tiếp trợ của Ngài, và không thể nhờ cậy nơi tiền lương hằng tháng. Vào năm 1921 và 1922, rất ít người truyền đạo tại Trung Quốc nhờ cậy hoàn toàn nơi Chúa. Thậm chí khó tìm được hai ba người như vậy; phần đông sống nhờ tiền lương. Khi ấy, nhiều người giảng dạy không đủ can đảm cống hiến trọn thì giờ của mình để phục vụ Chúa. Họ cảm thấy nếu không lãnh lương đều đặn, họ không biết làm thế nào đối phó với một tình huống là không có gì để sinh sống. Tôi cũng có những ý tưởng như vậy. Ở Trung Quốc ngày nay [1936] có gần năm mươi anh chị em tương giao với chúng ta, họ là những người hoàn toàn sống nương dựa nơi Chúa. Ngày nay tình trạng này phổ biến hơn thời ấy, tức vào năm 1922. Ngày nay, anh chị em ở nhiều nơi khác nhau cũng quan tâm đến những người phục vụ Chúa hơn trước. Tôi nghĩ rằng mười năm tới, thế nào anh chị em cũng sẽ quan tâm đến nhu cầu của các đầy tớ Chúa nhiều hơn nữa. Nhưng cách đây mười năm thì đó không phải là thái độ phổ biến.

Tuyên Bố Với Cha Mẹ Ước Muốn Sống Bởi Đức Tin

Như lời chứng trước đã nêu rõ, sau khi được cứu, tôi tiếp tục đi học và đồng thời phục vụ Chúa. Một tối nọ, tôi nói chuyện với cha tôi về vấn đề nhận sự giúp đỡ về tài chánh. Tôi nói: “Sau khi cầu nguyện vài ngày, con thấy phải thưa với ba là con sẽ không nhận tiền của ba nữa. Con rất biết ơn ba đã chi phí nhiều cho con vì trách nhiệm làm cha. Ba mong tương lai con sẽ kiếm ra tiền và phụng dưỡng ba để đền đáp. Con phải nói trước với ba, vì con sẽ làm một người giảng đạo, nên con sẽ không thể đền đáp hoặc trả tiền cho ba. Mặc dầu chưa học xong, nhưng con ao ước học tập nhờ cậy một mình Đức Chúa Trời”. Khi tôi nói như vậy, cha tôi tưởng tôi nói đùa. Tuy nhiên, từ đó về sau, thỉnh thoảng khi mẹ tôi cho tôi năm hay mười đồng, bà viết lên bì thư: “Gửi đến anh Nee To-sheng”. Bà không cho tôi tiền với tư cách là một người mẹ.

Sau khi bày tỏ với ba tôi như vậy, ma quỉ đến cám dỗ tôi rằng: “Hành động như vậy rất nguy hiểm. Giả sử một ngày kia, ngươi không thể tự cung cấp cho cuộc sống của mình và lại đến nhận tiền của cha ngươi, thì có phải là bẽ bàng không? Ngươi đã nói với cha ngươi quá sớm. Lẽ ra ngươi phải chờ đợi đến khi công việc của ngươi phát triển hơn, cho đến khi nhiều người được cứu và ngươi có nhiều bạn, rồi hãy sống đời sống đức tin”. Nhưng tạ ơn Chúa, từ khi bày tỏ quyết định không nhận trợ cấp của cha mình, tôi không bao giờ phải xin cha tôi cho tiền.

NGƯỠNG TRÔNG SỰ TIẾP TRỢ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG KHI PHỤC VỤ

Theo như tôi biết, chị Dora Yu là người giảng đạo duy nhất vào thời ấy không nhận lương, mà hoàn toàn lệ thuộc Đức Chúa Trời. Chị là người chị thuộc linh của tôi, chúng tôi biết nhau rất rõ. Chị có nhiều bạn, người Hoa cũng như người nước ngoài. Lãnh vực chị làm việc rất rộng lớn vì chị rao giảng khắp nơi. Nhưng tình trạng tôi thì ngược lại, ít ai quan tâm đến tôi, cho nên tôi thấy có phần khó khăn. Tuy nhiên, khi tôi ngưỡng trông Chúa, Ngài phán với tôi: “Nếu con không thể sống bởi đức tin, con không thể phục vụ Ta”. Tôi biết mình cần công tác sống động và đức tin sống động để phục vụ một Đức Chúa Trời hằng sống. Có lần khi khám phá chỉ còn khoảng mười đồng trong ví, là số tiền mà chẳng bao lâu tôi sẽ tiêu hết, thình lình tôi nhớ lại bà góa ở Sa-rép-ta là người chỉ có một nắm bột trong vò và một chút dầu trong bình (1 Vua. 17:12). Không phải bà có hai nắm bột. Tôi không biết Đức Chúa Trời nuôi dưỡng bà bằng phương tiện nào, nhưng tôi biết Ngài có cách.

Vào năm 1921 hai đồng công và tôi đi đến một nơi trong tỉnh Phúc Kiến để giảng đạo, dự định sẽ từ đó đi đến một nơi khác. Trong túi tôi chỉ còn bốn đồng, không đủ mua ba vé xe đò. Nhưng tạ ơn Chúa, có một anh em cho chúng tôi ba vé.

Một lần khác tại Kulangsu, ở miền nam tỉnh Phúc Kiến, tôi bị móc túi lấy hết tiền, nên không có tiền trở về nhà. Khi ấy chúng tôi đang ở tại nhà của người kia và giảng đạo mỗi ngày một lần trong một nhà thờ nhỏ. Chúng tôi giảng xong và chuẩn bị ra về. Hai đồng công của tôi có tiền về, nhưng tiền của tôi đã bị mất cắp. (Khi ấy mỗi chúng tôi tự chi tiền của mình). Họ quyết định rời khỏi nơi ấy vào ngày hôm sau. Khi nghe như vậy, tôi bối rối, nhưng không muốn mượn tiền của họ. Đêm đó tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời, khẩn xin Ngài cung ứng số tiền cần thiết để làm lộ phí. Không ai biết điều đó. Chiều hôm ấy, một vài người đến nói chuyện với tôi về Lời Chúa, nhưng tôi không có một tâm trạng thoải mái để tiếp chuyện. Khi ấy, ma quỉ cám dỗ và làm rúng động đức tin tôi, nhưng tôi kiên quyết tin rằng Đức Chúa Trời sẽ không làm tôi thất vọng. Lúc ấy tôi chỉ là một thanh niên, mới bắt đầu phục vụ Chúa bởi đức tin, tôi chưa học bài học sống bởi đức tin. Đêm đó, tôi tiếp tục cầu nguyện với Đức Chúa Trời, nghĩ rằng có lẽ mình đã làm một điều gì đó sai lầm. Ma quỉ nói: “Ngươi có thể xin các anh em đồng công mua vé cho ngươi, rồi trả lại cho họ khi ngươi đến thủ phủ của tỉnh”. Tôi không chấp nhận đề nghị này và tiếp tục ngưỡng trông Đức Chúa Trời. Khi đến giờ chúng tôi lên đường, tôi vẫn không có tiền trong tay. Tôi thu xếp hành lý như thường lệ và thuê một chiếc xích lô. Lúc ấy, tôi nhớ lại câu chuyện về một anh em không có vé tàu lửa khi tàu sắp chạy, nhưng ngay giây phút ấy, Đức Chúa Trời ra lệnh cho một người nọ cho anh một cái vé. Tất cả chúng tôi đều sẵn sàng và cùng lên ba chiếc xích lô. Tôi lên chiếc cuối cùng. Khi chiếc xích lô chạy được khoảng bốn mươi mét, một ông cụ mặc áo dài từ phía sau bươn đến gọi theo: “Ông Nee ơi, xin dừng lại!” Tôi bảo người đạp xích lô dừng lại. Sau khi trao cho tôi một gói thức ăn và một phong bì, ông cụ ra đi. Khi ấy tôi biết ơn Đức Chúa Trời về sự sắp đặt của Ngài đến nỗi ứa nước mắt. Khi mở phong bì ra, tôi thấy bên trong có bốn đồng, vừa đủ cho một vé xe đò. Ma quỉ tiếp tục nói với tôi: “Ngươi không thấy như vậy là rất nguy hiểm sao?” Tôi đáp: “Ta thật có lo lắng một chút, nhưng không có gì nguy hiểm, vì Đức Chúa Trời cung cấp đúng lúc điều ta cần”. Sau khi đến Amoy, một anh em khác cho tôi một vé trở về nhà.

Vào năm 1923, anh Weigh Kwang-hsi mời tôi đến giảng tại Kien-ou ở miền bắc tỉnh Phúc Kiến. Tôi chỉ có khoảng mười lăm đồng trong túi, là số tiền có thể trang trải một phần ba lộ phí. Tôi quyết định khởi hành vào tối thứ sáu và tiếp tục cầu nguyện vào thứ tư và thứ năm. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa có tiền. Tôi lại cầu nguyện vào sáng thứ sáu. Không những tiền không đến, mà tôi lại có một cảm nhận bên trong nên tặng năm đồng cho một đồng công. Tôi nhớ lại lời Chúa: “Hãy cho, ngươi sẽ được cho”. Dầu không phải là người yêu thích tiền bạc, nhưng vào hôm ấy, tôi rất yêu tiền và thấy khó cho người khác vô cùng. Tôi lại cầu nguyện với Chúa: “Chúa ôi, nếu Ngài thật sự muốn con cho năm đồng, con sẽ cho”, nhưng lòng tôi vẫn không muốn. Tôi bị Sa-tan lừa dối và suy nghĩ rằng sau khi cầu nguyện, tôi sẽ không phải cho đi năm đồng. Đó là lần duy nhất trong đời tôi đã đổ nước mắt vì tiền bạc. Cuối cùng, tôi vâng lời Chúa và tặng người đồng công ấy năm đồng. Sau khi cho tiền, lòng tôi đầy dẫy niềm vui thiên thượng. Khi người đồng công ấy hỏi tôi tại sao tôi cho anh ấy tiền, tôi đáp: “Anh không cần hỏi, về sau anh sẽ biết”.

Tối thứ sáu, tôi chuẩn bị lên đường. Tôi nói với Đức Chúa Trời: “Mười lăm đồng đã không đủ, Ngài còn muốn con cho đi năm đồng. Không phải số tiền lại càng hụt sao? Bây giờ con không biết cầu nguyện như thế nào”. Tôi quyết định trước hết đi đến đi Shui-kow bằng tàu chạy hơi nước và sau đó đến Kien-ou bằng tàu nhỏ bằng gỗ. Tôi chỉ tiêu chút ít tiền cho chuyến đi đến Shui-kow. Khi tàu chạy hơi nước sắp đến, tôi thấy rằng nếu tôi không cầu nguyện theo quan niệm riêng thì kết quả sẽ tốt hơn nhiều. Vì thế, tôi nói với Chúa: “Con không biết phải cầu nguyện làm sao; xin Ngài cầu nguyện cho con”. Tôi nói thêm: “Nếu Ngài không cho con tiền, xin cung cấp cho con một chiếc tàu bán vé giá rẻ”. Khi tôi đến Shui-kow, nhiều người đến mời tôi mua vé. Có người chỉ đòi tôi bảy đồng cho chuyến đi. Giá này làm tôi ngạc nhiên, vì giá vé bình thường cao hơn gấp mấy lần. Tôi hỏi anh ta sao giá vé lại quá thấp, anh ta đáp: “Quan tòa thuê chiếc tàu này, nhưng tôi được phép chở thêm một hành khách ở đuôi tàu, nên tôi không quan tâm giá cao hay thấp. Nhưng anh phải tự lo thức ăn cho mình”. Ban đầu, tôi có mười lăm đồng trong túi. Sau khi cho người đồng công năm đồng và tiêu vài chục xu cho chuyến đi bằng tàu hơi nước, bảy đồng cho chiếc tàu nhỏ bằng gỗ và khoảng một đồng thức ăn, tôi còn một đồng ba mươi xu khi đến Kien-ou. Tạ ơn Chúa! Ngợi khen Ngài vì sự sắp xếp của Ngài luôn luôn tốt lành.

Sau khi hoàn tất công tác tại Kien-ou và chuẩn bị trở về Foochow, nan đề lại đến: tôi không có đủ tiền để trở về. Tôi đã quyết định lên đường vào thứ hai sau đó, nên tôi tiếp tục cầu nguyện cho đến thứ bảy. Lần này tôi cảm thấy lòng mình có một sự xác quyết, vì nhớ lại trước khi rời Foochow, Đức Chúa Trời đã bảo tôi cho một đồng công năm đồng, mà sau đó tôi đã miễn cưỡng làm theo. Lúc ấy tôi đọc Lu-ca 6:38: “Hãy cho, thì ngươi sẽ được cho”. Tôi nắm lấy câu này và nói với Đức Chúa Trời: “Vì Ngài đã nói điều này, con nài xin Ngài cung ứng số tiền cần thiết để trả lộ phí theo lời hứa của Ngài”.

Vào tối Chúa Nhật, một mục sư người Anh, là ông Philips, một anh em thật, chắc chắn đã được cứu và yêu mến Chúa, mời anh Weigh và tôi dùng cơm. Trong bữa ăn, ông Philips bảo tôi rằng ông và Hội thánh của ông đã được giúp ích rất nhiều qua các bài giảng của tôi và họ đề nghị xin được chịu trách nhiệm trả tiền lộ phí khứ hồi cho tôi. Tôi đáp rằng một người khác đã nhận trách nhiệm ấy rồi, tôi muốn nói đó là Đức Chúa Trời. Sau đó ông nói: “Khi anh trở về Foochow, tôi sẽ tặng anh quyển The Dynamics of Service (Sức Mạnh Của Sự Phục Vụ) do ông Padgett Wilkes, là sứ giả rao giảng phúc âm được Đức Chúa Trời đại dụng tại Nhật viết”. Chẳng mấy chốc tôi cảm thấy mình đã để mất một cơ hội lớn; điều tôi cần là chi phí cho việc di chuyển, chứ không phải một quyển sách. Tôi hơi tiếc vì đã không nhận lời đề nghị của ông. Sau bữa ăn anh Weigh và tôi cùng nhau đi về. Tôi đã từ chối lời đề nghị của ông giúp tôi trả tiền lộ phí nên tôi phải hoàn toàn ngưỡng trông sự cứu giúp đến từ một mình Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, tôi có sự vui mừng và bình an trong lòng. Anh Weigh không biết tình trạng tài chánh của tôi. Tôi hơi có ý nghĩ mượn tiền anh để chi phí và sẽ trả lại cho anh khi tôi về đến Foochow, nhưng Đức Chúa Trời không cho phép tôi nói việc này với anh. Tôi hoàn toàn tin chắc Đức Chúa Trời trên trời đáng tin cậy đời đời và tôi ao ước thấy cách Ngài cung cấp cho mình.

Hôm sau khi lên đường, tôi chỉ còn vài đồng trong túi. Nhiều anh chị em đến tiễn tôi đi, và vài người xách hành lý của tôi. Tôi vừa đi vừa cầu nguyện: “Chúa ôi, Ngài đã đem con đến đây thì không thể nào Ngài lại không đem con về”. Giữa đường tới bến, ông Philips sai người cầm thư đến. Thư viết như sau: “Dầu người khác đã nhận trách nhiệm trả lộ phí cho anh, tôi cảm thấy mình nên dự phần vào công tác của anh ở đây. Xin anh cho phép tôi, một anh em lớn tuổi, được dự phần trong công tác của anh. Xin anh vui lòng nhận lấy số tiền nhỏ này vì mục đích ấy”. Sau khi đọc thư, tôi cảm thấy mình nên nhận số tiền và tôi đã nhận. Không những số tiền ấy đủ cho chuyến đi trở về Foochow của tôi, mà còn đủ để in một số báo Chứng Cớ Hiện Tại nữa.

Khi tôi trở về Foochow, vợ người đồng công đã nhận năm đồng nói với tôi: “Tôi có cảm nhận khi anh lên đường, chính anh không có đủ tiền. Vì sao bất ngờ anh lại cho chồng tôi năm đồng?” Khi ấy tôi hỏi chị chuyện gì đã xảy ra liên quan đến năm đồng ấy, chị đáp: “Vào thứ tư, chúng tôi chỉ còn một đồng trong nhà và chúng tôi đã tiêu đồng ấy trước thứ sáu. Vào thứ sáu, chúng tôi cầu nguyện suốt ngày. Sau đó chồng tôi cảm thấy nên đi dạo một lúc và anh ấy gặp anh, rồi anh cho anh ấy năm đồng. Năm đồng ấy giúp chúng tôi sống năm ngày, sau đó Đức Chúa Trời chu cấp cho chúng tôi từ một nguồn khác”. Đến đó, chị vừa nói vừa khóc: “Nếu anh không cho chúng tôi năm đồng hôm ấy, chúng tôi đã phải chịu nhịn đói. Chúng tôi nhịn đói không thành vấn đề, nhưng còn lời hứa của Đức Chúa Trời thì thế nào?” Lời chứng của chị làm lòng tôi đầy sự vui mừng. Chúa đã hành động qua tôi để cung cấp cho nhu cầu của họ bằng năm đồng bạc ấy. Lời Chúa thật thành tín: “Hãy cho, thì các ngươi sẽ được cho”.

Đó là bài tôi đã học trong đời mình. Bây giờ tôi kinh nghiệm hễ càng ít có tiền trong tay bao nhiêu, Đức Chúa Trời càng ban cho nhiều bấy nhiêu. Đó là một con đường khó đi. Có lẽ nhiều người cảm thấy họ có thể sống bởi đức tin, nhưng khi thử thách đến, họ sợ hãi. Nếu anh em không tin vào một Đức Chúa Trời thực hữu và hằng sống, tôi khuyên anh em không nên đi con đường này. Ngày nay, tôi có thể làm chứng rằng Đức Chúa Trời là Đấng ban cho. Được nuôi dưỡng bằng phương tiện là những con quạ như thời Ê-li là điều vẫn có thể xảy ra ngày nay. Tôi sẽ đề cập đến một điều mà có thể anh em cho là khó tin. Tôi kinh nghiệm sự cung cấp của Đức Chúa Trời vào lúc tôi tiêu hết đồng tiền cuối cùng của mình. Tôi kinh nghiệm điều này mười bốn năm nay. Trong mỗi kinh nghiệm ấy, Đức Chúa Trời muốn tôi dành vinh hiển cho Ngài. Đức Chúa Trời đã cung cấp mọi nhu cầu của tôi và Ngài chưa bao giờ làm tôi thất vọng. Những người thường dâng giúp bây giờ không còn dâng giúp nữa. Những người dâng giúp thường xuyên thì thay đổi, số người này thay thế cho số người khác. Tất cả những điều này không quan trọng, vì Đức Chúa Trời chí cao là một Đức Chúa Trời hằng sống. Ngài không bao giờ thay đổi! Hôm nay tôi nói điều này để anh em được giúp ích. Tôi phải nói điều này để anh em thẳng tiến trên con đường sống bởi đức tin. Tôi đã thuật cho anh em từ mười đến hai mươi trường hợp tương tự như vậy.

Về vấn đề dâng tiền cho Chúa, chúng ta nên để ra một số nhất định, một phần mười hay một nửa lợi tức và đặt nó vào tay Đức Chúa Trời. Theo bản chất tự nhiên, bà góa dâng hai đồng ăn một phần tư xu có thể miễn cưỡng làm như vậy, nhưng bà được Chúa khen ngợi. Chúng ta phải làm gương cho người khác, chúng ta không cần phải sợ hãi vì Đức Chúa Trời không thất hứa. Chúng ta nên học tập yêu Đức Chúa Trời, tin cậy Ngài, và phục vụ Ngài theo như Ngài đáng được phục vụ. Chúng ta nên cảm tạ Ngài và ca ngợi Ngài vì ân điển không thể diễn tả được của Ngài! A-men.

Ngưỡng Trông Đức Chúa Trời Cung Cấp Cho Công Tác Xuất Bản

Một số người không bao giờ đến nơi nhóm họp để nghe phúc âm. Vì lý do ấy, vào năm 1922 tôi bắt đầu in chứng đạo đơn. Phúc âm phải được gửi đến cho họ. Sau khi viết những tờ chứng đạo đơn, tôi bắt đầu cầu nguyện và xin Chúa chu cấp cho chi phí in ấn và phân phối. Đức Chúa Trời phán với tôi: “Nếu con muốn Ta đáp lời cầu nguyện của con, trước hết con phải loại bỏ mọi sự ngăn trở khỏi chính mình”. Đến Chúa Nhật sau đó, tôi giảng về đề tài: “Cất Bỏ Mọi Sự Ngăn Trở”. Lúc bấy giờ nhiều người phê phán vợ của một đồng công, là một chị em giữa vòng chúng tôi. Sau buổi nhóm chị đứng ở cửa. Khi bước vào buổi nhóm để rao giảng, tôi nhìn chị và phê phán chị trong lòng, cho rằng những lời người khác phê phán chị là đúng. Khi lìa khỏi buổi nhóm sau khi giảng, tôi chào chị. Sau đó, khi tôi lại khẩn nài Đức Chúa Trời về chi phí in ấn và thưa rằng tôi đã cất bỏ mọi điều ngăn trở. Đức Chúa Trời phán với tôi: “Con đã rao giảng điều gì? Con đã phê phán chị em ấy, đó là điều ngăn trở sự cầu nguyện mà con phải giải quyết. Con phải đến gặp chị và xưng nhận lỗi lầm”. Tôi đáp: “Con không cần phải xưng với người khác những tội trong tâm trí mình”. Đức Chúa Trời đáp: “Đúng vậy, nhưng tình trạng của con thì khác”. Sau đó, khi cân nhắc việc xưng nhận lỗi lầm với chị và đối diện với vấn đề, tôi lưỡng lự năm lần. Mặc dầu ao ước thực hiện, nhưng tôi lo ngại rằng chị, vốn là người luôn luôn rất ngưỡng mộ tôi, sẽ khinh tôi. Tôi thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu Ngài ra lệnh cho con làm bất cứ điều gì khác, con sẽ làm, nhưng con không bằng lòng xưng nhận lỗi lầm với chị”. Tôi tiếp tục xin Đức Chúa Trời về chi phí in ấn, nhưng Ngài không nghe lý luận của tôi. Trái lại, Ngài nhất định muốn tôi xưng nhận lỗi lầm. Lần thứ sáu, nhờ ân điển của Chúa, tôi xưng nhận lỗi lầm với chị. Cả hai chúng tôi đều xưng ra những lỗi lầm của mình và tha thứ cho nhau. Chúng tôi đầy dẫy sự vui mừng, từ đó về sau, chúng tôi yêu thương nhau trong Chúa càng hơn.

Không bao lâu sau, người đưa thư giao cho tôi một lá thư có mười lăm Mỹ kim. Bức thư được viết như sau: “Tôi muốn phân phát chứng đạo đơn và cảm thấy được thúc giục giúp đỡ anh trong vấn đề in chứng đạo đơn. Xin anh nhận món quà của tôi”. Ngay khi mọi điều ngăn trở được cất đi, Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của tôi. Tạ ơn Chúa! Đó là lần đầu tiên tôi kinh nghiệm Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện trong việc in ấn. Khi ấy, chúng tôi phát hơn một ngàn chứng đạo đơn mỗi ngày. Hai hoặc ba triệu bản được in ra và phân phát hằng năm để cung ứng cho các Hội thánh ở nhiều nơi. Sau khi công việc xuất bản bắt đầu được vài năm, Đức Chúa Trời luôn luôn đáp lời cầu nguyện của tôi và cung ứng mọi nhu cầu của chúng tôi.

Chúa cũng muốn tôi xuất bản tờ Chứng Cớ Hiện Tại và phát miễn phí. Khi ấy, tất cả những ấn phẩm thuộc linh định kỳ khắp Trung Quốc đều bán cả, chỉ những gì tôi xuất bản là miễn phí. Phòng biên tập nơi tôi viết bản thảo là một căn phòng nhỏ được ngăn ra. Khi các bản thảo hoàn tất, thì được gửi qua nhà in. Lúc ngân quĩ không có sẵn, tôi sẽ xin Đức Chúa Trời cung cấp để in. Khi xem xét những gì mình đang làm lúc ấy, tôi phải bật cười vì các bản thảo đã được gửi đến nhà in mà không có ngân quĩ cần thiết. Hễ còn sống bao lâu, tôi không thể quên lần nọ tôi cười chưa dứt thì có tiếng gõ cửa. Khi ra mở cửa, tôi gặp một thiếu phụ trung niên là người thường xuyên đến các buổi nhóm nhưng lòng tôi cảm thấy thờ ơ với chị một cách khác thường. Chị giàu có nhưng yêu tiền bạc và coi mười xu như một đô-la. Tôi tự hỏi làm thế nào chị có thể là người dâng tiền để in báo. Khi tôi hỏi chị đến vì việc gì thì chị đáp: “Cách đây khoảng một giờ, tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu. Khi tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời, Ngài bảo tôi rằng tôi không giống một Cơ Đốc nhân, vì tôi không bao giờ dâng hiến rộng rãi, và tôi quá yêu tiền bạc. Tôi hỏi Ngài muốn tôi làm gì và Ngài nói: ‘Con nên dâng một ít tiền để dùng vào công việc Ta’ ”. Rồi chị lấy ra ba mươi đồng bằng bạc, đặt chúng lên bàn và nói: “Anh hãy dùng vào bất cứ việc gì anh thấy cần”. Sau đó khi nhìn lên bàn, tôi thấy hai điều, các bản thảo và một đống tiền. Tôi cảm tạ Chúa mà không cảm ơn chị. Chị ra về và ngay lập tức tôi đến gặp thợ in để thương lượng việc in ấn. Số tiền chị dâng đủ để in một ngàn bốn trăm bản của số báo ấy. Những người khác dâng tiền để mua tem và đóng gói. Hiện nay mỗi số được in làm bảy ngàn bản. Mọi chi phí được Đức Chúa Trời cung ứng đúng lúc và theo cách tôi đã kể. Tôi chưa bao giờ nài nỉ ai dâng tiền nhưng thỉnh thoảng người ta nài nỉ tôi nhận tiền. Trong toàn bộ vấn đề này, tôi chỉ trông đợi một mình Ngài.

THAY MẶT ĐẤNG CHRIST NHẬN TIỀN BẠC

Nếu không xử lý tiền bạc cách đúng đắn, một người sẽ thất bại trong nhiều điều khác. Chúng ta phải chuyên tâm ngưỡng trông Đức Chúa Trời và đừng bao giờ làm ô danh Ngài. Khi được tặng tiền, chúng ta phải thay mặt Đấng Christ mà nhận lấy, nhưng đừng bao giờ xin ai một ân huệ như vậy. Cảm tạ Đức Chúa Trời, sau khi chính thức thưa với cha mẹ rằng tôi sẽ không dùng tiền của cha mẹ nữa, tôi đã học tiếp được hai năm. Dầu không biết mình sẽ được tiếp trợ bằng cách nào, nhưng bất cứ khi nào có nhu cầu, Đức Chúa Trời luôn luôn cung ứng cho tôi. Đôi khi tình huống có vẻ vô cùng khó khăn, nhưng Ngài không bao giờ để tôi thất vọng. Chúng ta thường đặt hi vọng mình nơi người khác, nhưng Đức Chúa Trời không muốn chúng ta nhìn vào họ. Chúng ta phải học bài này: Tiêu dùng khi nhận lãnh và đừng bao giờ giống như Biển Chết, chỉ có lối vào mà không có lối ra. Chúng ta nên giống như sông Giô-đanh có những nhánh chảy vào ở một đầu và những nhánh chảy ra ở đầu kia. Người Lê-vi trong Cựu Ước dâng mình để phục vụ Đức Chúa Trời, nhưng họ cũng phải dâng phần mười.