Thông tin sách

Lời Chứng Của Watchman Nee

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Lời chứng của Watchman Nee
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 2

Untitled Document

CHƯƠNG HAI

LỜI CHỨNG THỨ HAI — ĐƯỢC CHIA SẺ NGÀY 20 THÁNG 10 NĂM 1936

Hôm nay tôi muốn làm chứng về bốn điều: (1) học tập bài học thập tự giá, (2) sự dẫn dắt trong công tác, (3) được chữa lành và kinh nghiệm Đức Chúa Trời là Đấng chữa lành, và (4) bốn khía cạnh của công tác được Chúa giao phó.

HỌC TẬP BÀI HỌC THẬP TỰ GIÁ

Một tín đồ có thể đọc, nghiên cứu hay giảng giải giáo lý về thập tự giá, nhưng đồng thời chưa chắc đã nhận được bài học thập tự giá hay biết con đường thập tự giá. Khi được tôi luyện chung trong công tác với các anh em đồng công của mình, Chúa đã sắp đặt nhiều thập tự giá cho tôi. Nhiều lần tôi cảm thấy bối rối. Tôi không muốn chấp nhận sự xử lý của thập tự giá và thấy khó thuận phục. Tuy nhiên, bên trong tôi biết nếu thập tự giá do Chúa sắp đặt, ấy là điều đúng, dầu vẫn khó vâng lời và chấp nhận. Khi Chúa ở trên đất, Ngài học tập vâng phục bởi thập tự giá mà Ngài đã chịu (Hê. 5:8; Phil. 2:8). Làm sao tôi có thể là ngoại lệ được? Trong tám hay chín tháng đầu, khi bài học thập tự giá mới được đưa đến, tôi không vâng phục. Tôi biết mình nên đầu hàng không chống cự thập tự giá mà Chúa đã sắp đặt. Khi tôi quyết định vâng lời, quyết định của tôi chỉ kéo dài được một thời gian ngắn. Tuy nhiên, khi một biến cố nào đó nổi lên, tôi thấy khó vâng lời và đầy dẫy những tư tưởng nổi loạn. Tình trạng này làm cho tôi rất bất an.

Một khi nhận biết thập tự giá mà Chúa đã sắp đặt cho mình, tôi thấy thật ích lợi. Giữa vòng các đồng công của tôi, năm người là bạn cùng trường từ thời thơ ấu. Người còn lại đến từ một thành phố khác và lớn hơn tôi năm tuổi. Năm người kia luôn luôn đứng về phía anh lớn tuổi ấy mà chống đối tôi. Dầu tôi có làm gì chăng nữa, họ vẫn giữ thái độ lên án tôi. Họ được khen ngợi do nhiều điều tôi đã làm. Thỉnh thoảng khi họ bác bỏ quan điểm của tôi, tôi lên một ngọn đồi vắng vẻ và khóc trước mặt Đức Chúa Trời. Vào những lúc ấy, tôi viết vài bài thánh ca về việc vác thập tự giá. Lần đầu tiên tôi kinh nghiệm ý nghĩa của “sự tương giao trong sự khổ sở của Ngài” (Phil. 3:10). Khi không thể tương giao với thế gian, tôi có thể vui hưởng sự tương giao thiên thượng. Hai năm đầu sau khi được cứu, tôi không biết thập tự giá là gì. Nhưng vào thời điểm ấy, tôi bắt đầu học bài học này.

Tôi luôn luôn được xếp hạng nhất trong lớp cũng như trong trường. Tôi cũng muốn đứng đầu trong sự phục vụ Chúa. Vì lý do ấy, khi phải làm người đứng thứ nhì, thì tôi không vâng phục. Nhiều lần tôi nói với Đức Chúa Trời là tôi không chịu đựng nổi; tôi ít được tôn trọng và không có bao nhiêu quyền hành, mọi người đều đứng về phía người đồng công lớn tuổi hơn tôi. Nhưng ngày nay tôi thờ phượng Đức Chúa Trời và cảm tạ Ngài tận đáy lòng về mọi điều đã xảy ra cho mình. Đó là sự huấn luyện tốt nhất. Đức Chúa Trời muốn tôi học vâng phục, nên Ngài sắp đặt cho tôi gặp nhiều điều khó khăn. Cuối cùng, tôi nói với Ngài là tôi bằng lòng được đặt ở vị trí thứ hai. Khi bằng lòng đầu phục, tôi kinh nghiệm được một niềm vui khác với lúc mình được cứu rỗi; đó không phải niềm vui lớn lao mà là một niềm vui sâu xa. Sau tám chín tháng nữa, nhiều lần tôi bằng lòng bị phá vỡ và không làm điều mình ước ao. Trên con đường thuộc linh của mình, tôi đầy dẫy niềm vui và sự bình an. Chúa thuận phục bàn tay Đức Chúa Trời, và tôi cũng vui lòng làm như vậy. Chúa hiện hữu trong hình thể của Đức Chúa Trời, nhưng không cho sự bình đẳng với Đức Chúa Trời là một báu vật nên nắm giữ, nhưng đã tự làm cho mình trống không (Phil. 2:6-7). Làm sao tôi dám tự xếp hạng mình trên Chúa? Bài học vâng phục thật khó khăn khi tôi mới bắt đầu học, nhưng thời gian trôi qua, càng ngày tôi càng thấy dễ dàng hơn. Cuối cùng, tôi nói với Đức Chúa Trời rằng tôi muốn lựa chọn thập tự giá, chấp nhận sự phá vỡ của thập tự giá và bỏ ý kiến của mình sang một bên.

SỰ DẪN DẮT TRONG CÔNG TÁC

Khi công tác của Đức Chúa Trời bắt đầu ở vài nơi tại Trung Quốc vào năm 1921, một số lẽ thật chưa được phân biệt rõ ràng. Chẳng hạn, ân điển và luật pháp chưa được định nghĩa rõ ràng; vương quốc thiên thượng và sự sống đời đời, ân điển và phần thưởng, hay sự cứu rỗi và sự đắc thắng cũng không được phân biệt rõ ràng. Sự hiểu biết các lẽ thật trong Chúa không sâu xa, cũng không phong phú đúng mức. Tuy nhiên, sự hiểu biết về phúc âm ân điển tương đối rõ ràng, và bấy giờ được giảng dạy khá rõ ràng khi ông Vương Minh Đạo phục vụ Chúa tại Teh-Chow, chị Pearl Wang và Ruth Lee tại Nam Kinh, một số công tác viên khác và tôi tại Foochow.

Xuất Bản Chứng Cớ Hiện Tại

Đến cuối năm 1922, tôi có gánh nặng xuất bản một tạp chí vì số người được cứu tại Foochow, và số người ấy càng ngày càng tăng. Bấy giờ, anh Leland Wang đến tận vùng Dương Tử thực hiện công tác giảng phúc âm. Chỉ vợ con anh ở lại nhà. Anh bảo tôi dọn vào nhà anh ở để chăm sóc gia đình anh. Hằng ngày, chị Wang và tôi cầu nguyện cho tạp chí ấy. Bấy giờ, tôi vô cùng túng thiếu về mặt tài chánh. Sau khi cầu nguyện suốt hơn một tháng, trong tay vẫn không có một đồng nào. Vào một buổi sáng, tôi thức dậy và nói: “Không cần cầu nguyện thêm nữa; cầu nguyện thêm là tỏ ra thiếu đức tin. Điều tôi phải làm là bắt đầu viết. Đức Chúa Trời không cần trao tiền tận tay chúng ta rồi chúng ta mới bắt đầu viết! Vì vậy, tôi không cầu nguyện cho vấn đề này nữa, nhưng sẽ tiến hành chuẩn bị bản thảo”.

Khi mọi sự sẵn sàng và viết xong dòng chữ cuối cùng, tôi nói: “Bây giờ tiền sẽ đến”. Cuối cùng, tôi quì gối xuống và cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời, bản thảo đã được chuẩn bị để in, nhưng vẫn chưa có tiền”. Sau khi cầu nguyện như vậy, tôi cảm thấy tin tưởng cách kỳ diệu vì Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ tiếp trợ tiền bạc. Chúng tôi bắt đầu ngợi khen Đức Chúa Trời.

Điều lạ lùng là chúng tôi chưa kịp đứng lên thì có tiếng gõ cửa. Tôi tưởng có người đem tiền đến. Vì là nhà của chị Wang, nên tôi để chị ấy ra mở cửa. Tôi ngạc nhiên khi thấy người đến là một chị em giàu có nhưng keo kiệt. Tôi nghĩ rằng: “Ồ, nếu là chị này thì không thể nào có tiền được”. Nhưng chị ấy nói với tôi: “Tôi có một điều rất quan trọng cần hỏi ý kiến anh”. Tôi đáp lời: “Xin cho tôi biết”. Khi ấy, chị hỏi: “Một Cơ Đốc nhân nên dâng hiến như thế nào?” Tôi đáp rằng: “Chúng ta không nên theo phương cách Cựu Ước là dâng một phần mười, mà phải theo lời [Chúa] trong 2 Cô-rin-tô 9:7; câu ấy chép rằng mỗi người cần phải dâng hiến theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời. Một người có thể dâng hiến phân nửa, một phần ba, một phần mười, hoặc một phần hai mươi thu nhập của người ấy”. Rồi chị hỏi: “Người ta nên dâng hiến cho nơi nào?” Tôi đáp: “Đừng dâng hiến cho giáo hội nào chống đối Chúa, cũng đừng dâng hiến cho những người không tin Kinh Thánh hay sự cứu chuộc do huyết Chúa đổ ra. Nếu không ai dâng hiến cho họ, thì họ không thể tiến hành việc giảng dạy của mình. Mỗi lần dâng hiến, hãy cầu nguyện; sau đó, dâng hiến cho người nghèo hoặc cho một công tác nào đó, nhưng đừng bao giờ dâng hiến cho một tổ chức sai trái”. Chị nói: “Mấy ngày nay, Chúa nói với tôi về việc tôi chú trọng thái quá đến tiền bạc. Mới đầu tôi không thể chấp nhận điều đó, nhưng bây giờ thì tôi đồng ý. Khi tôi cầu nguyện sáng nay, Chúa nói với tôi rằng: ‘Con không cần cầu nguyện thêm nữa. Hãy bắt đầu dâng hiến tiền bạc của mình’. Bấy giờ tôi có phần khó chịu, nhưng bây giờ tôi đến đây trao cho anh ba mươi đô-la để dùng cho công tác của Chúa”. Số tiền ấy vừa đủ để in một ngàn bốn trăm số Chứng Cớ Hiện Tại. Về sau, một người khác dâng thêm ba mươi đô-la, và số tiền ấy đủ để trả cước phí và những chi phí phụ khác. Số đầu tiên của tạp chí Chứng Cớ Hiện Tại đã được xuất bản như vậy.

Thời Gian Bắt Đầu Cuộc Phục Hưng

Vào đầu năm 1923, chúng tôi bắt đầu tổ chức những buổi nhóm tại Foochow trong sảnh đường tại nhà của một anh em. Các ghế đẩu được thu thập từ nhiều nơi khi cần thiết, và chúng tôi đi mời bà con hàng xóm đến nghe. Vì Chúa đã khởi xướng, nên người ta dễ dàng được cứu. Cách chúng tôi mời mọc người ta khá công hiệu: mỗi anh em đều mặc một chiếc áo gi-lê có những hàng chữ như “Bạn sẽ chết” ở đằng trước và “Tin nơi Chúa Giê-su để được cứu” ở đằng sau. Ngoài ra còn có những khẩu hiệu tương tự khác. Với biểu ngữ trong tay, chúng tôi diễu hành khắp nơi, vừa bước đi trên đường vừa ca hát. Những người nhìn thấy chúng tôi đều ngạc nhiên, và theo cách ấy, nhiều người được đem đến buổi nhóm. Ngày nào chúng tôi cũng diễu hành như vậy, và ngày nào người ta cũng đến nghe phúc âm. Họ ngồi đầy phòng khách, nhà bếp và ở ngoài sảnh đường.

Chúng tôi thuê một số ghế đẩu cho buổi nhóm, nhưng sau hai tuần thì mãn thời hạn thuê. Khi hết hạn, chúng tôi không còn tiền, nên phải trả lại các ghế ấy. Chúng tôi không biết có nên tạm ngưng nhóm họp không? Tôi tuyên bố rằng trong tương lai, người nào muốn đến tham dự buổi nhóm đều phải mang theo ghế của mình. Chiều hôm ấy, toàn thể khu vực đồi Tsang Chien đầy những người già trẻ, lớn bé, thanh niên thiếu nữ tay mang tay xách ghế đẩu. Ngay cả các viên cảnh sát cũng ngạc nhiên trước cảnh tượng ấy.

Cảm tạ Chúa, nhờ sự ban phước đặc biệt của Ngài, vài trăm người đã được cứu. Vào dịp đó, nền tảng sự cứu rỗi đã được thiết lập cách rõ ràng. Mãi đến thời điểm ấy, nhiều tín đồ tại Trung Quốc mới sáng tỏ về sự cứu rỗi. Nhờ các buổi nhóm ấy và nhờ các anh em chúng tôi rao giảng tại những nơi khác nhau mà từ đó nhiều người đi đến chỗ hiểu biết sự cứu rỗi.

Thuê Cơ Sở Để Nhóm Họp

Sau khi chúng tôi tổ chức các buổi nhóm trong khoảng một tháng, một số anh em trẻ giữa vòng chúng tôi cảm thấy chúng tôi cần phải có một chỗ thích hợp để nhóm họp trong tương lai. Vì không đủ tiền, nên chúng tôi không thể nào thực hiện việc ấy. Tôi đến trường để bàn vấn đề này với vài anh em như Faithful Luke, Simon Meek và Wang Tsi, và chúng tôi đồng ý là phải tiếp tục công tác giữa vòng các sinh viên. Khi ấy, lần đầu tiên tôi thuê một cơ sở; cơ sở ấy thuộc về một gia đình họ Hồ, và toàn thể gia đình ấy đều đã được cứu. Họ đồng ý cho tôi thuê nơi ấy với giá chỉ chín đô-la mỗi tháng. Sau đó, tôi cùng với vài anh em cầu nguyện xin Đức Chúa Trời cung ứng ba tháng tiền thuê mà chúng tôi cần trước khi dọn vào.

Mỗi thứ Bảy, tôi đều đến Ma-Kiang thuộc tỉnh Phúc Kiến để nghe chị Margaret Barber giảng. Lần ấy, khi tôi gặp chị, chị nói: “Đây là hai mươi bảy đô-la mà một người bạn nhờ tôi trao cho anh để dùng cho công tác của anh”. Số tiền ấy vừa đủ để trả ba tháng tiền thuê, mỗi tháng chín đô-la, không thừa không thiếu. Khi trở về, tôi liền trả trước ba tháng tiền thuê. Về sau, chúng tôi lại cầu nguyện, và Chúa lại cung ứng. Đó là khởi đầu công tác tại Foochow.

Cuộc Phục Hưng Của Nhiều Tín Đồ

Tôi chưa từng thấy một cuộc phục hưng nào lớn hơn cuộc phục hưng này. Dường như người nào tiếp xúc với chúng tôi đều liền được cứu. Khi đến trường mỗi sáng vào lúc năm giờ, tôi thấy cả trăm người đọc Kinh Thánh ở khắp nơi. Đọc tiểu thuyết vốn rất được ưa chuộng, nhưng bấy giờ những người muốn đọc tiểu thuyết chỉ có thể đọc lén lút. Thay vào đó, đọc Kinh Thánh trở thành một việc làm đáng kính trọng. Trong trường chúng tôi có tám lớp, và mỗi lớp đều có một lớp trưởng và một lớp phó. Điều lạ lùng là trên thực tế lớp trưởng của lớp nào cũng được cứu. Thậm chí tất cả những vận động viên nổi tiếng đều được cứu, mà giữa vòng họ có anh Weigh Kwang-hsi là người giữ chức vô địch quần vợt tỉnh Phúc Kiến suốt nhiều năm. Điều gì chúng tôi làm vị hiệu trưởng cũng thán phục. Điều duy nhất ông than thở là thái độ của chúng tôi đối với Anh Quốc giáo. Vị hiệu trưởng vốn là một thành viên trong Anh Quốc giáo, nhưng chúng tôi không chịu thuộc về giáo phái ấy.

Hằng ngày có hơn sáu mươi người cầm biểu ngữ đi diễu hành, và vài chục người đi quanh phân phát chứng đạo đơn. Toàn thể thị trấn Foochow với khoảng một trăm ngàn dân đều rúng động.

Nhiều anh em được cứu chịu báp-têm ngay lập tức. Khi ấy, chúng tôi bắt đầu nhóm họp theo Kinh Thánh. Sự nhóm họp tại Foochow đã bắt đầu như vậy. Về sau, số tín đồ gia tăng, và công tác tại các làng mạc cũng bắt đầu.

Một Khởi Đầu Mới Trong Công Tác

Trong khoảng thời gian giữa 1921 đến 1923, các buổi nhóm phục hưng được tổ chức để dẫn dắt người ta đến với Chúa. Bấy giờ, việc rao giảng phúc âm được xem là công tác duy nhất cho Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Trời đã mở mắt tôi để thấy rằng mục đích của Ngài đòi hỏi những người đã được cứu bởi ân điển phải đứng trên lập trường hiệp một trong các Hội thánh địa phương để đại diện và duy trì chứng cớ của Đức Chúa Trời trên đất. Một số đồng công của tôi có quan điểm khác về lẽ thật liên quan đến Hội thánh. Nhưng khi nghiên cứu kỹ sách Công-vụ, tôi nhận thấy ước muốn của Đức Chúa Trời là thiết lập các Hội thánh địa phương tại mọi thành phố. Khi ấy, ánh sáng chiếu trên tôi rất rõ ràng đến nỗi tôi nhận thấy đó là mục đích của Ngài.

Vào thời điểm tôi nhận được ánh sáng này, một số đồng công của tôi gây ra nan đề, và họ cũng là những người bất đồng ý kiến với tôi về những điểm quan trọng trong công tác. Tình trạng ấy gây ra xích mích giữa vòng chúng tôi. Họ cảm thấy cần phải sốt sắng trong công việc phục hưng và rao giảng phúc âm, và bông trái của công tác ấy có thể dễ dàng được nhận thấy. Tuy nhiên, quan điểm của tôi là phải thiết lập các Hội thánh địa phương, và ít nhấn mạnh đến việc phục hưng và rao giảng. Khi một đồng công lớn tuổi hơn ra đi tổ chức các buổi truyền giảng phúc âm như thường lệ, đôi khi tôi có ý định bí mật tổ chức các buổi nhóm phục hưng riêng của mình để truyền giảng phúc âm. Tuy nhiên, thay vì làm như vậy khi anh đi xa, ngay lập tức tôi hành động theo khải tượng mình đã nhận được. Khi trở về, anh phá hủy những gì tôi đã thực hiện và hành động theo quan niệm của anh. Nhưng khi anh ấy vắng mặt, thì tôi trở lại đường lối cũ của mình. Do đó, chúng tôi liên tục dằng co về vấn đề này. Vì mỗi người chúng tôi nhận được ánh sáng khác nhau về công tác, nên cách chúng tôi công tác cũng khác nhau. Một cách là phục hưng và truyền giảng phúc âm, trong khi cách kia là thiết lập các Hội thánh địa phương. Những gì Chúa bày tỏ cho tôi thì vô cùng rõ ràng: Chẳng bao lâu Ngài sẽ dấy lên những Hội thánh địa phương tại những miền khác nhau của Trung Quốc. Mỗi khi tôi nhắm mắt, khải tượng về sự sinh ra các Hội thánh địa phương xuất hiện. [Chú thích của người biên tập: Đến năm 1949 có khoảng bốn năm trăm Hội thánh địa phương được dấy lên trên khắp Trung Quốc].

Năm 1924, vài đồng công không thỏa lòng với tôi, và thình lình Đức Chúa Trời cho Hội thánh tại Foochow trải qua một cơn thử nghiệm. Để tránh cảnh chia rẽ, khi ấy tôi lìa khỏi Foochow. Về sau, tôi được kêu gọi đi thăm vùng Đông Nam Á; cho nên tôi đến nơi ấy, và các buổi nhóm bắt đầu tại đó. Tháng 5 năm 1925, tôi trở về và mướn cơ sở tại Pagoda thuộc Foochow, một làng nhỏ ven biển, với dự tính ổn định cuộc sống. Khi ấy tôi cảm thấy chúng tôi cần phải xuất bản một tạp chí nhấn mạnh đến các lẽ thật về sự cứu rỗi và Hội thánh, và cũng bàn đến lời tiên tri và các biểu tượng. Tạp chí này có tên là Cơ Đốc nhân. Ý định ban đầu của tôi là tạp chí này chỉ có tính chất tạm thời. Năm 1925, hai số được xuất bản, năm 1926, mười số được xuất bản, và năm 1927, vì sự yêu cầu liên tục, nên mười hai số được xuất bản.

Vào sáu tháng đầu năm 1926, tôi đến thăm Amoy, Kulangsu, Changchow và Tung-An để làm chứng, và nhiều người được cứu. Vào sáu tháng sau của năm ấy, tôi trở lại thăm những nơi đó. Bấy giờ tôi rất mệt mỏi vì đã phải tổ chức nhóm họp, viết báo và còn lo việc thư từ. Khi ấy tôi đã thấy hơi khó chịu trong mình. Ban đầu tôi sắp xếp nhóm họp trong mười ngày, nhưng đến ngày thứ chín tôi ngã bệnh. Một công tác viên khác đến và tiếp tục công tác thêm vài ngày. Vào sáu tháng sau của năm 1926, công tác tại miền nam Phúc Kiến bắt đầu, với những buổi nhóm tại Amoy, Tung-An và các vùng phụ cận.

Vài bác sĩ nói rằng căn bệnh mà tôi mắc phải trong khi ở tại Amoy rất có thể nguy hại đến tính mạng và có lẽ tôi chỉ sống được vài tháng! Tôi không sợ chết, nhưng tôi không thể không nghĩ đến việc những gì tôi đã học được từ nơi Chúa trong những năm qua và những bài học tôi kinh nghiệm được chưa được viết ra. Chắc chắn tất cả những điều ấy không được theo tôi xuống mồ! Tôi chuẩn bị viết quyển Người Thuộc Linh.

Khi đến Nam Kinh, tôi được biết một số anh chị em đang đứng trên lập trường hiệp nhất tại Hội thánh địa phương cùng nhau bẻ bánh, cho nên tự nhiên tôi đến với họ và hiệp với họ tưởng nhớ Chúa. Khi ấy, anh Weigh Kwang-hsi là bạn cùng lớp của tôi đang học tại Trường Đại Học Nam Kinh. Nhờ được anh giới thiệu, tôi đến trường đại học ấy chia sẻ vài bài giảng, đồng thời chinh phục được hai anh em là những người chúng tôi tiếp nhận tại bàn của Chúa. Đó là khởi đầu công tác của chúng tôi tại Nam Kinh.

Để hiến mình viết quyển Người Thuộc Linh, không lâu sau tôi lìa khỏi Nam Kinh và đến vùng nông thôn tại Wusih, tại đó tôi viết bốn phần đầu của quyển sách. Chiến tranh xảy ra vào tháng 3 năm 1927, và vì không thể liên lạc với các anh chị em tại một số nơi nên tôi rời khỏi vùng nông thôn đến Thượng Hải. Đến nơi, tôi được biết anh chị em từ nhiều nơi lần lượt đến. Trước khi tôi đến Thượng Hải, tại nhà của chị Pearl Wang ở Hsin Viên đã có buổi nhóm bẻ bánh. Sau khi tất cả chúng tôi đến, phòng nhóm của chúng tôi được chuyển đến hẻm Keng Ching, và Phòng Sách Phúc Âm được mở tại Thượng Hải.

Thời gian gần cuối năm 1927, chúng tôi có buổi nhóm cầu nguyện mỗi ngày. Các tín đồ tại Ping-Yang và vùng phụ cận, ở phía bắc sông Dương Tử, là những người từng được giúp đỡ bởi các lời chứng chúng tôi viết, bắt đầu thư từ với chúng tôi. Nhận thấy rằng họ đã sẵn sàng được chỉ dẫn và các tín đồ tại Trung Quốc cần điều này, nên chúng tôi nghĩ đến việc tổ chức một buổi nhóm đặc biệt dành cho họ. Vào tháng 1 năm 1928, chúng tôi mướn một cơ sở tại hẻm Wen-teh trên đường Hardoon ở Thượng Hải, và vào ngày 1 tháng 2, chúng tôi bắt đầu buổi nhóm đặc biệt. Chủ đề chính của các bài giảng là mục đích đời đời của Đức Chúa Trời và chiến thắng của Đấng Christ. Chúng tôi không đề cập đến các vấn đề khác chẳng hạn như lẽ thật liên quan đến Hội thánh. Có khoảng hai mươi hay ba mươi anh chị em đến từ nhiều nơi khác nhau, nhưng Đức Chúa Trời chiếu sáng họ và giúp họ nhìn thấy mình cần phải bước đi trên con đường sự sống như thế nào. Tự họ giải quyết những nan đề như báp-têm, từ bỏ giáo phái và những điều tương tự khác. Trong bốn năm dẫn đến năm 1936, bảy tám trăm anh chị em đã được cứu và phục hưng tại khoảng mười địa điểm nhóm họp phía bắc sông Dương Tử. Cũng tại khoảng mười địa điểm nhóm họp ở Ping-Yang, vùng phụ cận và Tai-Shun, chừng bốn ngàn người được cứu hoặc phục hưng. Toàn bộ công tác ấy đã được chính Chúa thực hiện, và Ngài đã hành động suốt nhiều năm để thực hiện công tác ấy.

Sau khi dời đến hẻm Wen-teh vào năm 1928, chúng tôi quyết định tục bản tạp chí Chứng Cớ Hiện Tại vì tạp chí Cơ Đốc nhân đã đình bản. Năm 1930, tạp chí Ghi Lại Các Sứ Điệp Kinh Thánh được xuất bản.

Trong thời gian ngắn ngủi ấy tại Thượng Hải, mục tiêu của chúng tôi là làm cho người ta đi theo chính Chúa, sự dạy dỗ của Kinh Thánh và sự hướng dẫn của Thánh Linh. Chúng tôi không mong đợi ai dâng mình cho chúng tôi. Đây không phải cái gọi là chính sách độc quyền, cũng không có nghĩa là chúng tôi xem mình là những người duy nhất đúng đắn; ước mong duy nhất của chúng tôi là trung thành đến cùng. Tôi viết quyển Người Thuộc Linh trong khi bị bệnh; khi quyển sách ấy được hoàn tất, bệnh tình của tôi trở nên trầm trọng hơn và hầu như tôi phải nằm liệt giường. Vì ngôi nhà thuộc đất của lều trại tôi có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, nên không gì đáng đề cập trong vài năm đầu tôi ở tại Thượng Hải. Trong hai năm sau, công việc mới thực sự bắt đầu. Năm 1931 lại có một buổi nhóm đặc biệt trong đó sứ điệp chính liên quan đến hai chủ đề lớn là Tân Ước và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Tại buổi nhóm ấy có thêm các anh chị em từ những nơi khác.

ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ ĐẤNG CHỮA LÀNH TÔI

Tôi bắt đầu biết mình bị bệnh vào năm 1924, tôi cảm thấy mình yếu đuối, ngực đau nhức và bị sốt nhẹ. Tôi không biết có điều gì trục trặc. Bác sĩ H. S. Wong nói với tôi: “Tôi biết anh có đức tin và Đức Chúa Trời có thể chữa lành cho anh, nhưng xin cho phép tôi khám và chẩn bệnh cho anh”. Sau cuộc khám nghiệm, ông nói thì thầm với anh Wong Teng Ming một lúc. Ban đầu, dầu tôi hỏi, họ vẫn không cho tôi biết kết quả của cuộc khám nghiệm. Nhưng khi tôi nói với họ rằng tôi không sợ, Bác sĩ Wong mới cho biết tôi bị lao phổi và tình trạng trầm trọng đến nỗi tôi cần phải nghỉ ngơi dài hạn.

Đêm hôm ấy tôi không ngủ được, tôi không muốn gặp Chúa đang khi chưa làm xong công việc mình. Tôi rất nản lòng. Tôi quyết định đi về miền quê để nghỉ ngơi và tương giao với Chúa nhiều hơn. Tôi hỏi Chúa: “Ý muốn Ngài dành cho con như thế nào? Nếu Ngài muốn con chết, con không sợ chết”. Suốt hơn nửa năm, tôi không nắm được ý muốn Ngài, nhưng tôi có niềm vui trong lòng và tin rằng Chúa không bao giờ sai lầm. Trong thời gian ấy, tôi nhận được nhiều bức thư không đem đến sự an ủi hay khích lệ, trái lại là những lời quở trách tôi vì đã làm việc quá nhiều và không chăm sóc cuộc sống mình đúng mức. Một anh em trách tôi bằng cách trích Ê-phê-sô 5:29: “Vì không ai ghét chính xác thịt mình, nhưng nuôi dưỡng và chăm sóc nó, như Đấng Christ đối với Hội thánh”. Anh Cheng Chi-kwei mời tôi về nhà anh để nghỉ ngơi và đồng thời giúp anh dịch bài học hàm thụ Kinh Thánh của Tiến sĩ C. I. Scofield. Trong thời gian ấy, có khoảng ba mươi anh chị em đến tương giao với tôi. Tôi nói chuyện với họ về vấn đề Hội thánh. Tôi đi đến chỗ nhận thức rằng bàn tay của Đức Chúa Trời ở trên tôi để bày tỏ rằng mục đích của Ngài là muốn xoay tôi trở lại khải tượng ban đầu, nếu không, cuối cùng tôi đã đi con đường của một sứ giả phục hưng.

Ngày tháng trôi qua, tôi vẫn không được chữa lành. Dầu ráng sức viết và nghiên cứu Kinh Thánh, tôi cảm thấy căng thẳng quá mức. Chiều chiều, tôi hơi sốt, ban đêm tôi không ngủ được và thường đổ mồ hôi. Khi có người khuyên tôi nên nghỉ ngơi nhiều hơn, tôi đáp: “Tôi e ngại mình nghỉ ngơi đến nỗi trở nên rỉ sét”. Tôi cảm thấy dầu có thể mình không sống lâu, tôi phải tin rằng Đức Chúa Trời sẽ gia tăng sức mạnh cho tôi và tôi phải làm việc cho Ngài. Tôi hỏi Chúa về công việc nào Ngài giao mà tôi chưa làm xong. Bất cứ điều gì Ngài muốn tôi làm, tôi xin Ngài giữ mạng sống tôi để tôi làm điều ấy, nếu không, tôi cảm thấy trên đất này không có gì đáng cho tôi phải sống. Tôi có thể chỗi dậy khỏi giường bệnh một thời gian, nhưng cuối cùng tôi không chỗi dậy nổi. Có lần tôi được mời hướng dẫn một buổi nhóm truyền giảng phúc âm. Tôi ráng sức chỗi dậy và xin Chúa ban sức mạnh cho tôi. Trong khi đi bộ đến buổi nhóm, thỉnh thoảng tôi buộc phải dựa vào cột đèn để nghỉ. Mỗi lần như vậy, tôi nói với Chúa: “Chết cho Ngài là điều đáng làm”. Một vài anh em biết tôi làm như vậy đã quở trách tôi không biết giữ gìn sức khỏe. Tôi trả lời với họ rằng tôi yêu Chúa và muốn bỏ sự sống tôi vì Ngài.

Sau khi cầu nguyện khoảng hơn một tháng, tôi cảm thấy mình nên viết một cuốn sách về những gì đã học được trước mặt Đức Chúa Trời. Tôi quan niệm một người chỉ nên viết sách khi về già, nhưng khi nghĩ đến việc mình có thể sớm lìa đời, tôi cảm thấy mình nên khởi sự viết lách. Tôi thuê một căn phòng nhỏ tại Wusih, tỉnh Kiangsu, là nơi tôi giam mình trong phòng và để thì giờ viết lách. Lúc ấy bệnh của tôi trở nên trầm trọng đến nỗi tôi không nằm nổi. Khi viết tôi ngồi trên ghế có lưng ghế cao và tì ngực vào bàn để làm dịu cơn đau. Sa-tan nói với tôi: “Vì ngươi sắp chết, tại sao không chết trong tình trạng tương đối dễ chịu thay vì chết trong đau đớn?” Tôi đáp trả: “Chúa muốn ta như thế này, ngươi hãy đi khỏi nơi đây!” Phải mất bốn tháng tôi mới hoàn thành được ba quyển Người Thuộc Linh. Viết quyển sách này là một công việc vô cùng gian nan, phải đổ ra máu, mồ hôi và nước mắt. Tôi không còn hi vọng mình sẽ sống, nhưng ân điển của Đức Chúa Trời đã đem tôi qua khỏi. Mỗi khi viết xong, tôi tự nhủ: “Đây là lời chứng cuối cùng của tôi cho Hội thánh”. Dầu phải viết giữa mọi loại khó khăn, gian khổ, tôi cảm thấy Đức Chúa Trời gần gũi mình cách lạ thường. Một vài người cảm thấy Đức Chúa Trời đối xử tàn nhẫn với tôi. Anh Cheng viết cho tôi nói: “Anh đang ráng sức quá mức, một ngày kia anh sẽ hối tiếc về điều ấy”. Tôi đáp: “Tôi yêu Chúa tôi và tôi muốn sống cho Ngài”.

Tôi viết quyển Người Thuộc Linh trong thời gian bị bệnh dai dẳng. Khi quyển sách ấy sẵn sàng để xuất bản, chúng tôi cần khoảng bốn ngàn đô-la. Vì trong tay không có tiền, nên tôi cầu xin Đức Chúa Trời đáp ứng nhu cầu. Chỉ bốn đồng công biết nhu cầu này. Không người nào khác biết. Không lâu sau, Chúa cung ứng bốn trăm đô-la, và chúng tôi ký hợp đồng với một thợ in để bắt đầu in quyển sách này. Đôi bên thỏa thuận rằng trường hợp không trả được những lần trả góp theo sau, thì không những chúng tôi mất số tiền đặt cọc bốn trăm đô-la, mà còn phải trả số tiền thiếu còn lại. Vì vậy, chúng tôi đồng tâm hiệp ý cầu nguyện cho vấn đề này. Khi ấy, tôi còn nằm liệt giường. Lần nào người thợ in đến lấy tiền trả góp, Chúa cũng cung ứng tiền bạc cho chúng tôi. Nhận thấy chúng tôi giữ đúng lời hứa, người thợ in nói: “Chỉ những người trong Hội thánh các anh mới trả tiền đúng hẹn như vầy”.

Sau khi in quyển sách ấy, tôi cầu nguyện: “Bây giờ xin cho đầy tớ Ngài ra đi trong sự bình an”. Đồng thời bệnh tôi càng trở nặng hơn. Ban đêm tôi không thể ngủ yên; còn khi thức, tôi liên tục trăn trở. Về phương diện thể xác, tôi chỉ còn là một bộ xương. Tôi đổ mồ hôi ban đêm, giọng nói trở nên khàn. Người ta rất khó nghe tôi nói mặc dầu họ kê sát tai vào miệng tôi. Vài chị em thay phiên chăm sóc tôi, một trong số đó là y tá cựu chiến binh. Mỗi khi trông thấy tôi là chị khóc. Chị làm chứng: “Tôi đã thấy nhiều bệnh nhân, nhưng chưa bao giờ thấy một người tình trạng đáng thương như anh ấy. Tôi e rằng anh ấy chỉ có thể sống thêm ba hay bốn ngày nữa thôi”. Khi có người thuật lại điều này, tôi nói: “Mong là như vậy. Tôi biết mình sắp chết”. Một anh em gởi điện tín đến các Hội thánh tại nhiều nơi, cho họ biết là không còn hi vọng gì cho tôi nữa và họ không cần phải cầu nguyện cho tôi nữa.

Một ngày kia, tôi hỏi Đức Chúa Trời: “Vì sao Ngài gọi con về sớm như vậy?” Tôi xưng ra những sự vi phạm của mình trước mặt Đức Chúa Trời, sợ rằng tôi đã không trung tín trong một điều nào đó. Cùng lúc ấy, tôi thưa với Đức Chúa Trời rằng tôi không có đức tin. Cũng trong ngày đó, tôi kiêng ăn, cầu nguyện và trình dâng chính mình cho Ngài một lần nữa. Tôi nói với Ngài tôi sẽ không làm gì trừ ra điều Ngài chỉ định cho tôi. Tôi kiêng ăn từ sáng đến ba giờ chiều. Đồng thời, các anh em đồng công cùng nhau tha thiết cầu nguyện cho tôi tại nhà chị Ruth Lee. Khi tôi xin Đức Chúa Trời ban cho mình đức tin, Ngài phán lời Ngài cho tôi, những lời tôi không bao giờ quên. Câu đầu tiên là: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin” (La. 1:17). Câu thứ hai là: “Anh em đứng bởi đức tin” (2 Cô. 1:24). Câu thứ ba là: “Chúng ta bước đi bởi đức tin” (2 Cô. 5:7). Những lời này làm lòng tôi tràn ngập niềm vui, vì Kinh Thánh nói: “Mọi sự đều có thể được cho người nào tin” (Mác 9:23). Ngay lập tức, tôi cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Trời vì đã ban lời Ngài cho tôi. Tôi tin Đức Chúa Trời đã chữa lành tôi.

Sự thử nghiệm đến ngay sau đó. Kinh Thánh nói: “Anh em đứng bởi đức tin”, nhưng tôi vẫn nằm trên giường. Một cuộc xung đột nảy sinh trong tâm trí tôi: Tôi nên dậy và đứng lên hay cứ nằm ở đó? Chúng ta đều biết người ta yêu mình và cho rằng chết trên giường là thoải mái hơn chết đứng. Khi ấy lời Đức Chúa Trời bày tỏ ra quyền năng, nên không quan tâm đến mọi điều khác, tôi mặc bộ quần áo mà đã một trăm bảy mươi sáu ngày qua tôi không mặc đến. Khi lìa khỏi giường để đứng lên, tôi đổ mồ hôi nhiều đến nỗi mình tôi ướt đẫm như bị mắc mưa. Sa-tan nói với tôi: “Ngươi cố gắng đứng trong khi thậm chí ngươi không ngồi lên nổi chăng?” Tôi đáp trả: “Đức Chúa Trời bảo ta đứng”, và tôi đứng dậy. Tôi lại đổ mồ hôi lạnh và suýt ngã xuống. Tôi cứ lặp lại: “Đứng bởi đức tin, đứng bởi đức tin!” Sau đó tôi đi vài bước để lấy quần tây và vớ. Sau khi mặc quần vào, tôi ngồi xuống. Tôi vừa mới ngồi thì lời Đức Chúa Trời đến với tôi rằng không những tôi nên đứng bởi đức tin mà còn đi bởi đức tin nữa. Tôi cảm thấy có khả năng đứng lên và đi vài bước để lấy quần và vớ đã là một việc kỳ diệu rồi. Làm thế nào tôi mong đi xa hơn nữa? Tôi hỏi Đức Chúa Trời: “Ngài muốn con đi đâu?” Ngài đáp: “Đi xuống cầu thang đến nhà chị Lee ở số 215”. Một số anh chị em đang kiêng ăn cầu nguyện cho tôi tại đó suốt hai ba ngày liền.

Tôi nghĩ: “Đi trong phòng thì được, nhưng làm thế nào tôi có thể đi xuống cầu thang?” Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Đức Chúa Trời ôi, con có thể đứng bởi đức tin, và bởi đức tin con cũng có thể đi xuống cầu thang!” Ngay lập tức, tôi đi ra cửa dẫn xuống cầu thang và mở cửa ra. Tôi nói thật với anh em rằng khi đứng trên đầu cầu thang, đối với tôi dường như đó là cầu thang cao nhất mà tôi từng thấy trong đời. Tôi nói với Đức Chúa Trời: “Nếu Ngài bảo con bước đi, con sẽ bước đi dầu con phải chết vì ráng làm như vậy”. Nhưng tôi nói tiếp: “Chúa ôi, con không thể đi được. Cầu xin Ngài dùng tay nâng đỡ con đang khi con đi”. Một tay bám lấy thành cầu thang, tôi đi xuống từng bước một. Tôi lại đổ mồ hôi lạnh. Đang khi đi xuống cầu thang, tôi tiếp tục kêu lên: “Bước đi bởi đức tin, bước đi bởi đức tin!” Mỗi bước đi xuống, tôi cầu nguyện: “Chúa ôi, Ngài là Đấng làm cho con có thể đi được”. Trong khi bước xuống hai mươi lăm bậc thang ấy, dường như tôi đi tay trong tay với Chúa trong đức tin.

Khi đến cuối cầu thang, tôi cảm thấy rất mạnh khỏe và đi nhanh đến cửa sau. Tôi mở cửa và đi thẳng đến nhà chị Lee. Tôi nói với Chúa: “Từ nay trở đi, con sẽ sống bởi đức tin và không còn là một người tàn tật nữa”. Tôi gõ cửa như Phi-e-rơ đã làm trong Công-vụ 12:12-17, nhưng không có Rô-đơ ra mở cửa. Khi cửa mở, tôi bước vào nhà, bảy tám anh chị em nhìn tôi chăm chăm. Họ ngồi lặng thinh, không ai nhúc nhích. Khoảng suốt một giờ, mọi người ngồi im lặng dường như Đức Chúa Trời hiện ra ở giữa loài người. Tôi cũng ngồi đó với lòng đầy dẫy sự cảm tạ và ngợi khen. Sau đó tôi thuật lại tất cả những gì đã xảy ra trong tiến trình tôi được chữa lành một cách đầy ân điển. Vui mừng và hớn hở trong linh, tất cả chúng tôi đều ngợi khen Đức Chúa Trời lớn tiếng vì công việc lạ lùng của Ngài. Cũng trong ngày ấy, chúng tôi thuê một chiếc xe đến vùng ngoại ô Kiangwan để thăm chị Dora Yu, nữ truyền giáo nổi tiếng. Chị sửng sốt vô cùng khi nhìn thấy tôi, vì chị đã nhận được tin tức gần đây cho biết tôi sắp chết. Khi tôi xuất hiện, chị nhìn tôi như người chết sống lại. Chúng tôi có thêm một cơ hội vui mừng cảm tạ và ngợi khen trước mặt Chúa. Chúa Nhật sau đó, tôi giảng trên bục suốt ba giờ đồng hồ.

Cách đây khoảng bốn năm, tôi đến dự cuộc bán đấu giá tại nhà một bác sĩ người Đức. Khi hỏi thăm, tôi mới biết bác sĩ này là người đã chụp hình phổi cho tôi bằng quang tuyến nhiều năm trước đó. Ông chụp ba phim và cho tôi biết không còn hi vọng gì nữa. Khi tôi yêu cầu chụp một lần nữa, ông nói không cần thiết. Sau đó ông cho tôi xem phim chụp phổi bằng quang tuyến của một người khác và nói: “Tình trạng người này tốt hơn anh, nhưng anh ấy đã chết tại nhà hai tuần sau khi chụp phim này. Anh đừng đến gặp tôi nữa, tôi không muốn lấy thêm tiền của anh”. Khi nghe như vậy, tôi về nhà vô cùng tuyệt vọng. Sau đó, cách đây bốn năm, tôi đọc một lời quảng cáo trên báo về cuộc bán đấu giá một tòa nhà và đồ đạc của một bác sĩ người Đức nổi tiếng nọ đã chết. Khi khám phá ra bác sĩ này là người đã chụp hình phổi tôi bằng quang tuyến cách đây nhiều năm, tôi giơ tay lên ngợi khen Chúa. Tôi nói: “Bác sĩ này đã chết. Ông ấy nói chẳng bao lâu con sẽ chết, nhưng bây giờ ông ấy đã chết. Chúa đã bày tỏ ân điển Ngài cho con”. Trong huyết Chúa, tôi nói: “Bác sĩ này là người mạnh khỏe hơn con đã chết nhưng con được Chúa chữa lành và vẫn sống”. Hôm ấy, tôi đã mua nhiều món đồ trong nhà ông để kỷ niệm.

SỰ DẪN DẮT CHO CÔNG TÁC

Từ khi bị bệnh nằm liệt giường cho tới khi được Đức Chúa Trời chữa lành, tôi được cho thấy rõ ràng hơn về loại công tác Đức Chúa Trời muốn tôi thực hiện. Công tác ấy bao gồm bốn khía cạnh sau đây:

Công Tác Văn Phẩm

Trước khi bị bệnh, không những tôi đi thăm nhiều nơi khác nhau để tổ chức những buổi nhóm đặc biệt, mà tôi còn có tham vọng lớn là soạn một bộ chú giải Kinh Thánh toàn diện có giá trị. Tôi có ý định dành nhiều sức lực, thời gian và tiền bạc để viết một bộ chú giải lớn bao gồm khoảng một trăm quyển. Sau khi hoàn tất quyển Người Thuộc Linh, tức quyển sách tôi khởi sự viết tại Nam Kinh khi ngã bệnh, tôi nhận biết rằng công việc giải nghĩa Kinh Thánh không phải dành cho tôi. Tuy nhiên, từ đó, tôi thường bị vấn đề này cám dỗ. Sau khi lành bệnh, Đức Chúa Trời bày tỏ cho tôi rằng điểm chính của sứ điệp mà Ngài ban cho tôi không phải là giải nghĩa Kinh Thánh, rao giảng phúc âm bình thường, chú ý đến những lời tiên tri, hay bất cứ điều gì khác bề ngoài, mà là nhấn mạnh đến lời sống động của sự sống. Do đó, tôi thấy cần phải tục bản Chứng Cớ Hiện Tại để giúp con cái Đức Chúa Trời trong sự sống thuộc linh và chiến trận thuộc linh. Mỗi thời đại đều có một lẽ thật duy nhất đặc biệt cần thiết cho thời ấy. Đối với chúng ta là những người sống vào những ngày sau cùng cũng phải có một lẽ thật nào đó mà chúng ta đặc biệt cần. Nhờ tạp chí Chứng Cớ Hiện Tại, chứng cớ về lẽ thật của thời đại hiện tại được biết đến. Tôi được thuyết phục cách sâu xa rằng hiện tại là thời kỳ chuẩn bị. Con cái Đức Chúa Trời sẽ được gặt hái, nhưng trước hết họ phải chín mùi (Mác 4:29). Thời điểm chúng ta được cất lên đã gần; Hội thánh sẵn sàng hay chưa là vấn đề tối trọng yếu. Mục tiêu của Đức Chúa Trời ngày nay là xúc tiến việc xây dựng Thân Thể của Con Ngài là Hội thánh. Như đã chép trong Kinh Thánh: “Để sau khi đã dùng nước là lời mà rửa cho tinh sạch rồi, thì khiến hội nên thánh, cốt để Ngài trình diện cho mình Hội thánh vinh diệu” (Êph. 5:26-27), hầu cho mau chóng tiêu diệt kẻ thù để đem đến vương quốc. Tôi hi vọng cách khiêm nhường rằng trong cánh tay của Chúa, tôi có thể đóng góp chút ít trong công tác vinh hiển này. Tất cả những gì tôi đã viết đều có một mục tiêu là độc giả sẽ hoàn toàn dâng mình cho Đức Chúa Trời và trở nên người hữu dụng trong tay Ngài trong cõi sáng tạo mới. Bây giờ tôi hết lòng giao phó những gì tôi viết, độc giả của tôi và chính tôi cho Đức Chúa Trời là Đấng mãi mãi gìn giữ con người, và hi vọng rằng Linh của Ngài sẽ hướng dẫn tôi vào tất cả những lẽ thật của Ngài.

Tổ Chức Các Buổi Nhóm Người Đắc Thắng

Đức Chúa Trời cho tôi thấy rằng tại mỗi Hội thánh địa phương, một nhóm người đắc thắng sẽ được dấy lên (như được đề cập trong Khải Thị chương 2 và 3) để làm những chứng nhân của Chúa. Do đó, năm nào cũng có kỳ hội đồng người đắc thắng để trung tín chia sẻ những sứ điệp Đức Chúa Trời đã ban cho tôi.

Xây Dựng Các Hội thánh Địa Phương

Khi Chúa kêu gọi tôi phục vụ Ngài, mục tiêu chính không phải là để tôi tổ chức các buổi nhóm phục hưng cho người ta nghe thêm giáo lý Kinh Thánh, cũng không phải để tôi trở nên một nhà truyền đạo vĩ đại. Chúa bày tỏ với tôi rằng Ngài muốn xây dựng các Hội thánh địa phương tại các địa phương khác để hiển lộ chính Ngài, mang chứng cớ hiệp nhất trên chỗ đứng địa phương hầu mỗi thánh đồ có thể thi hành trách nhiệm của mình trong Hội thánh và sống nếp sống Hội thánh. Đức Chúa Trời không chỉ muốn chúng ta theo đuổi sự chiến thắng và sự thuộc linh cách riêng tư, mà Ngài muốn có một Hội thánh tập thể, vinh hiển trình diện cho chính Ngài.

Huấn Luyện Lớp Trẻ

Nếu Chúa trì hoãn việc trở lại, thì cần phải dấy lên một số người trẻ tuổi để tiếp tục chứng cớ và tiếp tục công tác cho các thế hệ sau. Nhiều đồng công đã cầu nguyện cho vấn đề này với hi vọng có được một địa điểm thích hợp để huấn luyện lớp trẻ. Ý định của tôi không phải là lập ra một học viện hay trường Kinh Thánh, mà là [tạo môi trường] để lớp trẻ ở với nhau sống nếp sống Thân Thể và thực hành đời sống thuộc linh. Tại nơi ấy, họ sẽ được huấn luyện để được gây dựng, bằng cách học tập đọc Kinh Thánh, cầu nguyện và phát triển đức tính tốt. Về mặt tiêu cực, mục đích của sự huấn luyện còn là học tập cách xử lý tội lỗi, thế gian, xác thịt và sự sống thiên nhiên. Vào lúc thích hợp, những người trẻ sẽ trở lại các Hội thánh riêng của mình tại những nơi khác nhau để cùng hòa hợp với các thánh đồ khác phục vụ Chúa trong Hội thánh. Tôi đã mua hơn mười mẫu đất tại Chenru thuộc vùng ngoại ô của Thượng Hải. Kế hoạch xây dựng trên địa điểm ấy đang tiến triển, và không bao lâu những người trẻ có thể đến đó để được huấn luyện.

Trong tương lai, đại để gánh nặng và công tác của cá nhân tôi bao gồm bốn khía cạnh này. Nguyện toàn thể vinh quang qui về Chúa. Chúng ta không có chút gì trong chính mình, và mặc dầu đã thực hiện đôi điều, nhưng chúng ta thừa nhận mình là những đầy tớ vô dụng và vô ích.